ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUONG DAL HOC KHOA HOC XA HỘI VA NHÂN VĂN LUU DINH Những diều cần chú ý khi sinh viên Việt Nam học ngữ âm tiếng Hán và cách khắc phục lỗi... Chương 2: Lỗi ngũ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUONG DAL HOC KHOA HOC XA HỘI VA NHÂN VĂN
LUU DINH
Những diều cần chú ý khi sinh viên Việt Nam học
ngữ âm tiếng Hán và cách khắc phục lỗi
Trang 2Tém tt luan văn:
Dé tài luận văn: Những điều cần chú ý khi sinh viên Việt Nam học
ngữ âm tiếng Hán và cách khắc phục 16i (6 dia ban Dai hoc tinh
‘Van Nam)
Theo sự phát triển của quan hệ hai nước Trung Việt, và sự ting
cường quốc lực của Trung Quốc, ngày càng có nhiều sinh viên Việt Nam
sang Irung Quốc học tiếng Hán, đặc biệt là tỉnh Vân Nam và tỉnh Guảng Tây
Tinh Wan Nam là một tỉnh nằm ở miễn Tây Nam Trung Quốc, so với
các tỉnh khác, sự phát triển của tỉnh hơi kém va giáo dục đạo tào sinh
viên nước ngoài vẫn đang nghiên cứu Với tu cách là giáo viên giáng dạy
tiếng, Hán cho sinh viên nước ngoài, em cũng cảm thay có trách nhiệm tăng thêm khiến thức về ngôn ngữ học để nghiên cứu phương pháp giảng
day có hiệu quả, và gấp phần cho cơ sở dào tạo tiếng Hán cho sinh viên
nước ngoài nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng
Qua sự truyền đạt khiến thức về ngôn âm tiễng Hân và tiếng Việt để
giúp cho sinh viên Việt Nam khắc phục lỗi ngữ âm khi học tiếng Hán
Luận văn này ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm ba chương:
Chương Ì: Cơ sứ lý luận liên quan dến dề tài luận văn
Trong chương này luận văn sẽ trình bày một số nội dung lý thuyết
liên quan đến luận văn Cụ thể:
- Trình bày các đặc điểm của ngữ âm tiếng Hán và ngữ âm tiếng Việt Từ
Trang 3én hành đối chiểu đỗ tầm ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng
Déng thời phân tích nguyên nhân của sự giông nhau và khác nhau đó
theo cách nhìn của mình
~ Tìm biểu về quan niệm lễi ngữ âm và lỗi ngữ âm khi hoc tiếng Hán
Chương 2: Lỗi ngũ âm tiếng Hắn của sinh viên Việt Nam học ở những đại học tính Vân Nam
- Tình hình mắc lỗi ngữ âm tiếng Hán của sinh viên Việt Nam ở những Đại học của tỉnh Vân Nam
- Kết quả và số liễu diều tra
Chương 3: Thử phân tích nguyên nhân gây lỗi và cách khắc phục
Chương này phân tích những lỗi ngữ âm của sinh viên Việt Nam và
để xuất phương pháp luyên tập năm mục đích khắc phục lỗi ngữ âm có hiệu quả Từ đó, ứng dụng vào việc soạn phần ngữ âm trong sách “lián
Ngữ Hiện Đại” dành cho sinh viên Việt Nam
Kết Inận:
Đối tượng được chúng tôi kháo sát lỗi phát âm là người học miền Bắc
Việt Nam, đang học trong các trường đại học của tỉnh Vân Nam
San khi so sánh đối chiếu đặc điểm của ngữ âm tiếng Ian và tiếng
Việt, chúng tôi dã nhận thấy dược diém giống nhâu và khác nhau giữa hai
ngôn ngữ Theo kết quả của công việc này, chúng tôi tiên hành xây các
đạng bài trắc nghiệm để khảo xát lỗi ngữ âm
Dựa vào kết quả khảo sát, chúng tôi tìm ra những nguyên nhân
Trang 4gây lỗi, trong đó gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân lần lượt được chúng tôi xem xét và để nghi biện pháp
khắc phục.
Trang 5LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liễu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa
tửng được công bố ở bất cứ tài liệu nào
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là nhờ công lao dạy bảo của các thầy
cô giáo trong khoa ngôn ngữ học, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của
GS TS Trin Tef Dai
Trong quá trình làm luận văn này, cm cũng nhận được sự giúp đỡ của
các giáo viên của khoa Trung trường Dại học Hà Nội và sự hợp tác của sinh viên Việt Nam ở các trường Đại học của tỉnh Vân Nam
Nhân địp này, em xin được bày tổ lòng trị ân đến các thầy cô giáo,
gia đình và các đẳng nghiệp
Luu Dinh (Liu Ying)
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
5 Cấu trúc của luận văn
CITUONG 1:
CO SG LY LUAN LIN QUAN BEN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
1.1 Đái chiếu ngữ âm tiếng Hản và tiếng Việt
1.1.1 Đối chiếu đặc điễm của âm tiết Hng Hán và tiếng Việt
1,1,1.1, Đổi chiếu đặc điểm của âm tiết tiếng Hán và tiếng Việt
1.1.1.2 Một vài nhận xét về âm tiết tiếng lIán và tiếng Việt
1.1.4 Đối chiếu thanh điệu Hễng Hán và tiễng Việt 28
Trang 81.1.4.1 Thanh điệu tiếng Hán à nọ nành re 29 1.1.4.2 Thanh điệu tiếng Việt
1.1.4.3 Một vài nhận xét về thanh điệu tiếng Hán và tiếng Việ
1.1.5 Nhận xét chung về dối chiếu ngũ âm tiếng Hán và tiếng việt 39
1.2 Cách hiểu về lãi và lỗi ngữ âm khi học tiếng Hán
l1) 1o: e eee teeter eee e renee teeters testa’ 40 1.2.2, L6i ngit dm khi hoc tiéng Han
3.1.2 Vẫn dễ chọn dối tượng khảo sát lỗi phưát âm 31
2.1.3 Các bước tiễn hành thu thập tài HIỆN à ào cce2 54
2.2 Miéu t4 các dạng lỗi ngữ âm của người học Việt Nam
2.2.1 Tiêu chí phân loại các dạng lỗ
2.2.2 Mã tả các dang lỗi phát âm ngữ âm tiẳng HđH 55
2.2.2.1 Dạng lỗi phát âm phụ âm dầu tiếng Hán - 55
2.2.2.2 Dang lỗi phát âm nguyên âm - .-.~ 58
2.2.2.3 Dạng lỗi phái âm thanh điệu trong các lừ đơn 4 62
2.2.2.4 Dạng lỗi phát âm biển đổi thanh điệu 64
Trang 93.1 Những nguyên nhân gây |
3.1.1 Nguyên nhân khách QHAH1 acc Tnhh y 72
3.1.1.1 Tiếng Hán với tư cách là việc day - học ngôn ngữ thứ hai 72
3.1.1.2 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ccee cee ceseceneeceaeesecsarecsees 75 3.1.2 Nguyên nhân Chú QHẠH à ìcSọ Sàn Sen dời 80
3.1.2.1 Lỗi do tâm lý của người học
3.1.2.2 Lỗi do không nhớ được quy tắc “biến đổi thanh điệu”cúa tiếng
Lỗi do ý thức về việc rèn luyện phát âm
3.2 Các biện pháp khác phục các lỗi phát âm tiếng Hán 83
3.2.1 Truyền đạt kiến thức ngũ ÂM ào Q Son series ee 84 3.2.2 Ÿ thức của người học đối với Í
3.2.3 Giải pháp để nghị đối với việc khắc phục lỗI ngữ âm
3.2.3.1 Phần phụ ấm đầu -Ặ-S 3 n2 n ven re 89 3.2.3.2 Phần vần
3.2.3.3 Hệ thống thanh điệu - 22 2S 22 S2 TS v2 re 99 Tieu két
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO,
Trang 11MO DAU
1 Lý đo lựa chọn để tài
Việt Nam và Trung Iloa từ lâu vn có quan hệ truyền thông là láng
giểng hữu nghị, là bạn và là dối tác quan trọng của nhau Ngày nay Trung
Quốc đã trở thành một quốc gia lớn mạnh và có vị thế cùng sức ảnh
hướng ngày cầng to lớn trên trưởng quốc tổ Chính vì thế mà những năm
trở lại đây ở Việt Nam ngày càng có nhiêu người học tiếng Hán và đã
xuất hiện trào lưu học tiếng IIần ở Việt Nam
Cùng với sự phất triển của quan hệ Việt Trung, quan hệ vỀ kinh tế
chính trị giữa hai nước không ngừng tiễn triển Hai bên đều cần đến một
số lượng lớn nhân tài tỉnh thông cá hai ngôn ngữ Việt Trung Trung Quốc
hiện có hàng chục trưởng đại học có khoa tiếng Việt chuyên ngành, hàng
nằm có hàng trăm sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt Việt Nam hiện cố không ít số sinh viên dang học tiếng Hán Hàng năm có
hàng nghìn sinh viên Việt Nam sang Trung Quốc để học tiếng Hán và con
số này liên tục lăng đần theo mỗi năm
" Cơn sốt tiếng Hán " đã thúc đẫy sự nghiệp giảng đạy tiếng Hán đối
ngoại phát triển, theo đó làm thế nào để nâng cao trình độ giảng dạy lián
ngữ đã trở thành vấn để quan trọng hàng đầu Ngữ âm là mắt xích dầu
tiên trong quá trình học ngôn ngữ, đồng thời cũng là cơ sở của việc học
tập ngôn ngữ Du vậy mà việc học ngữ âm là vô cùng quan trong Nó ãnh hưởng đến toàn bộ quá trình học ngôn ngữ, thậm chí quyết định sự thành
Trang 12bại của người học Chính vì vậy, chúng lôi chọn đề tài “Những điều đáng
chú ý khi sinh viên Việt Nam học ngữ âm tiếng Hán và cách khắc phục
lỗi" nhằm góp phần cho cơ sở đào tạo tiếng lIlán cho sinh viên nước
ngoài
2 Ý nghĩa của để tài
Luận văn này sẽ gúp phan cung cắp những phân tích ngữ âm học cho giáo viên day tiếng Hán cho người Việt Nam và cho người Việt Nam học
tiếng lần Nó giúp cho giáo viên và sinh viên hiểu biết rõ ngữ âm tiếng
Hán và khắc phục những lỗi ngữ âm khi học tiếng Hán, qua đồ nâng cao
trình độ giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Ngoài ra, luận văn này cũng
cá thé cho những người cú hứng thú về lìm hiểu tiếng Hán - một ngôn ngữ lâu đời - dùng làm tài liệu tham khảo
3 Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu những nghiên cửu cø bán đã có liên quan dén ngé âm tiếng Han và tiếng Việt
- Nhận điện đặc điểm hay sự kháo biệt của ngữ âm liêng Hán và ngữ
âm tiếng Việt theo cách nhận thức của mình
- Quá đó nhận điện những lỗi ngữ âm của sinh viên Việt Nam với trình
độ tiếng Hán khác nhau khi học tiếng Hán ö một dia ban cu thé 1 tinh
‘Van Nam
- Sau đó đề xuất cách khắc phục những lỗi ấy khi dạy tiếng Hán.
Trang 134 Phuưng pháp nghiên cúu
Luận văn sử dụng thao tác nghiên cứu đối chiếu tiếng Hán và tiếng
Việt Thông qua việc miêu tả lần lượt đặc điểm ngữ âm của hai ngôn ngữ,
tìm ra sự khác biệt và tương dông giữa chúng Nhưng nghiên cứu này dit
trong tâm là giải quyết vấn dé xuất phát từ tình hình thực tế Cho nền,
chúng tôi chú yếu dùng thao tác thực nghiệm bằng cách tiến hành những
bài trắc nghiệm cụ thế và khoa học đổi với tình hình thực tế học tiếng
lấn của sinh viên Việt Nam (ở những Đại học của tỉnh Vân Nam) Luận
lều tra xác suất và căn cử vào các số liện thu dược trên dịa
văn cũng sẽ
bản để tiền hành tổng hợp và phân tích tìm ra những lỗi phát âm dễ mắc
phải của sinh viên Việt Nam trong quả trình học tiếng Hắn
'Trên cơ sở kiên thức cơ bản của ngữ âm học, công với kinh nghiệm giảng dạy, chúng tôi sẽ đề xuất những cách có hiệu quả tích cực để sửa
chữa những lỗi về ngữ âm của sinh viên Việt Nam
5 Câu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, sé bao gdm
ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài luận văn
Trong chương này luận văn sẽ trình bày một số nội dung lý thuyết
liên quan đến luận văn Cụ thé:
- Trình bày cáo đặc điểm của ngữ âm tiếng Hán và ngữ âm liêng Việt
Từ đó tiến hành đối chiếu để tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa
Trang 14chúng Đồng thời phân tích nguyên nhân của sự giếng nhau và khác nhau
đó theo cách nhìn của mình
- Tìm hiểu về quan niệm lỗi ngữ âm và lỗi ngữ âm khi học tiếng IIán Chương 2: Lỗi ngữ âm tiếng Hán của sinh viên Việt Nam học ở một
số Đại học của tỉnh Vân Nam
- Tình hình mắc lỗi ngữ ân tiếng Hán
của sinh viên Việt Nam ở những Dai hee của tỉnh Vân Nam
- Kết quả và số liệu điều tra
Chương 3: Phân tích nguyên nhân gây lỗi và đề xuất cách khác phục
Chương này phân tích những lỗi ngữ âm của sinh viên Việt Nam và
đề xuất phương pháp luyện tập nằm mục đích khắc phục lỗi ngữ âm có
hiệu quả Từ đó, ứng dụng vào việc soạn phần ngữ âm trong sách “Hán
Ngữ Iliện Đại” dành cho sinh viên Việt Nam.
Trang 15Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN DEN DẺ TÀI LUẬN VĂN
1.1 Dối chiều ngữ âm tiếng Hán và tiếng Việt
Việc nghiên cửu đổi chiếu ngôn ngữ trong ngôn ngữ học có lịch sử
rất lâu đài Trước đây, nghiên cứu đối chiếu thưởng gắn liển với nghiên
cứu loại hình nhằm phục vụ cho việc phân loại loại hình Hiện nay,
nghiên cứu đổi chiếu ở Trung Quốc, Việt Nam cũng như những nước
khác, góp phần rất nhiều vào việc đạy tiếng, học tiểng và dịch
Quan hệ qua lại piữa hai nước Trung Việt đã có từ lâu Do quan hệ
đó, văn hoá hai nước cũng ảnh hưởng lẫn nhau Tiểng Hán được tiếng Việt vay mượn từ thế kỷ thử V Sau khi từ Hán Việt du nhập vào hệ thông
từ vựng tiếng Việt, một bộ phân tiếng Việt chịu ảnh hướng của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng lIán Trãi qua các triều đại
tiếp theo cha đến ngày nay, do quan hệ trực tiếp hoặc gián tiến một cách lâu đài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thông một khối
lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoại đồng
Như vậy, cho đến bây giờ, trong vốn từ vựng của tiếng Việt ước chừng có
tới 75% là từ gốc lIán (ví dụ: đẩn, thân, thể, thủ, bệnh, buông, mài, mùa,
gan, gan, von, ván, vv ) Trên thực tế, ngữ âm tiếng Hán cũng có ãnh
hưởng to lớn đối với ngữ âm tiếng Việt Chính vì vậy, ngữ âm tiếng Việt
và tiếng Hán có nhiều điểm giống nhau và cũng có điểm khác nhau
Chính vì thế, việc nhận diện đặc điểm ngữ âm của hai ngôn ngữ không
Trang 16phải là một chuyện để Sau đây là cách nhận điện của chúng tôi
11.1 Đối chiếu đặc điểm của âm tiết tiéng Hán và tiếng Việt
Âm tiết là những khúc đoạn nhỏ nhất có thể nghe được trong chuỗi
Tời nói Mỗi âm tiết được phát âm nghe thành một tiếng Phát ngôn có bao nhiêu tiếng là có bấy nhiều âm tiết Về phương điện phát âm, âm tiết có
tính chất toàn ven, không thỂ phân cất được là vì nó được phái âm bằng
một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm Mỗi lần phát âm một âm tiết, cơ thịt của bộ máy phát âm căng lên rồi chùng xuống Có bao nhiêu
Tân căng - chùng như vậy là có bấy nhiêu âm tiết Phát âm bao giờ cũng
bao gôm một chuỗi những đợt căng chùng như thế Mỗi âm tiết khí phát
âm đều phái trải qua ba giai đoạn: - Tăng cường độ căng cúa cơ thịt
- Giữ đỉnh điểm đô căng
- Giảm dần độ căng
Cấu tạo, chức năng và vai trò của âm tiết trong ngôn ngữ có liên quan đến loại hình ngôn ngữ Tiếng Việt và tiếng Hán là những ngôn ngữ cùng một loại hình, đểu là ngôn ngũ đơn lập không biển đổi hình thái Cho nên xác định số lượng và ranh giới âm tiết trong một phát ngôn là việc
không khó Chính vì vậy, đặc điểm âm tiết của hai ngôn ngữ này hầu hết
Tà giống nhau, nhưng về chỉ tiết vẫn có một số diểm khác nhau
Âm tiết của tiếng Hán và tiếng Việt đều có cấu trúc hai bậc: bậc thứ nhất bao gồm những thành tố trực tiếp của nó được phân định bằng
những ranh giới có ý nghĩa hình thái học, bậc thử hai bao gồm những,
Trang 17thành 16 của phần vần, chỉ có chức năng khu biệt thuần tuý Nhìn một
cách tổng quát, âm tiết có cầu trúc như sau:
Âm tiết
Theo sơ đŠ trên, âm tiết của hai ngôn ngữ có đạng đầy đủ nhất đều
phải có năm thành phần Tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ có
thanh điệu Thanh điệu không phải là đơn vị đoạn tính, nhưng có chức
năng khu biệt ý nghĩa của từ Tiếng Việt có 6 thanh, còn tiếng Hắn chỉ có
4 thanh Ngoài 4 thanh điệu ra, ở tiếng Hán trong tình hình cụ thể, một số
âm tiết có hiện tượng biến đổi về thanh điệu
Âm đầu trong tiếng Việt bao giờ cũng đo các phụ âm đảm nhiệm
Các âm tiết như “ăn” “uống” có âm đầu là phụ âm tắc thanh hau Ngoài
các phụ âm ra, âm đẫu trong tiếng Hán còn có thể do bán nguyên âm hoặc
bán phụ âm y và w đảm nhiệm, ví đụ trong các âm tiết “wăn” “vĩ” Điều
này là điểm khác nhau quan trọng trong âm đầu giữa âm tiết tiếng Tấn và
Trang 18Ở trường hợp thứ hai, người ta cũng nói là các âm tiết không có âm đêm
Ẩm đêm của tiếng Hán do các bán nguyên âm /i/, /u/ và // đắm nhiệm, chẳng hạn: “qián", “duãn” và “juàn''(ä đứng sau j q và x phải ghi bằng
con chit u), hoặc cũng có thể do âm vị /zêrô/ dăm nhiệm
Âm chính của tiếng Hán và tiếng Việt giống nhau đều do các âm vị
nguyên âm đảm nhiệm
Âm cuối của tiếng Việt do phụ âm và bán nguyên âm đảm nhận Hai
hệ thẳng phụ âm đầu và cuối trong tiếng Việt làm thành hai đối hệ khác nhan, có vị trí, chức năng khác nhau trong cau tric âm tiết Âm cuỗi của
tiếng Hán chỉ do hai phụ âm vang mũi (-n, -ng) đảm nhận Chính vì vậy,
số lượng âm cuối và tính quan trọng trong âm tiết của hai ngôn ngữ khác
nhau Chúng tôi tiếp theo néu 16 điều nay trong phân sau
1.1.1.2 Một vài nhận xét về âm tiết tiếng Hán và tiếng Việt
- Cấu trúc âm tiết tiếng Hán và tiếng Việt giống nhau Hai ngôn ngữ đêu là ngôn ngữ có thanh điệu và ầm tiết tính Dãy là điểm giống nhau
- Mỗi âm tiết tiếng Việt được viết thành một khối Chữ viết và âm tiết của tiếng Hán có quan hệ tương ửng với nhau Một chữ viết thường,
cố một âm tiết tương ứng, nhưng vẫn có một số ngoại lệ Nói cách khác,
trong tiếng Hán, một âm tiết có thể tương ứng với nhiều chữ viết Chính
vì vậy, tiếng Hán có 2l phụ âm, 39 vần nguyên âm Dựa vào những quy
tắc kết hợp nhất định, có 395 äm vận Những âm vận này kết hợp với 4 thanh điệu sẽ có 1200 âm tiết TẤt cả 1200 âm tiết này tương ứng với
Trang 19khoảng 45.000 chữ viết khác nhau Còn liếng Việt có 22 phụ âm đầu và
159 vẫn Kết hợp với sáu thanh điệu sẽ có 16882 âm tiết Nhưng chỉ có
36% là những âm tiết thực sự được sử dung Am tiết thực dụng hàng
ngày cua tiếng Việt pm 6149 don vi Quan niệm này là quan niệm của
ông Hoàng Bá Vinh và ông Liêu Tự Dông, nhà ngôn ngữ học Trung
Quốc
"Tóm lại, âm tiết của tiếng Việt phức tap hon nhiều hơn so với tiếng
lIán Dù sé lượng của âm tiết của tiếng Hán ít hơn nhiều so với tiếng Việt, nhưng chữ viết để ghi các âm tiết là một khó khăn lớn đối với sinh viên
'Việt Nam
1.1.2 Đối chiễu phụ âm tiếng Hán và tiễng Việt
Phụ âm là những âm được phát ra bi một cản trở nào đó Về phương thức cấu âm, theo cách bị cần trở, người ta phân biệt phụ âm tắc với phụ
âm xát, phụ âm vô thanh với phụ âm lrữu thanh, phụ ẩm bật hơi và phụ
âm không bật hơi v.v
Đặc trưng của luại hình phụ âm tắc là một tiếng nổ, phát sinh do
Tudng không khí tử phối đi ra bị cần trở hoàn toàn, phải phá vỡ sự cần trở
dy để thoát ra Trái lại, đặc trưng của loại hình phụ âm xát là một tiếng cọ
xát, phát sinh do luỗng không khí di ra bị căn trở không hoàn toàn (chí bị
khó khăn) phải lách qua một khe hở nhỏ và trong khi thoát ra như vậy cọ
xi vào thành của bộ máy phát âm
Đặc điểm chính của phụ âm là có tiếng động Khi phát âm, ngoài
Trang 20những vị trí cấu âm có hoạt động ra, một số phụ âm đây thanh cũng hoại
động đồng thời cung cấp thêm tiếng thanh Căn cứ vào tiếng thanh, người
ta cũng có thé phân biệt phụ âm vô thanh và hữu thanh
hi phát âm, luồng không khí di ra khá mạnh, người ta gọi những âm
này là âm bật hơi Trái lại, khi phát âm, luéng không khí đi ra tương đổi
yếu, người la gọi là âm không bật hơi
Về mặt cấu âm phụ âm cũng phải chú ý đến các bê phận cơ quan phát âm tham gia cầu âm, tức là bộ máy câu âm Ví dụ: hai môi, môi răng,
ngạc lợi, ngạc, dầu lưỡi, mặt lưỡi, gốc lưỡi, họng
'Về mặt chức năng của phụ âm, nó không chỉ có thể đầm nhận âm đầu
của âm tiết, mà còn có thể đảm nhận âm cuối của âm tiết
1.1.2.1 Phu am trong tiéng Hán
Phụ ầm tiếng Hán bao gồm 22 phụ âm trong đồ có 21 phụ âm là âm dầu và 2 phụ âm đấm nhận vị trí âm cuối Phụ âm /n/ n vừa có thể làm
phụ ãm đầu, vừa có thể làm phy 4m cuỗi
Danh sách phụ âm đầu trong tiếng Hán:
Tiếng Hán có 21 phụ âm đầu, có 21 kiểu chữ viết latin khác nhan
Dưới đây là bảng danh sách phụ âm đầu của tiếng Ilan:
Trang 21Vị trí cầu âm Môi Đầu Đầu | Đầu lưỡi Mặt | Gốc
Phương ~\_ lai Môi | lưối lưổi ngạc lưỡi | lưỡi
thanh | bật hơi
k
x4t | thanh | Bat hoi
Xa Vô thanh [fIf|[s]s [slsh [elx Ix]h
Vang | thanh | pạn Wu
- Căn cú vào vị trí cầu âm, ta có thé chia cdc phụ âm đâu thành các
nhôm sau đây:
Nhám phụ âm môi : | p 1h, | pt tp, im im
Nhém phu 4m méi rang : [f] f
Nhóm phụ âm dẫu lưỡi răng : [ ts ]z, [ts‘]o, [a]s
Nhóm phụ âm đầu lưỡi lợi : [ t] đ, [t']t,[n]n.[1]1
Nhóm phụ âm đầu lưỡi ngạc : [f5] zh, [t§"] ch, [§] sh, [z ]r
Nhóm phụ âm mặt lưỡi : [t6] j [tø'] q, [6] x.
Trang 22Nhóm phụ âm gốc lưỡi : [k]g, [k*]k,[x]h
- Căn cứ vào phương thức cấu âm, ta có thể chia các phụ âm đầu thành
các nhóm đôi lập nhau sau đây:
Nhóm phụ âm dẫn tắc / b, p*, t, t', k, k* / và nhóm phụ âm dầu xác /£,
X,6,8,Z, SỬ
Nhém phu âm vang mũi im, n / và nhóm phụ âm vang bên / ]/
Nhóm phụ âm dầu tắc xát / t6 t6", (5, t5”, ts, ts* /
Nhám phụ âm hữu thanh và võ thanh: Phụ âm tiếng Hán không có
quan hệ dối lâp giữa hữu thanh và vô thanh Nó chỉ có 5 phụ âm hữu
thanh là: /m/ mm, /n/ n, /2/ r và /1/ I Những phụ âm khác đều là vô thanh
Nhóm phụ dm bat hoi và không bài hơi: Phụ âm tiếng Hán có 6 đổi lập
về bật hơi và không bật hơi: b-p, d-t, g-k, z~c, zh-ch va j-p
Các phụ âm đầu của tiếng Ilan hiện đại có thể trình bày từng âm một
kết hợp phương thức cầu âm và bộ máy cầu âm như sau:
[p ] b: phụ âm tắc, hai môi, không bật hơi, vô thanh Khi cầu âm này
không khí đi ra bị căn trở hoàn toàn, phải phá vỡ sự cắn trứ cúa hai môi
ấy để thoát ra ngoài và gây nên một tiếng nŠ nhẹ
[p‘] p: phụ âm tắc, hai môi, bật hơi, vô thanh Phương thức cấu âm
giống [p ], nhưng không khí đi ra mạnh hơn
[m] m: phụ âm vang mũi, hai môi, hữu thanh Không khí đi ra bị căn
trở ö đường miệng nhưng lại tự do ở đường mũi
|f | †: phụ âm xất, môi răng, vô thanh 'Tham gia câu tạo âm mai - ring
Trang 23là mỗi dưới và răng cửa của hàm trên Không khí ở nơi giữa môi dưới
và răng cửa bị căn trở vẫn có khe hở nhỏ cho không khí đi qua, gầy nên tiếng xát nhẹ
[ ts ]z: phụ âm tắc xát, dầu lưỡi răng, không bật hơi, vô thanh Khi cấu
âm, đầu lưỡi áp chặt vào hàng răng cửa của hàm trên Không khí đi ra bị
căn trở ử đường đầu lưỡi va ring cura „ phải phá vỡ sự căn Irở ấy để
thoát ra ngoài và gây nên một tiếng nổ nhẹ,
[ ts‘ ] ¢: phu 4m tac xát, đầu lưỡi - Tăng, bật hơi, vô thanh Phương thức
cấu âm pidng như z [ ts ], nhưng không khí mạnh hơn
[š ]s: phụ âm xát, đầu lưỡi răng, vô thanh Phương thức cầu âm giống hai âm trên
| t | d: phụ âm xát, đầu lưỡi - lợi, không bật hơi, vô thanh Khi cầu âm,
đầu lưỡi áp vào lợi
[t']t: phụ âm xát, dầu lưỡi lợi, bật hơi, vô thanh
[ñ]n: phụ ấm vang mũi, đầu lưỡi lợi, hữu thanh
[L]† phụ âm vang bên, đầu lưỡi lợi, hữu thanh
[l§] 2h : phụ âm tắc xát, đầu lưỡi ngạc, không bật hơi, vô thanh Khi
cấu âm đầu lưỡi quặt lên phía ngạc
[I§“] ch: phụ âm tắc xáI, đầu lưỡi ngạc, bật hơi, vô thanh
I§ | sh: phụ âm xát, dầu lưỡi ngạc, vô thanh
[4] r: phụ âm xát, đầu lưỡi ngạc, hữu thanh
[I6] j: phụ âm tắc xát, mặt luỡi, không bật bơi, vô thanh Khi phát âm
Trang 24mặt lưỡi nâng lên phía ngạc cứng
[t6] q: phụ âm the xát, mặt Tưỡi, bật hơi, vỗ thanh
[6] x: phụ âm xát, mặt lưỡi, võ thanh
[k1 §: phụ âm tắc, gốc lưỡi, không bật hơi, vô thanh Khi phát âm
phần cudi lưỡi gốc lưỡi) nâng lên phía ngạc mềm
[k* ]k: phụ âm tắc, gốc lưỡi, bật hơi, vô thanh
| x [ h: phụ âm xát, gốc lưỡi, vô thanh
Ngoài ra, trong tiếng Ilán còn có một số âm tiết không có phụ âm đầu
Người ta thường gọi là “phụ âm zêrô” Tiếng Hán có hai khả năng khác
nhau về mặt “phụ âm đầu zêrô” Thứ nhất là những âm tiết bắt đầu với
nguyên âm i, 0, , chúng ta có thể càm thấy được không khí đi ra bị căn
trở trong thanh lầu gây nên tiếng xát, chúng ta gọi âm này là bán nguyên
âm, cũng có thể gọi là bấn phụ âm Những âm tiết bắt đầu bing i va ii người ta ghỉ bằng con chữ y Còn những âm tiết bắt dần bằng H người ta ghỉ bằng con chữ w Thứ hai là những âm tiết không bắt đầu bing i, u, ti
như : “ãn”, “ải” , khi đọc người ta cho rằng đó là sự tồn tại của âm xát
mặt lưỡi |y| hoặc âm tắc họng |2| đứng trước những âm tiết này
Danh sách phụ âm cuối trong tiếng Tian:
Tiếng Hán có 2 phụ âm cuối Đó là phụ âm vang mũi [n] n và [n]ng
Về vị trí cầu ấm, [n] là phụ âm vang mũi đâu lưỡi răng Còn [n] là phụ
âm vang mũi đầu lưỡi ngạc Về phương thức cấu âm, hai âm này đều là
âm xát vang mũi hữu thanh Khi phát âm |n|, ngạc mềm được hạ thấp
Trang 25xuống vũ luỗng hơi được thoát ra ngoài qua đường mũi
ĐDiễu cần phải chú ý là phụ ñm [ning trong tiéng Hán chỉ có thể làm
phụ âm cuỗi, không thể làm phụ âm đầu được
|
Phụ âm trong tiếng Việt
Phụ âm tiếng Việt cũng có thể nhận diện bằng vị trí cấu âm và
phương thức cấu âm Phụ âm tiếng Việt có thể đứng đầu và đứng cuỗi âm
tiết nhưng không thể đồng nhất Sự phân chia các âm vi ra thành những
hệ thống khác nhau là dứt khoát Với những lý do trên, chúng tôi chọn hệ
thống phụ âm dầu và hệ thẳng phụ âm cuối tiếng Việt làm cơ sở dễ dối
chiếu với hệ thống phụ âm tiếng Hán
Danh sách phụ âm đầu trong tiếng Việt:
‘Theo ede nha Việt ngữ hợc, phụ âm dầu tiếng Việt gồm 22 âm vị
Trong đó có 1 phụ âm có kiểu chữ viết zêrô, I7 phụ âm có một kiểu chữ viết, 3 phụ âm có hai kiểu chữ viết và I phụ âm có ba kiểu chữ viết
Trang 26Xát TIữu thanh M Zz 3 y h
- Căn cứ uào phương thức câu âm, có thể chia thành:
Nhớm phụ âm tắc Nhóm này gồm I2 phụ âm: |t | th |†| t, It] ts le | ch
Nhóm phụ âm họng: [h ] h, [?]
Danh sách phụ âm cuối trong liễng Việt:
"Tiếng Việt có 10 âm cuối, trong đó có 8 phụ âm, 2 bán nguyên âm
Các âm cuối có đặc điểm chức năng riêng, phương thức phát âm cũng
khác với phụ âm dầu, nên phải khu biệt với các tiêu chí của phụ âm đầu
So sánh *Ư trong “ta” và trong “cát” Lối thoát của không khí không được khai thông lrở lại sau khi bị cản trở như trưởng hợp phát âm các phụ
âm khác bằng động tác mở ra, kèm theo một tiếng động đặc thù Do đó
trong nhiều trường hợp các phụ âm cuỗi thực chất chỉ là một khoảng im
lắng Chứng ta được nhận diện là do khi đóng vai trò kết thúc âm tiết,
chúng đã biển đối âm sắc của âm chính đi ở giai đoạn cuối Như vậy, số
Trang 27lượng phụ âm của tiếng Việt thực chất nhiêu hơn 22 phụ âm
anh sách âm cuối tiếng Việt:
+ Âm tắc: Ip] p [t] t, [e] ch, [k] e
+ Âm mũi: [m] m, In] a, [Pp] nb, [pl ng
+ Ban nguyén Gm: — [j] i/y , [w] o/u
1.1.2.3 Một vài nhận xét về phụ âm tiếng Hán và tiếng Việt
- Về phương thức cầu âm Phụ âm tiếng Việt và phụ âm tiếng Hán đều
có âm tắc, âm xát, âm mũi và âm bên Tiếng Ilần có 6 âm tắc: /b, p', t, t,
k, k% Tiếng Việt có 12 âm tắc Đó là : /£, tt, „ k, 3, B, dý m„n, J, ý
Cả tiếng Việt và tiếng Hán đều phân biệt âm xát hữu thanh và âm vô
thanh Tiếng Tần có 6 âm xát là: ƒ, x,6,§, Z4 s ý Trong đó / là âm hữu thanh, còn lại 5 âm xát đều là âm vô thanh; tiếng Việt có 1U âm xát là: /f
p về bật hơi và không bật hơi: z — é, sä — ch, j — q Đây là những
phụ âm tiếng Hán có mà tiếng Việt không có
- Về vị trí cấu âm Sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ là tiếng Hán không
có âm họng mà tiếng Việt có Còn các vị trí cầu âm như môi, môi - ring,
Trang 28đầu lưỡi, mặt lưỡi đều giếng hót
Chúng ta có thể nhân diện phụ âm giống nhau và khác nhau như sau: a) Những trường hợp có vị trí cầu âm và phương thức cầu âm giống nhan:
- phụ âm xát, vô thanh, môi: / f /
- Phụ âm xát, vô thanh, đầu lưỡi: / s/
- Phụ âm xat, vang bên, lợi: /]/
- Phụ âm tắc, không bật hơi, vô thanh, đầu lưỡi / t/
- Phụ âm tắc, không bật hơi, vô thanh, pốc lưỡi / k/
- Phụ âm tắc, vang mũi, hữu thanh, môi / m /
- Phụ âm lắc, vang mũi, hữu thanh, đầu lưỡi lợi /n/
b) Những trường hợp có vị trí cầu âm và phương thửc câu âm khác nhau:
Có thể phân ra hai loại Thử nhất là những phụ âm tiếng Việt có mà
tiếng Hán không có Thứ hai những phụ âm tiếng Hán có mà tiếng Việt
không có Ngoài ra, một số chữ viết của phụ âm liếng Hán huần tuần
giống chữ viết của phụ âm tiếng Việt, nhưng vị trí hoặc phương thức cấu
âm khác nhau, thậm chí cả hai mặt đều không giống nhau
Tiếng Hán có những phụ âm mà tiếng Việt không có Đó là âm dầu
lưỡi ngạc / £§ / zh, /, f§" / ch, /g/ sh và ãm mặt lưỡi /E / j, /E/ q, /§/ x
Đồng thời, tiếng Việt có những phụ âm mà liếng Hán không có Đó là âm
xát, hữu thanh, môi / v / v ; âm tắc, không bật hơi, hữu thanh, đầu lưỡi /dữ
Trang 29đ; âm tắc, không bật hơi, vô thanh, đầu lưỡi / |/ tr; âm tắc, vang mỗi, mặt
lưỡi /n/ nh; âm the, vang mũi, gốc lưỡi / g / ngíngh; âm xát, hữu thanh, gốc lưỡi //g
Điều cần phải chú ý là có những phụ âm chữ viết giống nhau,
nhưng vị trí hoặc phương thức cầu âm khác nhau Âm tắc, không bật hơi,
môi ở tiếng Việt là âm hữu thanh, nhưng trong tiếng Hắn là âm vô thanh
Âm xát, vô thanh È tiếng Việt là thanh hầu, tiếng Hán là âm gốc lưỡi Âm tắc, đầu lưỡi, bật hơi / 1'/ h của tiếng Ilán và tiếng Việt cũng có, nhưng chữ viết khác nhau Chữ viết tiếng Việt của phụ âm này là “th”, ví dụ:
"thấy", “thép”, “thứ” v.v Chữ viết { của tiếng Việt là âm tắc, đầu lưỡi,
không bật hơi
1.1.3 Đối chiêu vẫn trong tiếng Hán và tiếng Việt
Vin cha yếu đo các âm vị nguyên âm kết hợp với âm cuối đảm nhận
Nguyên âm có vai trò làm hạt nhân của âm tiết Nguyên âm là âm dược
phat ra thanh tiéng, Indng hei phát ra ngoại một cách tự do Tuỷ theo từng,
ngôn ngữ, nguyên âm có nhiều loại: nguyên âm đơn: #, “cứ, / ï / nguyên
âm đôi: /ie, /ao/ nguyên âm ba: /eief, /aia/
1.1.3.1 Vần trong tiếng Hán
Van là trung tâm của âm tiết Hệ thống vần trong tiếng Hán dang
ding và được phân biệt bằng chữ viết hiện nay có 39 vin (10 nguyên âm
đơn, 13 nguyên âm kép và l6 nguyên âm vang mũi) Căn cứ vào vị trí
cấu âm, sự chuyển động của lưỡi và độ mở rông hay hẹp của miệng, các
Trang 30nguyên âm tiếng Hán có thể được chỉa thành 4 nhóm: nhóm khái khẩu hô,
nhóm toát khẩu hô, nhóm hợp khẩu hô và nhóm tế xỉ hô
TIô là một cách phân tích của bộ môn đẳng vận học đối với vẫn, ding
để phân biệt vần có hay không có âm đêm, vần được mở dầu bằng âm
đệm hoặc nguyên âm nào, tròn môi hay không tròn môi
Bang vẫn của tiếng Hán hiện đại :
Khải | lềxihô Hợpkhẩu Todt khiu
Ile cuối
[er] er
van lanlan |lienlian Juan|uan lyanlian vần có
nguyên | [anlen | [inJin [usnluen [ynlin âm cuối
Trang 31
vang iang tang
mũi | [anleng | [in] ing [ug] ueng
[unlong — [yn] iong
+ Van don tiéng Hán
Trong hé thống ngữ âm tiếng Hán hiện đại, có I0 vần đơn Trong đó
cổ 7 nguyên âm mặt lưỡi, 2 nguyên âm đầu lưỡi và 1 nguyên âm uốn lưỡi
Những nguyên âm không thuộc âm mặt lưỡi, người ta gọi là “nguyên âm đặc biệt" Nguyên âm đơn trong tiếng Ilán không phân biệt ngắn và đài, khác hẳn với tiếng Việt
[A] a: nguyên âm mặt luỡi, hàng giữa, thấp, không tròn môi Khi phát
âm mở miệng to, vị trí của lưỡi thấp, ở giữa trong miệng, không tròn môi
Izlê: nguyên âm mặt lưỡi, hàng trước, hơi hẹp không tròn môi
Nguyên âm [£] một mình không thê đầm nhận vẫn Nó chí có thể kết hợp
với nguyên âm i và trở thành nguyên âm đôi ¿£ và de , phi bằng con chữ
e
[i]i: nguyên âm mặt lưỡi, hàng trước, hẹp, không Iròn môi Nguyên âm
lïl này có thể làm âm chính, thí dụ: qĩ zĩ "vợ”, cũng có thể làm âm dệm,
Trang 32
thí dụ: jia “nha”, còn có thé Jam âm cuối, như: hãi zi “cơn bế”,
Iu| u : nguyên âm mặt lưỡi, hàng sau, hẹp, tròn môi, có âm sắc trằm |u| giỏng như [i], có thể làm âm chính, như: pt st “mộc mạc”; cũng có thể
làm âm đệm, thí dụ: guăn; còn có thể làm âm cuỗi, như kẽu “miệng”
Ly ] ủ: nguyên âm mặt lưỡi, hàng trước, hẹp, tròn môi
[ 1i: nguyên âm đầu lưỡi - răng, hằng sau, không tròn môi Nguyên
âm này chỉ có thể kết hợp với phụ âm đầu | ts | z, | (s“ ]€, | 5 |5
[ li: nguyên âm đầu lưỡi - lợi, hàng sau, không tròn môi Nguyên âm
này chỉ có thể kết hợp với phụ âm dau [¢§] zh, [t$‘] ch, [x] sh
[or] er: nguyên âm cuốn lưỡi, hàng giữa, không tròn môi Amr trong
âm này không phải là một âm tổ đơn lập mà là một dấu hiệu của động tác
cuốn lưỡi Mặc dù er có hai chữ latin, nhưng vẫn là một nguyên âm đơn
Còn có một đặc điểm nữa là khi trở thành âm tiết, âm tiết này chỉ có hình thức phụ âm dau zêrô Vần nguyên âm “er” trong tiếng Hần hiện dại có 4
âm tiết: ẽt, ét, Št,èr
+ Van kép tiếng Hán
Vẫn kép da nguyên âm đôi và nguyên âm ba tạo nên Khi phát âm, cả
vị trí của lưỡi và độ mở của miệng đều có biển adi Vin kép tối thiểu có
hai thanh phan, dau van và âm chính hoặc âm chính và âm cuối Vần kép
tiếng Hán tôi đa có ba thành phân, đầu vần, âm chính và âm cuối.
Trang 33Bang kết cầu của vẫn kếp tiỗng Hán
Van
Dâu vần do âm đệm đảm nhận Âm đệm là âm xuất hiện giữa phụ âm
đầu và âm chính Nó có chức năng tu chỉnh âm sắc của ấm tiết chứ không;
phải tạo nên âm sắc chủ yếu cho âm tiết Cho nên âm đệm là âm không có tính âm tiết Ví dụ: trong âm tiét “fia” “i” là âm đệm Trong tiếng TIần chỉ
có nguyên âm w [ u ], ï [ ï ], [ y ] có thể làm âm đệm Âm đệm không thể làm trung tâm của âm tiết
Âm chính làm trung tâm của âm tiết Âm chỉnh trong âm tiết tiếng
Hán bao giờ cũng là nguyên âm Chính vì vậy, nó còn được gọi là nguyên
âm giữa vần Mười nguyễn âm đơn đều có thể làm âm chính, nhưng
thưởng do a, o, e, ê dầm nhận
Âm cuối là những âm đứng cuối vẫn, đứng cuối âm tiết Trong tiéng
Tlán có 2 phụ âm âm cuối n [ n ] và ng [ ] và 2 bần nguyên âm âm cuối
ili] vau[u]
+ Nhóm vẫn kép do nguyên âm kết hợp với phụ âm
Các phụ âm cuỗi nói chung đều đứng sau các nguyên âm, tạo nên vẫn
vang mili Tiếng Hán có 16 van vang mũi
-#ný: phụ âm đầu lưỡi — răng, phú âm mũi bữu thanh Trong tiếng
Trang 34Hán có 8 vần kép vang mũi đầu lưỡi kết thúc bằng âm cuối /m Đó là
những âm |an | an | ien | ian, [luan | uan, | yan | tan, |on| en, | in | in, [won] uen, [ yu ] ủn
- #7: phụ âm cuối lưỡi, phụ âm mũi hữu thanh, chữ viết bằng ng
Trong tiếng Hán có 8 vin kép vang mũi gốc lưỡi bằng âm cuỗi / n /
Những âm này là[an ] ang, [ iag ] iang, [ uag ] uang, [ sp ] eng, [ ig ] ing,
| wan | ueng, | un | ong, | yg | iong
+ Nhóm vẫn kép do nguyên âm kết hợp với bdn nguyén dm
Vin là bộ phận mang âm sắc chú yếu của âm tiết Cho nên, trong
phần vần, nhân là yếu tổ quết định toàn bộ âm sắc của phân vẫn Yêu tổ
nhân của vẫn tiếng Hán do các nguyên âm đơn đăm nhận Vai trò của những nguyên âm đơn này là tao đỉnh vần và cũng là đỉnh của âm tiết
Nhóm vẫn này chúng ta có thé chia thành ba lớp khác nhau theo vị trí của
nhân trong vần
Lép 1, nhóm vẫn kép nhân đứng ở đầu vằn.Tiểng Hán có 4 vin kép
thuộc lớn này Trong các vẫn này, đều có hai yếu tố Yếu tố nhân mạnh
hơn yếu tế sau, tạo âm sắc chính cho vẫn Đó là: [ai | ai, |ei | ei, | au Jao,
[ou Jou
Lớp 2, lớp này trái lại với lớp I Yếu tổ nhân đứng sau, yếu tố yếu
đứng trước vần Yếu tô sau tạo âm sắc chính cho vẫn Tiếng Hán có 5 vẫn
kép thuộc lớp này: [ ¡A ] ia, [ i] ïe, [ uA ] ua, [ uo ] uo, [ ye] fie
Lớp 3, van trong lớp này có ba yếu tổ Yếu tố nhân đứng ở giữa vần.
Trang 35Yếu tổ đứng trước nhân, vừa ngắn vừa yếu Còn yếu tố đứng sau nhân
càng yên hơn yếu tố đầu tiên Lớp vần này do nguyên âm ba tạo nên Tiếng IIán có 4 vẫn kép thuộc lớp này: [iau ] iao, [ iœu ] iơu, [ uai ] uai, [uci ] uci
1.3.2 Vẫn trong tiếng Việt
1.3.2.1 Danh sách nguyên âm của liếng Việt
Nguyên âm là âm chính của vần tiếng Việt Về số lượng của nguyên
âm tiếng 'Việt ở Việt Nam hiện cố hai quan niệm khác nhau
Quan niệm thứ nhất, cần cứ vào âm vị học, tiếng Việt có 16 nguyên
âm, trong đó có 9 nguyên âm đơn (có 4 nguyên äm đối lập ngắn và dài), 3
nguyễn âm đôi Nếu chấp nhận quan niệm này, trong tiếng Việt sẽ có 8
âm cuối, trong đó pỗm 6 phụ âm và 2 bán nguyên âm
Quan niệm thứ hai, căn cứ vào chữ viết, tức là chữ quốc ngữ, tiếng Việt có l4 nguyên âm, trong đó có 9 nguyên âm dơn (có 2 nguyên âm
đôi lập ngắn và đài), 3 nguyên âm đôi Nêu chấp nhận quan niệm này,
trong tiếng Việt sỡ có 10 âm cuối Trong đó gồm § phụ âm và 2 bán nguyên âm
Trong luận văn này, chúng tôi chọn giải pháp tiếng Việt có 8 phụ âm
cuối Chính vì vậy, hệ thống nguyên âm chính trong ngữ âm tiếng Việt
đang dùng và được phân biệt 14+ nguyên âm Dó là nguyên âm sau đây:
Nguyên âm [u], chữ viết là u : ứ, dang man
Nguyễn âm |o|, chữ viết là ô : môn, rốt, mô.
Trang 36Nguyên âm [a], chữ viết lào _ Gmòn, 0o, ndn}
Nguyên âm [tu] chữ viết là ư : mừng, lu, tức
Nguyên 4m [a], chit viết là ơ : hơn, mon mo,
Nguyên âm [a] chữ viết là a : fz, mang vác
Nguyên âm [¡], chữ viết lài (tin, ninh, di) va y GhuỦ, mỹ/nữ, huý)
Nguyên âm [e], chữ viết là ô : tên, mệnh, để
Nguyên âm |e|, chữ viết là e : hen, ném, hè
Âm đôi [uo],chữ viết là wõ (uốn, nuối,huồng) và na (mua,thua,mùa)
Âm đôi [uua], chữ viết là ơ (mượn, được, lượt) và ua (mưa, dưa, lừa)
Am di [ie], chit viét la ié (li
tide, tién),ia (mia, dia, via), yé (tuyén,
ngayễn,huyễn),va (khuyn)
Am ngắn |ã], chữ viết là 4 tuân, thất, thập, mây, mâu)
Âm ngắn [5], chữ viết là š (mắng, thải, tắn) và a (máy), than, thay)
Đảng nguyên âm tiếng Việt:
9 nguyên âm dài u, 0, 9, WH, 9, a, Í, £, a
11 nguyên âm đơn 2 nguyên âm ngắn ae a $ 4,3 a x
Phân chia các loại vần:
Theo cấu trúc của vần tiếng Việt, chứng tôi có thể phân chia vần trong
tiếng Việt thành ba loại:
- Vấn có âm đệm Âm đệm là âm xuật hiện giữa phụ âm đầu và âm chính Âm đệm đảm nhận đâu vần Cho nên, âm đệm cũng là một bộ
Trang 37phận của phần van Các nhà Việt ngữ học mới chỉ thống nhất rằng, âm
đêm trong cầu trúc âm tiết tiếng Việt là một bán nguyên âm /-w-/ Khi thể
hiện bằng chữ viết, có hai cách phản ánh hai biến thể của nó:
a) Ding con chit ø để phi khi san nó là các nguyên âm có dé mé ring
fader
b) Dùng con chit u dé ghi khi sau no La ode nguyén âm còn lại, ví dụ:
uy, ué, uan Déng thoi ở trường hợp âm đêm /-w-/ đi sau phụ âm đầu k bao giờ cũng được ghi bằng u, vi du: qua, quen, quê
- Vẫn không có âm cuối Tiếng Việt có 12 vần có âm cuỗi zêrô
Trong đó có Ø nguyên âm đơn và ba nguyên âm đôi 9 nguyên âm đơn là:
u, 0, 3, tu, a, ä, 1, £, a Còn 3 nguyên âm đôi là: [ie] ia/iê, [uie] ưa ươ, [ao] a/uô
- Vấn có âm cuối Tiếng Việt có 10 ãm cuối, trong đó cố 2 bần nguyên
âm va 8 phụ âm Theo thỗng kê, loại vần có âm cuối tiếng Việt cố khoảng,
101 van
1.1.3.3 Một vài nhận xót vỀ nguyên âm tiếng Hần và tiếng Việt
Về số lượng, tiếng Việt có LI nguyên âm đơn, trong đó có 9 nguyên
âm đài và 2 nguyên âm ngắn Tiếng Hán có L0 nguyên âm đơn, nhưng
không phân biệt đài với ngắn Tiếng Việt có 155 vần, còn tiếng Hán chỉ
có 39 vần Vần tiếng Hán ít hơn tiếng Việt rất nhiều
-VỀ nguyên âm đơn lương ứng giữa hai ngôn ngữ có:
+ Nguyên âm hàng sau : /i/, fef, fef.
Trang 38+ Nguyên âm giữa không tròn môi: /⁄/
+ Nguyên âm hàng trước tròn môi: /u/ và /O/
-VỀ nguyên âm đơn không tương ứng giữa hai ngôn ngữ có:
+ Tiếng Hán có nguyên âm hàng trước tròn môi ïÍ /v/ mà tiếng Việt
không có
+ Nguyên ẩm tiống Hán không phân biệt nguyên ñm dài và ngắn
+ Tiếng Hán có 3 nguyên âm đặc biệt, đó là -i| |, -il | va er lerl
Nguyên âm [ ] được gọi là nguyên âm hàng trước đầu lưỡi, chỉ đứng sau
phụ âm z, e và s, ví dụ: “Ɇ#.” zì sĩ Nguyên âm [ ] là nguyên âm hàng
sau đầu lưỡi, không tròn môi, chỉ đứng sau phụ âm zh, ch và sh, ví dụ:
“KOR” zhi shi Nguyén 4m [er] là nguyên âm hàng giữa cuốn lưỡi
không tròn môi, chỉ xuất hiền trong âm tiết phụ âm zéro
+ Khái niệm về nguyên âm đôi, tiếng Việt và tiếng Llán hơi khác Nhà ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng nguyên âm đôi là những âm tạo thành từ hai yếu tê gắn liễn nhau, không bao giờ tách khỏi nhau, âm sắc
có biến đổi từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc Cáo nguyên âm đổi tiếng Việt hầu như đóng vai trò trung tâm của âm tiết Nhưng khái niệm nguyên âm
đôi của tiếng Lián là đo âm đệm và âm chính hoặc âm chính và âm cuối tạo nên
1.1.4 Đái chiêu thanh điệu tiếng Hán và tiếng Việt
Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói Irong một âm tiết
có tác dụng, cấu tạo và khu biệt vỗ âm thanh của từ hoặc hình vị Mặc
Trang 39dù thanh điêu không phải là một thành phần cấu tạo âm thanh, nhưng
thanh điệu có chức năng khu biệt ý nghĩa của từ Irong một ngôn ngữ
các thanh điệu thường phân biệt với nhau theo một số đặc trưng nhất định
Đưa vào hai dặc trưng cao dé và dường nét vận động người ta có thể
miéu tả các thanh điệu của mệt ngôn ngữ nào đó
1.1.4.1 Thanh điệu tiếng Hán
‘Tren thé giới không phải là ngôn ngữ nào đều có thanh điệu Hàng
loạt ngôn ngữ ớ châu Âu lẫn cả châu Á như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng
Pháp, tiếng Hàn, tiếng Nhật dều không có thanh diệu Tiếng Hấn là ngôn
ngữ đơn lập có thanh điệu Thanh điệu tham gia vào việc cầu tạo từ, làm chức năng phân biệt ý nghĩa của tử và làm đấu hiệu phân biệt từ Thanh
điệu có chức năng như một âm vị, nó gắn liền với âm tiết và biểu hiện
trong toàn âm tiết
Tiếng Hán có 4 thanh diện: âm bình “—*,đương bình “ / "thượng
thanh “Y ” và khứ thanh “ \ ”
Triều Nguyên Nhiệm, nhà ngữ âm học Trung Quốc, sắng tao ra
“phương pháp đánh dấu âm vực 5 cấp độ ” đễ ghi và hiểu rõ âm vực của
các thanh điệu Mỗi chữ số ghi một mức cao độ: mức cao (5): mức hơi
cao (4); mức trung bình (3); mức hơi thấp (2); mức thấp (1) Chuỗi chữ số
biểu diễn đường nét biển thiên của cao độ Chúng ta có thể hình dung 4m
vực về mặt cao độ của các thanh điệu tiêng Hán bảng cách điệu số hoá.
Trang 40+ Đặc điểm của các thanh điệu tiếng Hán
(1) Thanh âm bình, còn gọi là thanh thử nhất, chữ viết ghỉ bằng dấu
=—* So với các thanh điệu khác, thanh này là thanh cao Đường nét âm
điệu bằng phẳng, dồng đều Theo “phương pháp đánh dấu âm vực 5 cấp
độ ”, thanh này vừa bằng vita cao, được ghi bing sé 55
(2) Thanh dương bình, còn gọi là thanh thứ hai, chữ viết ghi bằng dấu
“/”, Dây là một thanh cao, tử mức trung bình lên cao heo “phương pháp đánh dấu âm vực 5 cấp độ ", được ghỉ bằng số 35
(3) Thanh thượng thanh, cồn gọi là thanh thứ ba, chữ viết phi bằng
đâu “Y” Dây là một thanh khéng đều, bắt đầu ở âm vực hơi thấp (Q)
xuống đến âm vuc thap nhất (1 độ), sau đó vút lôn rất nhanh và cao hen
độ cũ, lên đến vực hơi cao(4 đô) Cho nên, theo “phương pháp đánh dấu
âm vực 5 cấp độ ”, được ghi bằng số 214
(4) Thanh khứ thanh, cũng có thể goi là thanh thứ tr Thanh điệu này
là một thanh điệu thuộc âm vực thấp Dường nét âm điệu bằng phẳng, bắt
đầu ở vực cao nhất (5), kết thúc ở vực thấp nhất (1), như từ trời xuống đất
"Thanh này xuống thập một cách mạnh mẽ Thanh này có thể ghỉ bằng dấu
“\" Theo “phương pháp đánh dầu âm vực 5 cấp độ”, đựoc ghi bing số
51
Thanh điệu là một nét đặc trưng nỗi bật của tiếng Hán hiện đại Day
là một đặc điểm khiến cho nhiều người học nước ngoài cảm thấy tiếng Hán rất khó thể hiện được trong hoạt đồng nói năng.