Cũng chính những lý do rây khiến thánh ngữ trở thành mội phạm vi nghiên cửu thu vi, hip dẫn vả nhận được sự chú ý đặc biệt của giới ngôn ngữ học cũng như những người quan tâm, yêu mén n
Trang 1Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: châu á học
Trang 2
Nghiên cúu đối chiếu thành ngữ
Hàn - việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (Nhìn từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: châu á học
Mã số: 60.31.50
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh cẩm lan
Hà Nội - 2009
Trang 3
MỤC TỤC
CHUONG I: BOI CHIEU CAU TRUC CUA THANH NGU HAN - VIET CO
1.1 Phân loại thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vị vật về mặt cầu trúc 9 1.1.1 Một số khuynh hướng phân loại về
1.1.2 Phân loại thành ngữ có thành tổ cấu tạo lä tên gọi động vật 10
1.1.3 Dôi chiều cẫu trúc của thành ngữ Hàn - Việt có thành tế câu tạo lä tên
© Thành ngữ chính phụ có tính từ dm tung tA cessive esses wn lb
a Thành ngữ có rạng ngấ nơi chấn bị đáo lên trước động từ 20
b, Thành ngữ có bê ngữ: bị dáo lên trước dộng lữ „20
a Thành ngítcó tinh từ bỗ sng ý ngÌữa cho danh ti bi dio lan trước đanhh 3
d Thành ngữ có phương tiện thực biện hành động được đảo lên trước động lừ: 21
e Thanh ngữ có động từ vị ngữ dược dão lên dẫu cấu:
TIỂU KÉT
CÓ THÀNH TÔ CÂU TẠO LÀ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT
2.1 Khái quát chưng về nghĩa của thành ngữ
2.2 Dỗi chiếu cơ chế tạo nghĩa thành ngữ Hàn - Việt có thành tô cẫu tạo là tên
34 2.2.1 Cơ chế tạo nghĩa của các thành ngữ có quan hệ chính phụ 35 2.2.1.1 Thành ngữ chính phụ có đanh từ làm trung tâm „25
a Thành lá là lên gọi động vật ở vị trí từng (âm 35
6, Thành tổ là tên gọi động vột ở vị trí của thành tỐ phú coceoooeoreee 26 2.2.1.2, Thành ngữ chính phụ có động từ và tính từ lâm trung tâm 27
a Thanh 16 ld tén goi déng vat chi xuat hién trong phan phu ctia thanh ngir Con tung
Trang 4lầm của thành ngữ có thế là một hành động, một trạng thái, một tính chất nảo đó 27
b Về cơ chế tạo nghĩa, có 3 cơ chế sau dây được chúng tôi tìm thấy trong cá thánh
ngữ Việt và thành ngữ liàn:
1.2.2 Thành ngũ trong đó các thành tổ có quan nhệ Chỗ -
1.2.3 Thành ngữ có quan hệ đẳng lập
2.3 Ngữ nghĩa của thành ngữ Hàn có yếu tố chỉ tên gọi động vat
2.3.1 Thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật nói về con người
3.8.1.1 Thành ngữ nói về kình thứcc cu cơn người
481.2 Thành ngữ nói về tính cách của con người
a Thành ngũ nói về tính cách lốt
b Thành ngữ nói về tình cách xấu
2.313 Thành ngữ nói về hoạt động của con người
231.4 Thành ngữ nói về các tình thể của con người
231.5 Thành ngữ nỗi về thân phận của con người
331.6 Thành ngữ nói vỀ quan hệ con người vi con người
2.3.2 Thành ngữ nói về kinh nghiệm sống
TIỂU KÉT
CHƯƠNG TII: ĐỞI CHIẾU GIA TRI BIRU TRUNG CUA BON
THÁNH NGT IAN - VIET TỪ GÓC DỘ VĂN HOÁ
3.1 Vẫn để trưng ngũ nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ
3.2 Cư sở xác dịnh giá trị biểu trưng ngữ nghãa
3⁄3 Đối chiếu giá trị biểu trưng ngữ nghĩa củn các loài động vật trong cách nhìn nhận cửa người Hàn và người Việt qua thành ngữ có yếu tổ chỉ tên gọi
3.3.1 Biểu trưng của nhóm động vột nuôi
331.1 Các biển trưng của chả
a Chó là biểu trưng của lòng trưng thành
b, Chó biểu trưng cho hình thứu xâu H111 n0 1 0n.110011111xxxe
© Chó biểu trưng cho sự đau khổ
Ä Chó biếu trưng cho tính kiên trì
e Chó biểu trưng cho sự vô ơn, bội bạc
& Chó biểu trưng cho sự lâm thường, đúng khinh ma
331.3 Các biểu trưng cũa gà
a Biểu trưng của gà nói ChuNg-
ö, Hiểu trưng của sà qua hành động, tinh huồng 0 cụ VIỄN eoeoosoee
331.3 Các biễu trưng của ngựa
Trang 5a Ngựa biêu trưng cho của cất và sự dự đột
b Ngựa biểu trưng cho sự nhanh nhẹn trong bành động esee
e Ngựa giả biểu trưng cho bí tHệ v
331.4 Các biẫu trưng của bà (bộ)
a Cáo biểu trưng chung của bò
b Biểu trưng của bò trong những tình thể, hành động cụ thể
3.3.2 Biểu trưng của nhóm động vật hoang dã
332.1 Các biểu trưng cũa hỗ
3.8.2.2 Các biên trưng của chìm
3.3.23, Cac biển trưng của cá
a Biểu trưng chung của cá nỏi chưng
b Biều trưng của cả qua tình hung, bành động cụ thỄ co
332.4 Biển trưng cũa thã
332.5 Các biển trưng của rắm
6 Bibu trưng cho sự lưỡn Ìg@ —
332.6 Các biễu trưng của chuột
a Chuột (hay Chuột c¡
b Chuột trong hũ gạo biểu trưng cho sự may NHẮN cccc co
332.7 Biển trưng cũa con vật tưởng tượng - con rộng
a Biểu trưng cha sự vinh quang và thành đạt
b Biểu trưng cho về đẹp hình thức và điững khi của người đàn Ông
3.3.3 Biểu trưng của các loài côn trùng, sâu bọ
3.3.3.1 Biễu trưng cũa kiểm
3342 Biển trưng cầu muỗi
3.333 Hiêu trưng của bạ ngựa
3334 Hiểu trưng của gian
Trang 6hang ngay
Khi nói vẻ thành ngữ, người ta thường hay nói dén một trong những chúc năng quan trọng cúa nó là tích luỷ, phán ảnh đậm nét và truyền tải đặc trung văn
thóa đân lộc Do vị tri quan lrợng cửa thành ngữ trong kho từ vựng của một ngôn
ngữ cũng như chức năng của thành ngữ trong thực tế sử dụng, mả việc học một ngôn
ngữ nói riêng và việc tìm hiểu một nên văn hoá nói chung thông qua ngôn ngữ luôn
không thế tách rời việc học, tìm hiểu, và nghiên cửu thành ngữ Điều đó cũng cho thấy việc hiểu, sử dụng thành ngữ một cảch chính xác, thành thạo phải là kết quả tất
yêu của việc nằm bắt tói múc thông thạo một ngôn ngĩt và hiểu một cách sâu sắc về
một nến văn hơá Cũng chính những lý do rây khiến thánh ngữ trở thành mội phạm
vi nghiên cửu thu vi, hip dẫn vả nhận được sự chú ý đặc biệt của giới ngôn ngữ học
cũng như những người quan tâm, yêu mén ngỏn ngĩt
Để có một cải nhìn toàn diện về thành ngữ, cân phải quan niệm yằng thành
nữ là một sản phẩm tỉnh thân, là những, lời ãn tiếng nói gắn liển với quá trình phát triển của một đân tộc Thành ngữ không chỉ bao gồm những yếu tố ngôn ngữ, bên
trơng nó còn chứa đựng cả những yếu tổ vấn hoá, phong lục, tâm thúc và hàng loại
Trang 7những quan niệm nhân sinh của chủ nhân sáng tạo Vì vậy, để hiểu và sử dụng, thánh ngữ một cách thành thạo cũng như dễ nghiên cứu thành ngữ một cách sâu sắc, cách tiếp cận từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá là một trong những cách tiếp cận hiệu
quả Để thực hiệu việc nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn một phạm vị thành ngĩt
dựa trên một đấu hiệu hinh thức là thánh ngữ có thành tổ cầu tạo lá tên gọi động vật
Theo tiền sỹ Trịnh Cảm Lan, đầy là một trong, nhữmg đâu hiệu được cho lả làm cho
thành rngít mang đậm những đặc Irmg Lâm ly, van hoa va ui duy dan lộc
Là người Việt sử dụng tiếng Liân, chứng tôi chọn thành ngữ tiếng Liần là đối tượng nghiên cứu chính, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đổi chiếu với kết
quê nghiên củu của Trịnh Cẩm Tam năm 1995 với phạm vi thành ngữ tương đương,
trong tiếng Việt để tìm ra những điểm giống và khác nhau trong cách cấu tạo, diễn 1ả, liên hê của hai công đổng bân ngữ nhắm tim hiểu những tương đẳng và dị biệt tiệ thẳng biểu tượng, trong nền văn hoá dân lộc của hai cộng déng may
Trên thực tế, giới Việt ngữ học đã từng có nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ tiếng ViệL Họ là những người co công lớn trung việc khai phá những văn dé liên quan dến thành ngữ Cũng với sự ra dời của hướng nghiên cứu đối chiêu ở Việt Nam mả người đặt nên mỏng đầu tiên lá tác giá Lê Quang Thiêm, vài thập kỷ gần đây, nghiên cứu đối chiếu thành ngữ cũng trở thành mỗi quan lâm và au lựa chọn của nhiều nha nghiên cửu Các công trình nghiên cửu dỏi chiếu thành ngữ Việt với
thành ngữ ở các ngôn ngữ khác như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung
và vài năm gân đây là tiếng Nhat da dan dan lap đây những khoảng trồng và những, phạm vi nghiên cửu đối chiếu thành ngữ Hướng nghiên cửu đổi chiếu thành ngữ
Tan - Việt cũng đã bắt dau được đất ra vai nằm gần đây nhưng cũng chỉ là những
nghiên cứu ban đâu, có lính chát đặt vận để và gợi mở Đó là nghiên cứu của
Nguyễn Xuân lloà với nhan để " Đặc ưng văn hod dan t6c nhìn từ góc độ đối chiều thành ngữ - tục ngữ Hàn - Liệt, Ngôn ngữ và Đời sông, số 2, 2001 hay
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thành với để tài "Tìm hiểu đặc điểm cấu trúc và ngữ
nghĩa của thành ngữ Hàn bốn chữ Hán trong sự so sánh với thành ngất Hán Việt", Luận văn tết nghiệp cữ nhân 2009 Vẻ cơ bản, đây là một phạm vi nghiên cứu
trâu như còn bố ngỗ và vận dễ mà chúng Lôi lựa chọn: "Nghiên cứu dối chiều
Trang 8thành ngữ Hàn - Việt có thành tố câu tạo là tên gọi động vật từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá” trở thành vẫn dễ được quan tâm lần dầu tiên tại Việt Nam Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn che rằng nghiên cứu nảy cũng mới chỉ đáp ứng được một phân tất nhỏ nhu câu tìm hiểu và nghiên cửu về tiếng Hàn, văn hoá Hàn, cũng nữ nhu cau tim hiểu những điểm tương đồng va khác biệt giữa hai nên văn hoá dang có
rhững bước tiên mạnh mê trên con đường giao lưu này của người Việt Nam mà
thôi
02 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang khuôn khổ của luận văn Thạc sĩ, đê tài tập trung vào những nhiệm vụ
3 Nghiên cửu đối chiếu hệ thống giá trị biểu trưng của thế giới loài vậi được thé
hiện qua thành ngữ Hàn và thánh ngữ Việt thuộc phạm vi nghiên cứu nhằm tìm ra
những tương đồng vá dị biệt trong cách diễn tá, liên hệ của hai cộng đồng là chủ
nhân sáng lạo thành rgít, trên cơ sở đó tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa
hai nên văn hoả của người Han va nguời Việt
03 Tư liệu nghiên cứu
Đổ tiến hành nghiên cứu này, chứng tôi đã sưu tâm, lựa chọn được 387 câu thành ngữ tiếng Hản có thánh tế cấu tạo là tên gọi động vật từ các nguồn sau đây:
1 Lee Woo Young (2002), WYs}4}a- Dai Bách khoa từ điển
thành ngit, NXB Sholbitch, Han Quốc
Chon Chea Kuk, (2008), t #Z}†^2]2}- Thể giới thành ngữ bồn chit NXB Cty CP Shee Kong Sha, Hàn Quốc
3 Choo Kang Hyun (2008), 100 7/2] WHws 9 A}al, soo
đặc trưng văn hoá dân tộc Hàn, NXB Hiệp hội xuất bản văn hoá
Dai Han, Hàn Quốc
Trang 94 long Chol Won (2006), “144 °l- Thanh ngit bén chit, NXB Shan Kwa Bus, Han Quéc
5 LecYongTal (2008) 524.4] 4a aa] ea 7p A]
H] 100% 3-8-3} 2714-31 AYO] Thanh nei, od ngữ
thường tục về khả năng, luận thuật, nghề nghiệp, ứng xử, thăng tiễn, cai tị nước (2008), ÄXH Hengbok - MaltunuL Seshang,
TIần Quốc
6 Loe Chan Kul (2000), 2000 thành ngữ của chúng tôi, NXB
‘TooSho, Han Quéc
Ngoài ra, để có cứ liệu đổi chiếu, chủng lôi đã xin phép sử dụng kết quả
nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 với phạm vi thành ngữ tương, đương trong,
tiếng Việt làm cứ liệu đổi chiêu Việc sử đụng này đã được sử đồng ý của táo giả
04 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu thánh ngữ thuộc phạm vi nghiên cứu trong tiếng, Hàn và đôi chiêu với thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi sử dụng những phương pháp Trghiên cửu chủ yếu sau dây:
- Phương pháp đối chiếu là phương pháp cơ bản được sử dụng trên phạm vi toàn bộ
hiận văn để đổi chiếu các thành ngữ thuộc phạm vi nghiên cứu trong tiếng Iiân và
tiếng Việt
Trên các bình diện cụ thể của ngôn ngữ, chúng tôi sẽ sử dụng một số phương
pháp nghiên cửu đặc thù bên cạnh việc thực hiện thao tác đổi chiều như:
- Phương pháp phân tích thành tó dễ phân tích cấu trúc của các thành ngữ
- Phương pháp phân tích va miêu tả ngữ nghĩa để phân tích ngữ nghĩa của các thành
ngữ Trên cơ sở phân tích và miều tả ngữ nghĩa, thủ pháp liên tưởng sẽ giúp chứng
tôi tim ra những giá trị biểu trưng liên qua đến tư duy và nền văn hoà của mỗi dân tộc
05 Bố cục của luận văn
Ngoài mở dẫu và kết luận, luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1 : Đối chiêu câu trúc thành ngũ Hàn - Việt củ thành tố cầu tạo là tên
Trang 10gọi động vật
Chương nảy tiễn hành nghiên cửa vả phân loại vẻ mat cau trúc, miễu tả tí mí các loại câu trúc của thành ngữ tiếng IIàn có thành tổ câu tạo là tên gọi động vật và
đối chiếu với phạm vị thành ngữ tương dương trong Hếng Việt
Chương 2- Đối chiêu ngữ nghĩa của thành ngữ Hàn - Việt có thành tố câu tao
là tên gọi động vật từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá
Chương này nghiên cứu co chế lạo tghĩa và các tội dụng ngữ nghĩa của các thành ngữ tiếng Liên có thánh tổ cầu tạo lá tên gọi động vật và đối chiều với cơ chế
tạo nghĩa cũng như những nội dung ngữ nghĩa của phạm vi thành ngĩ hương đương
trong liếng Việt
Chương 3- Dối chiếu những giá biểu trưng của thế giới động vật liên quan đến
tư duy và văn hóa của hai dân tộc dân tộc Hàn -
Chương này nghiên cửu hệ thống giả trị biểu trưng của thế giới động của người Hàn qua thành ngữ, đổi chiếu với những giả trị biểu trưng của thể giới động, vật cửa người Việt để từ đó tìm ra những điểm Lương đồng và khác biệt trong it duy
và văn hỏa dân tốc của hai công dỏng là chủ nhân sáng tạo thành ngữ
Trang 11CHƯƠNGL
ĐI CIITÉU CẢU TRÚC CỦA THÀNH NGỮ TÀN - VIỆT
CÔ THÀNH TÔ CÂU TẠO LÀ TEN GOI BONG VAT 1.1 Phân loại thành ngữ có thành tế câu tạo là tên gọi động vật về mặt câu trúc
1.1.1 Một số khuynh hướng phân loại về mặt câu trúc và tiêu chí phân loại của
luận văn
Như một đối tượng nghiền cửu của ngôn ngữ học, thành ngữ được chú ý trên phương diệu cấu trúc Ổ phương điện này có rất rhiễu các nhà nghiên cứu tiến hành: việc phân loại và cho ra các kết quả như sau
- Dựa trên quan hệ cú pháp, tác giả Dái Xuân Ninh chia thành ngữ thảnh ba loại: Thành ngữ là một câu bình thường (Vi dụ: Cá nằm trên thoi) Thanh ng là một câu
đặc biệt (Ví dụ: 7ø nhự cấy sấy) Thành ngữ là một đoạn của lời nói (Ví dụ: Đầu
sóng ngọn giỏ)
- Dựa vào cơ chế câu tạo, tác giả Nguyễn Thiên Giáp cho ring thành ngữ là những cụm từ cỗ định vừa có tnh hoàn chỉnh về ngÌữa, vùa có tỉnh gợi cảm Ông cũng chia thành ngữ làm hai loại : Thành ngữ hợp kết (Ví đụ: Rách nữư tổ đĩa) và thành
ngữ hoá kết (Vĩ dụ: Chó ngắp phải ruậi)
- Dựa vào kết cầu cú pháp gốc của thành ngữ, tác giá Đồ Hữu Châu chia thành ngữ
làm hai loại Thành ngữ có kết cầu câu (Ví dụ: À#a cũ bắt nại mà mới) và Thành
ngữ có kết cầu cum tử (Vi dụ: Chạy long tóc gáy)
- Dựa vào đặc điểm hình thức, một số tác giá khác chia thành ngữ làm ba loại Thành ngữ số sánh (Ví dụ: 1.ạnh nữực tiên), thành ngữ đổi và thành ngữ thường [16,
1r10|
Nói chưng, các khuynh hưởng phần loại trên đều khả rõ rảng, Dựa trên các
at dé,
tiêu chỉ phân loại của mình, các băng phân loại đưa ra đều khá toàn diện và
bao quát được tắt cả các thành ngữ có thể có về mặt cẩu trúc, Tuy vậy, hầu hết cáo
tảo giả chỉ đùng lại ở kết quả phân loại, rất ít táo giả đi vào mồ tả kỳ đặc điểm cấu
trúc thành ngũ theo các tiếu loại Có gắng khắc phục điều đó, để có thể đối chiếu
cầu trủc thành ngữ Liàn - Việt, luận văn cổ gắng phân loại và mô tá kỹ cấu trúc của
từng tiêu loại thành ngữ rỏi đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Như đã nêu, chíng tôi sẽ
Trang 12lua chon thành ngữ Hàn làm cơ sỡ chỉ đạo, là đổi tượng cần phân tích và lnn sáng,
†ö vẻ mặt cầu trúc, thành ngữ Việt sẽ trở thành phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tổ đặc điểm câu trúc của thành ngữ Hàn
Để phân loại thành ngữ vẻ mặt cấu trúc, tiêu chỉ mà chúng tôi đựa vào là quan hệ ngữ pháp của các thành té trang thành ngữ
1.1.2 Phân loại thành ngữ có thành tổ cẫu tạo là tên gọi động vật
Dựa trên tư liệu cụ thể mà chúng tôi thu được là 387 thành ngữ tiếng Hàn có thành tổ cấu tạo là tên gọi động vật, chứng tỏi đã căn cứ vào quan hệ giữa các thành
tế câu tạo để phản loại về mặt câu trúc, đẻ là Quan hệ chính phụ (Quan hệ của kết
cầu một trung lâm trong đó yếu tổ đứng làm trung tâm chỉ phối toàn bộ các yếu tố phụ đứng quanh nó), Quan hệ chủ vị (Quan hệ giữa hai trang tâm chỉ phối nương tua lẫn nhau, mỗi trưng tâm đều có thể phát triển và mở rộng theo đặc điểm và tỉnh chát của Irung Lâm nhưng nòng cối của quan hệ vẫn là hai trung Lâm}, Quan hệ đẳng lập (Quan hệ giữa các thánh tố hoặc bộ phận tham gia trong thành ngữ có quan hệ giả trì ngang bằng và bình đẳng với nhan) Ngoài ra, kết quả xử lý tư liệu cho thay
có một nhóm thành ngữ không thuộc quan hệ nào trong ba quan hệ trên nên chúng,
tôi xếp thành loại thử tư gọi là 7 hành ngữ quan hệ đặc biệt
Như vậy, về cầu trúc, cỏ thể chúa các thành ngữ tiếng Hàn là đối tượng
nghiên cửu thánh 04 loại như sau:
+ Thanh ngữ trong đó các thành tế cầu tạo có quan hệ chính - phụ Loại này có 215/
kết quá phân loại vẻ mặt cầu trúc của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 trên tư liệu
thành ngữ là 904 thành ngữ thì thành ngữ Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động,
vật như sau: thành ngữ cỏ quan hệ chính phụ (58,894), thành ngữ có quan hệ chỗ
Trang 13-vị (39,894), thánh ngữ có quan hệ đẳng lập (0,394) và thành ngữ có quan hệ đặc biệL (4,59)
TIai kết quả phân loại trên cho thấy có một sự tương ứng tương đổi giữa thành ngữ Hàn và thành ngữ Việt về mặt cầu rúe thẻ hiện ở tỉ lệ các Liễu loại ưrờng
đỏ thành ngữ có quan hệ chỉnh phụ ở cä bai ngôn ngữ đều chiếm tí lệ cao nhất 55%
trong tiểng lIàn và 58,89% trong tiếng Việt, tiếp đến loại thành ngữ có quan hệ chủ
vị với 43% trong liéng Han và 39,8% trong tiếng Việt Loại thành ngữ có quan hệ đẳng lập chiếm tí lệ thập nhất trong ca hai ngôn ngữ, chỉ với 0,5% trong tiếng Hàn
và 0,3% trong tiếng Việt Sự tương ứng này thể hiện một phương thức tư duy chưng, trong cách đin tả, cấu lạo thành ngữ ở nhiều ngôn ngữ Về mặt câu trúc, theo lý thuyết đại cương, thành ngữ là một loại cựm từ cổ định, vì thể, quan hệ ngữ pháp giữa các thành tế câu tạo ở đạng cum từ sẽ là cầu trúc phố biến hơn cả Kế đến, có
nhiều thành ngữ có khả răng điễn đạt mộ ý niệm lương déi trợn ven nên loại quan hệ chủ vị trong nội bộ thành ngữ cũng chiếm một tí lệ đáng kế Loại quan tiệ đặc biệL, tực chất (xét trên thục tế tư liệu) chỉ là một đạng biến thế của quan hệ chú vị, có thể đùng phương pháp cải biến dé đưa về quan hệ chủ vị Còn loại quan
hệ đẳng lập xuất hiện ở một số it thành ngữ do khả năng diễn tá đặc biệt của loại đơn vi ngôn ngít này
Vi những lý giải như trên, chúng tôi thấy sự tương ứng vẻ tỉ lệ thành ngữ ở các loại câu trúc trong tiếng TIàn và tiếng Việt là một sự tương ứng hợp lý và có thể
điển được
1.1.3 Đối chiếu cấu trúc của thành ngữ Hàn - Việt có thành tố cấu tạo là (Ên gọi động vật
1.1.3.1 Cầu trác cia thành ngữ có quan hệ chỉnh - phụ
‘Theo thống kê, thành ngĩt loại này có số lượng lớn nhất trong số các thành
ngữ đã được khảo sát Dựa vào bản chất từ loại của từ trung tâm trong kết câu chính
phụ, chúng tôi phân loại như sau
& Thành ngữ chính phụ có danh từ làm trung tôn
Căn cử vào đặc điểm quan hệ ngữ pháp trong nội bộ thành tố phụ, có thế
phân loại như sau:
Trang 14al Thành tổ phụ là từ
Thành ngữ Hàn có các câu:
1 #12] FURIE) › Tiên chó sới (Lòng lạng đa sói)
Trong trường hợp này thủ 7m lả từ trung tàm, chó sói là yếu tô phụ Thành
ngữ Việt với câu trúc tương đương có cáo câu như: A#ểm có ngão, Chùm đầu đàn, Mat ott vo, Ngựa Tái Ông Về số lượng, thành ngữ đạng này trung tiếng Việt nhiều
Một đạng khác có số lượng phố biên hơn ở cả hai ngôn ngữ là thành ngữ chỉnh phụ đanh lừ làm trung tâm trong đó yếu tố phụ là từ nhưng có hai trung lâm như vậy ghép với nhan Loại này cỏ hình thức của thành ngữ đổi trong đó mỗi về
đổi được câu tạo theo mồ hình từ ghép chính phụ Gó một số tiểu loại phố biển sau
- Thành tế phụ là tên gọi động vật, thành tổ chính chỉ một bộ phận nào đó của con vật Tiếu loại này rất phố biến ở cä hai ngôn ngữ
Vi dụ: Tiếng Hàn:
1 #9 #7 "} (238 #Ÿ lý) —+ Lòng vượn ý ngựa (Ông chẳng bà chuộc)
2 2A (SANG) — Sừng thố, lông rùa (Rất hiếm)
3.) đ—> Đầu cá mặt qui (Mặt người đa thú)
ngữ Hàn (trên phạm vi Lư hiệu của chúng tôi)
Vi dự: 1 Chim trời cá nước
2 Mèo má gà đồng
3 Cá bé chím rừng
Ở thành ngữ có danh từ từ lâm trung tâm trong đó thành tổ phụ là từ, về trật
tự của các thành tổ, nếu trong thành ngữ Hàn, từ trung tâm đứng san và thành tổ phụ
Trang 15đứng trước thì trội tự trong thành agất Việt là ngược lại Đây cũng là trật tự thuận củ pháp ö cá hai ngôn ngữ:
a2 Thanh t6 phy la mét cum nr
Loại mày có số lượng không nhiều ở cả hai ngôn ngữ và tên gọi động vậL thường năm trong phẩn phụ Thánh ngữ Việt thường có dạng sơ sánh
Vi dụ: Thành ngữ làn
1, 'đại #MEt| <4/-2ÿ —› 1hân thế củ ban ngày (Thân cô, thể cô)
2 Bag] S Ae | > Pink thế nn đuôi hỗ (Cưỡi lên lưng hỗ)
Thành ngũ Việt
1 Thân như thân trạch
2 Mắt như mắt rắn ráo
3 Công như công các
a3 Thành tô phụ là một cơm C - 17
Vidụ — Thành ngữ Hàn:
1 È# Z —> Cửa rồng lên (Vĩnh quy bái tổ)
ở 3†21Z] +Z (421 #87) —> Chó nhà có tang (Buồn bã, một mỏi, cô đơn)
Thanh nygit Viét
„ Mặt nghệt như ngỗng ïa Chữ như cua bỏ sảng,
1» Ngang như cua bộ đường nhựa
a4 Thành tê phụ là một kết cấu so sảnh kiểu 94 như H"
Tây là tiêu loại chỉ có trong thành ngữ Việt
Vi du: 1 Da trắng nhir tring gà hóc
2, Mặt rễ như tê ong bau
Có thể nói, ở cả hai ngên ngữ, cầu trúc của thành ng chính phụ có danh từ
làm trưng tâm hoàn loàn không cỏ cầu trúc kiểu đanh ngữ, ngoài một hộ phận wrong
đó có cầu trúc kiểu cụm từ chính phụ thông thuong Bén cạnh thánh tổ chính la đanh từ, phản phụ có cảu tạo khá phong phú: có thể là một từ, một cụm từ, một kết
cầu C-V, 06 khi là một kết cau so sánh Những đặc điểm này làm cho thành ngữ có
diện mạo khác hẳn những tổ hợp tự do thông thưởng khác Một đặc điểm nổi bật
Trang 16trong thành ngữ ViệL, khác hẳn với thánh ngặt Hàn, là sự xuất hiện rải trội của kếL cấu sơ sảnh, dạng kết câu xuất hiện ở hầu hết các tiêu loại thành ngữ chính phụ
danh từ làm trung tâm này
b Thành ngữ chính phụ có động từ làm trung râm
Tựa vào chức năng ngữ pháp của thành tổ phụ, có thể phân loại như sau
bì Thành tô phụ là một bố ngữ trục tiếp
Ví dụ: Thánh ngữ Hàn:
1 #8) ZA} CER FFL) — Cust ngua xem ntti (Cudi ngua xem hoa)
2 8 YS- (FR 4) Ban kiém mua bò (Cuộc sông thanh bình không
cân đến vũ khi nữa)
3 HF ECVE) Om cay doi thó (Lá miệng chờ sung)
4S FER ES 77S > Dudi soi, nudi ci (Cum thign, ti ac) Thành ngũ Việt:
nguyên trật Lừ này Chỉ có thành ngữ cuối cùng (©]P]Ì yÿ #1 3h# 7JKU ›
Đổi sỏi, nuôi cừu) là thành ngữ thuần Hàn nên trật tự các thành tổ vẫn theo trật tự
thuân cú pháp Hàn, khác hẳn với trật tự củ pháp trong thành ngữ Việt
b2 Thành lô phụ gồm mội bồ ngữ trực tiếp và mội bỗ ngữ gián tiếp
Ổ tiểu loại nảy, các bố ngữ được nổi với nhau bằng giới từ “cho”,
Ví dụ: Thành ngữ Tin
1, Zt] 04] 7] AS 7°] BEE Gadi cho cho hé (Gửi trăng cho ác)
Thành ngữ Việt:
1 Thém vay cho ca
Trang 172 Budi gi cho vợ
b3 Thành tô phụ là một bd ngit va mot trang ngit
Vi du: Thanh ngữ lan:
1.LF # B— Yeo chuéng vào cô mèo (Hành dộng không cân thiế)
2A FS Đo rắn trong lang (Việc làm khó khẩn)
3 EPMA © — Giét ga bing dao mỗ bò (Dao to, búa lớn)
Thành ngũ Việt:
1 Gidu voi ruộng rạ
2 Đánh rắn giữa khúc
3 Đuêi lủm cửa trước rước voi cửa sau
Ở cả hai ngôn ngữ, trạng ngữ trong tiểu loại này có thể là trạng từ chỉ vị trí (thường là các từ chỉ bộ phận cơ thể của các con vật như cổ, tai, đâu ), hoặc là các
trạng từ chỉ cách thức
b4 Thành tổ phụ là một trạng ngữ
Ö loại này, trạng ngừ có thể la một từ hoặc kết câu (cụm từ, cụm C-V) chi cách thức của động từ Tổ chức ngữ cửa trạng ngữ phong phủ hơn trong thành ngữ Việt và kém phong phú hơn trong thành ngữ TIàn Cụ thẻ, thành ngữ Việt có 3 tiểu
loại là: (1) Trạng ngữ chỉ cách thức không thông qua từ so sánh kiểu Sớm đa gá Câm miêng hến, Ngũ gà ngủ vụ , (2) Trang ngữ chỉ cách thức là một từ (cụm từ)
gọi tên động vật nối với trung tám băng một từ so sánh kiên Chạy như vụ, Trấn nh
chuột, Chữi như ó, Hỏi nhự khưởu, Bảm như đa và (8) Trạng ngữ chủ cách thúc
la một kết cầu C-V nối với trung tâm bằng một tử so sánh kiểu Chạy nh chó phải
pháo, Kêu như bò rồng, Rình như mèo rình chuột Tuy vậy, thành ngữ Hàn trên tư liệu của chúng tôi chỉ có tiểu loại thứ hat
1 W9}2] #/1- +⁄Z#L) (Khóc như mắt cừu)
2 an} 2) (am ube trau rgựa)
3 Ato) e2] +94 Zhe] 44C} (ciém tién nhu cho, séng nhur dai thin)
Thông thường, trong các kết hợp tự do, trang ngit chi cách thức thường có
bản chát từ loại là một tính từ (chạy nhanh, nói chậm, kêu to, khóc thảm thiết, làn vất vả ) nhưng trong những thành ngữ trên đây, ở cá tiếng Việt và ting Lan, va
Trang 18cũng qua việc khảo sát tắt câ những thành ngữ tương tự rong từ liệu của chúng tôi,
cỏ thể rút ra máy dặc diễm của trạng ngữ chỉ cách thức trong thành ngữ như sau:
- Không một thành ngữ nào có trạng ngữ chỉ cách thức của bành động có bản
chất từ loại là một tính lừ
- Vị đặc điểm trên nên các kết cầu chí cách thức không nói về cách thức một
cách trực tiếp mà chỉ nêu một cách gián tiếp thông qua đặc điểm, thuộc tính, hành
động, lình thế của các con vật Những cách thức đó chỉ có thê tiêu được khi người
sử dụng hiểu được những đặc điểm, thuộc tính, bảnh động, tình thể điển hình đó
của các con vật trang sự đánh giá của chủ nhân sáng tạo
- Trong tốt cũ những phẩm phụ chỉ cảch thức này, lên gọi cáo con vật bao giờ
cũng là yếu tổ trọng tâm, nghĩa là thông tin liên quan đến các con vật, sự hiểu biết 'về các con vật trở nên vô cừng quan trọng trong việc hiểu đúng về thành ngĩt đó
& Thành ngữ chính phụ có tính từ làm trung tâm
Dựa vào đặc điểm của yếu tô phụ, chủng tôi phân loại như sau:
e1 Phân phụ là mội từ hoặc cụm fir
Ö thành ngữ loại này, cả tiếng Hàn vả tiếng Việt, phản phụ có thể dược ghép trực tiếp với từ trung tâm hoặc nếi với từ trung tâm bằng các từ so sánh,
Vi dụ: Thành ngữ Hàn
1 Se] SS 23/1 — Giá trị chân ruôi (Rất ít ói)
2 4# 78] slZZ › Móo má như chân chó luộc (Xấu xi)
3.4" AASo] OE Pa ›Tốn kém bằng cải limg kiến (Không đáng kế)
Thành ngữ Việt
1 Hang mau ga
2 Gly xác ve
3 Cao nhu séu vườn
4 Len lét như rằn mủng năm
c2 Phần phụ là mội cựm C- V ndi voi trung tam bang tir so sinh
Ví dụ: Thành ngữ Hán
22) ấ (BIÄIZ5) › Gáp như cá vào bánh xe (Rất
Thành ngữ Việt:
Trang 19
1 Léo nhéo nhu mée val déng rom
3 Lôi thôi như cả trôi xổ ruột
3 Nơm nớp như cá nằm trên thớt
Như vậy, so với thành ngữ chính phụ có danh từ và dồng Lừ lâm trung tâm,
thành ngữ có tỉnh tử làm trung tâm có câu tạo đơn giản hơn, đồng nhất hơn, và như
vậy, số lượng các tiểu loại cũng ít hơn Cũng như thành ngữ có động từ làm trưng
tâm, ở loại này, thông tin liên quan đến các con vật lập trung ở phan phụ, vì vậy, để hiểu và sử dựng đứng thánh ngữ, cần có thêm những trí thức văn hoá đân tộc liên quan đến những quan niệm của chủ nhân sáng tạo vẻ những đặc điểm, tỉnh thê điền
hình của cơn vật được sử dụng trong thành ngữ
ả Thành ngữ có sẽ từ lầm trung (âm
Leại thành ngữ này số lượng khổng lớn và đều có hai trung tâm với bốn thành tổ dối nhau Về mặt cấu trúc, thành ngữ loại này có yếu tố phụ đểu là các danh từ Trong tiếng Han, đây đều là những thành ngữ gốc Hán, và vì vậy, trật tự các thành Lỗ được giữ nguyên trật tự Hán (giống trật tự trong thành ngữ Việt nghĩa
là ngược cú pháp tiếng Hàn
Ví dụ: ‘Thanh ngé Lan:
1, AE PHA) › Chín bò, một lông ( Không dáng kế như nhỏ di
một sợi lông của 9 con bỏ mà thôi)
2 24'T-EV | 2U) › Chín cừu, mười mục (Dân ELquan nhiều)
3 YR BAK ABE) › Nhất lòng, nhất xà (Hoặc thành công hoặc
không thành công là do tu dưỡng)
Trang 20liên hệ về nghữa, có thể xác định các lử trung Lâm chỗ yếu là các tính từ
Căn cử vào tổ chức ngữ pháp trong nội bộ thành tổ phụ, có thể phản loại như sat: + Yếu tố phụ là cụnn từ"
Ví dụ: Thành ngữ Hèn
1, £44 7] #4 Gidng như chó nhà mô (Thân cỗ thể cô)
2 EA) (ERT) › Như bò lò mỗ (Đáng thương)
Thành ngữ Việt
1 Như rắn mùng năm
2 Nhu chim lia can
+ ¥éu té phu 1a cum C—¥
Ví dụ: Thành ngữ Hàn
1, 15-9] 7]519]3:Z — Như chó chạy sâm (Chạy như chó phải pháo)
2 aLSko] Al) 4-3} ES seo — Nie meo nia mat
3 PO] 2] OKA) > (Niue ca gp mide)
1 SOE BITE) — Rong bay, hỗ lượn
2, QM] of UG FRRIY) > Qua bay táo rơi
3 PS PACER BR) Neu am, md the
Thành ngũ Việt
1 Ngựa đập vơi giảy
Trang 212 Cua may cay dio
3 Diễu tha qua mé
b Thành ngữ có kết cầu Œ- V - 8
Theo tư liệu của chúng lỗi, đây là loại chiếm số lượng lớn nhật trong các thành ngữ cỏ kết cầu C-V ở cá tiếng Hàn và tiếng Việt
Vị dụ: Thành ngữ Tàn
1 .È?š.9l(EERỶ) —+ Cáo mượn oai hùn
2 8722.5#1825MB) › Hạc, bồ câu cười phượng hoàng
4 Ngưu tắm ngưu mã tim ma
e Thành ngữ có cầu tạo kiếu C- V- Trạng ngữ
Vị dụ: ‘Thanh ngữ Hàn:
1 #772 Sol si Bo] Wr} Bs câu để tầm trí ngoài ruộng đậu
ð DPW] #Z@ g]+} —: Ngựa chạy trên ruộng st (Ném đá giâu tay)
w ope, YALA HO] 1c} — Khi cing rơi từ trên cây xuống,
782)9} —> Ích ngôi day giếng
Thanh ngit Việt:
Cá cả ở vực sâu
2 Chó chui gắm chạn
Chó nhây bản độc
3
4, Éch ngồi đây giếng
1.133 Thành ngữ có quan bệ ding lip
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi và kết quả nghiên cúu của Trịnh Cẩm Lan, loại này chỉ chiếm 0.5 % trong thành ngữ Hàn và 0,3% trong thành ngữ Việt
Ở câ hai ngôn ngữ, đây đều là những thành ngữ gốc Han
Vị dụ: Thủnh ngữ Hàn:
Trang 221.9134†ÿ#5Ƒ ›nsẽ hỏng bạc
2 SPOS (SM Aaa) Cam thú ngự trừng
‘Thanh ngit Vist
1 Leng lì quy phượng
‘hé théng quan niệm, sự nhìn nhận và đánh giá của chủ nhân sáng tạo về các loài vật
Đây chỉnh là một trong những nhiệm vụ mà chúng tối cân tìm hiểu trong luận văn
này, ở những chương tiếp theo
1 ®£192''O0] › Chỗ nước trong không bất được cá
2 3*##1¡—+ Trong vườn đuôi nai
1 EPPA › Ngựa chạy thêm roi
2 EYAL PEL TAE — Thi dau den ngắn giúp đã
3 BOA AE St FF PO) 109 ngdy chim nghe, foi đềm chuột nghe
Trang 23Tiếng Việt
1 Chuối dat miệng vơi
2 Chi bude chan voi
13a tiểu loại khác trong tiếng Việt mà không cỏ trong tiếng Liên như sau
e Thành ngữt có tính từ bố sung ý nghĩa cha danh từ bị đão lên trước danh từ đó:
1 Đyø nước báo cò
2 Yếu trau hon khod bo
4 Thành ngữ có phương tiện thực hiện hành động được đảo lên trước động từ:
1 Thóc chắc muỗi gà rừng,
2 Nước gạo tắm cho voi
e Thành ngữ có động từ vị ngữ được đáo lên đâu câu:
1 Xôn xao oanh yên
3 Duyên ra cả nước
Dễ nhận thấy rằng, tắt cã những thành ngữ có câu tạo đặc biệt nêu trên đều là dạng mà ở trong các kết hợp thông thường bị coi là không thê chấp nhận dược Cac
mô hình này đều là kiểu cầu tạo nhằm nhân mạnh nội dung thông tin ở phân bị đảo
Thử làm thủ pháp cải biến, đưa câu trúc đảo trở về câu trúc thuận với tất cả các thành ngữ thị có thể thấy rằng các mô hình đáo đều có sắc thải nghữa mạnh hơn và
gây ân tượng mạnh hem
TIỂU KÉT
1ằng việc kháo sát, phân loại cầu trúc các thánh ngữ tư liệu (387 thánh ngũ) có
Thành tế cầu tạo là tên gọi động vật trang tiếng Hàn và so sánh với tiếng, Việt theo kết
cmỗ nghiên cứu của Trịnh Côm Lan wim 1995 (904 thánh ngữ, có thể đúc rút dt vai
điểm chung sau dây:
1 Có rất it hư từ và quan hệ từ trong các thành ngữ Hàn, đây là điểm trừng hợp với đặc
diễm cầu trúc của thành ngữ Việt Các từ loại dé dai bị lược bồ trong quá trình hình (hành
Trang 24thành ngữ Điều đó chứng tô nguời Hàn và người Việt có lỗi tr duy cô đọng, súc tích Đây là diễm tương đồng trong thành ngữ Hàn và thành ngữ Việt,
2 Thành ngữ có kết cầu chính phụ hậu hết không giếng kết câu của những cụm từ chính phụ thông thường Các thành lễ phụ trong thành ngữ đặc biệt khác những thành tố phụ trong cụm từ chính phụ thông thường ở bản chất từ loại Chúng thường được thay thế
tảng những hình ảnh sinh động, trực quan và những hình ảnh đó phải được hiểu dựa trên quan niệm và sự đánh giá của chủ nhân sảng lạo
3, Về trật tự của các thánh tổ rong cầu trúc, về cơ bản, các thành ngữ thuần làn có trật
tự thuận củ pháp Hàn, các thành ngữ Việt có trật tự thuận cú pháp Việt Tuy nhiên, số
một số lượng đáng kế cá thành ngữ Hàm gốc Hán có trật Lự rửư thành ngữ Việt và có đặc điểm hình thúc giống như thảnh ngữ Việt là do người Hân khi chuyên dich sang chit Hangul ( Chứ Hân) đã giữ nguyên trật tự Hán ban đầu Một số thành ngữ Hàn gốc Hán
và Việt gốc Hain có sự tương ứng 10094 về cả cầu trúc và ý rip la
4, Số lượng thành ngữ ở các tiểu loại trong tiếng, Hàn và tiếng, Việt có một sự tương từng, tương đối, điều này chứng tô một điểm Lượng đồng trong lối tz day, trong cách cầu tao, diễn tả của hai công đẳng bân ngữ
liên cạnh những nét tương đồng cơ bản đó, đổi chiếu cầu trúc thành ngữ Liên - Việt gó thành tổ cầu tạo là tên gọi động vật, có thể quan sát thấy một số khác liột sau:
- Ở một số kiểu câu trúc, các tiểu loại nhỏ trong thành ngữ Việt phong phú hơn thành ngữ Làn, đặc biệt là ở tiều loại thành ngữ chính phụ có động từ làm trưng tâm và thành
ngữ có quan hệ C-V
- Có sự xuất hiện nỗi trội của cầu trúc so sánh trong thành ngữ Việt, đặc biệt là ở loại
thành ngữt chính phụ có danh từ và động từ làm trưng tâm Các hình ảnh so sánh trong
thành ngữ Việt cũng cụ thể hơn, chủ tiết và sinh động hơn
- Có sự xuất hiện đảng chú ý của thành ngữ gốc Lián trong tiếng Liên (hẳu hết thành ngữ
4 thành tổ trong tiêng, Hàn đền có gốc Hán) Đây là một khác biệt đổi với thanh ngữ Việt
(thánh ngữ Việt cũng cỏ một bộ phân gốc Hán nhưng không nhiều bằng thành ngữ Hàn
3
Trang 25CHƯƠNGH
ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ HÀN - VIỆT
CÔ THÀNH TÔ CÂU TẠO LẢ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT 2.1 Khái quát chung về nghĩa của thành ngữ
Xa nay, hau hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều cho răng trong thánh ngữ
thường có hai loại nghĩa song song tồn tại lá nghĩa đen vá nghửa bóng, Nghĩa đen là
nghĩa dịnh danh, là cơ sở, là góc dễ tạo nên nghĩa bỏng, Chẳng hạn, thành ngữ Cở nằm trên (hới có nghĩa đen đề chữ con cá ở vào lĩnh thế dang gặp nguy hiểm, sắp bị kết hiểu cuộc đời ; Hành ngữ Ngôi ên lưng cọp có nghữa đen đề chủ một người đang ngôi trên
mg hay cưỡi một con cop, mét tinh thế cực kỳ nguy hiểm Còn nghĩa bóng là nghĩa
được tạo bởi nghĩa đen, hình thành trên cơ sớ nghĩa đen, là nghĩa tru tượng, hoàn toàn thoát khỏi nghĩa của các thánh tổ riêng lễ cộng lại Nghĩa bóng, theo Hoang Văn Hành, là nghĩa được hình (hành nhờ quá trình biểu rung hod | 9 | Chẳng lun, thành
ngữ Gà mọc lông máng có nghĩa bóng không phải đề chỉ một con gà còn nơn nớt, đang
xọc lông măng, mỏ ở đây, chú nhân sảng tạo đã mượn hình ảnh con gả đang mọc lông ining để chỉ những người còn trẻ, còn non nói, mới vào dời Một thành ngữ khác như
Chó mặc váy lnh chẳng hạn, nghĩa bóng của nỗ không phải dễ nói về một coi chó
mặc chiếc váy lĩnh mà để chỉ những người đã xấu lại đua đỏi, thích dùng những đề
đẹp, không tương xứng với mình vả trở nên lồ bịch và khó coi
Nếu gọi tâng nghĩa den của thành ngữ lá tẳng nghĩa bậc 1 và tầng nghĩa bỏng là tang nghĩa bậc 2 thi có thể nòi trong hoạt động ngôn từ, khi một thành ngữ nảo dé
được sử dụng, tảng nghĩa bàc 1 hâu như khỏng hành chức Tuy vậy, nó vẫn giữ một
vai trò quan trọng vì nó là cơ sở để hiểu tầng nghĩa bậc 2, Chẳng hạn, thành ngữ 7zeo đâu dê bán thịt chó đề chỉ việc một quản ăn bên ngoài treo đầu con dê (ngụ ý bên
Trang 26trong bản thịt dê) nhưng thực chất & bền trong lại bán thịt chó - đô là tầng nghĩa bậc 1 Con tang nghĩa bậc 2 ở đây có thể suy luận từ tẳng, nghĩa bậc 1: eo đầu đề tức là bán
thựt dê (thứ thịt tường được coi là ngon và đắt hơn thự chó) nhưng bên trong lại bán thịt ch nghĩa là hai bành động bên trong và bền ngoài không phù hợp với nhau, có
thé coi la gid đối, thậm chí lừa lọc Ö đây, mỗi liên hệ giữa tẳng nghĩa bậc 1 va tang nghĩa bậc 2 là rỡ rảng, hiển nhiên Diéu đảng nói là không phải bao giờ cũng có thể giải thích mỗi liên hệ ấy một cách rạch rỏi ở mọi thành ngữ Có những thành ngữ má quá Irình chuyển hoá từ nghĩa đen đến nghĩa bóng không diễn ra ở từng thành tổ cầu tạo, không thế suy luận một cách trực tiếp theo cách trên đây rà điển ra một cách đồng bộ ở toán bộ thánh ngữ với tư cách là một phức thẻ, Dó lá sự chuyển nghĩa một cach tinh tế hơn dya vào sự tương đồng nào đó giữa một cánh huồng, cụ thể với một cảnh luồng khác tương tư nhưng trừu tượng hơn Chẳng hạn, thành ngữ Gỏ guè ăn quản cối xay là một trơng những trường hợp như thể, © day, ting nghĩa bậc 1 mỏi về mét con ga bj que, khong thé di kiém ăn xa được mà chỉ quanh quần bên cối xay nhà mình, kiểm những hạt thóc rơi vấi ở đó Tình thê như vậy được clruyễn nghĩa đễ nói về một tỉnh thế khác trừu tượng hơn của con người: người có tật hoặc hèn kém, chỉ biết làm ăn, kiếm chắc nh nhật ở nơi quen thuộc, không dâm di xa, không biết nhìn xa
trồng rộng - đó là tầng nghĩa bậc 2, tăng nghĩa trong hành chúc
2.2 Dỗi chiếu cơ chế tạo nghĩa thành ngữ làn - Việt có thành tế cấu tạo là tên gọi
động vật
Cơ chế tạo nghĩa của thành ngữ trong luận văn được xem xét trên cơ sở câu trúc
của thành ng, được thế hiện ở phân loại thành ngữ vẻ cầu trúc đã trình bày ở chương,
1 với 4 loại thể hiện 1 quan hệ giữa các thành tô cầu tạo thành ngữ: quan hệ chính phụ, quan hệ chủ vị, quan hệ đẳng lập và quan hệ đặc biệt Luận văn sẽ xác định cơ chế tạo
Trang 27nghĩa theo từng tiếu loại để từ đó rút ra những hướng khai thác ngữ nghĩa đối với những thành ngữ là đối tượng nghiền cửu
2.2.1 Cơ chế tạo nghĩa cúa các thành ngữ có quan hệ chính phụ
2.2.1.1 Thành ngữ chính phụ có danh từ làm trung tâm
Để xác định, sau đó đổi chiếu cơ chế tạo nghĩa của các thành ngữ chính phụ có
danh ty lam trung tâm ở cả hai ngôn ngữ, chứng tôi dụa vào cơ sở lá vị trị (nằm ó trung tâm hay lả thành tó phụ trong kết câu chính phụ) của thành tổ là tên gọi ding vat
trong thành ngữ
a Thành tễ là tân gọi động vật ð vị trí trung tâm:
Nghĩa của thành ngữ loại này là tổ hợp nghĩa cúa từ trung tâm với thành tố phụ do
sự bỗ trợ hay cụ thê hóa nghĩa của thành tổ phụ là các từ/ cụm từ trong từng, thành ngữ
Cơ ché tạo nghĩa của loại thành ngữ này là cơ chế ân dụ
Tiếng Hàn: 1 $9te] Sf Chudi trong vai
> Ech mba xuan, ve mia hé
Ca nuée chim troi
Cac thành ngữ này không đi sâu vào miều tả cơn vật hay bộ phận của các con vat mả chủ yếu lột tả đặc tính, tình thể của cơn vật thông qua thành tố phụ Thành tổ
phụ đóng vai trở rất quan trọng trong việc tao nghĩa Các thành ngữ loại này thường sử dụng những thủ pháp khác nhau như miêu tả, so sánh, ấn đụ để đạt được mục đích tạo
nghĩa Xem xét các ví đụ trên ta thấy các yêu tổ chính là chuột, ách, ve (T1àn) và cua, mèo, gà, chó, chữn, (ViệU chưa gợi lên sự liên hệ về nghĩa bóng nảo song khi các
kạ a
Trang 28yêu tổ này kết hẹp với phần phụ là trong vai, muita xuân, mùa hè, tong gid, nước, trời thì các tình thể hay đặc điểm của chủng làm chúng ta liên hệ đến những ÿ nghĩa của thánh ngữ như tình thế bế tắc, tủ túng (Cua trong giỏ, Chuột (rong vại), tinh thé
phóng khoảng tr do (Cá nước chúm trời), Như vậy, ý nghĩa của thành ngĩt đã hoàn toàn thoát ly khỏi hình ảnh cơn vật và đại diện cho con người Cơ chế tạo nghĩa thành
ngữ ở đây là cơ chế Ân dụ Cần phân biệt cơ chế tạo nghĩa trong những thành ngữ trên với những hình ảnh ân dụ trong những thánh ngữ có động tử làm trung tâm kiểu AXói
kươn nói vượn (hành động nói số tạo nghữa chính cho thành ngữ và hai hình ảnh ẫn đụ
bươu và vượn giúp làm rõ nghĩa của hành động nói Ân dụ ở những thành ngữ có danh từ lãm trung tâm nêu trên là ân dụ trong phạm vi toàn bộ thánh ngữ
b Thành tế là tên gọi động vật ở vị trí của thành tô phí:
Trong tiếng Hàn, đặc diễm của các thành ngữ loại này là yếu tổ phụ không di sâu vào chỉ tiế của cáo son vật Nếu như trong liếng Việt, thành ngữ chính phụ có danh từ làm trung tâm có tên gọi động vật nằm ở thành tổ phụ, các bộ phận cơ thể con: vật được xuất hiện khá nhiều như:
(13 mắt đmắt cả chày, mắt rẫn ráo), môm (mâm cả ngão), ), mặt (mặt ơi mặt
chuỗi)
(2) déu, duéi (dau ga dudi voi, déu voi dudi chudt), long, da flanged da chim),
hàm, vó (hàm chó vó ngựa), đầu, đít (đâu gà đi! vị thì thành ngữ tiếng Liên chỉ sử dụng các hình ảnh con vặt mét cach chung chung, it thành ngữ nói dén các bộ phận cơ thể con vật Cơ chế tạo nghĩa của thành ngữ loại này trong tiếng Việt ở loại (1) được
tạo bởi trước hết bằng nghĩa của từ trung tâm còn yếu tổ phụ b nghĩa cho từ trung tâm
theo cơ chế của một cụm đanh từ + tính từ thông thường nhưng tính từ phụ nghĩa không hiển minh ma được suy ra từ đặc điểm của con vật phụ nghĩa: AZểm cả ngão là
Trang 29mềm rộng, Ä4á? cá chày là mắt đô, Mặt đơi mặt chuột là mặt choặt
'Trong tiếng, Hản, loại thành ngữ chính phụ có danh bừ làm trung tâm trong đó tên gợi dong vat nam ở thành tô phụ có một tình hình rất khác Ví dụ:
1 Ube] BE › Gió đông lai ngựa (Đân gây tai lrâu)
3 s‡ế†o}Ai]—x Thời thế hạc cúi đầu (Nhiễu kẻ xu nịnh)
3 He] = 2 A= Tình thế nắm duds hé (Cudi Jén lung hd)
‘Trong các thành ngữ trên, việc sử dụng phối hợp các hiện tượng, hành động vả tỉnh thể với các yếu tổ chỉ bộ phân cơ thể con vật đã tạo rên nghĩa hén hội cho thành
ngữ Bằng việc sử đụng thủ pháp rat don gidn 1a miêu tả các hành động, tính thé trong
cuộc sống của cơn người và mượn các tư thể/ bộ phận cơ thể của con vật đề gợi sự liên tưởng cao độ về hành động/ tỉnh thế đó, tạo ÿ nghĩa của các thành ngữ làm cho ý
nghĩa của thánh ngữ dược nẻu bật mà không bị ngộ nhận với các hành dộng có tính
chất cơ học
2.1.1.2 Thành ngữ chính phụ có động từ và tính từ làm trung tâm
Qua tư liệu cá thành ngữ Hản vả thành ngữ Việt, chúng tôi nhận thấy ý nghĩa của các thành ngữ chính phụ có động và tỉnh từ làm trung tam có những nét chưng sau dây
a Thanh tổ là tên gọi động vật chỉ xuất hiện trong phần phụ của thành nett Con tung,
tâm của thành ngũ có thể là một hảnh động, mnột trạng thái, một tính chất nảo đó
Ví dụ: Liếng Han:
1.7772] *+ › Làm như trâu ngựa (Làm việc một cách cực nhọc)
2 THỊ $2) †— Khóc như mắt ew (Quá đau khổ)
3 BQO] A] WH FBO] {EU} Gửi chó cho hỗ (Gửi rừng cho ác)
'Tiếng Việt
fey 3
Trang 301 Xanh đit nhái
3 Học như gà đá vách
3, Lèo nhẻo như mèo vật đồng rơm
b Về cơ chế Iạo nghĩa, có 3 cơ chế sau đây được chúng tôi tầm thây trong cả thành ngữ
'Việt và thành ngít Hàn:
bị Ngiĩa thành ngữ được tạo bởi nghĩa của từ trưng tâm và ngiữa hình tượng của
phân phụ, Cơ chế này phổ biển trong cả bai ngôn ngữ
- Nghĩa của thành ngữ loại này được tạo bởi trước hết bằng nghĩa của từ trung,
tâm, đây lá bộ phận Lae nghia chinh cho thank ngữ
Ví dụ: Tiếng LIân:
1.ZIPA 8 CKZ2#)— (Làm như chó ngựa) trước hết có nghĩa là lớm việc
2 W9t2| ft (732 #X) › Khóc như mất cừu) trước hết có nghĩa là khóc
3 28713 (4.24) — (lộn xôn như bảy qua) trước Hết có nghĩa là lộn
4, SR ACH 3 E015: — (Méo mỏ như chân chó luộc) trước hết có nghĩa
là móo mó
Tiếng Việt
1 Ngu như chó trước hšt cò nghĩa là ngư
2 Trắng như trúng gà bóc trước hết có nghĩa là trắng
3 tướng túng như chó ăn vụng bột trước hết cò nghĩa là lúng ting
4 Thẳng ruột ngựa trước hết có nghĩa là thẳng
Ä -Xanh ấit nhải trước hết có nghĩa là xanh
Côn lại, phần phụ của thành ngữ là phần giải thích nghĩa hay cụ thể hoá nghĩa của
từ trung tâm, có thể vẻ mức độ nghĩa (Lrắng, như trứng gả bóc, Khỏc như mất cừu), có
Trang 31thể về sắc thái nghĩa (Lúng túng như chỏ an vụng bột, Lôn xên như bay qua) Theo chúng tôi, chính phần phụ này quy định cá sắc thái nghĩa lẫn phạm vị vá đổi tượng sử
dụng thánh ngữ
Ví dự
1 #9†Z]f— (Khóc như mắt cừu) trước hết có nghĩa là khóc
2 Lung hing như chỏ ăn vụng bột
Vi dụ 1 chỉ một hành động khỏe nói chung, khóc rất ghê gởm, khóc như người néng din bi mat một vật có giá trị (con cừu) Vì vậy, phạm vĩ và đối lượng sử dụng
của thành ngũ này khá rộng Còn ở ví du 2, tình thế lùng túng bị so sánh với hành
động của một kẻ ăn trộm bị bắt quá tang, gợi cắm giác đảng xấu hỗ, mứa mai, thậm chí đáng khinh bí vị vậy chí có thể dùng cho những, đối tượng ở vào tỉnh thế tương ty
Thành phân phụ ở các thành ngữ loại này bé sung hay cụ thể hoá nghĩa cho từ trung lâm không phải bằng cách trực tiếp mà bằng hình tượng Nghĩa của phần phụ này có thẻ gọi là nghĩa hình tượng - loại nghĩa được hiểu thông qua một hình ảnh mà bản chất của hinh ảnh đó thì chỉ cỏ người bản ngữ mới cò thể hiểu rõ Tuy vậy, cơ chế tạo nghĩa trên dây cỏ thể theo hai con đường, trực tiếp và giản tiếp
- Trực tiếp: Xanh đít nhái, Thằng ruội ngựa (phần phụ nỗi một cách trực tiếp
với từ trưng tâm) Kiểu này chỉ cỏ trong thành ngít Việt mã không có trong thành ngữ Lan
- Giản tiếp: Lộn xôn nh bây qua, Khóc như mất cứa (Hàn), Lúng từng nh gà mắc tóc, Xấu như ma lem(ViệU Ở loại này, phần phụ dược nỗi với từ trung tâm thông
qua một từ se sánh Cũng có thể gọi đây là cơ chế tạo nghĩa so sánh Kiến nay kha phố
biển ở cả thành ngữ ITàn và thành ngữ Việt
Như vậy, cả ở tiếng Hàn vả tiếng Việt, cơ chế tạo nghĩa của các thành ngữ loại
Trang 32nay sẽ là: nghĩa của từ trung tâm cộng với nghĩa hình tượng của phần phụ Và như vậy, nghĩa của chúng trước hết là nghĩa của tử trung tâm tạo nên thành ngữ đó Cơ chế tạo nghĩa của chủng giống như cơ chế tạo nghĩa của một cạm từ chính phụ thông thường,
b3 Nghĩa của thành ngất được lạo bởi hình ảnh n dụ đo loàn thành ngữ tạo nên Cơ
chắ này cũng phố biến ở cả hai ngôn ngữ
Ví dụ: ‘Liéng Lan:
1 UBB) 14] Nhé lỏng máy hỗ sống (Vuốt râu hum)
2 727p] st#‡e]# #7] ›Dội nước vào dâu ếch (Nước để lá khoai)
3 SR] ol 4] AS 78°] Bt} Git cho cho hé (Gửi wimg cho ác)
‘Tiéng Viét:
1 Cưỡi lên hmg hỗ
2 Mắt bở mới lo làm chuồng,
3 Bởi bèo ra bọ
Nghĩa của những thành ngữ loại này không phải là phép cộng từng thành tổ
nghĩa như ở loại bl, mả nghĩa của chúng được tạo bởi binh ánh én đụ trên phạm vi
toàn thành ngữ Chẳng hạn, 2k#.#†9] ÿ:#](Nhỏ lông mày hỗ sống) biểu hiện một tỉnh thế nguy hiểm, Bới bèa ra bọ biểu hiện hành động cố gắng mơi móc để từm ra lỗi
của người khác
bã NgÌĩa thành ngữ được tạo bởi nghĩa của từ trung tâm và một hình ảnh Ân dụ ở
phân phụ
Theo nguồn tư liệu mà chúng tôi có được, cơ chế này chỉ phố biến ở thành ngữ
Việt, không có trong thánh ngữ Hàn và đây chính là điểm khác biệt về cơ chế tạo
nghĩa ở thành ngữ chinh phụ có động từ va tính từ 14 trưng tâm giữa hai ngôn ngữ
Ví dụ: 1 'Tham con giếc tiếc con rô
30
Trang 333 Nói hươu nồi vượn
3 Chỉ hươu chỉ vượn
Ổ vi dụ 1, ý nghĩa của thành ngữ trước hết là (ham, tiếc (nghĩa của từ trung tâm)
và con giếc, con rô là hai loài cá bó nhỏ, iL gid trị, chúng đại điện cho những vật bé nhỏ nói chung và như vậy, ở nghĩa của thành ngữ lại càng thâm thía
Ổ vi dụ 2, nghĩa của thành ngữ trước hết lá nói và chỉ, và phân phụ là ý nghĩa cách thức của nói và ebí được hiểu thông qua hình ánh ân dụ là con vật được lây lảm
biểu lượng (lươu, vượn) và cách thức đó là nói và chỉ lung lung, không định budng,
có khi không đúng sự thật Vân để ở đây lại đụng chạm đến những giá trị biểu trưng, của hai con vật trong sự đánh giá vả nhìn nhận của chú nhân sảng tạo Trong tiếng Việt có hàng loạt những thành ngữ dược tạo nghĩa theo kiểu như vậy mả tiếng Hản
không có
3.2.2 Thành ngữ trong đó các thành tổ có quan hệ Chú - Vị
Tư liệu tiếng Tàn của chứng tôi và kết quả nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan năm
1995 cho thấy gần như 100% thành ngữ loại này có tên gọi động vật nằm ở chú ngữ (các con vật giữ vị trí chủ thể) và thành ngữ dược tạo nghĩa theo cơ chế ẫn đụ, tức là thông qua hành động, thuộc lính, dặc điểm, thi chất của con vật xuất hiên ở chủ rgir
1 Chó đen giữ mực (cỗ hữu, khó có thể thay đổi bản tính xấu, không chịu hếi
cài, sửa chữa, vi như chỏ đen bao giờ cũng giữ màu đen)
3
Trang 342 Qua đội lắt công (lừa bịp, giả đổi, mượn cải hay cải đẹp của người khác để che đậy cải xấu của mình)
3 Voi diếc súng đạn (người cao thượng không sợ gì những lời châm chọc của
những kẻ hèn mọn, tiểu rhãn)
Tat cả các ví dụ trên cho thấy các nghĩa đó có được là nhờ một ruá trình liên tưởng chuyển nghĩa nhưng đó không phải sự lên tưởng chuyển nghĩa một cách tuỳ tiện, mã phải xuất phát từ việc hiểu dúng nghĩa góc Nghĩa gốc của các thành ngữ nảy
Tại cô dược là đo chủ nhân sảng tạo phải trải qua một quả trình quan sát thể giới động,
vật xung quanh rnình Ví dụ 1, thông qua việc quan sát hoạt động ăn và uống của hai con vật rất lớn là ngưu( try) va maf ngựa) đễ liên tướng đến những người ăn uống nhiều và cé phan thô tục Vi du 2, hình ánh cơn bỏ cảy trên cánh đồng có nhiều đả với tắt cả sức lực của mỉnh gợi liên tưởng đến sự vắt vả, cực nhọc Tương tự, hình ảnh chó đơn cễ đời vẫn giữ màu đơn của người Việt là cơ sở chuyển nghĩa để nói về những, người cổ hữu, không thay đổi được bản chất xâu xa của mình Còn hình ảnh guợ đội lốt công chí là hình ảnh tưởng tượng, hoàn toàn không có trong thực tế như các ví dụ
trước đỏ mẻ người Việt tưởng tượng ra hình ảnh con qua xảu xi cá hình thể lẫn bản
chat ma déi 141, con công xinh đẹp, thanh táo thì chỉ có thể đội lát thôi chứ bản chấL
xấu xa thì không thả thay đổi đuợc
2.3.3 Thành ngữ có quan hệ đẳng lập
Số lượng thành ngữ có quan hệ dẳng lập trong tiếng Han chỉ chiếm 0,5% và 0,3% trong tiếng Việt Các thành ngữ dỏ là:
Tiếng Hàn:
1 1443 — En, sé, héng, hac (Than phận cao quý)
2 he} Cam, thi, ngs, trùng (Tắt ef tiêu là cằm thú, trừ con người)
Trang 35Tiếng Việt:
1 Long li qui phượng (Những người húng, những người thuộc dòng giống cao qui)
2 Thin lin ran rao (Hang ngutsi xâu xa, không Lữ tế gi)
Các thành ngữ này cũng đêu được tao nghĩa theo cơ chế Ấn dụ Ý nghĩa cửa thành ngữ dựa trên quan niệm của con người về giá trị và hình thức của các con vat Cac con
vit én, sé, hong, hac trong văn hỏa Hàn hay Jong, jy, quy, phượng (Lứ linh) của người Trung Hoa và Việt Nam là những con vật biểu Irưng cho những giá trị cao quý, đại
điện cho các phẩm chất lối đẹp của con người, được cơi là những con vật thiêng, được thờ ở những vị trí cao tại nhiều nơi thờ tự của gia đỉnh hoặc các địa chỉ văn hỏa như
đỉnh, chủa, miễu Trong văn hóa của các nước khu vực Đông A trong đỏ có Trung, Quốc, Hản Quốc và Việt Nam, có thể coi dây là sự tương dông, Nếu én, số, hẳng, hạc biểu trưng cho sự thanh cao về Lâm hôn, sự cao quý về đồng cấp của một Ling lop người trong xã hội thì cẩm, thú, ngư, trùng lại khẳng định sự cao cấp hơn của con người so với những loài vật khác vả ý thức đỏi hỏi sự tôn trọng đổi với con người
2.3 Ngữ nghĩa rủa thành ngữ Hàn có yêu tổ chỉ tên gui động vật
Nhụ chúng lôi đã trình bảy, tên gọi động vật trong thành ngữ ô dây chỉ như một dấu hiệu hình thức, mệt cái cớ má chúng tôi lây làm tiêu chí tập hợp tư liệu Diều đó
không có nghĩa là các thành ngữ có các thành tổ liên quan đến tên gọi động vật là để nỏi về con vật, số lượng thánh ngữ trong phạm vi tư liệu nói về con vật một cách dơn thuân chỉ chiếm số lượng rất ít di Kết quả nghiên cứu của Trịnh Cảm Lan năm 1995
cho thay chi oó 03/904 thành ngữ, còn trên tư liệu tiếng Hàn của chúng tôi, có 02/387
Thành ngữ nói về con vật một cách đơn thuần Ở đây, người Hàn, cũng như người Việt, chỉ mượn các cơn vật như một dẫu hiệu, một hình anh gan gũi, một đối tượng để quan
33
Trang 36sát, từ đó đứng kết quả quan sát để nói về những phạm vi khác trong đời sẳng của
xinh Những nội dung nghữa mà cẽ người Hàn lần người Việt đề cập tới khá phong,
phú song những thành ngữ chiếm số lượng nhiễu hơn cả thành ngữ có nội dung nghĩa nói về com người Ngoài ra, chúng tôi nhận thay số lượng thành ngữ Hàn nói về kih nghiệm sông có số lượng lớn, trong khi đó hầu như theo tr liệu đổi chiếu của chúng tôi thi loại thành ngữ nảy hấu như không có Tuy nhiền, xét một cách tuyệt đối có thể quy thánh ngữ nói về kinh nghiệm sóng vảo nội dung nghĩa (hành ngữ nói về con người
Côn một vải nội dung khác cũng được dễ cập thư (hành ngữ nói về mỗi trường
xống hay về quam niệm sống nhưng số lượng không nhiễu 1.ẽ đã nhiều, đó là sự phân
chia một cách tương đổi Dưới đây chúng tôi trình bảy cá bai nội dụng này coi niêu ra
điểm tương đồng và dị biệt trong trường nghĩa của hai thánh ngữ Han Việt về tiểu loại
ý nghĩa của các thành ngữ, chúng tôi tìm thấy các trường nghĩa cơ bân sau:
231.1 Thành ngữ nói về hình thức của can người
a Llình thức đẹp: Vẻ cơ bản, người Hàn cũng giỏng như người Việt, thường mượn
hinh đảng hay một đặc điểm hình thức nào đó của các con vật để miều tá vẻ đẹp của mình, qua dò biểu thị sự tản dương, ca tụng những người có bình thức hơn người cũng
như bảy tổ sự khao khát cái dẹp đủ chỉ là vẻ dẹp hình thức bên ngoài
Vi du:
#] — Vy vang, than ngọc (Dẹp quý phái)
2, 1+ $t 3|] {—> Như én gánh nước (Đẹp và duyén dang)
34
Trang 373 8-38 %.lL—› Rồng bay, hỗ lượn (Mguời đàn ông có quý tướng)
1 & © @ > Ga loi trụi lông (Xấu xi)
2, Sal 4]4) — Matt bo bi cua simg (Xau xi, tro tren)
3, Sut 4] 4b — Nhu chim mat andi (Kau xi)
Tiếng Vì
1 Mặt củ da lượn (Mặt mỗi hình thể rất xâu xi)
2 Mém cả ngão (ôm rất rộng, đến tận mang tai như mỏm cá ngão)
3 Xấu như ma lem (Rất xâu)
Dé nhan thay rắng các thành ngữ nói vẻ hình thức của con người (cả xấu và
đẹp) đều miều tả một cách cụ thể, dễ hình dưng, chứng tả sự quan sát tương đổi tỉ mỉ
va su liên tưởng tỉnh tế của các chủ thẻ sảng tao thành ngữ; dỗng thời chứng tố mỗi liên hệ mật thiết trong đời sống con người với các con vật, Có một số loài vật chuyên
được mượn để nói về hình thức đẹp của con người như chim (én), cá, rồng (Hàn), rồi
chưn, cá, rồng, phượng, công (Việt Cũng vậy, một vài loài vật kháo lại chuyên được mượn để nói về hình thức xấu, điều này khá rõ rảng trong tiếng Việt (như củ,
Trang 38lươn, qua, khi ) nhưng không thật điến hình trong tiếng Hàn Ở trường hợp này, người Hản khác người Việt lả thường mượn một sỏ tỉnh thé nao do rất điển hình của con vật đẻ nói về sự xấu xi của con người (Gủ lôi tụi lông, Mặt bò bị cua sừng hoặc
Chim mắt đuôi )
2312 Thành ngữ nói về tính cách của con người
Về số lượng, trong tiếng Llản, trường nghĩa về tính cách cửa con người chỉ chiếm khoảng 12% số lượng (trên tư liệu ma chủng tôi có được), trong khi do, theo kết quả nghién cứu của Trịnh Cẩm Tam nấm 1995, thành ngữ Việt về trưởng ngữ mày phải chiếm tới trên 4084 số lượng thành ngữ Chúng tôi nhận thay có lưi loại chủ yếu là Tinh cách tốt và tính cách xấu
1 Củ có vọ mừng (Thân ái, vui mùng trước thành công của người khác)
2 Con ong cái kiến (Thần phận nhỏ bẻ trong xã hội)
3 Gan cóc mặt công (Bẻ ngoái dep dé yéu kiểu nhưng bên trong lại rất cương,
Trang 39Ví dụ: Tiêng Hàn:
1 1199] #-#r] 31‡z#Hf — Như nước mắt chuột khi mẻo chết (Nước mắt của kẻ giả dối)
2 7Ì} ##ð nh} ##L}— Chó bố phân (Không tự biết thân phận uũa mình)
3 2l — Nhân diện, thủ tâm (Mặt người, đạ thú)
4 S7]H| sEz| 4TM — Như cóc đớp môi (Eính cách cơ hội)
Tiếng Việt
1 Nước mắt cá sấu (Nước mỗi của kế giã đối)
2 Chó chế cứt tát (Không tự biết thân phận của mình)
3, Da cé long chim (‘I'am địa xâu xa, tráo trở, không trung thánh)
4 Chó mặc váy lĩnh (Đua đòi một cách kệch cỡm, lỗ lăng)
Xem xét các vi dụ, có thể thấy, những tính cách xấu của con người được nói đến quan thành ngữ rất đa dạng, đỏ có thể là sự giả dối, cơ hội, đó cũng có thể là sự tráo trẻ, không trung thành, đỏ còn có thể là sự dua đòi, kệch cðm, lỗ lăng hay không
tự biết thân biết phận của minh 'Trang số các thành ngữ nói về tính cách con người,
ở cả tiếng Hàn và tiếng Việt, thành ngữ vẻ tính cách tốt thì ít, về tính cách xấu thì nhiều, điểu mày thể hiện tỉnh phê phám trơng lời ăn tiếng nói của cả hai đân lộc Thêm nữa, chính đặc điểm hình thức cửa thành ngữ, với tính cân đối, hải hoà về ng âm, làm cho người ta dễ nhỏ, dễ thuộc, dễ sử dụng nảy, cùng với tính đắc dụng, tính hiệu quả trone việc sử dụng thành ngữ làm cho sự phê phản dường như thâm thia hon
23.13 Thành ngữ nói về koạt động của can người
Ở cả thành ngĩt Hàn và thành ngữ Việt, đó đếu là các thành ngừ mỗ tả hành động
của con người tác động lên các cơn vật, thông qua đó để biểu đạt những thái độ đánh gia của con người với hành động của chinh minh hay của các đồng loại khác như ca
Trang 40“gợi, chê bai hay phê phán
Về cầu trúc, phần lớn các yếu tô con vật trong, loại thánh ngữ này đều giữ vai trỏ
1 + (14! — Cưỡi ngựa xem núi (Cuối ngựa xem hoa)
2 %tZf-8t — Dưỡng hỗ bm họa (Dưỡng hỗ di họa)
3 4) Bo] ARS 419-11— Đặt trứng lên sừng bỏ (Hành động ngu xuân)
'Tiếng Việt:
1 Nói hươu nói vượn
2 Kén cả chọn canh
3 Chửi như ô
4 Nói như chó căn ma
Nhìn chung, cả thành ngữ Han và thành ngữ Việt về trường nghữa này hầu hết déu là những thành ngữ cẩu trúc chính phụ có động từ làm trung tâm, và phần phụ
trong kết cầu chính phụ hẳu hết đóng vai trở là trạng ngữ chỉ cách thức thục hiện hành động đó và những con vật được nói đến trong thành tô phụ là hình ảnh sinh động của
những cách thức này Diễu này đặc biệt được thể hiện rõ với số lượng lớn ở thành ngữ
Việt nhưng ít hơn ở thành ngữ Hán
Về nội dung biểu vật của các dông từ thủ cũng rất phong phú, đặc biết là trong,
tiếng Việt Đây cũng chính là nét khác biệt giữa thành ngữ Việt và thành ngữ Hân ö
trường nghĩa nảy Trong thành ngữ Việt, tắt cã mọi hoạt động bình thường nhất của con người đều được nỏi đền: từ những hoạt động, sinh lý có tính chất bán năng như ấn
38