1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình Độ phát triển của lực lượng sản xuất Ở việt nam

84 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình đô phát triển của lực lượng sẵn xuất là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là quy l

Trang 1

MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình đô phát triển của lực lượng

sẵn xuất là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là quy luật cơ bản chỉ phối tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển của nhân

loại, được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khái quát trên cơ sở phân tích sự vận động và phát triển của xã hội loài người Vì vậy, việc nhận

thức, đặc biệt là sự vận dụng đúng và sảng tạo quy luật này trong hoạt động

thực tiễn của con người là vẫn đề có ý nghĩa to lớn và rất cấp thiết cả về

phương diện lý luận lẫn thực tiễn

Ở nước ta, trong những năm trước đổi mới, đã có lúc Đảng †a nhận thức

và vận dụng quy luật này chưa đúng vả không phủ hợp với thực trạng phát triển của đất nước khi chủ trương cho rằng: Quan hệ sản xuất có thể “đi trước” một bước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Dây là quan

diém không phủ hợp bởi vì lực lượng sản xuất ở nước ta lúc dó còn rất thấp kém, quan hệ sản xuất như vậy là vượt quá xa so với trình độ của lực lượng sẵn xuất Sự không phù hợp đó dẫn đến việc kèm hãm sự phát triển ủa lực

lượng sân xuất, làm cho toàn bộ nền sẵn xuất ở nước †a rơi vào khó khăn, trì

trệ, khủng hoảng Tình hình đỏ sau này được Đảng ta tống kết rút kinh nghiềm, khẳng định lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ khi quan hệ sản

xuất lỗi thời, mà ngay cá khi cỏ những yếu tố trong quan hệ sắn xuất vượt quả

xã so với lực lượng sẵn xuất

Xuất phát từ thực tiễn đất nước vả trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tai Dai hội VI năm 1986, Dảng ta đã để ra đường lỗi đổi

mới trong đỏ thể hiện tư duy mới của Đăng về quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất Trong diều kiện trình độ lực lượng sẵn xuất ở nước tz còn thấp kém, để Lạo ra một quan hệ sản xuất

phủ hợp với lực lượng sản xuất đó, Đảng ta đã có những đổi mới quan trọng

Trang 2

trong nhận thức và xây dựng quan hệ sắn xuất về cả ba nội dung sở hữu, quản

lý và phân phối Thực tiễn đất nước sau hơn 20 năm qua đã chứng tỏ tỉnh đứng đắn của đường lối đổi mới nói chung, của những đổi mới trong nhận

thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình độ phát triển

của lực lượng sản xuất nói ring

Hên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, quá trình đỗi mới quan hệ sản xuất tuy đang đi đúng hướng, nhưng trong nhiều trường hợp nó vẫn còn là nhân tế

cản trở quả trình phát triển của lực lượng sản xuất, lả nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưa được huy động

và khai thác tốt Hơn nữa, thực tiễn luôn vận động, lực lượng sắn xuất phát

triển không ngửng, nó luôn đặt ra những yêu cầu mới tronp quá trình phát triển Do vậy, vấn dễ này cần phải tiếp tục có những nghiên cửu mới sâu sắc

hơn nữa để đưa ra những giải pháp thiết thực đáp ứng yêu cầu giải phóng,

phát triển lực lượng sản xuất, đổng thời rúi ra được những bài học kinh

nghiệm quỷ báu, tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế đã mắc phải, góp phần tạo ra những cơ sở khoa học cho quá trình vận dụng đúng đấn quy luật này ở nước ta trong những giai đoạn hiện

nay

Vi vay, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nhận thức và vận dụng quy luật về

sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất ở Liệt Nam trong thei kỳ đối mói” làm đề tài luận văn của mình

2 Tỉnh hình nghiên cửu

Là một trong những quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển

xã hội, quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trinh độ phát triển của lực

lượng sản xuất đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, với những mức độ vả mục đích khác nhau

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều nghiên cửu sinh chọn quy luật này làm để tài luận án phó tiến sĩ, chẳng hạn như

Trang 3

Nguyễn Tĩnh Gia với “Biểu hiện đặc thủ của quy luật quan hệ sản xuất phù

hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sẵn xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Trương IIữu Hoàn với “Quy luật phù hợp của

ăn sẾt và vấn đề nhân thức wih At mà

quan hệ với lực lượng sản xuất và vẫn đề nhận thúc, vận dụng quy luật này ở

một số nước xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn Irọng Tuần với “Nhận thức và vận

dung quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình độ phát triển của lực lượng,

sẵn xuất trong nông nghiệp nước tz thời kỳ đổi mới” Những công trình nảy

có một điểm chưng là nghiên cửu toàn bộ quy luật dưới góc độ lý luận, nhưng

phạm vi thực tiễn mả các công trinh trên đề cập đến lại rất khác nhau, các số

liệu được để cập đến cũng đã có phần lạc hậu (các công trinh này được hoàn thành trong những năm từ 1987 đến 1996), do vậy cần tiếp tục nghiên cứu

mối quan hệ này theo những hướng mới với những số liệu mới

Có những tác giả chỉ tiếp cần quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với

trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đưới góc độ lý luận, chẳng hạn như Pham Vin Chung trong “Triết học Mác về lịch sti”, tac giả phân tích sâu sắc

và trình bày có hệ thông về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và mỗi quan

hệ biến chứng giữa chúng theo tiên trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác Nhưng do mục dích nghiên cửu nên tác giả chí dừng lại ở việc

nghiên cứu vấn đề nay trên phương điện lý luận

Nhiều tác giả không để cập đến toàn bộ nội dung quy luật mả chỉ nghiền cứu riêng quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay, chẳng hạn như Lê

Xuân Tùng với “Các thành phần kinh tế và cách mạng quan hệ sản xuất”,

Nguyễn Thị Quý với “Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở Việt

Nam”; Lượng Xuân Quỷ với “Xây dựng quan hệ sắn xuất định hướng xã hội chủ nghĩa vả thực hiện tiễn bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, Các tác giả

nảy đã tập trung làm rõ quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay, méi quan hệ giữa quả trình đổi mới quan hệ sản xuất và nền kinh tế nhiều thành phan, van dé

định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới quan hé san xuat, Day

Trang 4

là những công trình nghiên cứu rất cỏ giả trị, là nguồn tải liệu tham khảo quý

bau dai với chúng tôi

Bén cạnh đó, liên quan đến quy luật về sự phù hợp của quan hệ sẵn xuất với trình độ phát triển của lực lượng sân xuất, có những tác giả còn

nghiên cứu chỉ tiết hơn Chẳng hạn như Nguyễn Irọng Chuẩn với "Đổi mới quan niệm về chế dộ sở hữu và ý nghĩa chiến lược của nó dối với sự phát triển

của Việt Nam hiện nay” Phạm Văn Đức với “Đỗi mới sở hữu ở Việt Nam:

một số cơ sở lý luận”, Vũ Văn Viên với “Cổ phần hóa - một phương điện

quan trọng để đa dạng hóa các hình thức sở hữu”, Đặng lIữu Toản với “Sự

tên tại đan xen các hình thức sở hữu - một tất yêu lịch sử, một yêu câu bức

thiết trong phát triển kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nguyễn Định Kháng với “Cơ sở dé nhận thức về sở hữu và thành phan kinh té trong

quá trình đổi mới ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Thức với “Sở hữu: lý luận và

vận dụng ở Việt Nam”, Nguyễn Ngọc HIả với “Quan điểm của Đẳng Cộng sản Việt Nam về vai trò động lực của chế độ sở hữu tu nhân trong điều kiện hiện

nay”, Những tác giả nảy đã làm rõ cơ sở lý luân và tính tật yếu của việc đa đang hóa các loại hình sở hữu, vai trò của sở hữu nói chung, của các loại hình

sử hữu nói riêng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước la hiện

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Hậu và

Nguyễn Thị Khư I1à với “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa trong, điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức Thương mại

thế giới”, Phan Thanh Phố với “Vai trỏ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường dịnh hưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Vũ Đỉnh Bach với “Kinh tế

Trang 5

thị trường dmh hướng xã hồi chủ nghĩa ờ Việt Nam”, Vũ Trọng Phúc với

“Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Trong quá trình bàn về vai trỏ của Nhà nước trong tổ chức, quản lý sẵn xuất,

các tác giả này đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nuớc đối

với nền kinh tế, thực hiện việc tổ chức, quản lý sản xuất sao cho phủ hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu ở nước ta trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ

chế, công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước: Tất nhiên, do phạm vì nghiên

cứu, nên các tác giả nảy không bản đến toàn bộ mỗi quan hệ giữa quan hệ sẵn

xuất với lực lượng sản xuất mà chỉ tập trung bàn đến vẫn để nâng cao năng

lực quần lý của Nhà nước trong tổ chức, quản lý sản xuất, tạo ra các cơ chế

chính sách dễ giải phóng lực lượng sản xuất và huy động mọi nguồn lực vào

sắn xuất kinh doanh

Trong quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối sin phẩm lao động cũng là

bộ phận rất quan trong, nỏ chịu sự quy định của lực lượng sản xuất, đồng thời chịu sự quy định của quan hệ sở hữu, quan hệ tố chức quan lý sản xuất, nhưng

nó cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, cũng đã

có nhiều tác giá nghiên cứu vấn dễ này, tiêu biểu phải kể đến Lý Bần với “Lý

luận chung về phân phối dưới chủ nghĩa xã hội", Trần Văn Đoàn với “Nhận thức lại sự phê phán của C.Miác về công bằng trong phân phối”, Những

đánh giá cao của tác giả Trần Văn Doàn đổi với Mác trong quan điểm về phân

phối cũng như những quan điểm của Lý Bân về phân phổi dưới chủ nghĩa xã

hội rất có ý nghĩa quan trọng dối với chúng tôi trong quả trình thực hién dé tai

của mình

Như vậy, quy luật quan hệ sản xuất phủ hợp với trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ, mức độ, pham vi khác nhau mả trên đây chỉ là một số công trình mang tỉnh điển hình

ma chúng tỗi có dịp tìm hiểu Đây sẽ là nguồn từ liệu quý hau va gợi mở cho

Trang 6

chúng tôi nhiều vẫn để trong quá trình nghiên cứu dễ tải “Nhận thức vả van

dụng quy luật về sự phủ hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”

3 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Äục đích nghiên cứu: phần tích, làm rỗ hơn sự nhận thức và vận dụng quy luật về sự phủ hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

* Nhiệm tụ nghiên cứu: Thứ nhất, làm rõ hơn những vẫn để lý luận về

lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thứ hai, phân tích thực

trạng nhận thức và vận dụng quy luật về sự phủ hợp của quan hệ săn xuất với

trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất ớ Việt Nam Thứ ba, xây dựng một

số kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất trên cơ

sở phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

4 Đối Lượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu la quá trình Đảng Cộng sản Việt

am nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta từ năm 1986 đến nay

5 Cơ sử lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Miác-Lênin, chủ yếu là quan điểm về nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển

của lực lượng sẵn xuất, các tài liệu, Văn kiện của Dảng Cộng sản Việt Nam,

các sách háo và tạp chí cỏ liên quan dén dé tai

Các phương pháp nghiên cứu chính bao gồm: phương pháp biện chứng,

duy vật, đặc biệt là quan điểm về tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,

quan điểm lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích tổng hop, .

Trang 7

6 Déng gop của luận văn

Luận văn bỗ sung thêm một số ý kiến về nội dung quy luật quan hệ sân

xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, góp phần lảm rõ

hơn quá trinh nhận thức và vận dụng quy luật này ở nước ta hiện nay Luận

văn khi hoản thành có thể làm tải liệu tham khảo cho việc nghiên cứu những,

vấn dễ liên quan

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

sềm 2 chương, 6 tiết

Chương 1: Quan diểm của chủ nghĩa Mac-I.énin vé quy luật: sự phù

hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuẤt

Chương 2: Quá trình Dắng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng,

quy luật về sự phủ hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ đổi mới

Trang 8

Chương 1

QUAN DIÊM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

: SỰ PHÙ HỢP CÚA QUAN HỆ SÁN XUẤT

VOI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIEN CUA LUC LUONG SAN XUAT

1.1 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là một trong những khái niệm cơ bân của chủ nghĩa

duy vật lịch sử, theo Mác, đây là biểu thị mặt thử nhất của “mối quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: “quan lệ của con người với tự nhiên

và quan hệ của con người với nhau ” [52, tr42], Điều đó có nghĩa là nó biểu

hiện cho quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến và chỉnh

phục giới tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất, đảm bảo cho sự sinh tôn,

phat triển của con người và xã hội loài người

‘rong quả trình sản xuất, cơn người chỉnh phuc tự nhiên bằng sức

mạnh hiện thực của mỉnh, dỏ là sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ, Mác

viết: “Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiền dưới một hình thái có ích cho

đời sống ủa bản thân mình, cơn người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay” [57, tr.266] Tổng hợp những sức mạnh của con người trong quá trinh chính phục tự nhiên, tức là sức mạnh

của sự kết hợp giữa người lao động với tư liêu sản xuất, được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát thành khái niêm lực lượng sản xuất

Như vậy, những trình bảy trên đây về lực lượng sản xuất có thể khái

quát lại như sau: 7c lượng sẵn xuất là một mặt của phương thức sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quả trình sản xuất,

là téng hợp sức mạnh hiện thực của con người (người lao động và tư liệu sản

xuat) trong quá trình chỉnh phục giới tự nhiên, thực hiện việc sản xuất xã hội.

Trang 9

Trinh độ phát triển cúa lực lượng sắn xuất phản ánh trình dỗ chỉnh phục

tự nhiên của con người, thể hiện năng lực thực tiễn cải tạo tự nhiên của con

người Thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là năng suất lao

động xã hội, đây chính là tiêu chuẩn cơ bản dé đánh giá sự tiển bộ xã hội, nó

cũng là nguyên nhân cuối củng quyết định sự thắng lợi của một chế độ xã hội

Chính vì ý nghĩa lớn lao đỏ của năng suất lao động mả l,ênin khẳng định

“Nâng cao năng suất lao dộng lả một trong những nhiệm vụ cơ bản, bởi vỉ

không có nó thì không thể chuyển hẳn lên chế độ cộng săn dược” |44 tr.120|

Trong tiến trình lịch sử, lực lượng sẵn xuất phát triển từ trình độ thấn

lên trình độ cao, đó là sự phát triển có tính kế thừa Con người dù muốn hay

không thi cũng không thể tự do lựa chợn lực lượng sản xuất cho riêng mình,

bởi vi “mọi lực lượng sản xuất đều là lực lượng được tạo ra, đều 1a san phẩm của hoạt đông trước đó Như thế, lực lượng sản xuất là kết quả của nghị lực

thực tiễn của con người nhưng bản thân nghị lực ấy lại bị chế định bởi những,

điều kiên mà con người được dặt vảo, bởi những lực lượng sắn xuất ma trước

dé d có được, bởi một hình thức xã hội đã tần tại trước khi có những lực lượng sản xuất dy, mà hình thức xã hội ấy lại được tạo ra không phải những con người ây, mà bởi thể hệ trước đó” [S8, tr657]

Sự phát triển có tính kế thừa này của lực lượng sản xuất không chỉ điễn

ra ở tư liệu lao động mả cá ở trình độ của người lao đông, khi nói vẻ nhiêm

vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết, Lênin khẳng định: để phát triển lực

lượng sản xuất “đỏi hỏi phái sử dụng ngay lập tức, một cách rộng rất và trong, mọi lĩnh vực, các chuyên gia khoa học và kỹ thuật mà chủ nghĩa tư bản dã dễ

lại cho chúng ta, mặc dù họ phần nhiều không tránh khỏi bị nhiễm thế giới

quan và các thói quen tư sản” [44, tr.145]

Lực lượng sẵn xuấi, trong quả trình phát triển dủa nó, cho dù thường

xuyên bị cân trở bởi những yêu tổ khác nhau, đặc biệt lả những quan hệ sản xuất đã lỗi thời, nhưng nhìn chung thì lực lượng sản xuất vẫn tiến lên từng

Trang 10

bước theo quy luật của nó Bản thân các lực lượng sẵn xuất không phải là sắn phẩm của riêng một thời đại nảo, mà lả sẵn phẩm của cả một quá trình phát triển liên Lục từ thấp tới cao qua các thời đại

Vé mat cau trúc, lực lượng sán xuất được cấu thành từ hai yếu lỖ cử

bản là người lao động và tư liệu sân xuất

Người lao động: với tính cách là mật bộ phận của lực lượng sản xuất,

người lao động là những người cỏ khả năng lao động, tức là phải có các phẩm chất sức mạnh trí tuệ, sức mạnh thế chất, kinh nghiệm và kỹ năng lao

động, Ö những thời dại khác nhau, các phẩm chất trên cũng có những vai trò khác nhau; trong các xã hội tiền tư bản, khi lực lượng sản xuất còn ở trình

đỗ thủ công, yếu tố thể chất nối bật hơn ca; ong xã hội tư bản, yếu tố kinh

nghiệm va kỹ năng lao động trở nên đặc biệt quan trọng để phục vụ cho các

đây chuyền sản xuất công nghiệp, điều khiển các loại máy móc; hiện nay, khi lực lượng sản xuất ngày cảng hiện dai, tin hoc hóa, tự động hóa thì yêu tổ trí

thức có vai trò đặc biệt quan trọng, lao động của con người ngảy cảng trở

thánh lao đông có trí tuệ và lao động trí tuệ Cảng ngây hàm lượng trí tuệ

trong lao động càng cao, trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay,

con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực đặc

tiệt và võ tận Chính sức mạnh trí tuệ của con người đã đem lại những thành

tựu lớn lao trong nên sản xuất hiện đại Tuy nhiên, theo Miác, “tiên bô của trí

thức chỉ lả một mặt, một dang thức biểu hiện của sự phát triển mới của lực lượng sản xuất của con người, còn lực lượng sản xuất vĩ dại nhất chỉnh là giai gấp cách mạng” |4], tr.27|

Irong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tổ giữ vai trò quyết

định, Lônin khẳng đmh: "lực lượng sản xuất hảng đầu của Loàn thể nhân loại

là công nhân, là người lao động" [45, tr.430] Khẳng định người lao động giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất là vì: suy cho cùng thì các tư liệu sắn xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, do người lao đông tạo ra và

10

Trang 11

không ngừng đổi mới, cải tiến; giả trị và hiệu quả của các tư liễu sản xuất phụ

là tư liệu lao động và đối Lượng lao động Miác khẳng định: “cả tư liệu lao

động và đối tượng lao động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất” [57, tr.271]

Pdi trong lao động bao bồm những bộ phận cúa giới Lự nhiên được

đưa vào trong sản xuất, nó cỏ sẵn trong tự nhiền như đất đai, nguồn nước,

khoáng sản Dối tượng lao động được Mắc giải thích rất rõ như sau: “Dat

dai (theo quan điểm kinh tế, danh tử nảy bao gồm cả nước nữa) lúc ban đầu

dim báo cho con người thức ăn, những tư liệu sinh hoạt sẵn có - tồn tại với tư cách là đối tượng lao động phê biến uủa can người mà không cần sự tác động

nao ela con người TẾ cả những vật mả lao động chỉ có việc bứt ra khỏi mối

quan hệ trực tiép giữa chúng với đất đai, đều là những đối tượng lao động do

tự nhiên cung cấp” [57, tr267]

Ngoài những đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên, con người tạo ra đối tượng lao động Những đối tượng lao động đo con người tạo ra được gọi

là nguyên liệu Việc sáng tạo ra đổi tượng lao dộng xuất phát từ nhu cầu con

người, khi mả những dối tượng lao dộng trong tự nhiên không cỏn đáp ứng được hoặc không đủ đáp ứng cho sự phát triển của sản xuất nữa Đối tượng

lao động đo con người sáng tạo ra cũng chính là những, đối tượng lao động trong tự nhiên nhưng đã qua sơ chế, nó mang dấu ẫn của lao động Mác phân biệt hai loại đối tượng lao động nảy như sau: “Moi nguyén liéu đều là đối

11

Trang 12

tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều lả nguyên liễu Đổi tượng lao động chỉ trở thành nguyên liệu sau khi đã trải qua mật sự biển

đổi nào đó do lao động gây ra” [57, tr.268]

Trong quá trình sản xuất, để cải biến đối Lượng lao động thành những

sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của minh, con người phải sử dụng tư liệu lao

động Nếu đặt đối tượng lao động ở một cực, người lao động ở một cực thì tư

liệu lao động như là khâu trung gian g1ữa hai cực đó heo Mác, "nhờ những

tư liêu lao động, sự hoạt đông của con người lảm cho đổi tượng lao dộng phải

biển dỗi theo một mục dịch đã định trước” |57, tr.271 |

Vậy, tư liệu lao động là gì? theo Mác: *'Lư liêu lao động là một vật, hay

lả Loản bộ những vật mà con người đặt ở giữa họ và đối lượng lao đông và

được họ đặt làm vật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối tượng ấy” |57,

11.268] Voi ý nghĩa như vậy, tư liệu lao động gồm những yếu 16 co bản sau: các công cụ lao động, những phương tiện vận chuyển hàng hóa, các loại vật dụng để bảo quản những đổi tượng lao động, nhà xưởng, bổn cảng, đường

xả Theo Miác, “Trang bản thần các tư liệu lao động, thi những tư liệu lao động cơ khí mà toản bộ có thể gọi là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sẵn xuất - lại oấu thành những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản

xuất xã hội nhất định” [57, tr.270]

Công cụ lao động là yếu tô động nhất, quan trọng nhất trong tư liệu sản xuất, tác động đến sự biến chuyển xã hội, và cũng là một trong những yếu tố đặc trưng cho mỗi thời đại, Mác viết: “cái cổi xay quay bằng tay đưa lại xã

hội có lãnh chúa, cái cổi xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [53, tr 187] Công cụ lao động là yếu tô thường xuyên biển déi

lả vì nó thưởng xuyên được cải tiến để nâng cao năng suất lao động, giải

phóng sức lao động của con người Nếu chỉ đừng lại ở những công cụ lao động thủ công như cảy, cuốc, liềm, bái, thi năng suất lao động không cao, mắt nhiều sức lao động Do vậy, phải cải tiến, chế tạo ra những công cụ lao

Trang 13

động mới như máy cảy, máy gặt đập lúa liên hoàn, năng suất lao động cao,

sức lao động được giải phóng mạnh mẽ Máy móc ngày càng chỉnh phục

những lĩnh vực mới của nền sản xuất xã hội, nó thay thế con người ở nhiêu

khâu trong quá trình sản xuất

Như vậy, công cụ lao động nỏi riêng vả tư liệu lao động nói chung,

chính là cái thước đo trình độ chỉnh phục tự nhiên của loài người, là nội dung

chính của tiến bộ khoa học kỹ thuật Irong sản xuất, con người không chỉ sử

dụng tư liêu lao đông đã có mả cỏn tạo ra tư liêu lao đồng mới tiến bộ hơn

Chỉnh vi vậy mà năng suất lao động ngày cảng tăng, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, con người ngày cảng được giải phóng khỏi nhiều chức năng cực nhọc trong quá trình lao động cùng với phương thức sản xuất, tư liệu lao động cũng là một yếu tổ cơ bản để phân biệt những giai đoạn khác nhau của nền sản xuất xã hội “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì má là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những,

tư liêu lao đông nào” [57, tr 269]

Hiện nay, trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa hoc dong vai

trò ngày oảng to lớn: khoa học thâm nhập vào mọi yếu tố của quá trình sẩn xuất: từ người lao động (với trình độ khoa học ngày cảng cao) đến tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động; khoa học phát triển dẫn đến sự ra đời của

những ngành sản xuất mới, máy móc thiết bi mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới, Do đỏ, nó có tác dung thúc đấy sản xuất phát triển mạnh mẽ, năng suất lao động ngày cảng cao, thậm chí khoa học dã trở thành một phương tiện để sản sinh ra của cải Mác viết: “chỉ đến khi xuất hiển phương thức tư bản chủ nghĩa thì khoa học mới trở thành một nghề nghiệp về phương tiện sẵn sinh ra của cải, phương tiện làm giàu” [41, tr.37]

Trong những thập kỹ qua, cuộc vach mang khoa học-công nghệ diỄn ra

như vũ bão trên khắp thé giới đã tạo ra những bước nhảy vọt trong lực lượng

sản xuất, mở ra một kỷ nguyên mới cho nên sản xuât xã hội với việc phát

13

Trang 14

triển và ứng dụng công nghệ tự dộng hoá và hàng loạt cổng nghệ tiên tiến

khác Trong cuộc cách mạng này thì quả trình cách mạng trong khoa học đi

trước một bước, đóng vai trò dẫn đường và chỉ phối mạnh mẽ đổi với sẳn xuất nói chung Chính sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công

nghệ đang gây ra những biến đổi lớn trong xã hội nói chưng, nền sản xuất vật

chất xã hội nói riêng, Chắng hạn như đối với người lao động, họ không chi dược giải phóng khối các chức năng thực hiện mả cả chức năng kiểm tra, quản lý trong quá trình sản xuất Con người ngày cảng không phải tham gia

vào quá trình sản xuất trực tiếp và họ, từ chỗ là người thực hiện giản đơn các thao tác máy móc thành chủ thể của nên sản xuất với chức năng chủ yếu và quan trọng nhất là sáng tạo Diéu dé cing cho thay ý nghĩa lớn lao của trị thức

khoa học trong quá trình sản xuất của nền sân xuất hiện dại

Như vậy, với tư cách là tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người trong quá trình chỉnh phục tự nhiên, là sư kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, lực lượng sắn xuất chỉnh là nội dung của sự sản xuất xã hội

1.2 Quan hệ sản xuất

Cũng là một mặt của phương thức sẵn xuất, nhưng nếu như lực lượng sẵn xuất là khái mệm biểu thị ở mặt thứ nhất cúa mỗi “quan hệ song trùng”

của bản thân sự sản xuất xã hội - quan hệ giữa con ngưởi với tự nhiên, thì

quan hệ sản xuất chính là sự biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó - quan hệ của

con người với con người trong sản xuất

Quá trình sắn xuất của xã hội chỉ có thế diễn ra một cách bình thường

khi mối quan hệ giữa người với người tôn tại thống nhất giữa mối quan hệ

giữa con người với tự nhiên Mác khẳng định: “trong sân xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thế sẵn xuất được nếu

không kết hợp với nhau theo một cách nảo dé để hoạt động chưng và trao đỗi

hoạt động với nhau Muốn sẵn xuất được, người ta phải có những mối liên hệ

và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là

14

Trang 15

việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mỗi liên hệ vả quan hệ xã

hội đó” [54, tr.552]

'Trong sự sản xuất ra dời sống xã hội của mình, con người dù muốn hay

không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với nhau

cho dủ những quan hệ này có khác nhau trong mỗi một phương thức sản xuất

nhất định Với tỉnh cách là những quan hệ vật chất trong xã hội, xuất hiện do

nhu cầu của con người, cho nên quan hệ sân xuất là kiếu quan hệ mang tính

tất yêu vả khách quan Theo Mác: “Trong sự sắn xuất xã hội về dời sống của mình, con người cỏ những quan hệ với nhau, những quan hệ nhất dịnh, tất yếu, độc lập đổi với ý muốn của họ, tức là những quan hệ sản xuất, những

quan hệ nảy phủ hợp với một trình độ nhất định của các lực lượng sắn XUẤT vật chất của ho” {[55, tr.14-15]

Trên cơ sở những quan điểm của Mác và Ăngghen, Lênin đã khái quát quan hệ sản xuất thông qua việc đưa ra định nghĩa về giai cấp: “Người ta gọi

là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của

ho trong một hệ thẳng sản xuất xã hội nhất dịnh trong lịch sử, khác nhau về

quan hộ của họ (hường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy

định và thừa nhận) đối với những tư liệu sẵn xuất, về vai trẻ oủa họ trong 16

chức lao động xã hội, như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về

phần của cải xã hội ít nhiều ma ho duoc hưởng Giai cấp là những tập đoản người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao đông của tập đoàn khác, do chỗ

các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất

dinh” [46, tr.17-18 Lảm rõ hơn những quan điểm của Lênin, trong khi trình

bay về đối tượng của kinh tế chính trị học, IV.Xtdin đã nêu lên ba mặt của quan hệ sẵn xuất, đó là: các hình thức của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất,

địa vị của các tập đoàn xã hội khác nhau trong sản xuẤt và quan hệ giữa các

tập đoàn ấy, những hình thức phân phối sản phẩm do hình thức sở hữu và địa

vị xã hội của lập doản rong sản xuất quyết dịnh |75, tr.92|

15

Trang 16

quan hệ sản xuất có thể trình bảy một cách khải quát như sau

Quan hệ sản xuất là mội mặt của phương thức sản xuất, là quan hệ giữa người với người trung quá trình sẵn xuấi Dây là quan hệ nảy sinh một cách khách quan, tất yếu trong quá trình sẵn xuất, là quan hệ kinh tễ cơ bản, nó

phân ánh hình thức xã hội của quá trình sân xuất, quan hệ sản xudt gdm có quan hệ gia người với người trong việc sở hữu tư liệu sân xuất, trong việc tỖ chức và quản Tỷ sản xuất, trong việc phân phối sản phẩm lao dộng Irong quá

trình sẵn xuất

Quan hệ sẵn xuất gâm có các mặt cơ bản sau: quan hệ giữa người với

người trong việc sở hữu tw liệu sẵn xuất, trong việc (lỗ chức và quán lý sẵn xuất, trong việc phân phối sắn phẩm lao động trong quả trình sản xuất:

Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bỏ chặt chế

với nhau, tạo thành một hệ thống mang tỉnh ỗn định tương đối so với vận động không ngừng của lực lượng sân xuất Các quan hệ sản xuất của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều quan hệ phong phú, đã

đang Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sẵn xuất cỏ vai trẻ và ý nghĩa

khác nhau trong mỗi nền sản xuất nói riêng vA long toàn bộ tiến trình lịch sử

nói chung

Trong ba mặt lrên của quan hệ sản xuất thì quøm hệ giữa người với

người trong việc sở bữu tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bắn nhất, nó là cơ sở của các quan hệ sẵn xuất, quyết định các quan hệ khác trong xã hội

Quan hệ sở hữu chính là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc

chiếm hữu các tư liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sẵn xuất phụ thuộc vào

chỗ những tư liệu sản xuất cơ bản là sở hữu của ai Quan hệ sở hữu đối với tư

liệu sẵn xuất (biểu hiện thành chế độ sở hữn) là đặc trưng cơ bản của mỗi hình thén kinh tế xã hội nhất định, từ quan hệ sở hữu về tư liệu sán xuất sẽ hình

thành nên các quan hệ khác trong hệ thống quan hệ sản xuất của một chế độ

xã hội nhất định Khi phương thức sẵn xuất thay đổi thi quan hệ sở hữu cũng

16

Trang 17

thay đổi theo, lực lượng sẵn xuất ở một trình độ nhất dịnh sẽ xác lập nên một

quan hệ sở hữu Lương ứng với nó Theo Mác, trình độ phái triển của lực lượng,

sẵn xuất của một dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát triển của phân công

lao động xã hội, những giai đoạn phát triển khác nhau của sự phân công lao

động xã hội cũng đồng thời là những hình thức sở hữu; “nghĩa là mỗi giai

đoạn của phân công lao động cũng quy định những quan hệ giữa cá nhân với nhau, tùy theo quan hệ của họ với tư liệu lao dộng, công cụ lao déng va sin phẩm lao động” |52, tr.31] Chính quan hệ sở hữu đã quy dịnh dịa vị của Ling tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội Đến lượt mình, địa vị của từng tập

đoàn trong hệ thông sản xuất lại quy định cách thức mà các tập doan tổ chức

và quản lý quá trình sản xuất Dồng thời, cũng chỉnh quan hệ sở hữu nảy quyết dinh phương thức phân phối sản phẩm lao động cho các tập doàn người

thọo địa vị của họ đối với hộ thống sản xuất xã hội

‘Trong lich sử xã hội có hai hình thức sở hữu chủ yêu là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng lá cái vẫn có của chế độ công xã nguyên thủy: sở hữu tư nhân, xuất hiện và tôn tại trong chế độ chiếm hữu nô

lệ, chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản Đỉnh cao của chế độ tư hữu là chủ

nghĩa tư bản, củng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì chê độ sở hữu

nảy sớm muộn cũng bị phủ dịnh bởi chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa Chế dộ công hữu về tư liệu sản xuất chỉnh là một đặc trưng cơ bản nhất trong chủ

nghĩa xã hội Khi bản về chính quyền Xô viết Lônin khẳng định: “triệt để nếp tục và hoàn thánh việc tước đoạt giai cấp tư sản đã được bắt đầu và đã được

hoàn thành về căn bản, biển các tư liệu sản xuất và tư liệu lưu thông thành sở

hữu của cộng hòa Xô viết, tức là hình thành sở hữu công cộng của tất cả

những người lao động” [44, tr.L19]

Mỗi chế độ kinh tế - xã hội đều có chế độ tố chức quản lý sản xuất

riêng Quan hệ tố chức vả quản lý sản xuất thực chất là việc điểu khiến và tổ

chức cách thức vận động các nhân tố của một nên sán xuất nhất định, nó phụ

Trang 18

thuộc vảo trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất phụ thuộc vào chế độ sở

tiữu Chế độ sở hữu về tư liệu sẵn xuất như thể nào thì chế độ tổ chức quản lý sẵn xuất như thế ấy Nếu như chế độ cộng sản nguyên thủy có hình thức tự quản, tức là mọi người cùng làm, địa vị xã hội của mọi người như nhau, không có kể thống trị và bị trị, thi ở chế độ nông nô, phong kiến và tư bản chủ nghĩa chế độ tỗ chức quản lý sản xuất lại mang một hình thức khác, thích hợp

với trình độ phát triển của lực lượng sắn xuất và ché dé tư hữu Trong những chế độ sở hữu nay thì người chiếm hữu tư liệu sắn xuất trở thành kẻ tổ chức

quản lý sản xuất, người vô sản trở thành người bị quản lý, lao động sẵn suất theo sự tổ chức của kế chiếm hữu tư liệu sản xuất

Theo các nhà kinh dién chi nghia Mac-lénin, trai với những hình thức

tổ chức vả quản lý sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong

xã hội xã hôi chủ nghĩa thì chế độ tố chức và quản lý sản xuất hoàn toàn khác

Người lao động ở địa vị lâm cha, quan hệ giữa người với người trong sản xuất

là quan hệ hợp lác, bình dẳng Do đó, việc tổ chức và quản lý sản xuất dược tiến hành theo chế độ dân chủ tập trung

Cũng như quan hệ tổ chức vả quần lý sản xuất, guan hệ phân phối sản phẩm trong quả trình sẵn xuất cũng chịu sự quy định của quan hệ sở hữu tư

liệu sản xuất Đồng thời quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng bị phụ thuộc vảo trình độ tổ chức vả quản lý sản xuẤt Song, do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người nên các quan hệ phân phổi cũng rất

có ý nghĩa dối với sự phát triển kinh tế xã hội Quan hệ phân phối có thể thúc day tốc độ và nhịp diệu của sự sẵn xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh

tế - xã hội nếu nó phủ hợp, só tác dụng kích thích mạnh mẽ người lao động, hoặc trong trường hợp ngược lại, nó có khả năng kim hãm sản xuất, kim hãm

sự phát triển xã hội

Trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội, để tô rõ sự khác biệt và tính ưu

việt của quan hệ phần phối xã hội chủ nghĩa, thì cân thiết phải xác lập nên

18

Trang 19

những mô hình phân phối có tính chất đặc trưng cho quan hệ sẵn xuất xã hội,

đó chính là mô hình hợp tác xã Sau thăng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917), Lênin đặc biệt chủ ý đến việc xây dựng các hợp Lắc xã, coi

đỏ như là một công cụ để thực hiện quan hệ phân phổi xã hội chủ nghĩa, ông

nhân mạnh: “rong lúc này lả lúc còn có những hình thái quá độ kết hợp

những nguyên tắc khác nhau, thì điều đặc biệt quan trong 14 các cơ quan lương thực Xô viết hãy sử dựng

nhất cỏ tính chất quần chung, dé phân phổi có kế hoạch” |44, r.146J Để có

ác hợp tác xã, với tính cách là bộ máy duy

nó, sự đổi lập giữa lao động trí óo với lao động chân lay cũng sẽ không còn

nữa, khi mà lao động trở thành không những là một phương tiện để sinh sống

mà bản thân nó còn là một nhu cầu bậc nhất của đời sống; khi mà củng với sự

phát triển toàn diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ cũng ngày cảng tăng,

lên và tẤt cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi đào, - chỉ khi đó người

ta mới có thể vượt hẳn ra khối giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã

hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu

cầu!” [46, tr.36]

Những trỉnh bày trên cho thấy, quan hệ sản xuất LỒn tại trong mọi hình

thải kinh tế xã hội đều biểu hiện ra là các quan hệ vật chất của xã hội, tồn tại một cách độc lập, khách quan, là hình thức của sự sản xuất xã hội Sự phát

triển của nỏ theo hình thức cái mới phủ định cái cũ Trong xã hội có đối

kháng giai cấp, phải thông qua con dường cách mạng lật dé quan hệ sản xuất

cũ, xác lập quan hệ sản xuất mới Một khi các quan hộ sản xuất có sự biến dỗi

can ban thi toàn bộ những quan hệ xã hội khác cũng sẽ biến đối theo

19

Trang 20

1.3 Nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuât

$8 hiéu dược quy luật này trì trước hết phải làm rõ các khái niệm: trình

độ và tính chất của lực lượng sản xuất

Khái niệm trình độ của lực lượng sẵn xuất nỏi lên khá năng của con

người thêng qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến

giới tự nhiên nhằm đâm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình Trình độ lực lượng sẵn xuất thể hiện ở: trỉnh độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao dộng xã hội; trỉnh độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người; trình độ phân công lao động

Bén cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất con cé khái niệm

tinh chất của lực lượng sẵn xuất Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân

tích lực lượng sẵn xuất Trước dây, khi chưa có công nghiệp hiện đại, mỗi người lao động riêng lẻ có thể sử dụng công cụ thủ công để sản xuất, công cụ

sin xuất thô sơ này không bắt buộc phải tập trung nhiễu người để củng sản xuất ra một sin phim, ma chi can một người vẫn cỏ thể sản xuất được, cho

nên lực lượng sẵn xuất có tính chất cả thể Nhưng khi máy móc xuất hiện, đòi hỏi phãi sắn xuất dây chuyền, phải cá nhiều người cùng lao động thoo sự vận

động của máy móc, làm những phần việc khác nhau, do đó đôi hỏi quá trinh

lao động phải xã hội hóa thì mới tạo ra sắn phẩm được Sản phẩm làm ra không thể nào là kết quả của một người, mà là của nhiều người Lúc nảy, lực

lượng sản xuất thay đối tính cht cia nd Như vậy, tình chất và trinh độ của

lực lượng sản xuất không tách rời nhau, trình dé nao thi tinh chất ấy, ở trình

độ thủ công thì phổ biến là tính chất cá nhân, ở trình độ cơ khí công nghiệp

thì phổ biển là tính chất xã hội hóa Do vậy, khi nói đến trình độ của lực

lượng sản xuất cũng đã phần nào bao hàm cả tính chất của nó

Trong mỗi quan hệ giữa lực lượng sẵn xuất và quan hệ sản xuất thì lực

lượng sản xuất giữ vai trè quyết định, chỉ phối quan hệ sẵn xuất:

20

Trang 21

Tính quy dịnh của lực lượng sẵn xuất đối với quan hệ sắn xuất trước hết biểu hiện ở chỗ: lực lượng sản xuất như thể nảo thì quan hệ sản xuất như

thể ấy, tức là với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất thì có một

quan hệ sản xuất tương ứng Chẳng hạn như khi lực lượng sản xuất phát triển

từ trình độ thủ công lên trình độ công nghiệp đã dẫn đến sự sup dé của quan

hệ sản xuất phong kiến và sự ra đời của quan hệ sẵn xuất tư bản chủ nghĩa Sở

dĩ rong mối quan hệ này, lực lượng sản xuất đóng vai trỏ quyết định lá vì nó

đóng vai trỏ lả nội đụng vật chất của quá trình gắn xuất, còn quan hệ sẵn xuất

là hình thức xã hội của quá trinh đó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hinh

thức thì nội dung quyết định hình thức Nghĩa là, trinh độ phát triển của lực

lượng sản xuất quy định cách thức con người quan hệ với nhau trong quả

trình sản xuất, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất

'Tính quy định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất còn biểu

hiện ở chỗ: sự vận động, phát triển của lực lượng san xuất quyết định và làm

thay đổi quan hệ sẵn xuất cho phù hợp với nó Từ sự biến đổi của lực lượng

sẵn xuất, trước hết là sự biển đổi của công cụ lao động sẽ dẫn đến sự biến đấi

trong quan hệ sản xuất, “khi những tự liệu sản xuất vật chất, những lực lượng

sắn xuất mà thay dỗi và phát triển thì những quan hệ xã hội trong đó những cá nhân sin xuất, tức là những quan hệ sản xuất xã hội, cũng thay dồi, biển dỗi

theo” |54, tr.553] Công cụ lao đông không những là thước đo trình độ phát

triển của lực lượng sân xuất, mà sự biến đổi của nó cỏn là đầu hiệu báo trước

những biến đổi sẽ xảy ra trong quan hệ sản xuất Sự thay đổi và phát triển của bắt cứ một phương thức sản xuất nào bao giỏ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi

và phát triển của lực lượng sản xuất Những điều đó thể hiện rất rõ trong luận

điểm của Mác: "Những quan hệ xã hội dều pắn liễn mật thiết với những lực lượng sản xuất Do gó được những lực lượng sẵn xuất mới, loài người thay

đổi phương thức sắn xuất của mình, và đo thay đổi phương thức sản xuất,

21

Trang 22

cách kiếm sống của minh, loài người thay dỗi tất cả những quan hệ xã hội của

minh Cai céi xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cải cối xay chạy

bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [53, tr.187]

Tụ nhiên, quan hệ sẵn xuất có tính độc lập tương đãi với lực lượng

sản xuất, biếu hiện ở chỗ: nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; ngược lạt, nô sẽ kừm

hăm sự phát triển của lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp với trimh đồ phải triển của lực lượng sản xuất:

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng

sắn xuất là một trạng thái mả trong dó tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều

“tạo địa bản đầy đũ" cho lực lượng sản xuất phát triển Nghĩa là, nó Lao điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sẵn

xuất, đo đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển, phát huy hết khả năng

của nó, thúc đây sự phát triển của toản bộ nên sẵn xuất vật chất xã hội Cần

phải có sự phủ hợp của quan hệ sản xuất với trinh độ phát triển của lực lượng

sẵn xuất là đo yêu cầu của việc phát triển lực lượng sẵn xuất, nếu quan hệ sẵn xuất không phủ hợp thì lực lượng sắn xuất không thể phái triển, nền sản xuất

sỡ trì trệ Chẳng hạn như khi lực lượng sẵn xuất phát triển mang tính xã hội

thỏa cao (của cải do số đông người lao động làm ra) mà quan hệ sản xuất vẫn aang tính tư nhân (thiểu số nhà tự ban) thi sản xuất sẽ không thể phát triển, muốn phát triển được thì quan hệ sản xuất buộc phải mang tính xã héi hoa

hóa

Tuy nhiên, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội không phải lúc nào quan

hệ sân xuất cũng phù hợp với trinh độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự

không phù hợp của quan hệ sắn xuất với trình độ phát triển của lực lượng sẵn

xuất tất yêu nay sinh mâu thuẫn giữa chúng, mâu thuẫn này vận động tới một giai đoạn nào đó sẽ được giải quyết Mác-Ăngghen cho rằng: “tất cả mọi xung đốt trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình

Trang 23

thức giao tiếp” (lúc này Mác và Ăngghen vẫn gọi quan hệ sản xuat 1A hình

thức giao tiếp) [52, tr.107] Mâu thuẫn này xuất hiện là đo chúng có bản chất vận động không giống nhau: lực lượng sản xuất luôn không ngừng vận động

phát triển gắn với thục tiễn sản xuất, còn quan hệ sản xuất luôn mang tính ôn

định tương đối, bảo thủ đo nó luôn gắn với lợi ích của giai cấp thẳng trị nên

luôn được các giai cẤp này duy trì, bảo vệ Chơ nên, "tới một giai đoạn phát

sn xUẤT vi chế 3 hồi mã x lực lượng sắn xuất vật chất của xã hội mẫu thuần

triển nào dó của chúng, cá

với những quan hệ sắn xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của

những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó

từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển" [5S, tr.15] Vẫn theo

Mác, “để khỏi bị mất những thành quả đã đạt được, để không bị mất đi những

thành quả của văn minh, con người buộc phải thay dỗi tắt cả các hình thức xã

hội đã kế thửa vào thời điểm mà phương thức quan hệ của cơn người không con phù hợp với những lực lượng sắn xuất đã só được” |58, tr.658]

Tắt nhiên mẫu thuẫn giữa lực lượng sắn xuất với quan hệ sản xuất điỂn

ra trong một quá trinh lau dai No tần tại “âm Ÿ trong một “cơ thể xã hội” đã

đến độ “xế chiều”, nó tồn tại trước khi có một cuộc cách mạng quan hệ sẵn xuất nỗ ra Việc xác lập nên một quan hệ sản xuất chỉ có thể điễn ra khi

những diều kiên vật chất đã trở nên chín muỗi Bởi vị, “không một hình thái

xã hội nào diệt vong trước khi tắt cả những lực lượng sản xuất mã hình thai x4 hội đó tạo địa bản đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan

hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muôi trong lòng bản thân xã hội cũ” [55, tr.15-16]

Như vậy, tuy không phải là yếu tổ quyết định trong phương thức sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có những tác động không nhỏ tới sự phát

triển của lực lượng sẵn xuất Nếu như, khi có dược “những lực lượng sắn xuất

mới, con người cũng thay dỗi phương thức sẵn xuất của mình, và cùng với

23

Trang 24

phương thức sẵn xuất thì họ cũng thay đổi tắt cá các quan hệ kinh tế dã từng

là những quan hệ tất yếu chỉ đối với phương thức sản xuất nhất định đã lần

tai” [58, 659] thi chinh fink độc lập tương đổi của quan hệ sân xuất đã làm

cho quá trình “thay đổi” đó nhiều khi diễn ra rất khó khăn, thậm chí còn có câ

những “hao phí sinh mạng và lực lượng sản xuất” rất năng nề

Rõ rảng là, khi không còn phù hợp với lực lượng sản xuất thi quan hệ sắn xuất trở nên kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất: nó cản trở quá

trình kết hợp giữa người lao động với tư liệu sẵn xuất, cắn trớ quả trình sử

dựng, giải phóng, phát huy các tư liệu sản xuất, không có khả năng kích thích

tính tích cực năng động, sáng tạo của người lao đông, Quan hệ sẵn xuất “từ chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành

những xiềng xích của lục lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội” [55, tr.15] Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất được giải quyết, tức là một quan hệ sản xuất đã được xác

lập phù hợp với trình dé phát triển của lực lượng sản xuất, thí chính lúc này,

một lần nữa, tính độc lập tương đổi của quan hệ sản xuất lại có điều kiện để thể hiện ra, nhưng không phải là kim hăm lực lượng sẵn xuất phát triển mà trái lại, nó sẽ thúc đấy lực lượng sản xuất phát triển bởi nỏ phủ hợp với trinh

độ phát triển của lực lượng sản xuất

Mẫu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sẵn Xuất với quan hệ sản xuất dù sớm hay muôn thì cũng sẽ nổ ra một cuộc cách mạng xã hôi Cách mạng xã

hội biểu hiện ra như là kết quả tất yếu của sự mâu thuẫn giữa lực lượng sẵn xuất với quan hệ sản xuất Khi cách mạng xã hội thành công cũng lả lúc mẫu thuẫn này được giải quyết, vì quy luật tất yếu khách quan đôi hỏi quan hệ sẵn

xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Khi cuộc cách mạng xã hội đã thành công thỉ ngay lúc đó những quan

hệ sản xuất mới được xác lập vẫn chưa phải là thực sự đã hoàn chỉnh Việc

hoàn chính các quan hệ sản xuất được diễn ra củng với sự phát triển của thực

24

Trang 25

tiển, chính trong sự phát triển của thực tiễn con người mới có điều kiện dé

nhận thức đầy đủ hơn về những quan hệ sẵn xuất mả mình đang xây dựng

Nếu như trong quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới này có những mâu

thuẫn nây sinh giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đôi hồi phái giải

quyết nhưng con người không phát hiện được, cũng như khi mâu thuẫn đã

được phát hiện mà giải quyết không được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì

tác dụng kim hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tổ phả hoại đối với lực lượng sắn xuẤt

Từ việc nghiên cửu lực lượng sản xuất, quan hệ sẵn xuất vả mối quan

hệ giữa chúng, cùng với việc nghiên dứu cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng

tang cũng như sự tác động qua lại giữa chúng, Miác đã xây dụng nên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Học thuyết này chỉ ra rằng, sự phát triển của

xã hôi chính là sự phát triển, thay thế nhau của các hính thái kinh tế - xã hội

Sự phát triển, thay thể nhau của các hình thái kinh tế - xã hôi 14 một quá trình

lịch sử tự nhiên, xuất phát Lừ những nguyên nhân nội tại của nó, đỏ chính là

hệ thống các quy luật xã hội Nghĩa là, con người làm ra lịch sử của mình, họ tạo ra xã hội, nhưng sự vận động, phát triển của xã hội không tuân theo ý chí

chủ quan của con người mả tuân theo các quy luật khách quan, đó chính là

những quy luật trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội Trong dó, cơ bản

nhất vả trước hết là quy luật quan hệ sẵn xuất phủ hợp với trình dộ phát triển của lực lượng sản xuất

Khi nghiên cửu về xã hội tư bản, Mác dã nhân thấy “những lực lượng sẵn xuất phát triển trong lòng xã hội tư sẵn hiện đại” Sự phát triển dó của lực lượng sẵn xuất tất yếu sẽ làm cho quan hệ sản xuất Lư bản chủ nghĩa sẽ trở

Trang 26

hội công sản sẽ được hình thánh trong tương lai, vì dé la quy luật tất yếu

khách quan

Ony luật quan hệ sản xuất phh hợp với trình dộ phát triển của lực

lượng sẵn xuất và vẫn đã phái triển nền kính tế nhiều thành phần trong thời

kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội:

Trong chủ nghĩa xã hội, lực lượng sẵn xuất phát triển cao với trình độ

công nghiệp ngày càng hiện đại, tương (mg với nó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản lả chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ

yếu Tuy nhiền, dễ đạt được trình độ đó thì các nước di lên chủ nghĩa xã hội, nhất là đối với những nước tiền tư bản di lên chủ nghĩa xã hội, cần phải trải

qua một thời kỳ quả độ lâu dài, phức Lạp với nhiều nấc thang trưng gian, đặc biệt là phải phát triển nền kinh tế nhiễu thánh phần

Cơ sở của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phẩn trong thời kỳ quá dé

lên chủ nghĩa xã hội, xét đến cùng, là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù

hợp với trinh độ phát triển của lực lượng sân xuất quy định Thời kỳ quá độ ở

các nước, đặc biệt là các nước tiểu nông, do trình độ của lực lượng sản xuất

còn nhiễu hạn chế, có nhiều trình độ khác nhau nên tắt yếu cỏn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hơn nữa, một số thành phân kinh tế của phương thức sản xuất cũ, vi đụ như kinh tế cả thể, tiểu chủ,

tư bản tư nhân còn có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sẵn xuất, một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cãi tạo và

xây dựng quan hệ sản xuất mới như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế

ty ban nhà nước Cần phải duy trì, sử dụng nhiễu thành phần kinh tế để khai

thác, phát huy mọi tiềm năng, nguẫn lực trong và ngoài nước nhằm phục vụ

cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ly luận vỀ cơ cấu kinh tế nhiễu thành phần dược Lênin xây dựng xuất

phat tir tinh hinh thực tiễn của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau khi “Chỉnh sách cộng sản thời chiến" (nội dung cốt lõi lả: Thủ tiêu thành

26

Trang 27

phân kinh tế tư bán tư nhân, tiến hành quần sự hoá nền kinh tế, thực hiện

trưng thu lương thực thừa của nông dân) tỏ ra không sỏn thích hợp trong điều

kiện đất nước đã hoả bình, đẫn đến kìm hãm sự phái triển sản xuất Lênin đã

đũng cảm thửa nhận: “Chúng ta thấy rỡ rằng chúng †a đã thất bại trong cái ý

định dùng phương pháp “xung phong”, nghĩa là dùng con đường ngắn nhất,

nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sắn xuất và phân phối theo nguyễn tắc xã hội chủ nghĩa” |48, tr.254] Từ dỏ Lênin di đến khẳng dịnh cần phải thay thể chính sách Cộng sản thời chiến bằng chính sách Kinh tế mới

(NEP) Voi ly lun này, Lênin đã đặt ra một vấn đề rất mới về thời kỳ quá độ,

về con đường đi lên chú nghĩa xã hội Dối với một nước tiểu nông thì không

thể dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, trực tiếp nhất mà cần phải thực

hiện hãng loạt các biện pháp, các hình thức trung gian, quá độ để di lên chủ

nghĩa xã hội Và cơ cấu kinh Lố nhiều thành phần chính là một điển hình của hình thức trung gian đó Với những quan điểm về NEP, Lênin cho ring: “

toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đôi về căn bản” [49,

41.428]

Chính tính chất trung gian, quá độ của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

khiến cho chúng ta không được phép hiểu đơn giản ring, cơ cấu kinh tế nhiều

thành phan 1a do nhiều thành phần kinh tế tạo nên, mả cần phải hiểu rằng nó được tạo nên bởi các thành phần kinh tế của cá xã hội cũ và xã hội mới, gm

các thành phần kinh tế của chủ nghĩa tư bản và các thánh phần kinh tế của chủ

nghĩa xã hội Lênin viết: “Vay thi danh từ quá độ có nghĩa là gì? vận dụng vào kinh tế, cỏ phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành

phần, những bộ phận, những mắnh của chủ nghĩa tư bản và clrú nghĩa xã hội

không? Bắt cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [43, tr.362]

Quan điểm của Lênin về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì

quả đô lên chủ nghĩa xã hồi, đó là một cơ cau hao gồm cả những thành phần

kinh tế xã hội chú nghĩa, những thành phần kinh tế phi xã hội chú nghĩa, thậm

Trang 28

chí cả những thành phần kinh tế trung gian Các thành phan kinh tế xã hội chủ nghĩa vì mới hình thành nên chưa thực sự hoàn chỉnh, chưa biểu hiện đây đủ

tản chất xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa cũng

không còn giống như khi cỏn tồn tại trong xã hội cũ Chẳng hạn như thành

phần kinh tế tư bản tư nhân, nó không còn đóng vai trỏ chủ đạo trong nền

kinh tế như trước, mà chỉ đóng vai trỏ quan trọng trong việc phát triển lực

lượng sản xuất, góp phan tao ra co sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Trên cơ

sử các thành phần kinh tế chủ yếu, các nước tuỷ thuộc vào điều kiên, hoàn

cảnh của mình để xây dựng một cơ cấu kinh tế phủ hợp Song cũng cần phải nhân mạnh rằng, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần như là một biện pháp, một

công cụ được giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để xây dựng

chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa Chỉnh vì vậy, dễ cơ cầu kinh tế nảy thực

sự đám bảo đúng định hưởng xã hội chú nghĩa thì các thành phân kinh L

chủ nghĩa xã hội phải đóng vai trỏ chú đạo

Căn cử vào điều kiện, tỉnh hình ở Nga lúc đó, Lênin dã dưa ra cơ cầu kinh tế nhiều thành phần bao gồm:

*1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất

tự nhiên, 2) sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gôm đại đa số nông dân ban lúa mì), 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân, 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước, 5) chủ

Nhu vay, có thể thấy rằng, cơ cấu kinh LẾ nhiều thành phân lả dặc trưng

cơ bản nhất của thời kỳ quá độ, phần ánh yêu cầu khách quan của quan hệ sân xuất phải phủ hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mỗi thành

28

Trang 29

phan kinh té déu la biểu hiện sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Những phân tích trên cho thây, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựo lượng sản xuất biểu hiện rõ là một quy luật

cơ bản nhất của xã hội, chỉ phối mọi mặt của đời sống xã hội, sự vận động của

quy luật đó làm cho xã hội loài người không ngừng vận động phát triển Từ

mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có thể

rút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng: khi lực lượng sản xuất phát triển thay dỗi vé chat, mau thuần gay gắt với quan hệ sản xuất, thì cẦn phải tiến

hành cách mạng xã hội để thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với

trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất, trong quá trình xây dựng xã hội

mới, khi phát hiện trong quan hệ sắn xuất có yếu tố không phù hợp thi phái

tiên hành điều chỉnh theo nguyên tắc: quan hệ sản xuất phải phủ hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, do lực lượng sản xuất quyết định sự phát

triển của xã hội, cho nên, muốn thúc dây xã hội phát triển thì phải phát triển

lực lượng sản xuất

29

Trang 30

Chương 2

QUÁ TRÌNH DANG CONG SAN VIỆT NAM NHẬN THỨC VẢ VẬN DỰNG

QUY LUẬT VẺ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ

PHAT TRIEN CUA LUC LUOQNG SAN XUAT TRONG THOT KY BO: MOT

2.1 Trước thời kỳ đổi mới

2.1.1 Giai dogn 1954-1975

Trong những năm đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, với

việc tạo ra những quan hệ sản xuất mới, phần nào đã tạo ra không khí tích cực trong lao dộng sản xuất, nhất là trong diễu kiện đất nước cỏ chiến tranh, do

vay lực lượng sẵn xuất đã có bước phát triển nhất định Tuy nhiên, Đảng ta

cũng đã mắc một sé sai lầm trong quả trình xây dựng quan hệ sản xuất mới

đó

Năm 1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, nhân dân ta đã hoàn thành xuất sắc cuộc kháng chiến

chống Pháp Dưởi sự lãnh đạo của Dảng, miền Bắc từng bước chuyển sang

thời kỳ quá đô lên chủ nghĩa xã hôi Irong khi đó, miền Nam nước ta trở

thành thuộc địa kiểu mới vả căn cứ quân sự của Mỹ Do đó, Đáng xác định cách mạng Việt Nam lrong giai đoạn nảy có hai nhiệm vụ chiến lược khác

nhau tiến hành đồng thời ở mỗi miễn: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc, xây dựng miễn Bắc thành căn cứ vững mạnh của cả nước; cách mạng đân tộc dân chủ ở miễn Nam nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị

của để quốc Mỹ vả tay sai, thực hiển thống nhất nước nhà, hoàn thánh dộc lập

dan tộc và dân chủ trong cả nước

Với miễn Bắc, Đăng dặt ra nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách là phải khôi phục kinh tế, lẫy khỏi phục sản xuất nông nghiệp làm trọng tầm Việc khôi

phục nêng nghiệp có liên quan mật thiết với vấn đề ruộng đất và vấn để giải

30

Trang 31

phóng lực lượng sản xuất của hàng triểu nông dan Vi vay, nhiém vụ khôi

phục kinh tế mà trọng lâm là khôi phục nông nghiệp đã tiến hành đồng thời với cải cách ruộng đất Nhờ có cải cách ruộng đất mà người nông dân đã có

trong tay những tư liệu cần thiết để tiến hành sân xuất Quá trình cải cách này

bước đầu đã thu được những thánh tựu quan trọng “Đến cuối 1957, đã có

85% ruông hoang được khôi phục sản lượng lương thực trung bình hàng

năm dạt gin 4 triệu tắn, vượt mức trước chiến tranh (năm 1939 chỉ dạL 2,4 triệu tắn” |7, tr 124]

Tuy nhiên, cũng trơng thời gian này, trước nhiệm vụ phải giải phóng

miền Nam, thống nhất đất nước và trước không khí lao đông khẩn trương ở

nhiều nước xã hội chủ nghĩa anh em lúc đỏ, làm nảy sinh tâm lý nóng vội trong lãnh đạo dẫn đến thay đổi chú trương: “từ củng cố miền Bắc, phát triển

chế độ dân chủ nhân dân, đưa miễn Bắc tiến đần từng bước lên chủ nghĩa xã

hôi "(Nghỉ quyết Irung ương Đảng lần thứ V111 khoá 1l tháng 8-1955) thành

“dây mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương

Đảng lần thứ XTV tháng 4-1958) [7, tr.126] Trong kế hoạch đầu tiên đi lên chủ nghĩa xã hội, kế hoạch 3 năm 1958-1960, Đẳng đưa ra chủ trương hợp tác hoá, đồng thời đặt ra vẫn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh

tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa dối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt Tới Đại

hội II tháng 9-1960, Đăng chủ trương “tiến nhanh, tiễn mạnh, tiền vững chắc

lên chủ nghĩa xã hội”

Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa dược Đảng ta nhấn mạnh như sau: “Cần

phải đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cải tạo những quan

bệ sân xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,

trong đó mẫu chết là cải biến chế độ sở hữu cả thể và chế độ sở hữu tư bản

chủ nghĩa về tư liêu sản xuất thành các hỉnh thức khác nhau của chế độ sở

31

Trang 32

hữu xã hội chú nghĩa để giải phóng sức sản xuất, mở dường cho sản xuất phát triển” [17, tr.180]

'Trên cơ sở xác dịnh rõ nước ta là một nước nêng nghiệp, lực lượng nông dân chiếm đại đa số lực lượng lao động của cả nước, nên Đăng khẳng đính cải tạo nông nghiệp là khâu chính của toản bộ công cuộc cải tạo xã hội

chủ nghĩa Cũng giống như thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa 1958-1960, công cuộc cải tạo nông nghiệp được Dãng chủ trương tại Dại hội 1II tiến hành theo

phương thức hợp tác hoá nông nghiệp “Hợp tác hoá nông nghiệp là một cuộc

vận động cách mạng nhằm biển chế dộ tư hữu về tư liệu sản xuất trong nông

nghiệp thành chế độ sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa” [17, tr.59] Đảng La lựa chọn bần nông vả trung nông lớp dưới làm chỗ đựa trong cuộc vận động cách mạng này Sự lựa chọn này được Dáng giải thích như sau: “bần nông

và trung nông lớp dưới là những người ít tư liệu sản xuất nhất ở nông thôn,

thiết tha vả kiên quyết nhật đi vào con đường chủ nghĩa xã hồi” [17, tr.60]

Tăng chủ trương phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được thực hiện

theo ba nguyên tẮc: tự nguyên, củng có lợi vả quản lý dân chủ trong dó mắu chốt là “nguyên tắc tự nguyện” Theo đánh giá của một số tài liệu thì trên thực

tế uả ba nguyên tắc này đều đã bị vi phạm trong và sau phong trào hợp lác

hoá, không những trong nông nghiệp mà cả trong một số lĩnh vực kinh tế khác [7 tr.128] Dễi với hầu hết các thành phân kinh tế khác hoạt đông ngoài lĩnh vực nông nghiệp cũng được Dảng chủ trương cải tạo theo phương thức

hop tác hoá Riêng đổi với kinh tế tư bán chú nghĩa và giai cẤp tư sản, Pang chủ trương cải tạo hoả bình bằng chỉnh sách chuộc lại và trả dần đối với tư liệu sẵn xuất của giai cấp Lư sẵn

Có thể nói, chú trường hợp tác hoá của Đăng diễn ra trong điều kiện

trình độ văn hoá của nhân dẫn ta còn thấp, lực lượng kỹ thuật do chế độ cũ để lại hẳu như không có gì, nhất là về cân bộ kỹ thuật và công nhân lành nghé,

kinh tế miền Bắc lại bị chiến tranh tàn phá nặng nẻ Trong khi dé, nên kinh tế

Trang 33

nông nghiệp lạc hậu chủ yếu dựa trên sẵn xuất nhỏ cá thể, công nghiệp con

phôi thai, Những điều kiện đó không thể đầm bảo cho gác hợp tác xã phát triển mạnh mẽ ngay được Cho nên, phong trảo hợp tác hoá, mà thực chất là

tập thể hoá tư liệu sản xuất đã lâm suy yếu đi một lực lượng sản xuất to lớn

vừa mới được giải phóng sau cải cách ruộng đất, làm giảm hiệu quả kinh tế

“Tốc độ thu nhập tăng chậm hơn tốc độ chỉ phí sẵn xuất (1964-1965 chỉ phí 1

ha tăng 14% trơng khi dó thu nhập chỉ tăng 6,58%), do dó hiệu quả kinh tế

5 Tỷ

giảm dân; số hợp tác xã yếu kém còn lớn, chiếm 18% lỗng số hợp lac

lệ xã viên xin ra hợp tac x4 tang” ]7, tr.136]

Từ tư tưởng chủ quan nóng vội, duy ý chí đã dẫn đến việc giải quyết

không đúng đắn mối quan hệ có tính quy luật giữa lực lượng sắn xuất và quan

hệ sản xuất trong cải tạo xã hội chủ nghĩa Dảng chủ trương cách mạng quan

hệ sản xuất đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, nên nôn

nóng muốn sớm xác lập chế độ công hữu dưới hai hình thức toản dân và tập

thể, muốn xoá bó cảng nhanh cảng tốt các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa để thực hiện bước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa

xã hội mà không cần phải trải qua những bước trung gian quá độ Đảng đã lựa chọn bần nông và trung nông lớp dưới lắm chỗ dựa cho phong trào hợp tác

hoá nông nghiệp, dây là những tầng lớp vừa thiểu vốn, thiểu tư liệu sản xuất,

lại Ít có kinh nghiệm lảm ăn kinh doanh, nhưng lại được chọn làm chỗ dựa Điều đó thể hiện rã đường lối giai cấp của Đáng có sự cứng nhắc, nên đã

không khai thác được hết tiềm năng của trung nông lớp trên trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp

Nếu đánh giá theo quan niệm mới hiện nay được Đảng ta rút ra từ (hực tiễn đất nước là thừa nhận sự tôn tại của nên kinh tế hảng hoá nhiều thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng để làm ra nhiêu của cãi cho xã hội, không

những không nên xoá bỏ các thành phân kinh tế có tính chất trung gian mà

còn cần dược khuyến khích họ sản xuất kinh đoanh trong khuôn khổ pháp

33

Trang 34

luật, thì chú trương muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ

nghĩa là không thích hợp,

Hên cạnh đó, trong chủ trương phát triển lực lượng sẵn xuất cũng có

những điểm không thích hợp Đăng khẳng định: “muốn phát triển mạnh mẽ sức sẵn xuất, củng cễ và phát triển quan hệ sản xuất mới, đưa miền Bắc nước

ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, thì trong kế

hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta phải ra sức phần đầu để thực hiện công

nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa” [17, tr.85| Đảng còn chủ trương “ưu tiên phát

triển công nghiệp nặng” Đây là chủ trương không phủ hợp với hoản cánh dat nước ta lúc đó, khi mà tiền để vật chất cần thiết chưa được tạo ra cũng như

hoàn cảnh chiến tranh lúc đỏ chưa cho phép thực hiện

Trong những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965),

công tác tổ chức và quản lý kinh tế gặp nhiều khỏ khăn do trình độ lãnh đạo

và quần lý kinh tế, kỹ thuật của cán bộ nước ta cỏn thấp “Cơ chế quản lý kinh

tế xã hội nói chung vả nhất là về kinh tế, trong đó có quản lý công nghiệp

được thiết lập theo cơ chế hành chính quan liêu bao cấp” |7, tr.137] Đây lá cơ

chế quản lý bằng mộnh lệnh là chủ yếu, với hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch phán lệnh từ trên giao xuống, không phủ hợp với nguyên tắc Lập trung dân chủ, các

cơ quan hành chính - kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sẵn xuẤt, kinh doanh

của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gỉ về vật chất đối với

các quyết định của mình; các đơn vị kimh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa không bị rảng buộc trách nhiệm với kết quả sẵn xuất, kinh doanh Tìo đỏ, nó không kích thích được sẵn xuất phát triển

Tuy có nhiều bất hợp lý trong việc xác lập quan hệ sản xuất, nhưng sau

20 năm gái tạo vả xây dựng miền Bắc tiến lồn chủ nghĩa xã hội trong điều

kiện cực kỷ khó khăn, đặc biệt là do cuộc chiến tranh phá hoại của để quốc

Mỹ, miền bắc vẫn đạt được những thánh tựu TẤt có Ý nghĩa Đến năm 1964,

miễn Bắc đã tự bảo đảm được lương thực về cơ bản, tự giải quyết được 90%

34

Trang 35

hang tiểu dùng, đồng thời đã bắt dầu tạo dược ngudn tích luỹ trong nước |18,

tr30] Trong thời gian thực hiện kể hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 -1965), trong sản xuất nông nghiệp đã đạt được một số thành tựu đáng kể, “cuối năm

1965 có 162 xã gần 700 hợp tác xã đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc/1 ha cả

năm, lương thực bình quân đầu người đạt 15 kg/tháng: đời sống xã viên có

ting, thu nhập của người lao động từ kinh tế tập thể tăng khá, thu nhập bính quân của mỗi nông dân tăng 24%” |7, tr.135J Nhưng không thé lr dé ma

đánh giá rằng có dược kết quả tốt đẹp đó là do hoàn thiện quan hệ sản xuất

mdi ở nông thôn mang lại, vì thời gian này rmức đầu tư cho nông nghiệp tăng đảng kể: “vấn đầu tư cho xây dựng cơ bản tăng 4,9 lần (riêng trong nông nghiệp), điện cấp cho nông nghiệp tăng 9 lần, số máy kéo tiêu chuẩn tăng l1

lần so với thời kỳ 1958-1960, vốn bình quân cho 1 ha canh tác tăng 2,1 lần ”

[7 r135J

'Từ năm 1965 trở đi, do cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của để

quốc Mỹ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến công cuộc cải tạo và xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở nước †a Tuy vậy, tới năm 1975, đất nước đã xây dựng được cơ

sở vật chất kỹ thuật bước đầu của chủ nghĩa xã hội Số xí nghiệp công nghiệp

gấp 16,5 lần số xí nghiệp năm 1955 Nhiễu khu công nghiệp mới đã hình thành Đặc biệt là trong khu vực sân xuất vật chất, 99,7% tài sẵn cố dịnh đã thuộc về kinh tế xã hôi chủ nghĩa [18, tr29-30], diều đó cũng có nghĩa là

quan hệ sẵn xuất xã hội chủ nghĩa đã chiếm vị trí chủ đạo nhưng dẫu sao,

những thành tựu nêu trên hãy còn rất thấp, còn xa với mục tiêu của chủ nghĩa

xã hội

Như vậy, nếu xét theo quan điểm nhận thức mới thi trong ong cube cai tao va xdy dựng miễn Bắc tiến lên chủ nghĩa hội trong giai đoạn 1954 - 1975

có những điểm không hợp lý, và côn có những vấn dé cin tiếp tục xem xét,

đánh giá, rút kinh nghiệm Song, những thành tựu và ý nghĩa của nó là không

thể phủ nhận được: vào thời kỳ đó, ở miền Bắc nước ta, lực lượng lao dộng

35

Trang 36

côn thiểu, sức lao động cỏn nhiều hạn chế vì miễn Bắc lúc đỏ khoảng 2/3

thanh niên trong toàn dan vào bộ đội, số lao động còn lại chủ yếu là phụ nữ,

với 90% nhân dân là nông dân vào hợp tác xã [7, tr.148], đã tạo ra một nguồn sinh lực lớn lao, tạo ra một sự đoàn kết nhất trí trong lao động với tính thần

“mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại đồng bảo miền Nam ruột thịt”, nên đã góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước của dân tộc ta Cho dù các hợp tác xã còn non yếu, nhưng hợp lác

hoá kết hợp với tinh thần chống Mỹ dã tạo ra được những kết quả lao động tốt

và khả năng khắc phục thiên tai địch họa, các dién hinh 5 - 6 tấn xuất hiện ở

nhiêu nơi mà lực lượng chủ yêu ở nông thôn lúc đỏ là phụ nữ

2

2 Gimi đoạn 1975 - 1986

Trong giai đoạn nảy, việc nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù

hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực Tượng sản xuất đã mắc nhiều sai

lầm, những sai lắm đó là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra tình

trang san xuất tri trệ, khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng ở nước ta vào

cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế ký XX

Ngày 30-4-1975, đất nước ta hoản toản giải phóng Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cá nước độc lập thống nhất đưới sự

lãnh dạo của Đăng bước vào thời kỷ quá đỗ lên chủ nghĩa xã hôi Nhiệm vụ

chính lúc này là khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hòa bình Tỉnh hình đó đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách phủ hợp với tình hinh mới của đất nước để thúc đây kinh

tế - xã hội phát triển Trên thực tế, các chú trương, chính sách của Đảng về

việc xây đựng quan hệ sân xuất mới xã hội chủ nghĩa trong thời kỹ này chưa

đáp ừng được những yêu cầu đặt ra

Đảng ta nhận thức rõ thực trạng dat nước khi dat nước mới thống nhất

co sé vat chất kỹ thuật còn yêu kém; năng suất lao động thấp, sẵn xuất chưa

đầm bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ, Đảng cũng vạch ra những nguyên

36

Trang 37

nhân sâu xa của tỉnh hình trên lả nền kinh tế nước ta là sán xuất nhó; công tác

tổ phức và quản lý kinh tế sỏ nhiều hạn chế, [19, tr.13] Nhưng những điểm bắt hợp lý trong quan hệ sở hữu Đảng lại chưa chỉ ra Ở miền Bắc, Đảng chủ

trương củng, cế và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đưới hai

hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo

xã hội chủ nghĩa đổi với các thành phần kinh tế Chính sách cãi tạo xã hội chủ nghĩa dối với các thành phần kinh tế ở dãy là: sử dụng, hạn chế và cấi tạo công nghiệp tư bắn tư doanh chủ yếu bằng hình thức công tư hợp doanh; chủ

trương hợp tác hoá nông nghiệp; cải tạo thủ công nghiệp băng con đường hợp tác hoá là chủ yêu; cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển din

sang sản xuất [18, tr.108-109]

Thực chất của quả trình cãi tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần

kinh tế ở miền Nam cũng như trong cả nước là nhằm xoá bỏ chế đô tư hữu và

thiết lập chế độ công hữa Việc xoá bỏ chế độ tư hữu nhằm chuyển mọi tư liệu sản xuất thành sở hữu toàn đân là mục tiêu rất lâu dải và phụ thuộc vào

trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phải nhằm nhục vụ việc phát triển

sẵn xuất Việc tiến hành cái tạo một cách Š ạt các thành phần kinh tế phi xã

hội chủ nghĩa, cũng như việc quá coi trọng thay đối quan hệ sở hữu về tư liệu

sin xuất mà không coi trọng việc giải quyết các khâu tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối đã dẫn tới việc không tìm ra cơ chế gắn người lao dộng với

sẵn xuất Tỉnh chú động, sảng Lạo của người lao động bị giám đi vì “mọi tư

liệu sản xuất chủ véu trong xã hội phải được sử dụng theo phương hưởng và nhiệm vụ của kế hoạch Nhà nước” T19, tr.22] Tư liệu lao động từ chỗ là tải sản riêng của người lao động bỗng chốc trở thảnh những tư liệu được tip thé

hoá nên đã làm suy yếu đi một lực lượng sản xuât to lớn, lợi ích cá nhân

không dược coi trọng đúng mức

Lại Đại hôi IV, nhằm tổ chức lại nền xắn xuất, Đảng chủ trương: tổ

chức lại tắt cá các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư

Trang 38

nghiệp, trong cá nước thoo hướng sẵn xuất lớn xã hội chú nghĩa, xoả bó tỉnh trạng phân tán, cục bộ, hình thành những ngành kinh tế - kỹ thuật thống nhất

và phát triển trên phạm vi cả nước Đồng thời, Đảng chủ trương cái điển

phương thức quản Ìÿ kinh lễ, lay kế hoạch hoá làm chính Kế hoạch hoá trên

cơ sở đề cao trách nhiêm và phát huy tính sáng tạo của các ngảnh, các địa

phương và các cơ sở 'Irong quản lý kinh tế, Đâng cũng đã nhắn mạnh tới việc

phải coi trọng quy luật giá trị, phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, sứ

dung tất thị trường NẾu so sảnh với công tác quận lý kinh tế được dễ ra lai

Đại hội II, thì tới Đại hội IV lần này công tác nảy đã có những bước chuyển biến nhất định, nhất là khâu kế hoạch hoá Kế hoạch hoá không còn được

nhân mạnh là “pháp lệnh” như tại Dại hội II, mà đã chủ ý hơn tới tính sáng

†ạo của các ngành, các địa phương

'Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiễu khuyết

điểm, đặc biết là “không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế” [20, tr.38], do

đó, kế hoạch chưa thực sự xuất phát tử thực tế lao động sản xuất, thiểu tỉnh

khả thi Đăng vạch rõ: “về tổ chức thực hiện, khuyết điểm, sai lầm của chúng

ta là quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với cuộc sống: là bảo thủ, tri

trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế” [20, tr.39] Trong khi đó, cơ chế

quan lý quan liêu bao cẤp vẫn tiếp tục dược duy trì đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền sẵn xuất, nhất là trong việc phân phối, hưu thông Nhà nước dóng vai

trò điều LIẾt giá cä nên đã không kích thích được sắn xuất kinh doanh phát

triển Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với đặc điểm tách rời việc trả công lao

động với số lượng và chất lượng lao động kết hợp với nguyên tắc phân phối

theo lao động đã làm cho chế độ phân phối mang tính binh quân, do đó không

kích thích được sự nhiệt tỉnh và khả năng tìm tòi sáng tạo của người lao động

Một khó khăn nữa đối với nước ta là trong những năm cuối thập ký 70

của thể kỷ XX, đất nước ta lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên

giới ử phía Bắc và Tây Nam Tình hình dé ánh hưởng không nhỏ tới công

38

Trang 39

cuộc khôi phục vả phát triển kinh tế ở nước ta NÊn kinh tế đất nước vẫn dã

gặp rất nhiều khó khăn đo những bắt hợp lý trong quan hệ sản xuất, vừa thoát khỏi chiến tranh nay lại phải đương đầu với những kế thù mới khiến tỉnh hình

nigày cảng trở nên nghiêm trọng “Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế trong 3

năm (1976-1980) chưa thu hẹp được những mắt cân đối nghiêm trọng của nên kinh tế quốc dân Sản xuất phát triển chậm trong khi số dân tăng nhanh 'Thu

nhập quốc dân chưa dăm bảo dược tiêu dùng xã hội lương thực, vải mặc và

các hàng tiêu dùng dễu thiếu ” |20, tr35|

Trước sự yếu kém của nên kinh té dit nước, đại Đại hội V năm 1982,

Dăng đã có nhiều chủ Irương mới cả trong chiến lược phải triển kinh tế và

cải tạo quan hệ sản xuất Tù Dại hội ID nam 1960, Dang luén khẳng định

công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ Tưy nhiên, phải

đến Đại hội V ‘Dang mới xác định cu thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chăng đường đầu tiên Đó là “tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp coi

nông nghiệp là mặt trận hàng dầu, dưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ

nghĩa " [20, tr 62]

Củng với việc đây mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đăng chủ trương tiếp Lục đầy mạnh hop Lic hoá nông nghiệp ở Nam bệ, từng bước phat hủy tác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất

lớn xã hội chủ ng]ữa và xây dựng nông thôn mới Rút kimh nghiệm từ phong trào hợp tác hoá trong những năm trước đây, đưa quy mô hợp tác xã nông

nghiệp lên quả lớn ở một số dịa phương, trong chủ trương lần này, Đảng nhắn mạnh tới việc én định quy mô hợp tác xã và tập doàn sản xuất, tổ chức tốt

việc điều chỉnh quy mô trong những trường hợp cần thiết Một bước tiền mới

trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã là Dáng chủ trương “áp đụng rộng

rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động” [20,

tr.66] (Mãi tới năm 1989, chủ trương này mới thực sự có tác dụng to lớn đối

với sự phát triển của lực lượng sản xuất nông nghiệp nhờ những giải pháp

39

Trang 40

đúng dẫn và triệt dễ trong chỉ thị 10 của Độ Chỉnh trị: Chí thị 10 đã xoá bỏ cơ

chế hành chính bao cấp; xác định đứt khoát vị trí kinh lễ hộ nông dân là chủ

thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự di

chuyển lao động và vốn đầu tư vào các ngành nghề khác nhau ở nông thôn

Nhờ sự đối mới cơ chế quần lý theo chỉ thị 10 trong đó thừa nhận quyền tự chủ thật sự của hô nông dân, nên từ năm 1989, trong nông nghiệp đã có bước

phat triển vượt bậc về lực lượng sẵn xuất |7, tr.169])

Chủ trương khoán sắn phẩm này đã mở ra một phương hưởng đúng din cho việc củng cỗ quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì nỏ di bước đầu thừa nhận quyền Lự chủ của nông dân (hộ xã viên được tự chủ ở 3 khâu: gieo trồng,

chăm sóc va thu hoạch) Có thể coi đây là một trong những khâu đột phá đầu

tiên trong tiễn trình đổi mới, là một tiên để quan trọng để tiến tới sự đổi mới

toàn diện và sâu sắc nên kinh tế - xã hội

Từ 1981-1985, phương thức khoán sản phẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triển của nền sản xuất nông nghiệp, nông

nghiệp tăng bình quần hàng năm 4,9% so với 1,9% hàng năm của thời kỳ 1976-1980 Sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng, mức bình

quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu

tn trong théi ky 1981-1985 [21, tr.14]

Tới hội nghị Trung ương tháng 7-1984, những kết quả tốt đẹp đo áp dụng chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã được Đảng rút kinh nghiệm và cho phép áp dụng vào trong sản xuất công nghiệp, với khuyến

khích bằng vật chất trong tìm kiểm nguyễn vật liệu sản xuất, tiểu thụ sẵn phẩm và sử đứng lợi nhuận thu dược từ sản phẩm ngoài kế hoạch cũng như cho phép giám đốc được quyết định về vấn để lực lượng lao động của doanh

nghiệp Với những điều chỉnh này đã bước đầu tạo được tính độc lập tự chủ của các doanh nghiệp nhả nước, do đó đã góp phan lam tang nang suất và chất lượng sản phẩm Nhưng lúc này kế hoạch sản xuất, lãi suất phân nộp ngân

40

Ngày đăng: 17/05/2025, 20:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w