1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngã ba Đồng lộc quyết chiến Điểm trên mặt trận giao thông vận tải trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất 1965 1968

156 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên mặt trận Giao thông vận tải trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968)
Tác giả Bui Thi Thu Huong
Trường học Học viện Quản lý Giáo dục Hà Nội - [https://hmu.edu.vn](https://hmu.edu.vn)
Chuyên ngành Lịch sử, Quản lý Giao thông vận tải
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách tập truna nhiều chuyên luận, bài viết dỀ cập khả toàn điện, sâu sắc về hoạt động GTVT, ý nghĩa và vai trò của công tác vận tải chỉ viện Bắc - Ram qua dia bản Quân khu 4 giải

Trang 1

DAI HOC QUOC GIA HA NOI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

BUI THI THU HUONG

NGA BA DONG LOC - QUYET CHIEN

DIEM TREN MAT TRAN GIAO THONG

VAN TAI TRONG CHONG CHIEN TRANH

PHA HOẠI

LAN THU NHAT (1965 - 1968)

LUAN VAN THAC SI KHOA HOC LICH SU

Trang 2

MỤC LỤC

MG DAU

Chương 1: KHAI QUAT VE IIOAT DONG BAO DAM GIAO

THONG VAN TAI 6 KHU 4 VA HA TINH TRONG CHONG CHIEN

TRANH PHÁ HOẠI LÀN THỨ NHẮT (1965 1968)

1.1 VỊ trí địa lý và vai trò của giao thông vận tải trên địa bản

khu 4

1.2 Chủ trương và hoạt dộng báo dám GTVT cua ta trước âm

mưu phá hoại, ngăn chặn của Mỹ - nguy trên địa bản Khu 4

1.3 Bao dam giao thong vận tải ở Hà Tĩnh trong chống chiến

tranh phá hoại lần thứ nhắt

Chương 2: NGÃ BA DONG LOC- QUYẾT CHIẾN ĐIỂM TREN

MAT TRAN GTVT TRONG CHONG CHIEN TRANH PHA HOAL LAN

THỨ NHẤT (1965 - 1968)

2.1 Ngã ba Đẳng Lộc và sự hình thành quyết chiến điểm trên

mặt trận GTVT ở Khu 4

2.2 Phát huy thể mạnh cã nước và sức mạnh tại chỗ, Đảng bộ

và nhân đân Hà Tĩnh tập trung lực lượng, hoàn thành nhiệm vụ bảo

đảm GTVT ở Ngã ba Đồng Lộc (4 1968 - 10 1968)

2.3 Kết quả và ý nghĩa thắng lợi tại quyết chiến diễm Ngã ba

Đông Lộc trong thế trận chung của cuộc chiến đấu bão đảm GTVT

Trang 3

Phan két: MOT 56 BAL HQC KINH NGHIEM TRONG CLOC

CHIEN DAU TREN MAT TRAN BAO BAM GTVI O QUAN KHU 4,

HA TINH VA NGA BA BONG LOC TRONG CHONG CHIEN TRANH

PHA HOAL LAN THU NHÀ ‘HUC TLEN VA NHUNG VAN DE RUT

RA TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VẢ BẢO VỆ TỎ QUỐC HIỆN

Trang 4

giao thông vận tải

thanh niên xung phong

Tực lượng vũ trang, : hợp tác xã

Uỷ ban hành chính

hợp tác xã nông nghiệp

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Trang 5

MO PAU

1 Lý do chọn dễ tài

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta,

GTVT giữ một vị trí cực kỳ quan trọng, là mạch máu nói liền hậu phương lớn

miễn Bắc với tiễn tuyến lớn miễn Nam Hơn 20 năm đầu tranh trường kỳ gian

khổ, mọi nguồn chỉ viện sức người, sức của từ căn cử địa miền Đắc được vận

chuyển chủ yếu thco dường bộ vả đường biển, bằng nhiều phương thức vào

chiến trường miễn Nam, giúp cách mạng miễn Nam vượt qua bao khó khăn,

tiến lên giảnh thắng lợi

Từ việc xác dịnh rõ vai trò dặc biệt của ŒTVT trong dấu tranh giảnh độc

lập, ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Chủ tịch TIề Chí Minh và Đảng

ta đã chủ ÿ ngay dén việc cúng cố, xây dựng và phát triển mạng lưới GTVT

'Theo phương châm chi dao của Người: “Giao thông lả mạch máu của mọi

việc Giao thông tắc thì việc gỉ cũng tắc Giao thông tốt thì việc gì cũng dễ

dang” [26; tr79], với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, chỉ sau 10 năm

(1954-1964) các trục đường giao thông chính của miền Bắc được cũng cổ và

phát triển, hệ thẳng GTVT ở các địa phương được cũng cé và mở rộng thêm

"Trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất, Ngành GTVT đã góp

phan quan trọng vào công cuộc xây dựng CNXII ở miễn Bắc và chuẩn bị cơ

sở vật chất cho cuộc kháng chiến lâu đài

khi để quốc Mỹ tiến hành chiền tranh xâm lược ra phạm vi cả nước,

Ngành GTVT củng với toàn Đẳng, toàn quân, toàn dân đã phục vụ đắc lực

cho sự nghiệp xây dựng, chiến dấu bảo về miền Đắc và ra sức chỉ viễn cho

chiến trường miễn Nam Cũng từ đó, việc đánh phá hệ thống GTVT nhằm cắt

dứt sự chỉ viện từ hậu phương miền Đắc cho tiền tuyển miễn Nam luôn là

mục tiêu chiến liợc của không quân, hải quân Mỹ Giao thông vận tải trở

Thành một mặt trận vô cùng khó khăn, gian khó, là nơi đọ sức quyết liệt giữa ý

Trang 6

chí và trí tuệ Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn và sức mạnh Lối tân của

bơm đạn Mỹ Công tác bảo đấm ŒTVT trên tuyến chỉ viện chién lược Hắc -

Nam chính là đâm bảo cho mạch máu giao thông giữa tiên tuyến và hậu

phương luôn được thông suối - một nhân tố bắo dim cho thẳng lợi của cuộc

kháng chiên

Do đặc điểm va vi trí địa lý đặc biệt của đất nước ta, dấi đất hợp Khu 4

(bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà lĩnh, Quảng Bình) - nơi hành

lang vận tải chiến lược di qua, trong kháng chiến chống Mỹ trở thành dia ban đặc biệt hiểm yếu Nơi đây hội tạ đủ tất cả các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam và là nơi khởi nguễn của tuyển đường 'Irường Sơn huyền thoại

Từ hậu phương miễn Bắc gần như hết tháy lực lượng, vật chất chỉ viện cho

miền Nam, Trung - IIa Lao, Cam-pu-chia đều phải qua vùng đất Khu 4

Ñớm nhận biết được điều nảy, trong thời gian tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, để quốc Mỹ đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc, xảo quyộL, gây ra

nhiều loại hình chiến tranh, nêm xuống nơi đây hảng triệu tấn bom đạn các

loại nhằm hủy diệt sự sống, ngăn chặn tuyến chỉ viện huyết mạch, lâm lung,

lay ý chí và quyết tâm của nhân dân miễn Bac đang đêm ngày dốc sức cho sự

nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Chính vì vậy, mặt trận

giao thông vận tái qua địa bản Khu 4 trở nên nóng bỏng trong suốt cuộc chiến

tranh

Nằm trên vùng tuyến lửa Khu 4, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ

nhất của để quốc Mỹ (1965 - 1968), Ngã ba Đồng Lộc trở thành một quyết

chiến điểm trên mặt trận giao thông vận tải Đặc biệt, trong 7 tháng “ném bom hạn chế” (từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968) khi đường, số 1 qua địa bản Hà

Tĩnh bị không quân Mỹ tập trung đánh phá, cắt đứt trên đoạn Thượng Gia -

Cổ Ngựa thì Ngã ba Dằng Lộc trở thành một “điểm nút” giao thông rất quan trong, noi duy nhất cho con đường vận tải chiến lược đi qua, tạo lập chân

Trang 7

hang cho Luyến 559 - đường Trường Son va cũng là điểm nổi giữa đường 15

với các đường liên tỉnh, sang Lào Giặc Míÿ tập trung đánh phả vào đầu mối

giao thông Ngã ha Đông Lộc lả năm lrong âm mưu ngăn chặn, nhằm tạo ra

những “điểm tắc” dài ngày, di đến cắt đứt tuyến chỉ viện Bắc - Nam qua địa bản Khu 4

Nhưng dù cho dé quốc Mỹ có đầu tư bao nhiêu sức manh, bom dan trút

xuống nơi đây song không thể khuất phục được ý chí, quyết tâm của quân và dân ta tại Ngã ba Đồng Lộc Thắng lợi trên mặt trận bảo đảm Œ'TV'T ở Ngã ba

Dồng Lộc đã vượt lên những tỉnh toán thông thường về chiến tranh của các

thế lực để quốc va để lại nhiều bài học kinh nghiệm quỷ giá cho hôm nay và

mai sau Vi thể, chúng tôi chọn: “gã ba Đẳng Lộc - Quyết chiển điểm trên

mặt tận giao thông vận tdi trong chẳng chiến tranh phé hoai lan thứ nhất

(1965- 1968)” làm đề tải luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề

Từ những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cửu về đảm bảo giao

thông vận tải, chỉ viện cho tiền tuyển qua địa bàn Khu 4, tỉnh Hà Tĩnh nói chung và Ngã ba Đồng Lộc nói riêng, Đó là

- Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên một trận GTVT (3.1068 - 10

1968) - Khóa luận tốt nghiệp cử nhân của Nguyễn Văn Ngọc, Khoa Sử - Đại

học Tổng hợp Hà Nỗi năm 1981 Nội dung khóa luận dã viết khá cụ thể, sinh

động về cuộc chiến đầu trên mnặt trận GTVT ở Ngã ba Dồng Lộc trong thời kỳ

để quốc Mỹ tiến hành “ném bom hạn chế”, đã phân tích và nêu ra những nhân xét chính xác, khoa học về vai trò lãnh dạo và tổ chức của Đảng, sự hy sinh

vả đóng góp của các lực lượng củng nhân dân địa phương làm nhiệm vụ trên

tuyển luận văn đã rút ra nhiều kinh nghiệm và bai học bổ ích trong công tác

lãnh dao, xây dựng hệ thống (TTV'T thời bình Tuy nhiên, do phạm vị đề tài

tác giả chọn địa bàn chủ yếu 1à Ngã ba Đồng Lộc mà chưa chú ý đặt trong bối

Trang 8

cảnh chung của cuộc chiến đầu trên mặt in GTVT ở Khu 4 và Hà Tĩnh thời

kỳ chiến tranh phá hoại lần thử nhất nên chưa nêu rõ ý nghĩa của thắng lợi ở

Dồng Lệc đã góp phần đánh bại ân mưu thâm độc của giới cầm quyền Nhà

trắng sau thất bại của cuộc Tổng tiến công đợt TẾ Mau than va trước khi phải

ngôi vào bàn đảm phán Hội nghị Pa - ri

- Mat tran GIVT trén dia bàn Quân khu 4 trong kháng chiên chẳng Mi,

cứu nước - Kỹ yếu hội thảo khoa học đo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân

sự Việt Nam phổi hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức năm 2001 Cuốn

sách tập truna nhiều chuyên luận, bài viết dỀ cập khả toàn điện, sâu sắc về

hoạt động GTVT, ý nghĩa và vai trò của công tác vận tải chỉ viện Bắc - Ram

qua dia bản Quân khu 4 giải doạn 1954 - 1975, đặc biệt trong hai cuộc chống,

chiến tranh phá hoại bằng không quân vả hải quân của dé quốc Mỹ ra miễn

Bắc Trong tập sách nảy có bải viết của tác giả Iloàng Trọng Tình: “kgã ba

Đẳng Tộc - một trọng điểm trên mặt trận bắp đảm GTVT ở Hà Tĩnh trong

kháng chiến chẳng Mỹ” Bài viết tập trung khai thác vị trí địa lý, vai trò của trọng điểm giao thông Đồng Lộc, hoạt động bảo đảm GTVT và những hy

sinh, đóng góp của các lực lượng và nhân dân Đồng Lộc thời kỳ Mỹ thực hiện

“ném bom hạn chế”

Cuốn sách: {ch sử Ha Tinh, tap I - If, Nxb CTQG, 2001 của nhóm tác

giả: Đăng IDuy Báu (chủ biên), Định Xuân Lâm, Phan Huy l.ê, Hà Văn lấn,

Lịch sử Dáng bộ Hà Tĩnh, tập H, Nxb CTQG, 1997 do nhóm tác giả: Đặng

Duy Bau (chủ biên), Đính Xuân Lâm, Ngô Đăng Trị, Nguyễn Xuân Đình biên

soạn: Quân khu 4 - Lịch sử khang chién chong Mf, citu nudc (1954 - 1975),

Nxb QĐKD, 1994 là những công trình nghiên cứu, tổng kết khoa học có giá

trị cao, giảu tính lý luận và thực tiển Trong đỏ, nội dung dé cap đến cuộc chiến đấu trên mặt trận GTVT ở Hả Tĩnh và Khu 4 khá đầy đủ, phong phú với

Trang 9

nhiễu số liệu sinh động, chân thực Song, phần đề cập đến Ngã ba Đồng Lộu

chỉ có tính chất minh họa

Các cuỗn sách: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chồng Mỹ, cứu nước

(1954 - 1975), Nxb QDND, 2001; Hậu phương chiên tranh nhân dân Liệt

Nam (1954 - 1975), Nxb QĐND, 1997; rịch sử hậu cần LLVT Quân khu 4

(1945 - 2005), Nxb QĐND, 2008 là những công trình tổng kết đạt giá trị cao

về công tác hậu phương - quân đội, công tác bảo đảm hậu cần - một yêu tố

quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chỗng Mỹ Nội dưng đễ cập đến công tác báo đảm hậu cần trên địa bản Khu 4 cũng được khai

thác từ nguồn tư liệu lưu trữ ở Bộ Quốc phỏng, cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu

4 Tuy nhiên, phần viết về Ngã ha Đồng Lộc gòn ít ói, hạn chế

Trong các cuốn sách: Chiến tranh nhân dân dánh thẳng chiến tranh phá

hoại của đề quốc Mỹ: tập Ì Nxb QDND, 1982; Tổng kết bảo đảm GTVT trong chúng chiến tranh phả hoại bằng không quân của dễ quốc Mỹ tại địa

bản Nghệ An (1964 - 1973), Nxb QON), 2005, lịch sử vận tải Quản dội

nhân dan Viet Nam (1943 - 1975}, Lich sit Quan ching Phong không, Tập 2,

Nxb QDND, Lich siz Sw dodn phòng không 367 (1953- 2003) nội dung bảo

đảm GTVT ở Khu 4 và Hà 'Iĩnh được đề cập đến như là một nôi dung trong quá trình chiến đấu, xây đựng, bảo đảm của các lực lượng làm nhiệm vụ trên

tuyến

Ngoài ra, côn có một số công trình, bải viết đăng trên các báo, tạp chí

như Tạp chí Quốc phòng iodn dan, Tap chỉ Lịch sử quân sự, báo Hà

Tĩnh.v.v Môi dụng các bài viết tập trung nghiên cửu vẻ công tác bảo đảm

GTVT ở Hà Tĩnh và Ngã ba Đồng Lậc trên những nội dung cụ thể

TAt cả các công trình trên là nguồn tài liệu quý giá, gợi mở dé tác giả

tham khảo và kế thừa, phát triển, đồng thời đổi chiếu, so sánh khi tiếp Xúc với

các sự kiện lịch sử, xứ lý tư liệu trong quá trình nghiên cứu để tải

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cửu

- Làm rõ những hoạt động, kết quả và ý nghĩa của công tác bảo đảm

GTVT ở Hà Tĩnh vả Ngã ba Đồng Lộc trong thế trận hậu oần, báo dim chi

viện cho tiên tuyển qua địa bản Khu 4

- Chứng minh việc bảo dam GTVT qua Ngã ba Đồng Lộc là vấn để có ý nghĩa chiến lược trên tuyến chỉ viễn bằng đường bộ từ hậu phương miễn Bắc

vào chiến trường miễn Nam, sang chiến trường Lào Từ đó, làm rõ vai trỏ của

hậu phương miễn Đắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền

Nam, thống nhất đất nước Sức mạnh của ý chí và trí tuệ Việt Nam dã thắng

Mỹ trong cuộc đối đầu không cân sức ở ngay tại một quyết chiến điểm trên

mat trận GTVT

- Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn sinh động của

cuộc chiến đấu trên mặt trận bảo đảm GTVT ở Ngã ba Đẳng Lộc, IIà Tĩnh và Khu 4 Từ đó góp phần chửng mình một số luận điểm trong công tác nghiên

cứu tổng kết lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung

Những bài học kinh nghiệm của lịch sử đã và đang đóng góp vào kho làng lý

luận của Đảng, piúp cho việc hoạch định những chủ trương, giải pháp đúng,

đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn xây dựng thế trận vận tải kết hợp kinh tế

- quée phỏng ở đất nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Từ việc tổng hợp một số vấn để chung, trình bày, phần lich va khái

quát hoạt dộng của các lực lượng làm nhiệm vụ bảo dâm GTVT trên tuyến

gã ba Dồng Lộc, góp phần giữ vững giao thông thông suốt trong điều kiện

để quốc Mỹ tiền hành chiến tranh hủy diệt đối với vùng dat nay

- Phân tích làm rõ vai trò lãnh dạo và tổ chức lực lượng của Irung ương,

Đảng và các cấp chính quyền địa phương trong bảo đâm giao thông, khắc

Trang 11

phục thế độc tuyển Bằng nhiều biện pháp sáng tạo đã khơi dậy, động viên

được sự hy sinh, đồng góp công sức của nhiều lực lượng và nhân dân, thực

hiện thắng lợi nhiệm vụ trên mặt trận GTVT, bảo đảm cho tuyến chỉ viện Bắc

- Nam luôn thông suối

~ Nhận xét và rút ra một số bài học kinh nghiệm

4 Phạm vi nghiên cửu

4.1 Nội đụng

'Trên cơ sở khái quát hoạt đông và kết quả trên mặt trận G1V'1 ở Khu 4

và IIA Tĩnh trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nội dung luận văn

tập trung đi sâu nghiên cứu vị trí, vai trò, hoạt động và kết quả đạt được trong,

cuộc đọ sức quyết liệt, cam go giữa quân dân Dồng Lộc với không quân Mỹ

thời kỳ “ném bom hạn chế” Từ đó, để tài sẽ làm rõ hơn vị trí, ý nghĩa uũa

công tác giao thông vận tải trên một quyết chiến điểm chiến lược đã góp phần làm thất bại mưu đồ “ngăn chặn”, đi đến cắt đứt tuyển chỉ viện Bắc - Nam với

những cổ gắng cao dộ dễ cửu văn những thất bại của giới cầm quyền Nhà

Trắng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

5 Nguồn tài liệu và phương phán nghiên cứu

3.1 Nguân tài liệu

- Một số văn kiên gủa Irung ương Đăng, Đáng bê tinh Ha ‘inh va Đăng,

bộ huyện Can Lộc.

Trang 12

- Nguằn tư liệu đã xuất bản được lưu giữ ở Thư viện Quốc gia, Thư viện

Quân đội, Bảo tảng Quân khu 4, Báo tàng Đồng Lộc

- Kguén tư liệu chưa xuất bản (dự thảo, bản đánh máy) được soạn thảo

và lưu giữ tạa Ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ chỉ huy quân sự

tỉnh Hà lĩnh

- Nhân chứng lả cán bộ, cựu thanh niên xung phong tham gia làm nhiệm

vụ tại Ngã ba Đông Lộc; cựu chiến bình thuộc Trung đoản cao xạ 210

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tải sử dựng phương pháp lịch sử là chủ yếu Ngoài ra, có sử dụng phương pháp thống kê, lô gic, mô tả, so sánh, phân tích để làm rõ các luận

điểm nêu ra

6 tông góp của luận văn

hững đóng góp cơ bản của luận văn, đó là:

Thứ nhất: Tải hiện trung thực, sinh động về cuộc chiến dẫu trên mặt trận

bio dim GTVT tại Khu 4 và Hà Tĩnh trong những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất Khững chủ trương và biện pháp kịp thời, đúng đắn, sáng tạo

của Đảng, các cấp ủy, chính quyền dia phương và nhân dân trong cuộc đổi

đầu không cân sức với những âm mưu, thủ đoạn vả sức mạnh của lực lượng

không quân, hãi quân Mỹ

Thứ hai: Lần đầu tiên tái hiện khá đầy đủ cuộc chiến đấu trên mặt trận

bao đấm GTVT tại Ngã ba Đằng Lộc - một quyết chiến điểm ở địa bản Khu 4

trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất Cuộc chiến đầu ở đây được đặt

trong toàn cảnh của mặt trận bảo dim GTVT trên địa ban Khu 4 va 14 Tinh

đồng thời là minh chứng cụ thể, sinh đông cho cuộc chiến đầu nhiều cam go,

thử thách đó Thực tiễn ở Ngã ba Dông Lộc cho thấy rõ hơn về cuộc chiến

đấu mang tỉnh chất tổng hợp sửu mạnh của các lực lượng bộ đội chú lực, bộ

Trang 13

đội địa phương, TNXP và nhân dan mà thắng lợi ở đó là thẳng lợi của ý chí

và trí tuệ Việt Nam được Đáng khơi đậy và phát huy trên một tầm cao mới

Thứ ba: Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc chiến đấu trên mặt

trận bảo đảm G1VT ở Khu 4, ở Hà 1ĩnh vả Ngã ba Đổng Lộc sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu, tổng kết lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cửu

nước của nhân đân 1x - một đề tải vô củng phong phú trong kho tảng lý luận

của Dảng Cộng sản Việt Nam Thực tiễn sự nghiệp xây đựng vả bảo vệ Tổ

quốc hiện nay đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiếL Với những bài họu từ trong thực tiễn dấu tranh cách mạng dễ giảnh dộc lập, thống nhất sẽ giúp người

nghiền cứu cỏ cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn, góp phần cùng Dáng và nhân

dân thực hiện những chủ trương, biện pháp dúng dẫn, sáng tạo trong công

cuộc xây dung dat nước tiễn lên trên con dường công nghiệp hóa, hiện dai

hỏa

7 Bố cục cúa luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục của luận văn gầm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát về hoạt động bảo đăm giao thông vận tải ở Khu 4

vả TIà Tĩnh trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968)

- Chương 2: Ngã ba Đồng Lộc - Quyết chiến điểm trên mặt trận GTVT trong chống chiến tranh phả hoại lần thứ nhất (1965 - 1968)

- Chương 3: Miệt số bài học kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu trên mặt

trận GTVT ở Ngã ba Đồng Lộc Thực tiễn và những vẫn dễ rút ra trong công,

cuộc xây dựng và bảo vệ lồ quốc hiện nay.

Trang 14

vĩ Bắc, 103,5 đến 108,10 độ kinh Đông 'Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954

- 1975), địa bàn Khu 4 bao gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,

Quang Binh, Quảng Trị, Thừa Thiên! Phía Đắc giáp các tĩnh Hoà Bình, Ninh

Binh (Khu 3), Son La (Khu 2) Phía lây giáp cdc tinh Sim Nua, Xiéng Khoảng, Bô L¡i Khăm Xay, Khăm Muộn, một phần tỉnh Xa Van Na Khét

(thuộc nước Công hoà dân chủ nhân dân Lào), có dường biên giới trên

1000km Phía Dông giáp biển Dông có bờ biển đài 644 km Phía Nam giáp Quang Nam, Ba Ning Khu 4 có địa thế đài và hẹp đần về phía Nam, nghiêng

dẫn về phía Đông Nơi rộng nhất là Nghệ An (207 km), nơi hẹp nhất 46,5 km

thuộc huyện Lé Thuy (Quảng Bình) Diện tích tự nhiên toàn Khu 4 thời kỳ

này khoảng trén 52.000 km? trong đó vùng đổi núi chiếm 3⁄4 điện tích đất tự

nhiên Núi hiểm trở, có nhiều điểm cao và nhiều dãy núi liên tiếp tạo thành

những bức chắn ngang đọc, đều xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, vươn

xuống vũng trung du, dỗng bằng và men tới biển làm cho dịa hình nơi dây bị

chia cắt manh

TIệ thắng sông suối ở Khu 4 nhiễu và đều bắt nguỗn từ tây - tây bắc chảy

vẻ hướng đông - đông nam Các con sông lớn như sông Chu, sông Mã, sông

Lam, sông La, sông Ngản Sâu, sông Ngân Phố, sông Gianh, sông Thạch Hãn,

1 Sự phân chia hành chính này có sự thay dỗi rong xội số giai đoạn

Trang 15

séng Iluong tao nén cdc ving đồng bằng ở Nông Cống (Thanh Hoá), Yên

‘Thanh (Nghé An), Can Lộc, Đức Thọ (Hà Tĩnh), Lệ Thuỷ (Quảng Binh) va

vùng đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên Doc ven biển có I6 cơn sông, lạch

lớn nhỏ bao gém: Lach Trường, Lạch Cờn, Lau Chet, Lach Quén, Lach Van,

Cửa Lò, Sông Lam, Của Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khâu, Ctra Ron, Ctra Dinh,

Gianh, Nhật Lộ, Cửa Tùng, hình thành những “cảng cua” lợi hại trong phòng,

thủ đất nước Sông suối ở Khu 4 từ miễn mai cao chảy cắt ngang giữa các tính,

huyện, qua đường số 1, đường sắt tạo nên một hệ thống cầu phà phức tạp

Đây cũng là những trọng diễm dánh phá ác liệt của để quốc Mỹ, gây cho la rất nhiều khỏ khăn trong việc khắc phục, cơ động lực lượng và vận chuyển theo

đường bộ, đường sắt

Vũng biển vả ven biển Khu 4 ngoài khơi gần bở có I1 đão lớn nhỏ, trong

đó có những đão lớn: Hòn Mê, Hòn Mắt, Hon New, Cần Cô có vị trí quan

trọng về chiến lược, chiến thuật

Về khí hậu, Khu 4 thuộc vũng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình

trên dưới 2.000mm/ I năm nhưng phân bô không đều Lượng mưa tập trung

vảo tháng 8, 9, 10 Ở Thanh IIoá mưa sớm hơn Nghệ An, Nghệ An mưa sớm

hơn Quảng Hình, Vĩnh Linh khoảng 1 tháng, do đó mủa mưa ở Khu 4 thường,

kéo dài đến cuối tháng 12 mới hết Mùa nóng bất đầu từ tháng 5 đến tháng 10,

kèm theo gió Tây tạo ra khô nóng, nhiệt độ trung bình 25 - 30°C, có lúc lên

dén 40° C Do mua lén va hạn hán kéo đải nên thưởng bị lũ lụt hoặc hạn hán

từ tháng 7 đến tháng 10 Nơi đây cũng thường phải hứng chịu những cơn bão

lớn hoặc áp thấp từ biỂn tràn vào, thỉnh thoảng có lốc xoáy trên diễn rộng

Nhting đặc điểm về địa hình, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt trên đây đã

ảnh hưởng rất lớn đến dời sống, kinh tế, văn hoá, xã hội dủa cư dân sống trên

dia bàn Khu 4, đặc biệt có ảnh hướng rất lớn dỗi với việc xây dựng và hoạt

động GTVT,

Trang 16

Ngay khi hiệp định Giơ-ne-vơ chưa được ký kết, với lầm nhìn xa, trông, rông, ngày 15-7-1954 tại Hội nghị Irung ương Đảng lần thứ 6 (khoá LI) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: Mỹ là kẻ thù chính của hoà bình thế giới, là

kẽ thủ chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào Chính sách cúa tạ là

tranh thủ hoà bình để chéng lại chính sách chiển tranh của Mỹ Với để quốc

Mỹ thì bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, phải chuẩn bị trước | 29; tr 509 Nhận dịnh sảng suốt và tư

tưởng chiến lược của Người đã trở thành kim chỉ nam cho Dang ta, kip thoi

dánh giá tỉnh hính chính xác vả định ra những quyết định dùng dẫn, chuẩn bị cho đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, gian

khỗ để giành thắng lợi vẻ vang

TTrên tỉnh thần đó, đưới sự lãnh dạo của Đăng và Chú tịch Hồ Chi Minh, nhân dân †a ra sức xây dựng, củng cố miền Bắc, phát triển chế độ dân chủ

nhân dân, đưa miền Dắc tiến dần lên CNXII, trước hết bằng việc thực hiện kế

hoạch khỏi phục kinh tế, trong đó đặc biệt chú ý khôi phục Ngành GTVT

Phối hợp với cán bộ, công nhân hgành Œ1VI, lực lương vũ trang đã khẩn

trương tu lạo lại những tuyển đường sắt, đường bộ bị phá huỷ trong kháng

chiến chống Pháp, xây dựng, nâng cấp các tuyến đường giao thông mới để

củng cố miễn Bắc, làm hậu phương vững chắc cho cách mạng miễn Nam và

sẵn sàng đối phó với moi 4m mưu của kế thù, trực tiếp là đồ quốc Mỹ

'Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chỉ Minh: “Cầu đường là

mạch máu của một nước”, “Giao thông vận lãi thẳng lợi tức là chiến tranh

đã thẳng lợi phần lớn rồi”, tháng 5 năm 1959 Đoàn vận tải 559 được thành

lập, mở đường chỉ viện cho cách mạng miền Nam” Từ hơn bốn trăm người

2 Khi mới thành lầp, có tên là Doan công tác quân sự đặc biệt Dỗng chỉ Võ Bằm được

định thành lập

Trung ương Đảng cử làm Đoàn trưởng đầu Hiên Về sau thời gian qu

(thang 5-1959) được lẫy làm phiên hiệu chỉnh thức của Đoàn 559

Trang 17

áo bả ba, đầu trần, chân đất, lặng lẽ giữa đại ngàn Trường Sơn “Đi không dấu,

nấu không khói, nói không tiếng”, gủi cöng từng khẩu súng, viên dan, soi

đường về Nam; sau 7- 8 năm đã phát triển lên gần 30 nghìn người với nhiều

lực lượng Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đoàn Š59 - Bộ

đội Trường Sơn - tuyến đường mang tên Hồ Chí Minh đã tiến lên từ thê sơ,

gui công đến vận tải cơ giới Cũng từ đó, nhiệm vu bao dim giao thing và

vận tải qua dia ban Khu 4 tao chin hang cho tuyén chỉ viên chiến lược

Truéng Son cing được đặt ra khẩn thiết hơn bao giờ hết

Xuất phát tử vị trí địa lý đặc biệt và nhiệm vụ cách mạng chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cửu nước, Khu 4 vừa lả hậu phương trực tiếp của chiến trường miễn Nam và chiến trường Nam Đông Dương, vừa là tiền tuyển của hậu phương miễn Bắc XHƠN Đây cũng là nơi hội tụ đủ tất cá các tuyển giao thông chiến lược Bắc- Nam, nơi khởi nguồn của tuyến đường

Trường Sơn huyền thoại Từ hậu phương miễn Bắc gần như hết thay lực

lượng, vật chất chi viện cho miễn Nam, Trung - Hạ Lào, Cam-pu-chia đều

phải qua vủng đất Khu 4

Trong 10 năm (1955 - 1964) tranh thủ thời gian hoả bình, quân và dân

Khu 4 đã ra sức khôi phục kinh tế, én dinh đời sống nhân dân, xây dựng củng,

cố quốc phòng - an ninh, trong do chủ trọng củng cố và xây đựng hệ thống

giao thông vận tải, tuy chất lượng chưa cao nhưng đa tuyến, có giá trị về kinh

tế và quốc phỏng, lúc thời bình cũng như thời chiển Theo lrung tướng

Nguyễn Khắc Dương - Nguyên Tư lệnh Quân khu 4 trong bài viết tham gia

hội tháo khoa hoc ‘Mat trận GTVT trên dịa bản Quân khu 4 trong kháng

chiến chống Mỹ cửu nước” cho biết: Tuyến đường sắt Bắc- Nam qua dia ban

Quân khu dải 774.6 km, có 70 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy doc dồng bằng gần

như song song với dường sổ 1 củng với các tuyển đường phụ (Cầu Giát -

Nghĩa Đản; Vĩnh - Cửa Lộ; Vĩnh - Bến Thuỷ) Khối lượng vận chuyển qua

Trang 18

đường sắt khá cao nhưng rất dễ bị địch khống chế, chia cắt Tuyến đường hộ

có đường số 1 chạy dọc ven biển gân đường sắt, qua hai đèo cao (đèo Ngang, déo Ly Hoa); qua nhiều pha, cầu lớn nên dễ bị địch phát hiện, đánh phá

Đường 15 từ Vạn Mai (viáp giới Thanh Hoá, Hoà Bình) chạy dọc Đông

‘Truong Sơn qua các “chốt” Quan Hoá, Iriệu Sơn, Nghĩa Dàn, Dức Thọ, Can

Lộc, Hương Khê, Tuyên Hoá, Bãi Hà, Hướng Hoá cùng với các tuyến

đường ngang như đường 217 (Đồng Tâm - Na Mỡi - Bắc I.áo), đường số 7

(Diễn Chau - Nam Cin qua Lào), đường số 8 (Bãi Vọt - Hương Sơn, Na Pé -

Lạc Xao) Các đường 10, 12, 16, 20 nối dường 15 đoạn Quảng Bình qua Lào cùng các đường liên huyện, liên xã, dường lên các nông, lâm trường Tuyến

đường thuỷ bao gồm đường biển và hệ thống sông suối, kênh nhà Lê Do nhiễu sông suối nên số cầu lên dến 406 chiếc, bình quân mỗi cầu dài 15m với

10 pha lớn (Ghép, Bén Thuỷ, Sông Gianh, Quản Hàu, Xuân Sơn, Long Đại,

Đô Lương, Nam Đàn, Linh Cảm, Địa Lợi ), có một số cầu lớn khi chiến

tranh xây ra phương tiên di qua phải chuyển sang phả (Đỏ Làn, Hàm Rằng,

cau Tao, Hoang Mai, Bung, Phuong ‘lich, Nghén, Gia, Cay, Phu, Ho, Rac, Ly

Tioa, Cau Dai ), Trén tuyén dudng sé 1 binh quén 2 đến 3km có một cầu lớn

(tên 15m), cứ 800- 1.200m có một cầu nhỏ Riêng địa phân Hã ‘Tinh c6 tdi

300 câu [5; tr.64-65]

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về

nhiệm vụ cách mạng chiến lược của hai miền Nam - Bắc trong giai đoạn mới,

tranh thủ những năm hoà bình, quân và đân Khu 4 đã chủ động xây dựng, mở mang mạng đường giao thông liên huyện, liên tính

Tuyến đường sắt Hà Nội- Vinh mà chủ yếu là đoạn Thanh Hoá - Vinh

nhanh chóng dược khôi phục va đưa vào sử dụng góp phần dưa mức vận

chuyển bằng dường bộ tăng gắp dôi so với trước Đường quốc lỗ số 1 dược tu

sửa, mở rộng nâng cấp nhanh chóng, đảm bảo vận chuyển hàng hoá chủ yếu

Trang 19

từ oác tĩnh phía Bắc vào Nam Khu 4 Đường 15 chạy từ miền Tây Thanh Hoá

đọc theo các triển núi Đông Trường Sơn được củng cố, đảm bảo thông thương,

với Tuyển 559 Trên đường 15 đoạn qua Quảng Bình cũng là điểm xuất phát

của các nhánh đường 10, 12, 16, 20 nối sang đất Láo và vào tuyển Tây

'rường Sơn Ngoài ra, các trục đường ngang nổi Việt Nam với Lảo như

đường 217 (Đồng Tâm - Sầm Nua), đường số 7 (Diễn Châu - Nậm Cắn),

đường 8 (Bãi Vọt - Lạc Xao) cũng nhanh chóng dược hoản thành Trên tuyển

đường thủy hầu hết các cầu cảng, kho tảng, bến bãi, luồng lạch ở những vị trí

xung yếu dã dược nạo với, tu sửa, xây dựng thuận liện cho tảu thuyền của hãi

quân và dân quân ra vào, xếp đỡ hàng neo đậu Kênh nhà Lê dược nạo vét,

khơi thông Nhiêu ghénh thác trên sông Ngản Sâu, Ngan Phá miền núi rừng

Hà Tĩnh, Quáng Bình được hạ thấp, nắn chỉnh, mỡ rộng cho thuyền máng

xuôi ngược Các sông Mã, sông Lam, sông La, sông Gianh được thăm đỏ,

khảo sắt, cắm phao, biển báo và xây dựng thêm nhiễu bến vượt đự phòng v.v

Như vậy, dến trước chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, hệ thống giao

thông đường bô, đường thuỷ trên địa bàn Khu 4 đã được củng cố, mở rộng,

đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá tại địa phương và đảm bảo

xnột phần cho mặt trận giao thông vận tải sau này Tuy nhiên, với những đặc

điểm về địa hình, thời tiết, khí hậu đã gây cho ta nhiều khó khăn Địa hình

Khu 4 là nơi hẹp nhất, đặc biệt là Hà Tĩnh, Quảng Bình có núi sát biển, đô

đốc rất lớn, có nơi núi cắt hẳn đường vượt, lắm sồng ngỏi Dây là những nơi

đễ bị chia cắt nhất, đặc biệt khi bị địch đánh phá Tuyển giao thông huyết mạch Đắc - Nam là quốc lễ 1A qua địa bản Khu 4 chủ yếu chạy sắt biển nên

thường xuyên bị lực lượng không quân Mỹ từ hạm đội trên biển bay vào đánh

phá Trên Luyễn dường 1 lạ phái qua nhiều cầu phá, sông ngôi mà dịch

thường thả thủy lôi phong tỏa Việc khắc phục để thông dường, thông tuyến

đôi hỏi nhiều thời gian và công sức Khi tuyến đường 1 gặp nhiều khó khăn,

Trang 20

tuyển đường 15 (có hai đường ngang là 12 và 20) chạy men theo chân phía

Đông dãy Trường Sơn trở thành đường chính nhưng cũng gặp không ít khó

khăn Trên đường 15 chủ yếu là đường đất, một số ít được rải đá, lại nằm trên

địa hình đổi núi có đô đố lớn, hiểm trớ, nhiều đoạn qua thung lũng hoặc suối

sâu, khi Mỹ tập trung bom đạn, nơi đây bị biến thành những trọng điểm giao

thông - những “túi bom”, “chảo lửa” Việc khẩu phục và bảo đầm giao thông,

võ cùng gian nan, đặc biệt là vào mùa mưa Hệ thống sông suối trên dia bàn

Khu 4 day đặc nhưng nhỏ hẹp, có thuận lợi cho vận chuyển đường thuỷ với

những thuyền bè trọng tắi nhẹ song lại gây khỏ khăn cho vận ti cư giới Trên

các sông suối nhỏ dọc theo tuyến dường 15 ta chưa xây dựng dược nhiều cầu

Vì vậy, xe hành quân đều phải qua phà Vào mùa mưa, trên các sông suối này

lũ đột ngột dâng cao, nước cháy xiết Muốn xe qua dược ta phải lắm ngầm

cao Hơn nữa, mùa mưa ở khu 4 thường kéo dải, lượng mưa lại phần bố

không đều Vùng miền núi dọc theo day Trường Sơn thường có mưa nhiều

hơn những nơi khác, đễ bị ngập ứng, dặc biệt là vùng trũng, gây khó khăn và

ách tắc dài ngày cho lực lượng và phượng tiên lưu thông trên tuyến v.v Dó

cũng là những khó khăn chủ yếu của GTVT trên địa bàn Khu 4 trong hoàn

cảnh bị không quân, hải quân địch đánh phá dữ dội với mật độ bom đạn lớn chưa từng có Địch quyết đánh phá, ngăn chặn; lực lượng ta quyết git, dam

bão mạch máu giao thông luôn thông suốt Vì vậy, cuộc chiến đấu trên mặt

trận giao thông vận tải ở địa bản Khu 4 càng trở nên gian khổ, ác liệt hơn bao

giờ hết

1.2 Chủ trương và hoạt dộng bảo đám GTVT cúa ta trước âm mưu

phá hoại, ngăn chặn của Mỹ - nguy trên địa bàn Khu 4

Trong cuộc kháng chiến chống chống Mỹ, cửu nước, vùng đất Khu 4 giữ

vai trỏ trọng yêu bởi những yếu tổ liên quan tới vị trí địa - quân sự, dịa - chính

tri Nơi đây cùng lúc vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến, vừa làm nhiệm

Trang 21

vụ dân tộc vừa làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là tuyến đầu của miền Bắc XIICN

vừa là hậu phương trực tiển của các chiến trường, Trải qua hai lân chẳng chiến tranh phá hoại, ving dat Khu 4 đã trở thành tâm điểm đọ sức quyết liệt

giữa bản lĩnh, ý chí, mưu lược của người Việt Nam với các thủ đoạn đánh

phá, ngăn chặn bằng nhiều loại khi tải, bom đạn tôi tin của dé quốc Mỹ

Tiền hành chiến ranh xâm lược Việt Nam, cùng với âm mưu tiêu diệt phong trảo cách mạng ở miền Nam, để quốc Mỹ rất chủ trọng dén việc dánh

phá, ngăn chặn sự tiếp tế, chỉ viện của miền Bắc cho miễn Nam vì chúng cho

rằng miền Đắc là “nguồn gốc của mọi vấn đê” Đặc biệt tử năm 1964, trước nguy cơ phá sẵn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Mỹ- nguy quyết định

tăng cường các hoạt động phá hoại miễn Bắc lên một bước mới Chúng triển

khai cùng lúc ba kế hoạch chẳng phá đó lả: “Kế hoạch 34”, “Kế hoạch Để-sö-

tô” (DHROTO) và kế hoạch sử dụng không quân đánh phá ở Lào Tháng 8-

1964, để quốc Mỹ gây ra “sự kiện Vịnh Bac Bộ”, tạo cớ để thực hiện các hoạt

động công khai đánh phá miễn Bắc Việt Nam Đầu năm 1965, Mỹ chính thức

tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, nhằm mục đích:

Thứ nhất, ngắn chặn nguồn viện trợ từ bên ngoài vào miễn Bac va su chi

viện từ miễn Bắc vào miền Nam; nhằm bao vây, cô lập, làm suy yếu đi đến

tiêu diệt các lực lượng cách mạng, dập tắt cuộc chiến tranh cách mạng ở

miền Nam

Thứ bai, phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phỏng, phá công cuộc xây dựng

CNXII ở miền Bắc, làm cho miền Bắc kiệt quệ, không thể tiển hành một cuộc chiến tranh lâu đải, đồng thời gây cho ta những khó khăn trona xây dựng dat

nước khi chiến tranh kết thúc

Thứ ba, uy biếp tình thần, làm lung lay quyết lâm chống Mỹ, cứu nước

của nhân dân ta, buộc ta phải nhân nhượng chấm dứt chiến tranh theo điều

kiện của Mỹ [10; 34].

Trang 22

Nhận thấy vị trí hiểm yếu của tuyến giao thông trên địa bàn Khu 4 đổi

với cuộc cách mạng ở hai miền, để quốc Mỹ đã tập trung cao độ các loại vũ

khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhằm ngăn chặn đi đến cắt đứt hệ

thống giao thông chiến lược Bắc - Nam qua nơi đây “Quân khu đã trở thành

trọng điểm quan trọng bậc nhất của chiến tranh phá hoại bằng không quân và

hải quân hiện đại nhất của Mỹ Chúng đã trúi hàng vạn tấn bom đạn xuống mảnh đất “cán xoong” dài vả hep nảy hỏng biển địa bản này thành một nơi

không cỏn sự sống” (32; tr.3] Diều nay cén thể hiện rất rõ qua điển biên

chiến tranh phá hoại của dễ quốc Mỹ ở miền Bắc và chí số bom đạn mả Mỹ

nẻm xuống vùng nảy Đây là nơi để quốc Mỹ tiến hành những hành dộng,

khiêu khích đầu tiên, thậm chỉ ngay cả trước khi gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5-8-1964) Đỏ là vào dém 30-7-1964, tại đáo Hỏn Mễ, Hỏn Ngư của Nghệ

An, để quốc Mỹ đã ra lệnh cho tâu biệt kích ngụy Sài Gòn bắn phá Và trong

lúc tàu Ma-đốc (Maddox) tiến hành tuần tiểu sâu vào hải phận Vịnh Bắc Bộ

của ta thì máy bay 1-28 của Mỹ ném bom Nam Can (31-7- 1964) và Noọng

Dé déu thuộc miền lây Nghề An Và đúng ngày sự kiện Vinh Bac B6 né ra,

củng với llòn Gai (Quảng Ninh), các địa danh như Vĩnh, Dến Thủy, sông

Gianh là những mục tiêu được Mỹ “ưu tiên” bắn phá hàng đầu Từ đó cho đến

khi dé quốc Mỹ phải ngừng toàn bộ các hoạt động đánh phá để ngồi vào ban

đảm phán tại Pa-ri thì Khu 4 cũng lả địa bản cuối cùng không quân Mỹ hoạt

động và cũng là nơi chiếc may bay cuối cùng của Mỹ bị bắn rơi trên miền

Bac Dé JA chiếc thử 4.181 (bị bắn rơi ở Quảng Bình ngày 17-1-1973)

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), Mỹ-nguy liên

tục tiến hành các chiến địch Mũi lao lửa I & II (Operation Flanung Dart), Sâm

Rền (Rolling Thundcr) mở rộng phạm vì dánh phá ra nhiều tỉnh miễn Bắc Ở

Khu 4, ban dầu, chúng nhằm vào các mục tiêu kinh tế, quân sự, sau đó chủ yếu tập trung bắn phá ác liệt hệ thống đường sắt, đường bệ, đường thủy; hệ

Trang 23

thống cầu, cống, bén pha, bến vượt và các đường giao thông quan trọng như

đường số 1, 7, Ñ, 12, 15 hỏng biến nơi đây thành những điểm nút “£hết cỗ

chai” gay ach tic nghiêm trọng nhất, như Dò Lên, Hàm Rồng, Phà Ghép,

Thương Tích, Xuân Sơn, Long Đại, Đồng Lộc Mặt trận bão đảm giao (hông

tận tdi qua địa bàn Khu +4 trở niên nóng bóng nhất trong suốt cuộc chiến

tranh

Từ việc sớm nhận thức được vị thế của Khu 4 đối với toàn bộ cuộc chiến

tranh chống MẸ, đặc biệt là nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải, chỉ viện

chiến trường nên ngay sau khi để quốc Mỹ liến hành chiến tranh phá hoại

miễn Bắc, Bộ Chính trị Irunp ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Irung ương

Bộ Quốc phòng đã xác định: Bảo đâm giao thông vận tải thông suốt, chỉ viện

chiến trường là nhiễm vụ trung tâm số một của toản Đảng, toàn quan, toan

dan; đồng thời đã có nhiêu giải pháp đồng bộ kịp thời chỉ đạo sâu sát, tăng,

cường lực lượng cho mặt trận giao thông vận tải ở Khu 4

Ngày 7 tháng 5 năm 1965 Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Chính phủ

ra Quyét định (Số 119-NQ/TW) Về một số vin dé trong céng tac giao théng

vận tải ở các tỉnh Khu IV xác định rõ: việc thống nhất quản lý các phương

tiên giao thông vận tải, Thống nhất việc chí huy các bến phả và tổ chức các

trạm đân quân địa phương báo động và bắn máy bay Nhằm thông nhất trong

công tác lãnh đạo, chỉ huy, Trung ương quyết định thành lập Ban giao thong

tận tâi các cấp bao gồm Ban giao thông vận tải các tỉnh thuộc Khu 4 và Ban

giao thông vận tải kj vực Tăng cường Ty giao thông vận tải cáo tỉnh, du

một đồng chỉ tỉnh ủy viên có năng lực, có sức khốc làm trưởng ty Tại Ban

GTVT khu vực có đại điện của Bộ Giao thông vận tải làm trưởng ban, đại

diện cúa Bộ Quốc phàng và một dỗng chí Tỉnh ủy viên Ban này cd nhiệm vụ

đảm bảo và giải quyết toàn bộ vẫn dễ piao thông vận tải ở khu vực mình phụ

trách trong bắt cứ tình huỗng nao.

Trang 24

Để chủ động đánh bại chiến tranh phd hoai ola để quốc Mỹ từ trên

không và pháo hạm từ phía biển, Hộ Quốc phòng tăng cường các lực lượng,

phòng không, công binh, thông tin, vận tải cho Quân khu 4 lắm nhiệm vu

chiến đầu bảo vệ các tuyển đường Các đơn vị vận tải mới được cũng cố và bố

sưng tiếp tục khắc phục khó khăn, ác liệt, vận chuyển tạo chân hảng cho tuyển

chỉ viện chiến lược 559- đường Hồ Chí Minh và chiến trường nước ban Lao

Từ thực tiễn thời kỳ đầu chống chiến tranh phá hoại của để quốc Mỹ trên

địa ban, trong hai ngày 7 và 8-5-1965, Hội nghị Quân khu ủy 4 (mở rộng)

được tiến hành Nghị quyết Hội nghị khẳng dmh: “Quyết tâm lấy chiến tranh nhân đân đành bại chiến tranh phá hoại, bất luận cuộc chiến tranh đó quyết liệt đến mức nào Sẵn sàng nhận và làm tốt nhiệm vụ chỉ viện và đi chiến đấu

ở miễn Nam Tỉch cực, liễn tục làm nhiệm vụ ở Lào Chuyển hướng mọi

hoạt động sản xuất, sinh hoạt của nhả nước, của nhân dân thích hợp với thời

chiến, vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh làm cho công cuộc xây

dung CNXH vẫn tiếp tục phát triển ngay trong chiến dấu Trước mắt, tập

trung chống chiến tranh phá hoạt với mức độ cao nhất Khẩn trương chuẩn bị

sẵn sàng đổi phó thẳng lợi với “chiên tranh cục bộ” với bất cứ hình thức và

mức độ nảo"[32; tr.130-131] Với chủ trương đó, Hội nghị Quân khu ủy 4 lần

này đã đặt nền tầng cho cơ chế và nền nếp hoạt động lãnh đạo chiến tranh và

xây dựng hậu phương trong suất thời kỳ chống Mỹ, cửu nước

Tiếp theo Hội nghị Quân khu ủy, Hội đồng quốc phỏng Quân khu 4 họp

dưới sự chủ tọa của Thiếu tướng Lê Hiển Mai - ủy viên Trung ương Đẳng, Dí

thu Pang ủy, Chính ủy Quân khu Quản triệt Quyết dịnh ngày 7-5-1965 của

Ban Bi thư Trung ương Dảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ về một số

van dé trang cong lic GTVT ở cáu tĩnh Khu 4, Hội nghị để ra một số chủ

trương cụ thể, nhằm: “ lám cho mọi người hiểu rõ bảo dảm ŒIVT là nhiệm

vụ cách mạng của mình, bằng bất kỳ giá nào cũng phải bảo đảm cho được

20

Trang 25

tuyến đường số 1, đường số 15, đường sé 8, đường số 12 thông suất” Hội nghị đã quyết định những biên pháp cụ thế nhằm thực hiện tết việc phối hợp

hiệp đồng, tổ chức lãnh đạo chỉ huy, kết hợp giữa đánh địch với bảo vệ

GTVT: tổ chức làm đường, động viên lực lượng và phương liện phục vụ

GTVT, bảo đắm bí mật an toan [32; tr 131-132]

Đảm nhận hoàn toàn nhiệm vụ bảo đảm giao thông và ứng cứu trên cảu

tuyến dường chiến lược di qua địa bản, với lực lượng dược Bộ tăng cường và

lực lượng tại chỗ, Quân khu 4 đã thành lập và củng cố nhiều đơn vị Trung đoản 152 công bình và cao xã hỗn hợp vừa làm nhiệm vụ đánh dịch bảo vệ

đường, vừa mở đường số 15 ở khu vực tây Quảng Bình và dường số 12 l.ựơ

lượng vận tải tập trung của Quân khu từ I đại đội xe 36 chiếc phát triển thành

6 bình trạm, biên chế 1.160 người với 130 xe ô tô, 22 ca nỗ, 35 xã lan chuyên

vận chuyển cung cấp cho các lực lượng vũ trang quân khu (cả số làm nhiệm

vụ ở Lào) Các tổng đội thanh niền xung phong chống MỸ, cửu nước ở các

tỉnh gồm hơn 12.000 người chuyên lo làm đường mới vừa sửa dường ở một

số tuyến Một số tuyên đường mới khác: từ Bỏ Lăn đi Tam Lê, từ Hoàng Mai

đi chợ Tuần, Tân Kỳ đi đốc Lụi (Nghệ An), Ba Trại (Quảng Binh) được khẩn

trương xây dựng Lực lượng công nhân giao thông do Bộ Giao thông vận tải

quản lý tập trung thi công các tuyến đường số 7, 12, 21 và 22

Dén cuối tháng 9 năm 1965 các tuyến đường số 1, 7, 8, 12, 15 và gác

tuyến sông trên địa bản cơ bản thông suốt Dường sắt théng dén Hoang Mai,

đường goòng nối lién Đức Thọ - đỏ Vàng, Lưu lượng xe và vòng quay tăng 2

lần Thời gian tắc xe trên các bến piãm 50% |32; tr.13B|

Trước những âm mưu, thủ đoạn mới của kẻ thủ, tại Hội nghị lần thứ 12

của Ban Chấp hành Trung ương Đáng(ngày 27-12-1965) dã dề ra Nghị quyét

Về tình hình và nhiệm vụ mới, trong đó nêu rõ: "Phải dộng viên lực lượng

của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của để quốc Mỹ

21

Trang 26

trong bất cứ tỉnh buéng nảo, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn

thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cá nước, tiến tới thực hiện

hòa binh thống nhất nước nhả” [12; tr.634] Nhiệm vụ của miễn Bắc được

Trung ương Đăng xác định là phải vừa sản xuất, vừa chiến đầu để bão vệ

miễn Bắc, đánh bại cuộc chiến tranh phả hoại của giặc Mỹ, bảo vệ sự nghiệp

xây đựng CNXH; ra sức xây dựng miễn Bắc vững mạnh về kinh tế va quée phòng, động viên cao nhất sức người, sức của tăng cưởng chỉ viện cho chiến

trường miền Nam và giúp đỡ cách mạng Lào [12; tr.643-644-645]

“Trong khi lực lượng tz dang cố gắng cái thiện tỉnh hình giao thông thì đầu

tháng 12 năm 1965 Mỹ tiến hành một đợt dánh phá tập trung quyết liệt trên

toàn bộ tuyến giao thông vận tải của ta Từ Thanh Ilóa trở ra chúng đánh mạnh

để cắt chân hàng: từ Nghệ An trở vào, chúng dánh đứt điểm timg đoạn xung yếu, nhất lä phía Nam Khu 4 Có những nơi như : Km 39- 40 đường số 15, chỉ

trong 5 ngày chúng đánh 43 lần, Km 19 đường số 12 đánh 152 lần với 70 qua

bơm, phả Quán Hàu với 19 lần, 190 quả Trên tuyển đường số 1, ở các doạn

Lý Hòa, sông Gianh, Roỏn Dèo Ngang, địch còn dùng máy bay chỉ điểm cho

pháo làu biển bắn phá bễ sung sau mỗi đợi máy bay ném bom nhằm ngăn chặn

lực lượng ta khôi phục giao thông Âm mưu của địch là phá kế hoạch vận

chuyển của ta trong dịp lễ Nô-en, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán mà ta

đang tranh thủ để Lạo chân hàng cho luyến chỉ viện Trường Sơn khi mủa khô

đến,

liưởng ứng lời kêu gọi của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng

lần thứ 12, những ngảy cuối năm 1965, cán bộ, chiến sỹ và nhân dân Khu 4

đồng loạt tiến quân vào chiến địch bảo đảm GTVT mang tên “C?iến dịch

Quang Trung”

‘Trong chiến dịch này, hàng trim nghìn lượt người lên mặt dường tập

trung san lấp hang nghin hế bom, làm hàng trăm ki-lô-mét đường vòng tránh

2

Trang 27

TIàng chục nghìn mét khối đất đá được vận chuyển lên các tuyển đường phục

vụ yêu cầu han vá, nâng cấp mặt đường Hàng chục trọng điểm bi bom dich

biến thành ao đều được đắp lại như Khoa Trường, cầu Hay, cầu Quan, cầu

Cấm, kho Rinh, Thác Cóc, Long Đại ở Nghệ An, Hà Tĩnh hình thành thêm

một hệ thống cầu phao song song với cầu phà ở các bên trên tuyên đường số

1, hàng chục thác nước trên rảo Trố từ Kỳ Lâm (Kỳ Anh) đi Minh Cầm

(Tuyên Hoá) dài 50 km dược cắi tạo, khống chế; ta còn mở thêm một số tuyến

mới để vận chuyển hàng hoá và chổ thương binh

“Tét Quany Trung” Binh Ngọ (1966) làm sống đây hào khí thời Quang

Trung Toàn dẫn lên mặt đường, ăn Tết trên mặt đường, bến sông vả tại các

kho tàng, trên các chuyến xe Các binh trạm tổ chức ăn Tết theo ca kíp

Thương nghiệp đưa hảng ra mặt đường phục vụ bộ đội vả nhân dân Công

bình các bến phả trực suốt ngày đêm với khẩu hiệu: “Phà chờ xe, không dé xe chờ phà” Phong trào “Những hòn đất, hòn đá chống Mỹ bảo đảm GTVT"

day lên từ xã l3iễn Phúc (Liễn Chau) được nhân nhanh ra các nơi Kết thúc

“Chiến dịch Quang Trung” hàng đưa vào Vinh thực hiện được 115% kế

hoạch (36.781 lắn/ 33.210 tấn theo kế hoạch) [ling vao Quang Binh thực hiện được 25.396 tấn so với yêu cầu 25.222 tấn, đạt 59% kể hoạch cả năm

1966 Ilàng vào Vĩnh Linh, thực hiện được 123,5% chỉ tiêu (2.470 tấn/ 2.025

tấn) Vòng quay xe Lừ Thanh Hoá đến Vĩnh thông thường mắt bến ngày, trong

chiến dịch rút xuống còn một ngảy; Vinh- Quảng Bình từ sáu đêm rút xuống

hai ngày” [32; tr.139-140]

Trong những năm hỏa bình, mặc dủ ta đã chủ động mở mang mạng lưới

giao thông, nhưng khi để quốc Mỹ tiến hành chiển tranh phá hoại thì hệ thông

giao thông vận tải Khu 4 bộc lô nhiều hạn chế, gây khó khăn lớn cho công lác

3 Chiến dịch TÃI Quang Trưng còn được lô chức vio dip Tél cae natn 1967, 1968 và đạt

ign qua cao trong công tắc vận tải, kip thet chi viện cho các chiến trường,

Trang 28

vận chuyển hàng lên tuyến trước ũng như cơ động lực lượng trén dia ban, 118

thống quốc lộ, tỉnh lộ phải chạy qua nhiều vùng thấp dé bi ngập lạt, hệ thống

cầu cổng chất lượng thấp, chóng hỏng Sông nhiều nhưng bến phà, bên vượt

quá it, không đáp ứng yêu cầu Lực lượng báo vệ giao thông mỏng, khi địch

đánh phá hàng loạt, hệ thống cầu đường hư hỏng, đường sắt ngừng vận

chuyển, đường 1A đoạn qua Hà Tĩnh bị Lắc nghẽn trong 2 thang (thang 4 dén

tháng 6-1965) Việc hiệp đồng chí huy giữa các lực lượng trong và ngoài

quân đội chưa thống nhật chặt chẽ Ở chừng mực nhất định, Bộ Tư lệnh Quân

khu 4 lúc đầu cũng chưa nhận thức đầy đủ lẫm quan trọng của công tác bảo

đâm GTVT, có tư tưởng cho dó là nhiệm vụ của cơ quan giao thông dia

phương nên chưa tập trung hết khá năng của mình vào nhiệm vụ này

Đầu năm 1966, Quân khu ty Quân khu 4 họp ra nghị quyết chuyên để về

bảo đấm ŒI'V'I Nghị quyết yêu cầu cán bộ, chiến sỹ va nhân dân các tỉnh

Khu 4 cần quán triệt sâu sắc hơn nữa tỉnh thần Nghị quyết liội nghị Trung

tương lần thứ 12 và quyết tầm của Đảng là dộng viên và tập trưng cao độ lực

lượng để giành thắng lợi quyết đính trên mặt trân GŒ1V'1, trong đó nêu rõ

Phat huy đây đủ trách nhiệm và chức năng của mọi đơn vị, mọi ngành, mọi

người, mợi địa phương trong công tác bảo đâm ŒTV'T, Chấn chỉnh lại công

tác vận tải ở các cầu phả, tổ chức tốt hơn thông tin liên lạc ở các tuyến, các

chốt trọng điểm, các bến phả, chấn chỉnh vả kiện toàn bộ máy chỉ huy GTVT

trên toàn tuyến, cân rút kinh nghiệm tăng cường kiểm tra, chuẩn bị kế hoạch

bảo đảm GTVT trong mia mưa; đây nhanh hơn nữa phong trào nhân dân

trồng cây ngụy trang dọc đường giao thông v.v

ghi quyết cũng chỉ rỡ những khuyết điểm cần khắc phục như nhiệm vụ

thì năng nề, phạm vì hoạt động rộng, lực lượng bao đảm giao thông lớn nhưng,

tổ chức chưa thích hợp, việc chuẩn bị vật tư, phương tiên dự trữ, công tác khai

thác đường bộ, đường sắt, đường sông, làm thêm đường tránh, bến pha dy bi

24

Trang 29

tuy có nhiều cố găng nhưng so với yêu cầu thì chưa được bao nhiêu Tình

trạng để hư hỏng, mắt mát phương tiện, khí tài, vật chất, làm ấu còn phố biển,

có hiện tượng nghiêm trọng

Thực hiện nghị quyết Quân khu ũy, trung Luần tháng 5-1966, Bộ Tư lệnh

Quân khu đã triệu tập hội nghị liên tịch với các tỉnh Nghệ An, Hà lĩnh,

Quang Binh và khu vực Vĩnh Linh bàn chuyên đề bảo dim GTVT quân sự

thời chiến Tham gia va chỉ đạo hội nghị có đẳng chí Nguyễn Tường Lân -

Thứ trưởng Bộ GTVT Hội nghị khẳng định quyết tâm : băng bat cir gid nao,

lực lượng và phương tiện của Bộ cùng với nhân dân Khu 4 sẽ giữ vững mạch

máu giao thông dưa hàng lên phía trước VỀ phương chấm, phương pháp tiến

hành, I1ội nghị nêu rõ

~ Dựa vào nhân dân, động viên nhân đân tham gìa vào công tac bao dam ŒTVT, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, dám nghĩ, dám làm Tập trung

phương tiện, nguyễn liệu sẵn có tại chỗ là chính, tận dụng vả phát huy những

kinh nghiệm hay, kết hợp hiện đại - cơ giới với thô sơ

- Làm nhiễu đường song song vả xen kế, xây dựng mang lưới đường ô tô

trình bậc thang, hình bản cờ, địch đánh hỏng đường này, xe chạy đường khác

Mỗi bến vượt sông có hai đến ba bãi, mỗi bến bãi có nhiều phương tiện vượt

sông

- Trên mọi hướng phải phát huy tẤt că các phương tiện vận tải ô tô, phốt

từng cung đoạn, đặc biệt chủ trọng phát triển vận tải đường sông, kiên trì giữ

vững vận tải đường goòng, tận dụng đường biển, phát triển cơ giới đồng thời

tích cực sử dụng phương tiện thô sơ

- Phòng tránh tốt địch đánh phá, kết hợp các biện pháp phân tán mọi

công sự, ngụy trang, bỉ mật bất ngờ, triệt dễ lợi dụng thời tiết: trời tối xe chạy

không đèn hoặc “đến rủa”, trời nhiều mây xe chạy ban ngày và chạy lấn

chuyển, trời mưa coi như ngừng bắn, chạy cả ngày lẫn đêm.

Trang 30

- Tổ chức hàng chục trạm gác của dân quân tại các bến phả, cửa lạo]

sông, các trọng điểm hàng ngảy bám sát 24/ 24 giờ để theo dõi số lượng,

bom, điểm bom rơi đánh dấu trên bản đỗ và trên thực địa, kịp thời xử lý thông

tuyến trong đồm

kết thúc hội nghị, đồng chí Thứ rưởng Bộ G1V'L nêu lên tư tưởng chi

đạo của Bộ được đúc kết trong 6 chữ “Địch đánh - ta viva - ta di" (6, 296-

297-298|

Triển khai nội dung hội nghị liên tịch và thục hiện Diện mật của Ban Bí

thư Trưng ương Đảng (số 283 ngày 29 - 10 -1965) về tập trung chi dao, dam bảo GTVT, Quân khu và các tỉnh thống nhất chủ trương và triển khai các hiện

pháp cu thé, tạo sự chuyển biến tốt trong công tác GTVT Lực lượng công binh

nhân dân lầy công bình làm nòng cốt tích cực khắc phục đường sả bị dịch đánh

phá hư héng Lare hrong vin tai gầm ba thử quân: (TV'T chuyên nghiệp, công

°bỉnh Quân khu, tỉnh; từng huyện tổ chức các đội chuyên trách bảo đảm giao

thông của huyện, các xã dọc trục dường tổ chức các đội đân quân công binh

Bồ Tư lệnh Quân khu 4 đã tiến hành khẩn trương việc tô chức cho các

công ty 2, 3, 4, 8 và các đơn vị công trình với tổng biên chế 12.665 người

đâm nhiệm việc làm mới, sửa chữa đường các tuyến đường 1, 15, 7, 21, 22,

thành lập các trung đoàn công - pháo phụ trách các tuyến đường 12, 15 phía

Tây Quảng Bình TỔ chức thêm 2 tiểu đoàn và 26 đại đội công bình cho cáu

tỉnh với quân số 4000 người linh đội các tỉnh Nghệ An, Hà Lĩnh xây dụng được 182 tổ dân quân công bình với 2.580 người Về lực lượng đường sông, ở

Nghệ An có đoàn 7 với T108 người, Hà Tĩnh có doàn 8 với 2§0 người Quang Bìỉnh tổ chức đội xung kích bio dim giao thông tùng xã gồm thanh niên và

dân quân tự về Thanh Hỏa lễ chức thêm 4 dại dội công binh, tiếp nhận thêm

1 tiểu doàn của tỉnh Hỏa Binh, huy déng 750 xe dạp thể, 680 thuyền các loại

và 3.450 thủy thú tổ chức thành các đơn vị chuyên chở hàng quân sự, chuyển

26

Trang 31

thương bình Các cơ sở sẵn xuất phao, phả được mở rộng về quy mô và năng,

lực sẵn xuất v.v

Tại các bến vượt và những trọng điểm bị địch đánh phá, các trạm điều

chính xe được củng cổ, tíng cường nhằm khắc phục tỉnh trạng ùn xe, tắc

đường hoặc bị bom địch phá hỏng do thiểu thông tin

Các địa phương tổ chức thêm các trạm quan sát, báo động bán đêm,

hướng dẫn xe vào các nơi cất giấu Dọc các tuyến đường, nhần dân trồng cây

ngụy trang, lâm cọc tiêu, quét vôi các thân cây còn lại Kỹ thuật và kỷ luật

chạy xe bằng đẻn uầm, kỷ luật sử dụng ảnh sảng, lửa trong mọi sinh hoại ban

đêm dược quy dịnh và kiểm tra nghiêm ngit [6; tr.299-300]

'Vì cả nước và với cả nước, bằng nhiều chủ trương và biện pháp kịp thời,

những năm thang dầu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, quân vả dân Khu 4

đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hủng cách mạng, vượt qua muôn vàn gian

khỗ, hy sinh với quyết tâm “Dánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, quyết giữ

vững mạch máu giao thông cho những chuyến hàng ra tmặt trận Tiêu biểu cho

tỉnh thần ấy là Dảng ủy và nhân dân xã Võ Ninh (Quảng Ninh - Quang Binh)

tự nguyện tháo dỡ nhà, đóng góp mọi nguyên vật liệu có thể để cửu đoàn xe

vận tải bị lầy lún trước khi trời sáng; là nhân dân xã Hải Lĩnh tự vác đá chuẩn

bị xây nhà đem lắp hế bom và lát đường, từ đây, phong trào “Ilỏn đá chống

Mỹ” được phát động sôi nổi trong loàn tỉnh và Khu 4.v.v Chỉnh bởi những hy

sinh đó đến cuỗi năm 1965 tình hinh GT

trên địa bản Khu 4 được cải

thiện, đi vào thế én định Cáu bến sông, bén pha, cầu hư hỏng được khắc phục

thành ngầm hoặc phả, các bến lớn cỏ dường vòng tránh và dự bị, các tuyến

đường 1,7 12, 15 đều thông suốt, vận tải đường sắt bằng xe goông được duy

trí hoạt dộng liên Lục trên toản Luyến

Trước những thất bại trong chiến lược "Chiến tranh cục hộ”, trực tiếp

đưa quân Mỹ váo tham chiến trên chiến trường miền Nam mà không đạt được

27

Trang 32

ý đề, để quốc Mỹ càng đẩy mạnh chiến tranh phá hoại ra miễn Bắc Đối với

Khu 4, không quan - hai quan M¥ ding nhiều thủ đoạn thâm hiểm với đủ loại

bom đạn, khí tài tối tân, hiện đại Toàn Khu 4 bước vào chế độ thời chiến với

sự phân vũng rõ rộ, có những vừng lạm chiếm ở bắc Quảng Trị và cả những,

vùng tự do (Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hả lĩnh, Nghệ An) Thời gian nảy Mặt

trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được thành lập (tháng 6-1966) Tắt gã mọi hoạt

động của Khu 4 dễu nhằm giải quyết hai vấn dé chú yếu:

“|, Tập trung mọi khả năng bảo đấm day đủ mọi nhu cầu của tiền

phương và quyết giảnh cho dược thẳng lợi to lớn ở đó

2 Xây dựng, bảo vệ hậu phương chẳng chiến tranh phá hoại cho tốt,

chuẩn bị tốt việc chống “chiến tranh cục bộ” mở rộng ra phạm vi quân khu

Thiệm vụ nỗi bật của quân khu là tập trung mọi khá năng hoàn thánh thắng

lợi nhiệm vụ tác chiến ở mặt trận Quảng Trị”!

Nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra, trên mặt trận bảo

dim GTVT duce ting cường lực lượng và huy động cao độ sự dóng góp của

nhân dân các địa phương khắp 26 bên vượt lớn và khắp nơi trên các tuyến

giao thông, lực lượng công bình ba thứ quân cùng với thanh niên xung phang

ngày đêm đối đầu với gian khổ, hiểm nguy, thực hiện: "Sống hám trự cầu

đường, chết kiên cường đũng cảm”, "Tổng từng tấn, lần từng chuyến" Trên

mặt trận bao dim GTVT đã xuất hiện nhiều lắm gương tiêu biểu như đội cầu

phả 3 - 4 bên phà Ghép (Lhanh Hoá) với nhiều cá nhân dũng cảm vả mưu trí,

sẵn sảng hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước: Đó là anh hùng liệt sỹ

4 Trích nội đong Hội nghị Thường vụ Quân khu tỷ 4 ngày 19-20 tháng § năm 1966 Tự

Hội nghị có các đồng chi Lé Hién Mai, Tran Van Quang, Truong Céng Can, Vi

Dam Quang ‘Trung và ‘Tran Son Déng chỉ Lê Thanh, Tham mưu trưởng và đồng chí

Lãng,

Nguyễn leh Tỷ, Phỏ tham mưu tưởng quân khú được mới dự Văn bản lưu tại bảo miệt Quin khu 4

28

Trang 33

Mai Xuân Điễn; anh hùng cảm tử phá bom từ trường Vũ Làng út một mình

điều khiển chiếc canô 90 sức ngựa với tốc đô cao kích thích cho bom nố để

thông tuyển; các “trưng đội thép” xung kích trên các đoạn đường ác liệt, các

trạm điều chính trôn các trục đường ở Nghệ An, tiêu biểu như oác chiến sỹ ở

'ruông Bổn, Bến 1huý rồi phong trào thí đua sôi nỗi ở các đơn vị: công

trường 50, 12A, Quyết Thing, bén pha Ron, Gianh, Quin Hau, Xuan Son,

Tong Pia (Quang Binh)

Với phong trảo “Toàn đân làm giao thông vận tải” đã thu hút được sự

tham gia, đóng góp tích cực của nhân đân trên dịa bàn Khu 4 Ô Thanh Hoa,

các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên đã trồng và bão vệ dược trên 13 vạn cây

các loại, nguy trang được gần 100 cầu cống lớn nhỏ, có tác đựng che mắt

dịch; đặc biệt dã làm dược 2 cầu nghỉ trang ở Vay vả Ghép có tác dụng thu

hút bom đạn địch, hạn chế bớt sự đánh phá của chúng vảo các trọng điểm Ở

Nghệ An, từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966 đã huy động gân 2 tiéu

ngảy công ứng cứu bảo đảm giao thông và sửa chữa các tuyển dường số 7,

15 mở rộng các trọng điểm lruồng Bổn - Cỗ Văn - Ru ‘Trét va lam đường tránh, ở Quảng Bình lại có sàng kiến áp dụng chiến thuật “sâu do” trong vận

tải Hàng vào bắc Gianh được rãi ra nhiều bến từ xã Quảng Phúc lên đến xã

Quảng Trường, Cảnh Iloá Khờ có tỉnh thần của nhân dân thuộc lòng công

thức: “Bang uÿ lả chủ hàng, dân quân lả công nhân hắc xếp, nhả dân là kho

tảng” mà hảng hoá của Nhà nước luôn được bảo đảm an toản lrong chiến

dịch vân tải VT5, chiến dịch tiếp nhận gạo từ tàu THồng Kỳ (Trung Quốc) tại

dao Hon La (tinh Quang Binh), d& huy động hang van người tham pia, bốc dỡ

hàng chục vạn tân hàng về nơi an toàn chỉ bằng các phương tiện tự có của nhân dân

Chiến trường cảng dánh lớn, việc báo dâm nhu cầu cho chiến trường

miền Nam, Lào và Mặt trận đường số 9 - bắc Quảng Trị ngảy cảng tăng Năm

29

Trang 34

1966, khối lượng vận chuyển tăng gấp đôi năm 1965, trong khi cường độ

oanh tạc của địch trở nên đữ dội, ác liệt hơn nhiều Sơ với năm 1965, chỉ

riêng số bom nỗ chậm của địch ném xuống đường sá, cầu phả ở Khu 4 năm

1966 tăng 4 lần và năm 1967 tăng 18 lần Trên các đoạn đường hiểm yếu phía

'Tây, các bến vượt, phương tiện vượt sông và vận tải, các chân hàng vả hệ

thống oầu cống là mục tiêu đánh phá liên tục của không quân Mỹ Cử mỗi

tuần trăng, trước mỗi đợt ngừng bắn, trước mủa mưa, đợt mưa, dịch tập trung,

đánh hỏng đường sá, cầu, ngầm, gây nhiều khỏ khăn cho ta trong việc khắc

phục hậu qué va tỂ chức vận chuyển Giao thông vận tãi trên dịa bàn Khu 4 ngây cảng trở nên nóng bỏng, dầy gian khổ, hy sinh Trước tình hình đó, từ

tháng 12 năm 1966, Trung ương Đảng và Quân uy Trung ương giao cho Bộ

Tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy thống nhất các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải trên các tuyến đường chiến lược số 1, 7, 8, 12, 15 thuộc địa bản Lực lượng,

vận tải Quân khu tổ chức thêm ba binh trạm mới, hình thành hệ thống binh

trạm (1, 2, 3, 4, 5), bố trí trên 6 khu vực: Vĩnh - Chu Lễ - Gianh - Lơng Đại -

'Irường lhủy - 1hái Ihủy Hình thức tô chức bmh trạm như một đơn vị hậu

cần tổng hợp vừa tiếp nhận, đự trữ, cấp phát cơ sử vật chất, trang bi, vũ khí kỹ

thuật vừa vận chuyển đảm bảo cho một hướng chiến thuật hoặc chiến dịch

Theo đó, cơ quan bảo đảm giao thông được củng cế từ tỉnh đến xã, cơ quan

quân sự tĩnh, huyện và các công ly, phòng giao thông làm tham mưu gho cấp

uy Cae dia phương phát triển thêm lực lượng bảo đảm giao thông tại chỗ, lầy

lực lượng giao thẳng công binh lam chủ lực, thanh niên xung phong làm nòng

cốt, kết hợp giữa lâm giao thông thường xuyên với tổ chức các chiến dịch

ân dân các địa phương đã củng lực lượng bảo đảm giao thông mở 619km

dường vòng, chuẩn bị 1.319.859m”dất, 152 384mÊ đá du trữ Lực lượng của

Hộ Giao thông vận tải và các tỉnh tập trung xây dựng nhanh 462km dường

mới trên các tuyển đường số 20, 21, 22A, 22B và 15; lãm 1.000 cầu gỗ,

Trang 35

1.515m cầu phao, 88 pha Các cầu bị hồng có cầu thấp, cầu dự bị; nơi nước cạn thi làm ngầm Mỗi điểm vượt sông đều có từ ha đến bốn bến, mỗi vùng

trọng điểm địch đánh phá, có hai tới ba đường vỏng tránh Khân dân đóng

góp hon 1 triệu ngày công san lấp hồ bom, sửa chữa đường sá, làm đường

giao liên, đường vỏng tránh và các thiết bị báo hiệu, trồng cây nguy trang cầu

công, bến vượt: lâm âu giả, phả giả đề nghĩ bình lừa địch Đến tháng 12 năm

1967 Thanh Hoả đã mở thêm và sửa chữa 200km trên tuyển dường chiến

lược, 784km đường liên huyện, hơn 1.500km đường thôn xã, làm mới 2.115m

cầu phao bằng luồng 21 phả loại 18 tắn Tỉnh Hà Tĩnh lam mới và sửa chữa

122 lượt cầu gỗ, làm thêm 8km dường ray, 103km dường dây thông tin phục

vụ bảo đảm giao thông Tỉnh Nghệ An tổ chức nạo vét 29km kênh nhả

T.ẽ |32; tr.185-186]

lực lượng vận tải do Hộ va Quân khu tổ chức được bố trí theo các cung,

trạm do các binh trạm quản lý Ngoài ra, còn có các lực lượng của tỉnh đội và

các dơn vị quân đôi được chính quyền và nhân dân giúp đỡ dã tự dâm nhận 40

đến 60% tổng, khối lượng vận chuyển

Trên các tuyển giao thông thuộc địa bàn Khu 4, bên cạnh 600 đội dân

quân - công binh gồm 3.578 người ở Nghệ An, Ha Tĩnh, 132 đội quân xưng,

kích ở Quảng Bình, các huyện trọng điểm trong quân khu đều tổ chức đại đội

chú lực bảo đảm giao thông 273 đội rà phá bom TN bằng các dụng cụ thô sơ

được tổ chức huấn luyện và đưa vào hoạt động Cán bộ, chiến sĩ ở 140 dai

quan sát cắm tiêu bơm TN và bom nỗ chậm được bố trí ở các trọng điểm đánh

pha của dịch thực sự là những con người gan vảng, da thép lúc địch ném

bom, đánh phá, họ có mặt tại vị trí quan sát từng đoạn đường, tùng khúc sông

dánh đấu diém bom rơi, quá nảo đã nổ, quả nảo chưa nổ Vừa dứt tiểng máy

bay, các chiến sỹ nhanh chóng bỏ vào giữa “túi bom” làm nhiệm vụ Tiểu

biểu như tiểu đoàn 27 công binh với các đồng chí: Nguyễn Tin Kiéng, V5

Trang 36

Xuan NG, Ila Tuy Ty, Trần Ngọc Mật, Cao Viết Danh, Nguyễn Văn Nhỏ,

Nguyễn Đức Điểm Đỏ là trung đội nữ dân quân công binh đo Võ Thi Đởn

chỉ huy dủ trong điều kiện sống chết chỉ tac gang vẫn kiên quyết không rời

trận địa Cả trung đội của chị đã bám chắc, trụ vững trên đoạn đường này suốt

thời gian địch đánh phá ác liệt, bảo đầm mach mau giao théng [32; tr.188]

Bang sự nỗ lực lớn, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã phá được thế

độc tuyển, don luéng Toi dung luc dich đánh ở trọng điểm này ta mở chiến

địch vận tải ở chỗ khác Trong các đợt không quân Mỹ ngừng hoạt động, lực

lượng giao thông vận tái tranh thủ mở các chiến dịch vận chuyển, tạo chân hang dự trữ, tạo ngudn hàng liên tục Nơi nào địch đánh phả quyết liệt, không

thé phát triển đường ô tô thi ta tổ chức vận tải thô sơ bằng gùi, công, xe thổ,

xe ba gác hồ trí theo từng chặng ngắn Nhờ công tác bảo đấm giao thông tốt

vả tổ chức vận tải đạt hiệu quả, trong năm 1967 hảng vào Quảng Binh ting

gap 2,67 lin so véi nim 1965 va 19 lần năm 1966 Kế hoạch van chuyển cho

Mặt trận dưỡng 9 dạt 360%; vận chuyển cho Irung- Hạ Lào dạt 134% Khối lượng hàng vận chuyển bằng đường sắt vào Nghệ An năm 1967 tăng 31% so

với năm 1965, chiếm 53% tông khối lượng vận chuyển Khối lượng vận

chuyên đường sông, đường biển tăng: Quảng Bình tăng 322 lần so với năm

1966, chiếm 14% tổng khối lượng vận chuyển, Nghệ An tăng 147 lần [32;

tr.187-189]

Sau cuộc Tổng tiến công 'tết Mậu Thân (1968) của quân và dân ta trên

chiến trường miền Nam và thất bại trong chiến tranh phá hoai mién Bac (1965- 1968), cudi tháng 3 năm 1968, Mỹ tuyển bố “xuống thang” chiến

tranh, “ném bom hạn chế” Nhưng thực chất của quyết định này là Mỹ thực

hiện thủ doạn bố “diện”, tập trung “dánh điểm” Không quân và hải quân Mỹ tập trung mọi nỗ lực dánh phá ngăn chặn dịa bản từ vĩ tuyến 20 trở vào Cuộc

đọ sức, đầu trí giữa một bên tiến hành chiến tranh ngăn chặn với một bên tiên

Trang 37

hành chiến tranh chẳng ngăn chặn đã được đấy lên đỉnh điểm ở “vùng cán

xoong” Tạp chí không quân (Mỹ), tháng 4 năm 1969 viết: “liên một diện

tích hẹp bằng 1⁄4 miễn Bắc, số trận ném bơm tăng 2,6 lần, cén khéi lượng,

mật độ bom, đạn má Mỹ rái xuống lăng 20 lần

'rước tình hình đó, đễ tăng cường công tác tổ chức, chỉ huy bảo đảm

giao thông vận tải, ngày 3 tháng 7 năm 1968, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tri vé việc tăng cường hơn nữa việc lãnh dạo và chỉ đạo bảo dám

GTVT ở Khu 4, trong đó quyết định: Bỗ sung đồng chí Phan Trọng Tuệ - Bộ

trưởng Độ GTVT làm Trưởng ban chỉ đạo báo dám GTVT; dồng chí Lê Quang Hỏa làm Chính ủy, dâm nhiệm Phó ban là các đồng chí: Lê Văn Tri -

Phó tư lệnh Phòng không - Không quân; Iloàng Văn Thái - Tổng cục trưởng

Tổng cục Hậu cần Tiên phương, Nguyễn Tưởng T.ẫn - Thứ trưởng Bộ GTVT, 'Tiếp đó, để tăng cường tổ chức hệ thống chỉ huy thống nhật bảo đảm Œ

Khu 4, ngày 2-8-1968 Dan Bí thư ra Thông trí nêu rõ: Thánh lập Bộ Tư lệnh

Bảo dim GT'VT Khu 4 (thay Ban Chí dạo bảo đâm ŒIVT

Khu 4 trước dây)

Bộ 1ư lênh nảy đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Irung ương, Bỗ

Quốc phòng và của Thường vụ lội đồng Chính phủ Thanh phần Bộ Tư lệnh

Bao dam GTV'T Khu 4 gồm

! Tư lệnh: Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng Bộ GTVT

+ Chính ủy: Thiếu tướng Lê Quang Hỏa, Chỉnh ủy Quân khu 4

+ Phé 1ư lệnh:

- Đại tá Hoàng Văn Thái, Chủ nhiệm Tổng cục Liậu cin Tiền phương

(sau này dỗi thành Bộ Tư lệnh 500}

- Dông chí Nguyễn Tường Lân, Thứ trưởng Bộ GTVT

- Đại tả Lê Văn Trị, Phỏ Tư lệnh Phỏng không - Không quân

- Đẳng chí Chu Mạnh, Chú tịch UBHC tỉnh Nghệ An

- Đồng chí Nguyễn Tiến Chương,Chủ tịch UBIIC tỉnh IIả Tĩnh

ue ors)

Trang 38

- Đằng chí Cé Kim Thành, Chủ tịch UBIIC tinh Quảng Binh

Ở các tính Nghệ An, IIà Tĩnh, Quảng Bình thành lập Ban Chỉ huy bảo

đấm GTVT do ba đồng chí vừa làm Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo đểm GTVT

Khu 4 đồng thời kiêm Lrưởng ban [15: tr.324-325-326] Lừ đó, dưới sự chỉ

huy thống nhất, chặt chẽ của Bộ Tư lệnh bảo đảm GTVT Khu 4 và Dan Chỉ

huy báo dám GTVT các tỉnh, với lực lượng của Bộ tăng cường (ba sư doản

phỏng không 367, 377, 368, một sư đoàn pháo bình 351, hai trung đoàn công

bình, năm tiểu đoàn vận tãi cơ giới) và lực lượng phòng không của quân khu

(6 trung doàn phòng không, 4 tiểu doàn công bình, 2 tiểu doàn vận tải, 528

đội trực chiến của đân quân các tỉnh) được bố trí trên các khu vục trọng điểm:

Cầu Cấm, Phương Tích, Bến Thuy, sông La, Đồng Lộc, Xuân Sơn, Long Đại,

Linh Cảm các lực lượng mặt dắt đã kiên cường dánh trả có hiệu quả không,

quân, hải quân địch, bảo vệ tuyến chí viện thông suốt

Với sự cố găng nỗ lực của các cấp, các ngành, sức mạnh chiến tranh nhân din - quan din lâm vận tải, kết hợp các hinh thức, phương tiện vận tải

thô sơ, truyền thống với cơ giới; kếi hợp vận tải bằng đường bộ, dường sông,

đường biển, đường sắt chiến đấu trong thể trận hiệp đồng binh chủng; từ vận

chuyển nhỏ lê ta đã tiến tới tế chức chiến địch vận tâi VT5 - chiến địch 500,

giảnh thẳng lợi, dưa khối hượng hàng chuyển giao qua tuyến trong năm 1968

tăng hơn năm 1967,

'Irong hơn 7 tháng (từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1968) “ném bom hạn

chế" trên địa bản Khu 4 ta đã huy động được 10 triêu lượt người ra mặt

đường, khôi phục và làm mới 2.500km dường cơ giới, }73 đường gong,

đóng mới hảng chục phả, cầu phao, 200 thuyền gỗ Khối lượng hàng vận

chuyển vào miền Nam và Lào tăng gắp 2 lần so với năm 1967 Chiến thắng

5 Xin xem thêm nội dung Thông trị ở phần Phụ lục.

Trang 39

trên mặt trận giao thông vận tải ở Khu 4 góp phan quan trọng đánh bại cuộc

chiến tranh phá hoại lần thứ nhất trên miễn Bắc

Trong cuộc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù trên mặt trận bảo đảm giao

thông vận tải ở khu 4, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị vả Quân uỷ rung, tương, trực tiếp là Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 4, quân và dân ta trên địa

bản đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệL, hy sinh, thực hiện thẳng lợi

nhiệm vụ chính trị cấp trên giao Dó là thắng lợi của chiến tranh nhân dân

phải triển cao với sức mạnh Lổng hợp cúa nhiều nhân tố: sức mạnh của chính

trị - tình thần, của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ dạo chiến tranh nhân dân của Đáng

vả sức mạnh vật chất của cả dân tộc và thời đại được nhân lên gap bội Thực

tế diễn biển cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho chúng ta thấy rõ: mỗi bước trưởng thành, chiến thắng trên mặt trận bảo dam giao thông van tai Khu

4 đều gắn liền với sự phát triển chung của cuộc kháng chiến Thắng lợi trên

mặt trận bảo dăm GTVT trong chống “chiến tranh phả hoại” lần thứ nhất là

thăng lợi có ý nghĩa tạo đà cho thắng lợi trong cuộc chiển đầu chẳng chiến

tranh phá hoại lần thứ hai (1972); góp phần quyết định wio việc duy trì, giữ

vững và tăng cường sự chỉ viễn toàn diển, liên tục của hậu phương lớn miễn

ắc cho tiền tuyến lớn miễn Nam - một nhân tố bảo đảm cho thắng lợi vĩ đại

của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1.3 Hảo đảm giao thông vận tải ở Hà Lĩnh trong chỗng chiến tranh

phá hoại lẫn thứ nhất

Ila Tĩnh cũng như các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình năm toan bộ trên phần

cuối của tuyển đường trung chuyển Hắc - Nam Đặc diểm địa hình nơi dây rất

đa dang và phức tạp, đồi núi chiếm 0% diện tích, phía trên là núi rừng

Trường Sơn, phía dưới là biển Với địa thể đắc và hẹp, lại có hệ thống sông ngôi day đặc với nhiều nhánh sông nhỏ nên dé bi chia cắt khi có bão, lụt hay

bị địch đánh phá Khí hậu cũng 14 một thách đố đữ dẫn với người dân nơi đây -

ry a

Trang 40

mùa khô bạn thì nẵng cháy da với những cơn gió Tây Nam khô nóng, mua xnưs thì ngập lụt với những trận bão lớn để bộ

Là một tỉnh có nhiều trục đường giao thông chiến lược quan trọng di

qua: quốc lộ 1A nối liền Bắc- Nam chạy dọc theo vùng đồng bằng, đi qua các

huyén Nghi Xuan, Dire ‘Iho, Can Lộc, Thạch Hà, Cắm Xuyên vả Kỳ Anh dải

149 km; quốc lệ 15A chạy ven triển núi Trường Sơn vả tỉnh lộ 8, Hà Tĩnh là

địa bản có nhiều tuyến chỉ viện chủ yêu cho chiễn trường miền Nam và nước

bạn Lào Nơi đây lại có bờ biển dài 130km tương đối bằng phẳng với 4 cửa

biển: Cửa Hội, Cửa SóI, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu rất thuận liện cho thuyền

bẻ ra vào đánh cá và vận chuyển hang hod Hệ thống đường thuỷ ở Hà lĩnh

hoạt động theo hai sông chính là sông Ngàn Thế (Hương Sơn) và sông Ngàn

Sâu (Hương Khê) chảy về Linh Cảm nhập thành sông I.a, qua huyện Đức Thọ sau đó nhập với sông I.am qua huyện Nghi Xuân đỗ ra Cửa Hội Ngoài ra còn

có thể vận tải hàng hoá bằng thuyền nhỏ trên các sông khác với độ dai gin

500km như sông Nghèn, Rảo Cái, sông Quyền, kênh nhả 1.8 Với những dặc

điểm đó, Hà lĩnh đã trở thành một điểm tranh chấp ác liệt giữa ta với địch

trên mặt trận GTVT, đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của để

quốc Mỹ

hân thấy rõ vị trí hiểm vếu của hệ thống giao thông IIà Tĩnh trên “vùng

cán xoang” Khu 4, để quốu Mỹ đã cố gắng đến mức tối đa hỏng chặn tuyến

vận chuyến huyết mạch của miền Bắc qua vùng đất này "Irong cuộc chiến

tranh phá hoại lần thứ nhất, sau mấy ngày đầu đánh vào các cơ sở kinh tế và quốc phỏng, tử tháng 4-1965, để quắc MỸ tập trung đánh phả vào giao thông,

vận tải Không quân Mỹ đánh liên tiếp ngày cảng nhiêu và cảng ác liệt vào hệ

thống dường sả, cầu cống, bến xe, bến phả ở Hà Tĩnh Không chi ném bom

phá hoại bằng không quân, dich còn sử dụng tau chiến bắn phá bừa bãi từ

tiến vào đường số 1, trên đọc các con sông ven biên và xóm làng từ đường số

Ngày đăng: 17/05/2025, 20:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w