1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn khảo sát một vài vấn Đề Địa danh ninh bình

175 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình
Tác giả Phạm Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn GS.TS. Trần Trớ Dừi
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn học, Địa danh học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 10,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhân dang tin cây của quá trình hình thành, tồn tại và phát triển không những của một công đồng mả cỏ khi của nhiều cộng đồng trong củng một khu vực” Hiện nay, nhu cầu biên soạn từ điện

Trang 1

TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

PHAM THI HONG NHUNG

KHAO SAT MOT VAI VAN DE DIA DANH

Trang 2

Kido sét mot vai véin dé dia danh Ninh Bin — Pham Thi Héng Nhung

DAT HOC QUOC GIA HA NOI -

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỌI VÀ NHÂN VĂN

Trang 4

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

LOICAM ON

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, nhất là những thầy cô đã tân tình dạy bảo cho tôi

suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến G§.TS Trần Trí Dõi, người

đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi

hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các ông Trương Đình Tưởng, Nguyễn

Văn Trò là những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ninh Bình, các cán bộ

UBND các huyện, xã, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình cùng với nhân dân trong vùng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra

khảo sát để có dữ liệu viết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiên luận văn bằng tất cả sự nhiệt

tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiểu sót, rất

mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9gHEt-Sff TỊ90908/00006000308m0009000700000040000280 100”

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cửu

4 Lịch sử vấn đẻ

Trang 5

4.1 Vấn đề nghiên cứu địa đanh trên thê giới am 4.2 Vân đề nghiên cứu địa đanh ở Việt Nam "¬

4.3 Vấn đễ nghiên cứu địa đanh ở Ninh Bình -2001660eeceoo.13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1: MOT VÀI GIỚI THIỆU Đ8UNGUEbi ĐỊA DANH HỌC VA TINH NINH BINH .16 1.1, Địa danh học và một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khải niệm địa danh

1.1.2 Phân loại địa danh

3 Chite năng của địa danh

1.1.4 Đối tượng nghiền cửu của địa danh

1.1.5 Mỗi quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác cười

1.2.1 Vé diéukién te nhién es šitdgtdressssssnau ĐÃ

1.22 Về vị trí giao lưu kinh tế - văn hoá, xã hội

1ã TÊN NÊN Goaiaanssae = ao

CHUGNG 2: DAC DIEM CAU TẠOCỦA DIA DANH CU’ TRU NINH BINH

2.1 Đặc điểm địa danh cư trú Ninh Bình về mặt nguồn géc

3.1.5 Địa danh cỏ nguồn gốc ngôn ngĩt khác

2.2 Dac điểm địa đanh cư trú Ninh Bình về mặt câu trúc

2.2.1.M6 hinh cau trite địa danh

Trang 6

Khdo scit mot vài vẫn đẻ địa danh Nẵnh Bình ~ Pham Thi Héng Nhung

CHUONG 3; PHUONG THUC DINH DANH VA Y NGHIACUA CAC YEU TO CAU TAO DIA DANH CƯ TRÚ NINH BÌNH ere ean

3.1 Một số vẫn đề về phương thức định danh - seventeen

3.1.3.2 Phương thức chuyên hoá

3.2 Đặc điểm ý nghĩa của các yêu tổ câu tao dia danh 3.2.1 Đặc điểm về mặt

3.2.2.1 Ý nghĩa của các yếu tô được cấu tạo nhờ phương thức định danh

3.2.2.2 Tỉnh rõ ràng về nghĩa trong các yếu tố địa danh được thể hiện qua nguồn

3.4.1 Mỗi quan hệ giữa địa danh và văn hoá *higTgHiS.10100006010800/đ88 sonnel

3.4.2, Đặc trưng văn hỏa thê hiện trong địa danh chi các đơn vị cư trú Ninh Bình 72

3.4.2.1 Đặc trưng văn hoá thể hiện qua các thành tổ chung

3.4.2.2 Đặc trưng văn hoá thê hiện qua ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh.72 3.5, Tiểu kết

KẾT LUẬN

YÀTTIRWETEANIEERB, cla esos 624g l9/8⁄s ey ve 80,

Trang 7

DANH MUC BANG THONG KE Bang 2.1.Ké quã phân loại địa danh Ninh Bình theo nguồn gốc ngôn

Bảng 3.1.Thống kê địa danh theo phương thức định danh

Bảng 3.2.Thống kê địa danh theo tiêu chí ý nghĩa của các yếu tô cấu

Trang 8

Khdo scit mot vài vẫn đẻ địa danh Nẵnh Bình ~ Pham Thi Héng Nhung

PHAN MO DAU

1 Lido chon dé tai

1.1 Nghiên cửu địa danh là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và cân thiết

Nó không chỉ làm sảng tỏ những đặc điểm, quy luật hình thánh và phát triển của địa danh, góp phần nghiên cứu ngôn ngữ một vủng miền, một dân tộc, một đất nước ma còn liên quan mật thiết nhiều vân đẻ khác, đặc biệt là mỏi quan hệ giữa ngôn ngữ

với sự phát triển văn hoả xã hội

Địa danh học là một phân ngành khoa học trong ngôn ngữ học.Địa danh

chiêm một tỷ lệ không lớn trong vồn từ vựng học nhưng lại có ỷ nghĩa đặc biệt quan

trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Địa danh được cầu tạo từ chât liệu ngôn ngữ

niên nó chịu ảnh hưởng của những quy luật ngôn ngữ, đó là quy luật ngữ âm, quy luật từ vựng và quy luật ngữ pháp Do vậy, việc nghiên cứu địa danh giúp chủng ta

hiểu thêm về lớp từ cổ, từ địa phương, từ đồng ảm, từ đa nghĩa từ đỏ cỏ thể có

những quan sát và nhận xét ban đầu vẻ sự tiếp xúc của ngồn ngữ giữa các địa

phương và giữa các tộc người khác nhau Địa danh còn là tâm gương phản chiếu đời

sống ngôn ngữ, sự hình thảnh và phát triển của lịch sử ngôn ngữ.Ngoài chức năng đình danh sự vật, nó còn có chức năng cá thẻ hoá đối tượng ngay cả khi những nét

nghĩa đó không còn tỏn tại, đã bị mờ nhoà Thông qua việc khảo sát địa danh, chủng,

ta có thẻ góp thêm sự hiểu biết về đời sông của những cư dân chủ thể của một vùng đất, vùng địa lý cụ thể; hiểu thêm về dau an văn hoá bản địa đồng thời góp phân

quan trọng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ đỏ

Địa danh còn có chức năng phản ảnh và lưu giữ những sự kiện đã diễn ra trong lịch sử, xã hội nên cũng bão lưu những đặc điểm vẻ văn hoá, kinh tế, chính trị của mỗi địa phương, của cả dân tộc Địa danh phản ánh những đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá, do vậy, chúng ta có thể thây “sự ra đời, tổn tại và mất đi của địa danh” không những chịu sự tác động của các yếu tố ngôn ngữ mả còn của những

yêu tổ phí ngôn ngữ như sự di dân, tiếp xúc, vay mượn ngôn ngữ Với những chức

năng như vậy, địa danh trở thành một bộ phận không thể thiểu trong đời sông xã hội “Nó là bức tranh sinh động, là cuỗn từ điển sống về một vũng dat”, “là chứng

Trang 9

nhân dang tin cây của quá trình hình thành, tồn tại và phát triển không những của một công đồng mả cỏ khi của nhiều cộng đồng trong củng một khu vực”

Hiện nay, nhu cầu biên soạn từ điện địa danh, chuẩn hoá địa danh trên các tài

liệu, bản đồ cũng như việc sửa đổi, đặt tên cho các làng xã ở nước ta đang là những vẫn đề đang được quan tâm nên nghiên cửu địa danh cũng ngày cảng được chú trọng, phát triển Vi thế, tuy địa danh không con là một địa hạt mới mẻ trong

ngôn ngữ học nhưng vẫn lả một “mảnh đất màu mỡ” cho những tim tỏi, nghiên cửu của không chỉ riêng các nhà địa danh học mã còn cho những nhà nghiên cửu lịch sử,

địa lý, văn hoá Việt Nam

1.2 Nghiên cứu địa danh tỉnh Ninh Bình cũng hướng đến những mục đích và

ý nghĩa được trình bảy ở trên, góp phân cho việc tìm hiểu một khia cạnh ngôn ngữ

tại một khu vực lãnh thô nói riêng và của Việt Nam nói chung

Ninh Bình lả một vùng đất cỗ đô, đã từng là kinh đô Hoa Lư của nha Dinh va Tien

Lê Vi thế, nghiên cứu địa danh tỉnh Ninh Bình sẽ cho ta một cái nhìn tổng quan vẻ

một khu vực tiếp giáp giữa đồng bằng và miền núi, giữa miễn Bắc và miễn Trung

và có một bê dày lịch sử

Trong quả trình lả Khỏa luận tốt nghiệp đại học, chúng tỏi đã từng tiên hành

khảo sát địa danh của hai xã Trường Yên và Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả địa danh Vì vậy trong Luận văn Cao

học nảy, chúng tôi dự kiên muôn đi sâu vào khảo sát về nguồn gốc ngôn ngữ một số

địa danh chỉ đơn vị cư trủ trong tỉnh, cụ thẻ là những ứên của các xã, thôn, xóm, bản của địa bàn nay Theotén dé tài “Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh

Bình” thì phạm vi nghiên cửu rộng, tuy nhiên trong quả trinh nghiên cửu, chúng tôi

chi xin thu hẹp vào việc khảo sátđịa danh cư trủ ở Ninh Binh vẻ mặt cau tạo và ý

nghĩa

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận văn nay, chúng tỏi tập trung nghiên cứu ve mat cau tạo và ý

nghĩacủa địa danh cư trủ Ninh Bình

Bước đầu khảo sát việc địa danh chỉ các đơn vị cư trú cấp xã, thôn ở địa bản

Ninh Bình sẽ cho chúng ta biết được các đặc điểm và các quy tắc trong việc định

Trang 10

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

danh các đơn vị hành chính ở đây Mặt khác luận văn cũng giúp ta thấy rõ các địa danh đã ra đời, phát huy tac dụng va mat di trong những điều kiện nảo, các phương, thức đặt địa danh, câu tạo và nội dung của các yêu tô cầu thành địa danh Từ đó chúng ta cỏ thẻ khẳng định những đặc điểm có tính chất truyền thong của địa danh

ở tỉnh, vạch ra các tiêu chỉ đẻ đặt địa danh mới hoặc khi càn chuyên đổi địa danh

thành vật danh

Về mặt ngôn ngữ học việc nghiên cứu địa danh ở tỉnh đã giúp ta biết thêm

được một số từ cô nay không còn dùng nữa, vả giúp ta xác định rõ ràng hơn ý nghĩa

của các từ ngữ địa phương

Mặt khác nhờ nghiên cửu ta biết được những địa danh đã bị biến đổi cách

phát âm và cách viết cũng nhờ đó ta có thể kết thúc các cuộc tranh luận vẻ nguồn

gốc các địa danh

Thêm nữa, nghiên cửu địa danh, cụ thể là địa danh ở tỉnh Ninh Bình đã cho

ta biết khá nhiều về quả khử của tỉnh

Về lịch sử, nhiều biển có, sự kiện đã xảy ra trong các chế độ cũ cỏn lưu dâu

an trong địa danh

Về mặt dân tộc học, qua việc nghiên cứu địa danh, ta biết được những dân

tộc đã sống trên một địa bàn nào đó

Về mặt xã hội, nhờ biết rõ nguồn góc va y nghĩa của địa danh chúng ta càng

thêm yêu mền quê hương đất nước Vì vậy ta có thẻ sử dụng những kết quả của việc

nghiên cứu địa danh vào những bải giáo dục lỏng yêu nước cho các thể hệ trẻ - nhất

là học sinh trong các trường địa phương

Ngoài ra, nghiên cứu địa danh chỉ các đơn vị cư trủ cũng để góp phan tim

hiểu về môi liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hỏa của tỉnh Ninh Bình

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các đơn vị cư trủ cấp xã, phường, thôn, phổ, xóm, bản được ghi trong tài liệu

đã công bồ vả do thu thập trên thực địa

Chúng tôi khoanh vùng nghiên cứu trong địa ban tỉnh vì địa danh ở đây có

thể cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tông quát theo cả hai chiều: Không gian (là

Trang 11

vủng đồng bằng tiếp giáp miền núi, là tỉnh cực Nam của đồng bằng Bắc Bộ) vả thời gian (là mảnh đất lầu đời từng là kinh đô) với những tên gọi của đối tượng được hình thành và có thể đã mất đi theo những thời kỉ lịch sử Từ đỏ, có một cách tiếp cận đa chiêu với đổi tượng cân khảo sát trên cả hai mặt đông đại và lịch đại

4 Lịch sử vấn đề

4.1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới

Nghiên cửu địa danh học trên thẻ giới đã hình thành và phát triển rất sớm

Vào giữa những năm 60 của thể kỷ XX, đã có hàng loạt những công trình nghiên

cửu về địa danh và mang lại những hiệu quả tốt đẹp

Tiên phong trong việc xây dựng hệ thống lí luận vẻ lý thuyết địa danh là các

nhà địa danh học Xô Viết như E M Muzaev (1964) với “Những khuynh hướng

nghiên cứu địa danh", lu A Kapenco (1964) “Bàn về địa danh học đông dai” hay

A V Superanskaja “Địa đanh học là gì?” Ngoài ra còn có những nghiên cứu cỏ

nhiều đóng góp về địa danh nỏi tiếng ở Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc

4.2 Vấn để nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vẫn đẻ địa danh cũng được nghiên cứu khá sớm, nhưng chủ yêu

là dưới những góc độ địa lí và lịch sử Nghiên cứu địa danh đưới góc độ ngôn ngữ

chi moi phat trien trong théi gian gan day

Dưới góc độ địa lí, cỏ các bộ sử, địa chỉ như Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Đại

Liệt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên, thê kỉ XV), Lịch triều hiễn chương loại chí (Phan

Huy Chủ), Gia Định thành thông chí (Trình Hoài Đúc), Đại Nam nhất thông chỉ

(cuối thể kỉ XIX)

Cuối thé ki XIX c6 Tén lang xa Viet Nam đâu thế kí VIY (Nghệ An tre ra) chia

Duong Thi The, Pham Thi Thoa dich 1981.Ng6 Vi Lién nam 1982 dịch 7ên làng xã

và địa dư các tỉnh Bắc Kỷ

Dưới góc độ lịch sử cỏ các nghiên cứu của Đảo Duy Anh (1994), Đất nước Việt

Nam qua các đời và của Nguyễn Quang Ân (2003), Việt Nam - những thay đôi địa

danh và địa giới hành chính 1945 — 2002.

Trang 12

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

Dưới góc đô ngôn ngữ học, tới giữa thẻ kỉ XX, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, vấn đẻ nghiên cửu địa danh mới hình thành với bài nghiên cứu của Hoàng Thị Châu, Mối liên hệ về ngôn ngữ cô đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964), Thử bàn về địa danh Liệt Nam (1976) của Trần Thanh Tâm Sau này, có những cỏ

nghiên cửu mang tính chuyên sâu của các tác giả

~ Trần Tri Dõi (2001) trong [22] đã đề cập đến nhiều nội dung quan trong ve dia danh học cũng như về một số địa danh cụ thể, như Về địa danh Cita Lo; Vé mot vài tên gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa; Lê địa danh biên giới Tây Nam Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh

~ Một số luận ản Tiền sĩ của các tác giả: Lê Trung Hoa với Những đặc điểm

chỉnh của địa danh ở thành phố HCM (1990) Nguyễn Kiên Trường (1996) với

Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác), Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004) củaTù Thu Mai, Những đặc điểm

chính của địa danh Dak Lăk (2005) củaTrần Văn Dũng,

~ Một số bài viết về địa danh ở từng vùng cụ thể, như: Nguyên Nhã Bản- Trịnh Thi Nhu Thuy voi Vé dia danh Hội An, Hữu Dị Bước đầu khảo sát về địa danh

huyén Yén Thanh, Nghé An, Phan Xuan Dam - Nguyên Nhã Bản, Địa danh Nghệ

Tĩnh qua thơ ca dân gian, Tran Văn Phương với Những đặc điểm chính về địa danh

Nghi Lộc - Cửa Lò, Nghệ -4n

~ Ngoài ra còn có Những van dé dia danh học Liệt Nam (2000) của Nguyễn ăn

Au, S6 tay dia danh Liệt Nam (1995) củaÐinh Xuân Vinh, Số tay dia danh V Nam (1998) của Nguyên Dược- Trung Hải, Từ điền bách khoa địa danh Hải Phòng (1998) Ngõ Đăng Lợi (chủ biên), Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn - thành pho

Hồ Chí Minh (2003) củaLê Trung Hoa - Nguyễn Định Tư

Trong các công trình khoa học đỏ thì GS Hoang Thi Chau va sau nay la GS.TS

Trân Trí Dõi đã đi sâu vào nghiên cứu địa danh theo hưởng Ngôn ngữ học so sảnh —

lịch sử và đã chỉ ra được nguồn gốc va sự biển đổi của các địa danh qua các thời kỉ lịch sử Đây cũng chỉnh là hướng nghiên cứu mà chúng tôi muôn theo đuổi trong,

Luan van nay

Trang 13

4.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Ninh Bình

Nghiên cứu địa danh học ở Ninh Binh cũng đã cỏ nhiều công trình, tiêu biểu

như : Dĩ đích và danh thắng Ninh Bình, Lã Đăng Bật - Phạm Đình Nhân, Trung tâm UNESCO, 2002; Cé dé Hoa Li, La Đăng Bật, NXb VHDT, 2005, Ninh Bình toàn tình địa chỉ khảo biên, Phạm Tử Mẫn, Nxb Chỉnh trị quốc gia, 2001; Địa chí Ninh Bình, Viện khoa học xã hội và UBND tỉnh Ninh Bình, 2009

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Tu liéu va xử lí tư liệu

5.1.1 Tư liệu

Với mục đích phản anh tương đổi day đủ và chính xác, có hệ thông về địa

danh của xã, chúng tôi đã thu thập và sưu tầm tư liệu từ các nguồn sau:

~ Tư liệu điển đã: Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất Nguồn tư liệu này

khai thác từ những cán bộ, nhân dân địa phương, từ những ghi chép của những dòng,

họ lâu đởi trong xã

~ Tư liệu thành văn: Nguồn tư liệu nảy lấy từ trong các sách, bao viet ve dia phương, những tư liệu lịch sử và hiện đại Lẫy từ nguồn lưu trữ của nhà nước qua mỗi thời kỉ

~ Các loại bản đỏ địa hình, hành chính qua các thời kì khác nhau

Các cử liệu trên là những cứ liêu chính đề clúng tôi tap hop va xtr li théng tin

5.1.2 Xử lí tư liệu

Những tư liệu vẻ địa danh chỉ các đơn vị cư trú Ninh Binh được trình bảy theo thử

tu sau:

1 Dia danh (tén gọi đôi tượng)

2 Loại hình địa đanh (tên gọi chung chỉ đối tượng)

3 Tên gọi khác của đối tượng (tên gọi trước kia hoặc song song tôn tại với

tên gọi hiện nay)

4 Số lượng các yêu tổ câu thành địa danh

Š Phương thức cầu tạo địa danh

6, Nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh

Trang 14

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

7 Thử xác định nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tô câu thành địa danh

§ Vị trí xác định của địa danh

Sau khi có được những tư liệu xử lí ban đầu như vậy, chúng tôi tiến hành

phân loại các địa danh theo mâu rồi thông kê, tổng hợp thành sơ đồ Trên cơ sở đó chúng tôi đưa ra những nhận xét ban đầu về đặc điểm địa danh chỉ các đơn vị cư trú Ninh Bình Ngoài ra, trong điều kiện có thé, chúng tôi còn so sánh với địa danh những vùng khác để có cái nhìn hệ thông hơn vẻ nghiên cứu địa danh nói chung

Như vậy, với cách xử li tư liệu theo hai hướng vửa thu hẹp, đào sâu vừa mở rộng;

vừa cụ thê vừa khải quát nảy, chúng tôi hi vọng sẽ khảo sát địa danh chỉ đơn vị cư trú Ninh Bình một cách có hệ thông và đúng phương pháp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quả trình thu thập tải liệu chủng tôi sử dụng phương pháp nghiên cửu

điện đã Chúng tôi trực tiếp đi xuống địa bản cần khảo sát, phỏng vân những người

dân địa phương sau đó kiểm định lại trên bản đỏ vẻ địa danh, vị trí địa danh

Khi tiên hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp quy nạp Trên cơ

sở những dữ liệu thu thập và xử lí, trên nên tảng những con số được thông kẻ, phân tích, chúng tôi đưa ra một số nhận định tông hợp vẻ vẫn đè được nghiên cứu

Khi da co một số lượng tư liệu trong tay, chúng tôi sử dụng thao tác thông kê

ngôn ngữ học (định lượng và định tính) Căn cứ vào những số liệu ban đầu được phân tích, chúng tôi tông hợp lại thành những nhận xét ban đầu về nội dung được

nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng những thao tác nghiên cửu của các khoa học thuộc các ngành khác như Lịch sử học, Địa lý học, Văn hoá học để có được

những kiến giải ban đầu về nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh

Trên cơ sở những nhận xét ban đầu, chúng tôi tiên hảnh mô tả những đặc điểm về mặt câu tạo, ý nghĩa và những biêu tượng văn hoá của địa danh Bước dau

cỏ một hướng nghiên cửu tỏng thể về địa danh chỉ các đơn vị cư tri Ninh Binh

trong không gian vả thời gian, trên cả hai mặt đồng đại và lịch đại

Trang 15

6 Bố cục của Luận văn

"Ngoài phân mở đầu vả kết luận, phân nội dung gồm có 3 chương

Chương 1: Một vài giới thiệu chưng

1.1.Những lí thuyết về địa danh đã được công bỏ

1.3 Vài nét giới thiêu về địa bản tỉnh Ninh Binh

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh

2.1.Kết quả thu thập và phân loại

3.2 Đặc điểm câu tạo địa danh

nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh

số vân đẻ về phương pháp định danh 3.2 Đặc điểm ý nghĩa của các yếu tỏ câu tạo địa danh

Chương 3:

3.1 Mỗi

3.3 Mỗi liên hệ giữa tên Hán Việt và tên Nôm của một số làng ở Ninh Binh

3.4 Mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ vả văn hóa

3.5 Tiêu kết

Trang 16

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

PHAN NOI DUNG

CHUONG 1: MỘT VÀI GIỚI THIỆU CHUNG

VẺ ĐỊA DANH HỌC VÀ TỈNH NINH BÌNH

1.1 Địa danh học và một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm địa danh

ải niệm dia danh “topomina” hay “toponoma” bat nguồn từ tiếng, Hi Lạp

có nghữa là “tên gọi điểm địa lý”: topos - địa điềm, onoma/onima — tén gọi

Hiện nay chưa cỏ một khải niệm thống nhất vẻ địa danh, mỗi nhà nghiên cứu

lại đưa ra những khái niêm của riêng mình Nhả ngôn ngữ học Nga A V

Superanskaja “Địa danh học là gì?” cho rằng “Tên gọi các địa điểm được biểu thị

bằng những từ riêng Đó là tên gọi địa lý, địa danh hay toponimia` và chỉ tí Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định

vị xác định trên bê mặt trái đất" [Dãn theo 44 tr.20]

Ở Việt Nam cũng có rất nhiều cách định nghĩa vẻ địa danh Từ điển tiếng Liệt cho rằng “Địa đanh là tên đất, tên địa phương” [61] Theo Từ điền Hán Liệt thì

“Địa danh là tên gọi các miền đất nước”[O, tr.220] Tác giả Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, tên núi, làng mạc hay tên các địa

phương, các đân tộc" [6, w.5] Tac giả Lê Trung Hoa lại quan niệm: * Địa đanh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thô (không có ranh giới rõ ràng) và các công

trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [44 tr.21] Còn Nguyễn Kiên Trường, lại cho rằng “Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có

vị trí xác định trên bê mặt trái đât' [S2, tr.16]

Từ những định nghĩa trên, chủng ta có thể thấy nội hàm của địa danh gồm

những thuộc tỉnh sau

Thử nhất, địa danh là tên gọi các đổi tượng địa lí, nằm trong lớp từ vựng của

một ngôn ngữ nên nó mang đây đủ những đặc tính của ngôn ngữ học, nó hoạt động

và chịu chỉ phối của những quy luật ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Trang 17

Thứ hai, chức năng chỉnh của địa danh vả định danh, cá thể hoá và khu biệt

đối tượng Nó có tác dụng gọi tên các sự vật cụ thê hiện hữu trên bề mặt trái đất,

giúp con người nhận thức được thế giới khách quan

Thử ba, những đổi tượng được gọi tên phải là các đối tượng địa lí cỏ vì trí xác định trên bẻ mặt trái đất, cỏ thể tự nhiên hay không tự nhiên

Như vậy, việc có rất nhiêu cách hiểu về địa danh đã cho thây sự phức tạp va

đa dạng khi nghiên cứu vẫn đề này Trong Khoá luận nảy, ching tôi chọn cách hiểu

vẻ địa danh của A V Superanskaja “Địa đanh là những từ ngữ chỉ tên riêng của

các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" làm cơ sở chính cho việc

khảo sát những địa danh cư trú ở tỉnh Ninh Bình

1.1.2 Phân loại địa danh

Trong thực tế, số lượng địa danh tôn tại rất lớn và phân bồ rộng rãi nên phân

loại địa danh lả một vấn đẻ rất phức tạp Tuỳ theo những phương pháp vả mục đích

phân loại, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những tiêu chí phân loại khác nhau Vì thẻ,

hiện nay chưa có một cách phân loại nào là chung cho mọi công trình nghiên cứu

Các nhà địa danh học phương Tây và Xô Viết phân loại địa danh theo hai

tiêu chỉ: Theo nguồn gốc ngữ nguyên của các yêu tô câu tạo nên địa danh vả theo

đối tượng mà địa danh phản ảnh Hai nhả nghiên ctu G-L.Smolisnaja & MV Gorbanevskij chia địa danh thành 4 loại: Phương đanh (tên các địa phương), sơn

danh (tên núi, đồi, gỏ ), thuỷ đanh (tên các dòng chảy, ao, hỏ ), phổ đanh (tên các đối tượng trong thành phổ) A.V Superanskaja cụ thể hơn, lại chia thành 7 loại

Phương danh, thuỷ danh, sơn danh, phố danh, viên danh (tên các quảng trường), lộ danh (tên các đường phổ), đạo danh (tên các đường giao thông) [Dẫn theo 44]

Các nhả nghiên cửu địa danh ở Việt Nam cũng đưa ra những cách phân loại

của riêng minh Nguyễn Văn Âu phân chia địa danh thảnh các kiểu, nhóm khác nhau dựa trên những đặc tính cơ bản về địa li cũng như ngôn ngữ, lịch sử Tác giả

phân loại dựa trên phương pháp tiền hảnh địa lí tổng hợp, sắp xếp theo các kiểu

khác nhau theo các đổi tượng tự nhiên, kinh tế xã hội Hệ thông nảy gồm 3 cập chủ

yêu: Loại, kiêu, dang địa danh Loại địa danh được chia thành 2 loại: Địa danh tự

nhiên và địa danh kinh tế - xã hội Trong 2 loại đó lại được chia thành 7 kiểu địa

Trang 18

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

danh là: Thuy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh / thành phố, quốc gia Các kiểu địa danh này lại được phân thành 12 dang địa danh là : Sông ngòi, hồ đâm, đôi múi, hải đảo, rừng rú, truông / tráng, làng /xã, huyện / quận, thị trần, tình, thành phố, quốc gia[6, tr5] Mỗi dạng lai phân thành những á dạng khác nhau Cách phân loại này rất phức tạp

Lê Trung Hoa lại dựa vào tiêu chí tự nhiên vả không tự nhiên đề phân địa danh thành phố Hỗ Chí Minh thành 2 nhỏm lớn: Dia danh chỉ các đối tượng tự nhiên (địa hình): nủi, gò đôi, sông, rạch và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo: chỉ các công trinh xây dựng thiên vẻ không gian 2 chiều, chỉ đơn vị hảnh chính, chỉ

vùng Mặt khác, dựa theo ngữ nguyên, tác giả chia thánh 4 nhỏm: Địa danh thuần

Liệt, địa danh Hán Liệt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và địa danh

bằng các ngoại ngữ [44, tr.1], Tit Thu Mai [56, tr.23] khi phân loại địa danh Quang

Trị cũng theo quan điểm phân loại nảy của Lê Trung Hoa

Nguyễn Kiên Trường khi phân loại địa danh Hải Phòng ngoài kế thừa hai

tiêu chí của Lê Trung Hoa là tiêu chỉ tự nhiên / không tư nhiên vả tiêu chỉ ngôn ngữ

cỏn sử dụng thêm tiêu chỉ thử 3 đỏ lả: dựa vào chức năng giao tiếp có thẻ phân

thành: fên chính thức, tên cô, tên cũ hay các tên gọi khác

Trong những cách phân loại trên, chúng tôi nhận thấy cách phân loại của Lê

Trung Hoa là phù hợp với mục đích và nội dung nghiên cứu của chúng tôi nhất Từ

cách phân loại theo tiêu chí tự nhiên / không tự nhiên kết hợp với tiêu chỉ ngôn ngữ,

chúng tôi sẽ tiến hành phân chia các địa danh chỉ các đơn vị cư trủ Ninh Bình vả có gắng đưa ra những mô tả cụ thẻ, chính xác về địa danh, những lí do đặt tên, su thay

đổi, chuyển biển và ý nghĩa của những địa danh này

1.1.3 Chức năng của địa danh

Địa danh có chức năng rất cơ bản là định danh vả cá thẻ hóa đối tượng, phan ảnh hiện thực, làm công cụ giao tiếp, Địa danh là tên gọi đổi tượng địa lý (tự nhiên

hoặc nhân văn) Do vậy, địa danh có chức năng định đanh sự vật Tuy nhiên, vi la

tên gọi nên địa danh còn mang chức năng của danh từ riêng lả cá thể hỏa đổi tượng, Nhờ vào các chức năng này, địa danh giúp con người khu biệt đối tượng đề thực

Trang 19

hiện tốt chức năng giao tiếp Và do vậy, địa danh đã trở thành một bộ phận ngôn ngữ cân thiết, không thẻ tách rời đời sông xã hội của chủng ta

Mặc dủ các chủ thê đặt tên và gọi tên không có ý đỏ thật rõ ràng về việc gản

cho địa danh chức năng phản ánh hiện thực, nhưng dâu ân mà họ gửi vào địa danh

đã phản ảnh sự tổn tại khách quan, it nhất ở thời điểm ra đời của địa danh

Bên cạnh chức năng định danh, địa danh còn có chức năng phản ảnh lịch sử Mỗi địa danh hoặc một lớp địa danh đêu ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử - xã hội

nhất định, do đó, nó cũng thê hiện rõ chức năng phân ánh lịch sử ở địa phương Ví

dụ: nhiều địa danh ở Dak Lak đã ghi nhận một sự kiên, một biến có xã hội - lịch sử,

ghi danh một vị anh hùng hoặe một người cỏ vai trò đặc biệt quan trọng trong một

hoàn cảnh lịch sử cụ thể Chẳng hạn Buôn Ä⁄Z4 7huôi: buôn do ông Ama YThuôt làm tủ trưởng; làngLạc Giao: địa danh ghi dau an nơi gặp gỡ của những cư dan

không phải cư dân bản địa - gọi là những người lưu lạc (chỉ người Kinh) trong

những ngay dau chống Pháp ở Tây Nguyên; đường!0-3: ghi lại chiến công của quân

dan ta trong trận đánh mở đâu mủa xuân 1975 - ngảy 10/3 giải phỏng Buôn Ma Thuôt; đường Săm Brăm, con đường lẫy tên của một nhân vật - là người dân tộc

Chăm, cỏ vai trỏ lịch sử trong cuộc đầu tranh chống Pháp ở đây, với "Phong trao

Nước xu"(1930-1936) [Dẫn theo 29]

Ngoài ra, địa danh còn phân ánh đặc điểm văn hóa của một vùng cư

dân (phường Thanh Binh, thén Tân Tiến, thôn Vườn Hoa )

1.1.4 Đỗi trợng nghiên cứu của địa danh

Xác định đối tượng nghiên cửu cũng lả một trong những vấn đẻ còn nhiều ý kiến

bàn luận, ở đây, chúng tôi xin đề cập đền hai khía cạnh của vẫn đề, đó là: 1) Việc

xác định thành tổ nào được gọi là địa đanh trong tô hợp từ (hoặc ngũ); 2) Việc xác

định đối tượng địa lý nảo được gọi là địa đanh trong các đói tượng địa lý Vẻ nội dung nay, chimg tôi tán thành quan điểm của tác giả Lê Trung Hoa [44](S6] Trước

hết, người nghiên cứu cần xác định nội hảm của địa danh Theo quan điểm của

chúng tôi, địa danh là tên gọi các đổi tượng địa lý, bao gồm địa lý tự nhiên vả địa lý

do con người kiến tao Loại đối tượng địa lý do con người kiến tạo lại có thẻ chia

Trang 20

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

lảm hai loại: 1) Loại đối tượng là địa bản cư trú; 2) Loại đối tượng lả các công trinh

xây dựng

Về tên gọi, với loại đổi tượng là địa lý tự nhiên (sông, suối, núi, đôi ) và đổi tượng là địa bàn cư trú thì vẫn đề đã sáng rõ Đa số các nhà nghiên cửu xem đó

là những địa danh Các công trình xây dựng lại có sự "tiếp giáp" với hiệu danh và

vật danh nên vẫn đề trở nên phức tạp hơn Tên câu, đường, chợ, sân vận động, công, vién, dé dang duge xem lả địa danh Riêng tên chủa, đình, miều, nhà thờ, thi van

đề lại không đơn giản Hiện vẫn chưa cỏ sự thông nhất giữa các nhà nghiên cửu Các tác giả của Địa danh Hà Nội, Địa danh Hải Phòng xếp các đôi tượng này vào

địa danh, ví dụ: Nhả Hát Lớn, Nha 312 Kham Thién, Dinh ang Duong, Chia

Thải trong lúc phần lớn các nhả nghiên cứu khác không déng tỉnh với quan điểm

này Tác giả Lê Trung Hoa [44, tr.14] cho rằng: "Tên các công trình thiên về không,

gian hai chiều là địa danh (như tên cầu, đường, công viên ); còn tên các công trình

thiên về không gian ba chiều (như tên chủa, nha thd, trường học, cơ quan ) la hiệu danh" Chúng tôi đồng ý với quan điểm này Việc xác định thành tổ được gọi là dia

danh trong tổ hợp từ cũng có ý kiến chưa thông nhất Một số ý kiến cho rằng địa

danh bao gồm hai thành tố Thánh tổ thứ nhất chỉ loại đối tượng địa lý (tên chung),

thảnh tổ thứ hai khu biệt đối tượng (tên riêng) Ví dụ: thành phỏ Hỗ Chi Minh, huyện Krông Ana, thị xã Hội An, xã Ea Tuôt là những địa danh Quan điểm của

chúng tôi là mặc đủ mỗi địa danh Việt Nam chúng ta đều có thẻ đặt phía trước một

danh từ chung đề chỉ tiêu loại của địa danh, nhưng yêu tổ chung nay không phải lả một thành tổ của địa danh, bởi địa danh là tên gọi một đối tượng địa lý cụ thể nên

nó lả tên riêng, Hiện nay, phân lớn các nhà biên soạn từ điền địa danh chỉ chấp nhân

phân tên riêng trong tỏ hợp tử Dinh Xuân Vĩnh đã xếp địa danh thành phó Hà Nội, thành pho H6 Chi Minh vào vẫn H, huyện Thanh Tri vào van T, thì xã Buôn Ma

Thuột vào vân B Cách sắp xếp của các tác giả nảy theo chúng tôi là có sự hợp lý

Chúng ta có thể nói: "đi Hà Nội, đi Huế, đến Hội An, vao Dak Lăk, " Tuy nhiên,

vấn đề này cũng không phải không có sự phức tạp của nỏ Trong một số trường hợp

gân như khó có thẻ tách thành tổ thứ nhất ra khỏi tổ hợp của chủng như địa danh lả

một số đêm hay địa danh được gọi theo nhân danh Ví dụ, khỏ có the chap nhan

Trang 21

trường hợp "đi (TP) Hỗ Chỉ Minh, đi qua (đường) Hùng Vương, đến (thôn) 3, vào (quận) 5, thăm (bãi) Cháy” Đối với địa danh bằng só, theo chúng tôi nên đưa vảo

danh mục các địa danh vả sắp xếp vẫn có chữ cái đầu của từ biểu thị số đó.Ví dụ:

quận 8 (xếp vân T), thôn 1(xép vàn M), đường 9 (xép van C) [Dan theo 29]

1.1.5 Mỗi quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác

Là sản phẩm của quả trình nhận thức và định danh, tên riêng nói chung vả

địa danh nói riêng cỏn chịu tác động của các yêu tổ ngoài ngôn ngữ: đặc điểm qua

trinh tộc người, đặc điểm lịch sử, không khi chỉnh trị thời đại, đặc điểm tâm lý xã hội, trình độ Củng với tác động của quy luật ngôn ngữ, các yêu tố đỏ tạo nên đặc

điểm văn hóa của địa danh

Địa danh cỏ tỉnh bảo lưu hơn so với nhân danh, vật danh, hiệu danh, vì

chung ra doi va ton tai gan voi cộng dong str dung no Những thông tin qua dia

danh cung cáp cho ta nhiều tải liệu quý về dân tộc, lịch sử, văn hỏa, địa lý, kinh tế,

xã hội

~ Đổi với dân tộc học, hệ thông địa danh lả chứng nhân đáng tin cậy của qua

trình hình thanh một cộng đồng, nơi cư trủ của một tộc người nào day Vi du: dia

danh có thành tổ chung là đak, pôk hoặc ẩm ta có thể xác định đó là nơi sinh sông của cư dân Mnông Địa danh có thành tỏ chung là đø, ở#y có thể dễ dang xác định

là nơi cư trú của cư dân Êđê hoặc Jrai Nêu thành tô chung là sóc thì ở đó lả địa

danh của nhóm dân tộc Khmer hoặc Stiêng [ Dẫn theo 29, tr.19] Căn cử vào

thời gian xuất hiện của địa danh, ta có thê biết được thời điểm định cư, dia ban sinh

sống của một cộng đồng Ví dụ: thôn Mộn Khê là địa danh ghi nhận dâu ân thời

điểm các người dân Lục Nộn, Nam Châu (nay là huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) di

chuyên vào vùng đất bôi ven đê Hồng Đức, lập ấp, đặt tên là Nôn Khê, ghép từ tên

của hai quê cũ là Lục Nôn và Côi Khê

Như vậy, muốn qua địa danh đẻ tìm hiểu quá trình tộc người, chúng ta phải

tìm hiểu theo nhiều cách nhưng chủ yêu là "lột tả" được các thảnh tổ chung đã câu

thành địa danh vả sự phân bố của chủng Việc xác định các lớp tên gọi dia lý, việc

xác lập sự phân bố của các thành tô chung trong cầu tạo địa danh giúp ta có thêm tư

Trang 22

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

liệu đề tìm hiểu các vẫn đề về tôc người Việt Nam Ngược lại, những cử liêu vẻ dân tộc học giúp địa danh học xác định được các lớp địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc của

chúng

- Đổi với lịch sử, hệ thống địa danh đều ít nhiều ghi dau ân qua những sự

kiện, những biến động lịch sử trên địa bàn Ví dụ: xã 7rường Yên, thôn Hành Cung

Qua địa danh có thẻ phục nguyên lại một địa bản, một khu vực dia ly nao đó ma thời gian đã làm mắt đi cái ranh giới cô xưa Chẳng han, dia danh thi tran Me cho

phép ta liên tưởng đến một vùng đất mả trước đây là một khu đổi có rất nhiêu cây

me Bản Đẩm Rừng lả một bản của động bảo Mường nằm trên một khu dat ma xung quanh chủ yêu là rừng vả các bãi sình lầy thôn Đổi Khoai là một khu vực trước đây cỏ đổi trồng khoai Đồng thời qua lịch sử, ta có thé dé dang xác định

được nguồn gốc ngữ nguyên vả các phương thức định danh

~ Địa danh cỏn có liên quan trực tiếp và chặt chế với địa lý Qua địa danh, chủng ta biết được cảnh quan thiên nhiên, đặc điểm địa binh của địa bàn Địa danh

giúp ta tìm kiếm một con sông, con suối, ngọn núi, đặc điểm sinh thái giúp hiểu được điều kiên, môi trường cuộc sóng của người xưa

~ Địa danh vả bản đồ cũng có môi quan hệ hai chiều Địa danh cung cap cho người lập bản đỗ cách thẻ hiện chữ việt, sự chuẩn mực ngôn ngữ Bản đồ lại giúp người nghiên cứu địa đanh tìm kiểm đổi tương mả mình quan tâm

Địa danh còn cho biết một số thông tin vẻ văn hóa, chính trị- xã hội, đặc

điểm tâm lý, tôn giáo, vẻ chính sách, sự quản lý hành chính, trong việc phân ving lãnh thổ, điều chỉnh địa giới của chính quyền nhà nước qua các thời kỳ, trong xu

hướng đặt tên mới, thay tên cũ Đồng thời, những vẫn đề của xã hội học, văn hóa

học, giúp địa danh học xác định được các phương thức định danh, các lớp địa

danh, sự biến đỏi của địa danh và nguyên nhân của chủng,

- Đổi với ngôn ngữ học, địa danh học cũng đóng góp nhiều tư liệu quý, nhất

là trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Địa danh học vừa là"thành tổ" vừa là

"đối tác" của ngôn ngữ học Như ta đã biết, ngôn ngữ học có ba ngành chính: ngữ

âm học, từ vựng học, ngữ pháp học Trong từ vựng học có một ngành nhỏ là danh

xưng học (Onomasiologie), chuyên nghiên cứu về tên gọi Danh xưng học lại có thé

Trang 23

chia lam ba ngảnh nhỏ hơn: nhân danh học, hiệu danh học vả địa danh học Nhân danh học (anthroponymie) chuyên nghiên cứu tên người (gồm tên họ, tên đệm, tên thật, tên hiệu, tên tự, bút danh, bí danh ), Hiệu danh hoc chuyên nghiên cứu tên các

công sở, trường học, nhả máy, xí nghiệp, các thương hiệu, cửa hiệu (thiên vẻ

không gian ba chiêu) Địa danh học (toponymie) nghiên cứu tên riêng địa lý trên

các lĩnh vực, các đặc trưng của chúng như phương thức đặt tên, câu tạo, nguồn góc,

ý nghĩa, sự hình thành và những biển đổi tên gọi của đối tượng địa lý (địa danh) đó

Như vậy,địa danh, nhân danh và hiệu danh đều là bộ phận của danh xưng, là

các đổi tượng của danh xưng học thuộc từ vựng học Địa danh, nhân danh, hiệu danh nằm trong hệ thống tên riêng hợp với các từ chung tạo nên vồn từ vựng có trong đời sông giao tiếp Sự khác nhau cơ bản giữa địa danh và nhân danh, hiệu danh là ở đổi tương được gọi tên; là tính hệ thông trong xu hướng và quá trình định danh Tính hệ thống của nhân danh vả hiệu danh thường bị chỉ phôi trực tiếp bởi các

nhân tô sội ngôn ngữtheo lát cắt đồng đại và xu hưởng tâm lý xã hội, không khí

chính trị có tính thời sự trong một khoảng thời gian nhất định xét trong cả tiền trình

lich sử của một cộng đồng Tuy vậy, chúng cỏ tính nhất thời, it tính bảo lưu như địa

danh vả chỉ phản ánh đời sông của một ngôn ngữ trên bẻ mặt Địa danh cỏ tỉnh bảo thủ cao hơn, được bảo tôn khá lâu trong vốn từ và trong vốn văn hóa dân tộc Tinh

hệ thông của địa danh ít bị tác nhân xã hôi- chính trị nhất thời tác động Trong khi

dinh danh, tinh tity điện của địa danh không cỏn phụ thuộc vảo ý chỉ cá nhân mà bị

tác động bởi hảng loạt nhân tỏ thuộc về lịch sử, văn hỏa công đồng; chịu ảnh hưởng,

của các quá trình tộc người đầy phức tạp; chịu ảnh hưởng của cả quá trình hình

thành, tồn tại vả phát triển một ngôn ngữ Vì vậy, cùng với ngôn ngữ, hệ thông địa

danh là chứng nhân đảng tin cậy của quá trình hình thành, tỏn tại vả phát triển không những của một cộng đồng mả có khi của nhiều cộng đồng củng khu vực Và

bởi vậy, địa danh có tính hệ thông cao hơn và ôn định hơn hệ thông nhân danh và

hiệu danh

Qua địa danh cỏ thể hiểu thêm từ ngữ địa phương mả ở đây là các nhom

ngôn ngữ của các dân tộc bản địa Vỉ dụ: Đẩm, Bái, Lạo là ngôn ngữ của dân tộc

Mường, những cư dân bản địa hiện vần sinh sông ở huyện Nho Quan Qua thành tố

Trang 24

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

chung trong địa danh, cỏ thẻ xem xét được hiện tượng đồng nghĩa của ngơn ngữ

dùng đặt tên Các từ: nước, dak, êa, êa krơng đều cỏ cùng một nghĩa là nước; =on,

=uơn, bản, ple, đều cĩ nghĩa chung là làng trong tiếng Việt Chẳng hạn,=on Szề,

=òn Dơng (xã Dak Som huyện Dak Nơng), bảnĐơn (huyện Buơn Đơn), =uơn4zma

Thuét, =u6nAléA, làngLạc Giao (thành phố Buơn Ma Thuơt) Ta cĩ thể thây được

diện mạo lịch sử ngữ âm của tiếng Việt qua một số địa danh, cũng như qua địa

danh, cĩ thể biết được sự tiếp xúc ngơn ngữ giữa các tộc người Ví dụ krơng, đaÏ

rơng, kioong, kơng (sơng)

[Dẫn theo 29, tr 22]

Tuy nhiên, như đã trình bảy ở trên, địa danh cỏ quan hệ mật thiết với nhiều

lĩnh vực khác của đời sơng xã hội, cho nên quả trình nghiên cứu địa danh khơng chỉ

vận dụng đơn thuân phương pháp ngơn ngữ học mà phải vân dụng phương pháp

nghiên cửu đa ngành và liên ngành Vì vậy, củng với văn hỏa học, xã hội học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử học, địa lý học ngơn ngữ học là một ngảnh khoa học

cĩ liên quan chặt chế, cĩ tác động qua lại đặc biệt đổi với địa danh học

1.2 Vài nét về địa bàn tỉnh Ninh Bình

1.2.1 Lễ điều kiện tự nhiên

Tinh Ninh Binh nằm bên rỉa cạnh phía Tây của cực Nam đồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp huyện Thanh Liêm, Hà Nam Phía Tây Bắc giáp 2 huyện Lạc Thủy

và Yên Thủy tỉnh Hịa Binh Phia Nam là vịnh Bắc Bộ Phía Đơng và Đơng Bắc giáp với huyện Ý Yên vả Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định Phia Tây và Tây Nam giáp các huyện Thạch Thanh, thi xa Bim Son, Ha Trung va Nga Son tinh Thanh Hĩa

Ninh Bình cĩ diện tích tự nhiên là 13.873 kmẺ, đân số năm 2005 là 915.727

người, mật độ 637 ng-êi/km” Như vậy, về diện tích tự nhiên, Ninh Bình thuộc loại

nhỏ, về dân số thuộc loại trung bình nhưng mật độ dân số thuộc loại cao so với mật

độ chung của Việt Nam

Như vậy, nhìn lên bản đỏ Việt Nam, ta thay tinh Ninh Bình nằm trên ria cạnh

tam giác châu Bắc Bỏ phía đơng là đồng bằng, phia nam lả biển cả, dãy Tam Điệp

là giới hạn cuồi củng vẻ phía nam của Bắc bộ, là khởi đâu của Trung bơ

Trang 25

Trong quả khử, Ninh Bình là nơi tiếp giáp của hai đơn vị hành chỉnh lớn: Giao châu phía Bắc va Ai châu phía Nam, là trung gian giữa xã hồi người Việt ở đông bằng và xã hội người Mường ở vùng núi Tây Bắc (Hỏa Bình)

Từ xa xưa Ninh Bình đã trở thành nơi phân chia giữa Đông, Việt (phía bắc)

và Tây Việt (xứ Thanh) thời nhà Hỏ thẻ kỷ XV, lả giới tuyến và chiên tuyến giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Mac, 6 the ky XVI Cuối thẻ kỷ XVIH, khi giặc Thanh kéo vào xâm chiếm kinh thành Thăng long, đội quân Tây sơn đã lây Tam Điệp làm chiến luỹ chăn ngang bắc nam đề đợi đại quân từ Phú Xuân (Huế) kéo ra, rồi sau

đó, từ nơi đây, nghĩa quân Tay Sơn thân tốc tiền vẻ giải phóng Thăng Long và quét sạch giặc thù Giờ đây, Ninh Bình nằm trên tuyến giao thông huyết mạch: quốc lộ

1A xuyên Nam Bắc, và đầu mút của đại lộ phía tây: đường Hồ Chí Minh huyền thoại Ninh Binh cách Hả Nội 90 km - một lợi thẻ không nhỏ Tuy nhiên xét vẻ điện

tích, thi Ninh Bình thuộc số ít tĩnh thành rất nhỏ hẹp, trong khi dân sỏ thi lại lớn

khiến cho mật độ dân số khả cao

1.2.2 Vévi tri giao leu kinh té - văn hoá, xã hội

Ninh Bình nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng va ving Bac Bộ rông lớn,

giảu về tiểm năng tải nguyên thiên nhiên, dân cư đông đúc, nguồn lao động dỏi dao

Ninh Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và điều đỏ có tác động lớn đền việc phát triên kinh tế

của tỉnh

Ninh Binh nằm ản ngữ con đường giao thông huyết mạch (quốc lộ A) nói

liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trong đỏ có thủ đô Hà Nội với duyên hải miễn Trung và Tây Nguyên đặc biệt là với thành phố H6 Chí Minh và Đồng bằng,

sông Cửu Long,

Ninh Bình còn liên lạc trực tiếp và là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Nam với vùng Tây Bắc giàu tiêm năng về tải nguyên, nhưng thiểu nhân lực, thiểu

vốn, thiêu kĩ thuật

Trang 26

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

1.3.3 Lê lịch sử và địa giới hành chính

Đất Ninh Bình cô xưa thuộc đất Nam giao „ thời Tan (246 - 207 TCN) thuộc

Tượng quận , thời Hán (206 TƠN - 220 SƠN) là đất huyện Vô Công (có sách ghi là

Võ Thiết, do chữ công vả thiết co tu dạng gân giống nhau, rất dễ làm Jan - DCN)

của quận Cửu Chân vả huyện Cau Lau quan Giao Chỉ , 7hởi Ngô (220 - 265) và

thời Tấn (265 - 420) thuộc huyện Kiến Sơ quận Cửu Chân, châu Giao 7hởi Ti} -

Đường Hậu Lương (S81 - 923) là huyện Văn Dương thuộc Trường Châu, và thủ

phủ của châu đóng tại Trấn Tĩnh Giang huyền Văn Dương

Thời Đình - Lê (968 - 1010), Ninh Bình là kinh đô của nước Đại Cô Việt, là

châu Đại Hoàng thuộc một trong 10 đạo của cả nước Sang thời Lý đất Ninh Binh

buổi đâu là phủ Trường Yên (sử cũ ghỉ rằng năm 1010, vua Lý Thái Tổ đổi thành

Hoa Lư làm phủ Trường Yên 7hảnh Hoa Lư tức kinh đô của nước Đại Cổ Việt

(nằm trên khuôn viên xã Trường Yên, Hoa Lư bây giờ), phủ Trường Yên tức thủ

phủ, phủ li của phủ Trường Yên, mà phủ Trường Yên bao gồm toàn bộ vủng đất cổ

của Ninh Binh) Về sau, Ninh Bình là Châu Đại Hoang

Thời Trần, theo An Nam chí lược, một cuôn sách do Lê Tắc viết vào thời

Tran, thi Ninh Bình thuộc phủ Trường An và giang lộ Đại Hoàng Ngoài ra, Ninh

Bình cỏn có một phân đất thuộc chau Minh Hoá (cỏ sách viết là Tuyên Hoá) gồm 3

huyện Xa Lai, Xich Thỏ, vả Khôi

Thời Lê Sơ (1428 - 1527), theo Dw địa chí, Đại Nam nhất thống chí và

Cương mục thì lúc nay Ninh Binh có 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan, lệ Thanh

Hoa Nhung theo Đại Ưiệt địa dư toàn biên, Ninh Bình toàn tỉnh dia chi khaobién,

Sử học bị khảo và Ninh Bình phong vật chí thì lúc này hai phủ Trường Yên và

Thiên Quan thuộc Sơn nam thừa tuyên

Thời Nguyễn (1802 - 1945)

+ Nam Gia Long thứ nhất (1802), Ninh Binh van là Thanh Hoa ngoại trần và

lê thuộc vào Thanh Hoa, gồm 6 huyện như đời Tây Sơn và Hậu Lê, nhưng huyện

Yên Khang đổi thành huyện Yên Khương, đến năm Gia Long 2 (1803), huyện Yên

Trang 27

Khương đổi thành huyện Yên Khánh (theo Đại Việt địa dự toàn biên và Sử học bikhảo, Cương mục)

+ Năm Gia Long thứ 5 (1806), Thanh Hoa ngoại trần đổi thành đạo Thanh

Bình, đứng đầu đạo là một quản đạo và một ham hiệp, vẫn lê thuộc Thanh Hoa nội

tran Hai huyện Đại An và Vọng Doang được trả về cho phủ Nghĩa Hưng

+ Năm Gia Long 9 - 12 (1810 - 1813), đạo Thanh Binh có 2 phủ 6 huyện, 41 tổng, 261 xã thôn lả: Năm Gia Long 9 - 12 (1810 - 1813), đạo Thanh Binh có 2 phủ

6 huyện, 41 tổng, 261 xã thôn là: Phử Trường Yên 3 huyện: Gia Viền: 12 tổng, 84

xã phường Yên Mô: 8 tổng, 59 xã phường Yên Khánh: 10 tổng, 51 xã phường Phú Thiên Quan 3 huyện: Phụng Hoá: — 4 tổng, 23 xã thôn Yên Hoá: 4 tổng, 19

xã thôn Lạc Thổ: 3 tổng, 25 xã thôn

+ Năm Minh Mạng thử 2 (1821), Đại Việt địa dư toàn biên, Ninh Binh

phong vật chỉ cho rằng tên phủ 7rường Yên đổi thành Yên Khánh, nhưng sử học bị khảo lại ghi rằng Trường Yên đổi thành Trường Khánh Còn Lịch triều hiến chương loại chí vẫn gọi là phủ Trường, Yên nhưng số xã thôn so với thời diem 1810 - 1813 thi tăng đáng kế

+ Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đạo Thanh Bình được đổi thảnh đạo Ninh Bình

+ Năm Minh Mạng thứ 10 (1829), đạo Ninh Bình đổi thành #rấn Minh Bình

Lập huyện mới Kửn Sơn từ phân đất phía đông nam của huyện Yên Mô Trân Ninh

Bình có 7 huyện vả trở thảnh đơn vị độc lập trực thuộc Bắc Thảnh, không lệ vào Thanh Hoa nữa

+ Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), #nh Ninh Bình chính thức ra đời Tỉnh

gồm 2 phủ (Yên Khánh và Thiên Quan), 7 huyện (Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Son, Phung Hoa, Yén Hoa, Lac Tho)

+ Đời Thành Thái 8 (1906), theo Nghị định thông sứ ngày 29.12.1905 của

Pháp, bắt đầu từ năm 1906 huyện Gia Khánh được thành lập trên cơ sở trích 4 tổng,

của huyện Gia Viễn (Đa Giá, La Mai, Kỳ Vĩ, Quán Vinh) vả 4 tổng của huyện Yên

Trang 28

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

Khánh (Yên Đăng, Thiện Trạo, Vũ Lâm, Dương Vũ) Huyện Yên Khánh cỏ 8 tổng

35 xã 6 thôn 4 phường 1 trại ( tổng là 46 đơn vi)

Như vậy ở thời điểm này tĩnh Ninh Bình có 2 phủ, 7 huyện là

Phủ Yên Khánh có 4 huyện Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn, Gia Khánh

Phủ Nho Quan có 3 huyện Phụng Hoá, Gia Viễn, Yên Hoá

+ Tháng 12 năm 1940, tỉnh Ninh Bình trực thuộc Liên khu 3, có 6 huyện là

Gia Khanh, Yén M6, Gia Vién, Nho Quan,Yên Khánh, Kim Sơn, với 135 xã (theo

báo cáo số 17357 HC/LK3 ngày 21.12.1949 của UBHCKC),

+ Ngày 27.1.1951, tái lập tình Ninh Binh (tỉnh loại 2) theo Nghị định số 465

PTH - NÐ của Thủ hiền Bắc Việt

+ Ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá 5, kỳ họp thứ 2 quyết nghị: hợp nhất tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Binh thanh tinh Ha Nam

Ninh Trước va sau khi sáp nhập, tĩnh Ninh Bình vân có 6 huyện và | thi tran true

thuộc tỉnh là Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Son va

thi trần Tam Điệp

số 787.877 người

+ Ngày 7/2/2007, Thủ tướng Chính Phủ đã ký Nghỉ định số 19 /2007/ ND-

CP về việc thành lập Thành phổ Ninh Bình thuộc tỉnh Ninh Bình bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số vả các đơn vị hành chỉnh trực thuộc của thị xã Ninh Bình tỉnh Ninh Bình trước đây

Theo đó, sau khi thành lập, thành phổ Ninh Bình có 4.836, 49: ha diện tích tự

nhiên vả 130.517 nhân khâu, 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 phường (Tân Thánh, Phúc Thành, Đông Thành, Nam Thành, Thanh Bình, Nam Bình, Vân Giang,

Trang 29

Bich Dao, Ninh Khanh, Ninh Phong) và 4 xã (Ninh Nhat, Ninh Tiên, Ninh Sơn,

Ninh Phuc)

Như vậy tới thời điểm hiện nay tỉnh Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính gồm

1 thành phế, 1 thi xã, 6 huyện và 142 xã phường

[Dẫn theo 85]

1.3 Tiểu kết

Địa danh là một khái niệm có nội hảm phức tạp Mỗi nhà nghiên cửu tuỳ theo mục đích và hướng nghiên cứu lại đưa ra những khải niêm, những cách phân loại và xử li địa danh khác nhau

Địa danh học là một bộ phận của danh xưng học, nằm trong từ vựng học của ngôn ngữ học Nghiên cửu địa danh vì thẻ cũng là nghiên cứu một lĩnh vực quan

trọng của ngôn ngữ học

Địa danh cũng là một môn khoa học có tính liên ngành Những tri thức của

Lịch sử học, Địa lí học, Văn hoá học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu địa danh học Ngược lại, kết quả của địa danh học cũng góp một phan

quan trọng trong nghiên cứu những ngành khoa học trên

Địa danh học là một bộ phận của ngôn ngữ học Vì thẻ nó cỏ mỗi liên quan mật thiết với văn hoá Nghiên cứu sự hình thành và biển đổi của địa danh cũng đóng

góp một phân quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ, gắn với sự phát triển của văn

hoả, xã hội

Ninh Bình là một địa bàn đặc biệt Đây là vùng ranh giới, chuyên tiếp giữa

hai khu vực Bắc và Trung Bộ Trải qua những thăng trầm của lịch sử, những sự thay đổi về địa giới hành chính, địa danh trong vùng cũng có những quá trình hình thành

và biển đổi của riêng mình, ân chứa những yêu tổ tim tảng về lịch sử, văn hoá và

thiên nhiên đa dạng, phong phú.

Trang 30

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

CHUONG 2: DAC DIEM CAU TAO

CUA DIA DANH CU TRU NINH BÌNH

Xét về mặt cầu tạo, trong Luận văn nảy, chúng tôi dựa vào 2 tiêu chỉ: nguồn gốc vả cầu trúc đề phân loại địa danh cư trủ Ninh Bình

2.1 Đặc điểm địa danh cư trú Ninh Bình về mặt nguôn gốc

3.1.1 Kết quã phân loại địa danh theo nguân gốc ngôn ngữ

Căn cử vào phạm vị, đối tượng, nguyên tắc cùng với các tiêu chỉ thu thập và

phân loại địa danh như đã nêu ở trên, chủng tôi đã thu thập được 1349 địa danh tên

lang xã ghi bằng tiếng Việt Các địa danh này được xác định trên sự phân bố dia

giới hành chỉnh trên toản bộ địa bản tỉnh

Theo đỏ, trong phạm vị Luận văn này, chúng tôi tập trung vào khảo sát tên gọi

của các đơn vị cư trủ cấp xã, thôn và xóm theo từng huyện, thị xã, thành phỏ

Theo địa giới hành chính ngảy nay, Ninh Bình có 8 thành phó, thị xã, huyện,

140 xã phường và 1209 thôn, xóm Như vậy, đổi tượng khảo sát của Luận văn này

chính là tên gọi của 140 xã, phường, thị trần và 1209 thôn, xóm, bản, phố, đội

Ví dụ 1, Thị trần Yên Thịnh #š##: Yên bình, đông đúc, giảu có

Thị trần Yên Thịnh được thành lập ngày 07/06/1997, là thị trấn huyện ly của

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Binh Tên của thị trần thể hiện ước mơ của nhân dân nơi

đây vẻ một cuộc sông yên bình, đông đúc, giảu có Cách đặt tên ở đây được thực

hiện bằng cách ghép yếu tố chính trong tên huyện với các mĩ từ thể hiện ước

nguyện của nhân dân

2, Xã Mai Sơn ŸÑIl|: Núi gió (mai: giỏ thôi, Sơn: nủi) Xã được thành lập

vào ngày 4.8.2000 Trước xã có tên là Đái Sơn, gồm hai thôn là thôn Mai vả thôn Núi ( Theo Tên làng xã Việt Nam dau thé ki XIX, Duong Thi The — Pham Thi

Thoa), sau khi xã đổi tên th người dân đã lây tên hai thôn nảy đẻ đặt cho xã mới,

chữ Núi đã được người dân Hản hóa

3, Phường Vân Giang®#}T: dòng sông mây (Vân: mây Giang : sông)

Trang 31

sông đẹp và có nhiều huyền thoại nảy

Dưới đây là kết qủa phân loại địa danh Ninh Bình

Dựa trên cơ sở của cuồn Từ điển yếu tố Hán — Liệt thông dụng của tắc giả

Hoàng Văn Hành, chúng tôi tiên hành phân loại địa danh cư trú Ninh Bình theo tiêu

chi nguồn gốc ngôn ngữ như sau: Địa danh cỏ nguồn gốc thuân Việt, địa danh có nguôn gốc Han Việt, địa danh cỏ nguồn góc Hán Việt kết hợp với thuân Việt và địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ khác

Theo kết quã thông kê, có 813/1349 địa danh là địa danh Hán Việt, 13/1349 địa danh lả địa danh Hán Việt kết hợp với thuân Việt, 496/1349 địa danh là địa danh

thuần Việt (rong đó có 405 địa danh mang tên các số đếm) và cơ 23 địa danh có

nguồn gốc khác Dưới đây là bảng thông kê các địa danh chỉ các đơn vị cư trú Ninh Bình

Bang 2.1: Kết quả phân loại các địa danh Ninh Bình theo nguồn gỗc ngôn ngữ

PL địa danh Séluong | Tilé | Vidu

thôn Đoài Thượng

Trang 32

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

2.1.2 Địa danh được cầu tạo từ các yếu tỗ thuần Liệt

C6 496 địa danh được cầu tạo bởi các yếu tỏ thuản Việt, chiếm 36.8%.Trong

số đó, có 405 địa đanh là các số đếm Những địa danh nay đều lả tên các xóm, đội, phổ được đảnh dâu theo sỏ thử tự 1, 2, 3 Ví dụ như phó 7; đôi 7

Những địa danh còn lại cũng là tên các xóm, đội, phỏ Chúng không xuất hiện

trong những địa danh chỉ các đơn vị cư trú cấp cao hơn như cấp xã, huyện (trừ

trường hợp duy nhất là thị trần AZe, huyện Gia Viên) Những tên này thưởng là tên

của các loài thực vật như phó Aía, thôn Đồng Quy't, thôn Ƒườn Thị , theo một địa danh sẵn cỏ tại địa phương như thon Bai Long, xom Trai Khodi, thon Đồng Chùa,

thôn Ao Luon, thon Chợ Rịa, xóm Kênh, thôn Trại Sắn, thôn Trại Hồi, thôn Trại

Mới, thôn Kênh Gà, thôn Đồng “Xanh hoặc chỉ tính chất mới thành lập như xóm

Moi

2.1.3 Địa danlt được cẩu tạo từ các yếu tễ Hản Liệt

Đây là loại địa danh xuất hiện nhiều nhất, có 815 địa danh, chiêm 60,4%

Với đặc điểm địa danh chỉ các đơn vị cư trú, thường được chính quyên đặt tên, nên

tên gọi của các xã, thôn, xóm thường được đặt theo tên Hán Việt

Các yêu tô Hản Việt cỏ khả năng xuất hiện độc lập trong các địa danh một yêu

tố và xuất hiện trong sự kết hợp hai hoặc ba yếu tổ trong các địa danh phức Ví dụ:

- Các yêu tô Hản Việt xuất hiện độc lập trong các địa danh chỉ đơn vị dân cư

với mục đích chỉ phương hướng, vị trí của đối tượng so với đối tượng khác Ví dụ:

thôn Đồng, thôn Nam, thon Trung

- Các yêu tô Hán Việt xuất hiện trong các địa danh chỉ nguyện vọng, ước mơ

của con người thường chủ yêu xuất hiện trong các địa danh các đơn vị dân cư như

thôn Trường Thịnh, thôn Trường An, thôn Tụ An

Thêm vảo đỏ, tên các xã, thôn cỏn được đặt tên theo tên của các danh nhân

như phô Lê Lợi, phé Chu Van An, phô Ngô Quyên Hay được đặt theo tên một địa danh nồi tiếng như phỏ PÖú Xuân, phô Bạch Đằng, phố Van Miéu

Theo đặc điểm đặt tên của địa danh chỉ các đơn vị cư trủ Việt Nam [44] các

thôn, làng trong xã lẫy một trong hai yếu tô trong tên xã và các xã thường lẫy một

yếu tỏ trong tên huyện và kết hợp với một yêu tố khác đẻ đặt tên mới Đặc điểm này

Trang 33

xuất hiện một cách cụ thẻ và khá dảy đặc trong địa danh chỉ các đơn vị cư tri Ninh

Binh

Theo đó, với huyện Gia Viễn, chúng ta thây có xã Gia Sinh, xã Gia Thanh, xã

Gia Xuân, xã Gia Phong, xã Gia Lạc, xã Gia Minh, xã Gia Vượng, xã Gia Thịnh, xã

Gia Phú, xã Gia Hưng, xã Gia Hòa, xã Gia Trung, xã Gia Phương, xã Gia Tiến, xã Gia Lân, xã Gia Tân, xã Gia Lập, xã Gia Thắng với huyện Yên Mô cò xã Yên Thành, thị trần Yên Thịnh, xã Yên Thắng, xã Yên Phú, xã Yên Hòa, xã Yên Hưng, xã Yên Phong, xã Yên Từ, xã Yên Nhân, xã Yên Mạc, xã Yên Thái, xã Yên Lâm, xã Yên

Đồng Với huyện Yên Khánh, có các xã Khanh Hoa, Khanh Phi, Khénh An,

Khánh Cư, Khánh Vân, Khánh Ninh, Khánh Lợi, Khánh Thiện, Khánh Hồng, Khánh

Dương, Khánh Nhạc, Khánh Hội, Khánh Mậu, Khánh Thủy, Khánh Cường, Khánh

Trung, Khánh Công và Khánh Thành Với thành phố Ninh Bình, có phường Thanh

Bình, Nam Bình, Ninh Phong, xã Ninh Nhất, Ninh Tiến, Ninh Phúc, Ninh Sơn Và

có phổ Phúc Nam, Phúc Tân, Phúc Hưng Phúc Trung, Phúc Trực, Phúc Lộc, Phúc

Hòa, Phúc Ninh, Phúc Hải, Phúc Long, Phúc Trọng, Phúc Thắng, Phúc Thái, Phúc Thịnh, Phúc Thiện được đặt tên theo phường Phúc Thành

Ngoài ra, còn hiện tượng, tên các xã, thôn, phường được đặt tên dựa theo

đặc điệp của vũng dat đó, vi dụ ở thị xã Tam Điệp Đây là vùng đất nhiêu núi non, (Tam Điệp nghia la ba day núi tầng tẳng lớp lóp), vì thể xuất hiện nhiều địa danh

chỉ các đơn vị cư trú mang yêu tổ Sơn (núi) như xã Yên Sơn, Quang Sơn, Đông Sơn,

Bắc Sơn, Trung Sơn, Nam Sơn, Tây Sơn Vi du khác ở thành phô Ninh Binh, co nhiều tên phường co yéu té Thanh (thành phổ) được đặt tên theo vị trí và tính chất

như phường Nam Thành, Đông Thành, Tân Thành

3.1.4 Địa danh được cẩu tạo từ các yễu tỗ Hán Việt kết hợp với các yễu tổ thuần

Liệt

Đây là loại địa danh chiếm số lượng ít nhất trong số các địa danh chỉ các đơn

vị cư trủ Ninh Binh, chỉ có 15 địa đanh, chiếm 1.11%

Những địa danh nảy đều là tên các thén, xom, vi du thon Vang Ngoc, Van

Bong, Vit Nhi Ching thường được đặt tên dựa theo một địa danh sẵn cỏ ở địa

phương như thôn Vườn Hoa, thén Đôi Phương, xóm Đông Thanh, Cầu Lân

Trang 34

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

Trong sự kết hợp đẻ câu tạo nên địa danh, các yêu tô thuân Việt thường đứng trước cỏn yêu tố Hán Việt thường đứng sau, như thôn Cầu Lân, Bề Vï chỉ có một

số trường hợp ngược lại, Hán Việt đứng trước, thuần Việt đứng sau trong thôn Khê

Ngoài, thôn Khê Trong

(trong đỏ, những từ gạch chân là yêu tổ thuần Việt, từ không gạch chân là yếu tổ Hản Việt)

3.1.5 Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ khác

Trong tỉnh Ninh Binh, trước đây vả hiện nay đều có một bộ phận người dan tộc Mường sinh sống Vì thể, cỏ một số địa danh cỏ nguồn gốc tử tiếng Mường

Những địa danh này đều lả những đơn vị cư trủ cấp xóm, thôn, bản

Có 23 địa danh, chiếm 1.7 % Ví dụ, bản Đẩm Rừng: là nơi có nước va cây côi, thôn Lao: Lạo — cây nửa, thôn Bái — Bấi

2.2 Đặc điểm địa danh cư trú Ninh Bình về mặt cau trac

2.2.1Mô hình cẫu trúc địa danh

Một địa danh được cầu tạo từ hai thành tổ là thành tổ chung va địa danh Địa

danh là bộ phân chỉ tên riêng của đổi tượng địa lí Thành tổ chung tuy không tham

gia cau tao trong cau trúc nội bộ địa đanh nhưng xuất hiện trước dia danh với tư

cách một yêu tổ chỉ loại hình của đối tượng được định danh Phức thẻ địa danh là

cụm từ có chửa địa danh gồm cả bộ phân từ ngữ chung và tên riêng Khi mã hoá địa

danh trên chữ viết thì bộ phận từ ngữ chung được viết thường, con phân địa danh -

tên riêng được viết hoa theo quy định của tiếng Việt Ví dụ: thôn Làng Ngọc, thôn Đồng Nang [Dẫn theo 56 tr.55]

Qua quá trình khảo sát, thông kê va miêu tả cấu trúc chúng tôi đã khái quát được cầu trúc môi địa đanh theo mô hình sau

Trang 35

'Mô hình: Cấu trúc địa danh

Phức thể địa danh

Mô Thành tổ chung | Địa danh— Tên riêng khu biệt đối tượng

Xom Tay Trung Trữ

Mô hình trên là kết quả của sự phân tích, miêu tả các địa danh dựa trên độ dài

lớn nhất của một phức thể tồn tại ở địa danh chỉ các đơn vị cư tri Ninh Binh Dia

danh có tôi đa 3

chung là gọi tên để thông bảo, đề biểu hiện loại hình của một lớp đối tượng Địa

danh cỏ chức năng định danh và khu biệt các đối tượng cá thể, đơn nhất so với các đổi tượng củng loại.Hai bộ phận này có quan hệ gắn bỏ mật thiết với nhau, đó là

quan hệ giữa cái được hạn định và cải hạn định Trong đó thánh tổ chung là cải

được hạn định với sự biểu thị một loạt đổi tượng có cùng thuộc tính, còn địa danh là cải được dùng để hạn định cho thành tổ chung, chỉ những đổi tượng cu thé, xác định

trong lớp đổi tượng mả thành tố chung chi ra [Dan theo 56, tr57] Ví dụ: trong

phức thẻ địa danh "xã Quang Sơn" thi "xã" là cái được hạn định, lả thành tố chung,

"Quang Sơn" là cái hạn định, dùng để chỉ một xã cụ thể

Trang 36

để phản ánh loại hình của đổi tượng được định danh

Ngoài ra, thành tổ chung còn có chức năng hạn định cho địa danh và có thể chuyên hoá thành các yêu tổ trong địa danh [Dẫn theo 56, tr.58]

Với đặc điểm là địa danh chỉ các đơn vị cư trú, chỉ có 8 thánh tố chung Đó

là: xã, thị trấn, phường, thôn, xóm, phố, đội, bán Trong đó, chỉ cỏ 1 thành tố cỏ cấu tạo đa tiết (2 âm tiết), đó là thị trấn còn lại đều có câu tạo đơn tiết Những thành tổ

nay không chuyên hóa thành yêu tổ trong địa danh

2.22 Đặc điểm cấu trúc của địa danh cư trú INinh Bình

2.2.2.1 Số lượng các yếu tổ trong các loại hình địa danh

Trong tổng số 1349 địa danh chỉ các đơn vị cư trủ được thu thập ở Ninh Bình

Xét về độ dài, địa danh có cầu tạo đơn giản nhất chỉ gồm 1 yêu tổ như xóm đới, xóm Ngoc Địa danh có cau tao phức tạp nhất có 3 yếu tổ như thén Yén M6

Thượng, thôn Đông Trung Trữ

Địa danh chỉ các đơn vị cư trủ Ninh Bình hầu hết được câu tạo bằng các từ ngĩt

cỏ từ 1 đến 2 âm tiết Trong số 1349 địa danh, chỉ cỏ 15 địa danh cỏ 3 yếu tố, chiếm

1.11 %, có 450 địa đanh có 1 yêu tô (trong đỏ có 405 địa đanh là tên các só đêm 1, 2,3, 4 ) chiếm 33.36% và còn lại có 884 địa danh có 2 yêu tổ, chiêm 65.53%

Tỷ lệ địa danh cỏ cầu tạo 2 âm tiết cao là do các địa danh đặt bằng ngôn ngôn

ngữ gốc Hản khả nhiều (vi du phố Ngoc Sơn, Tây Sơn, Nam Thành ) Tiếp theo đỏ

Trang 37

lả địa danh 1 âm tiết - loại địa danh nảy chủ yếu cỏ nguồn góc ngôn ngữ thuần Việt

(vi dụ thôn 4o, 4o Lươn, Kênh, Kênh Đào ) trong đỏ một số lượng khả lớn là địa

danh bằng số (ví đụ xóm 1,2,3,4,10.) Loại địa danh 3 âm tiết thường có trong

những địa danh có thêm yêu tổ hạn định chủ yêu là từ chỉ vị trí, phương hướng hay

một từ nảo đỏ chỉ đặc điểm, tỉnh chất mang tỉnh khu biệt, đặc biệt là tên các thôn

xóm trong cùng một địa bản xã (thôn Xuân Íng Nội, thônVuân Ảng Ngoại Các địa danh có nhiều âm tiết chủ yêu lả tên chính thức, còn các tên do dân gian đặt thường

chỉ có 1 âm tiết

2.2.2.2 Các kiêu cấu tạo địa danh

Địa danh chủ yêu được câu tạo tử các danh từ (hoặc danh ngữ), một số it có câu tạo từ các tỉnh từ, trong 1349 địa danh chỉ các đơn vị cư trủ Ninh Bình chỉ cỏ 4

địa danh là tính từ (bản Yanh, xóm Xanh, xom Moi) va con lai 1345 dia danh la danh từ (hoặc danh ngữ)

a Dia danh đơn

Kiểu cấu tạo đơn trong địa danh là kiểu cầu tạo chỉ co m

đanh chỉ các đơn vị cư trú Ninh Bình, có 450 địa danh có 1 yếu tế, chiém 33.36%

yêu tổ Trong địa

Day là một tỉ lệ lớn, chỉ sau địa đanh có cầu tạo 2 yêu tổ Trong kiểu câu tao nay,

mỗi địa đanh được thể hiện qua một âm tiết, đỏng thời là một từ đơn Các từ đơn

nảy thuộc nhiêu lớp từ loại khác nhau nhưng chủ yếu là danh từ, thậm chí các yếu tố

chỉ số lượng khi tham gia vào địa danh cũng được danh hoá, loại nảy chiếm số

lượng lớn trong địa danh đơn tiết, có tới 405 địa đanh (ví dụ xóm 1, đội 3) Các yêu

tổ này thuộc cả yếu tổ thuần Việt vả yêu tổ Hán Việt, nhưng chủ yêu là thuần Việt

Có 437 địa danh đơn tiết có câu tạo thuần Việt, chiếm 32.29% (ví dụ xóm Rồng,

xóm Lẩu, bản 4o ) và có 13 địa danh đơn tiết có cầu tạo Hán Việt, chiếm 6.39%

(ví dụ thôn 7ây, thôn Đồng, thôn Nguyễn )

Trong số các địa danh xã, phường, chỉ có duy nhật 1/140 địa danh là địa danh

có cầu tạo từ một âm tiết (thị trấn Ae), còn lại đều là địa danh đa tiết 139/140 địa

danh

Còn lại, loại địa danh có câu tạo đơn tiết chủ yêu xuất hiện ở nhóm địa danh

chỉ tên các thôn, xóm, bản (vi du: xóm Luận, xóm Gạo, bản Xanh, ban Vong ) Dac

Trang 38

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

biệt, những địa danh được đánh số theo số thứ tự 1, 2, 3 đều lả tên của những đơn

vị hành chính cấp nhỏ nhất như đội, xóm Trừ một số tên thôn được đặt theo vị trí của thôn như Đồng, Tây, Nam, Trung là những địa danh có nguồn gốc Hán Việt, còn lại các địa danh khác đều lả tên thuần Việt như xóm Rồng, Sui, Bén, Mén,

Lược

Về từ loại, địa danh đơn được tạo ra từ nhiều từ loại khác nhau

~ Danh tử: xỏm Rồng, thôn Bến, thôn Me, thôn Lao, thén Đồng, bản Ao, xóm Đình,

thôn Cối

- Động từ: thôn Xáí, phố Bái, thôn Dừng

- Tinh tir: xom M6i, ban Yanh, ban Ca

- S6 tit: xóm 7, xóm 7, xóm 12, xóm 14

Trong số đỏ, các địa danh hâu hết đều thuộc từ loại danh từ hoặc số từ, số

lượng các địa danh thuộc từ loại động từ và tính từ rất it

b Địa danh phức

Kiểu cầu tạo phức thể hiện trong các địa danh có từ 2 yếu tô trở lên Các yêu tô này có thể tôn tại ở dạng cấu trúc một từ ghép hay một cụm từ Trong các địa danh

có cầu tạo phức, có 2 kiều quan hệ chủ yêu lả quan hé chính phụ và quan hệ đăng,

lập.Cỏ 899 địa danh có cầu tạo đa tiết, trong đỏ có 94 địa danh câu tạo phức có quan

hệ chính phụ, chiếm 6.97% Những địa danh nảy chủ yêu đều thuộc địa danh có các

yếu tô Hán Việt như thôn Bình Yên Tây, thôn Khê Thượng, thôn Khê Hạ, Có 805

địa danh câu tạo phức cỏ quan hệ đẳng lập, chiếm 59.67%, những địa danh này có

các yêu tô thuộc cả Hản Việt lẫn thuần Việt như thôn Làng Ngọc, phô Phúc Thịnh,

Thi tran Binh Minh

Loại địa danh được câu tạo bằng 2 âm tiết có tỉ lệ cao nhất, thê hiện xu hưởng, song tiết hoá trong tiếng Việt Quan hệ giữa hai yêu tô trong địa danh thường là quan hệ chỉnh phụ (ví dụ thôn Trại Khoái, thôn Đồng Chùa), ngoài ra có một số it

các địa danh có quan hệ đẳng lập (vi dụ thôn Vảng Ngọc, nủi thôn Phúc Hậu), Không có loại địa danh có quan hệ chủ - vị

Ve địa danh cỏ các thành tổ có quan hệ chính phụ

Trang 39

~ Địa danh thuần Việt: các yêu tổ chính thường đứng trước các yêu tô phụ Ví dụ: thôn Chợ Lạm, thôn Chợ Rịa, thôn Cầu làng, thôn Đồi Cao, thôn Đồi Dài, thôn Đồng Quýt

- Dia danh Hán Việt: phản lớn các yêu tô chính đều đứng sau yếu tổ phụ Vi

dụ: thôn Đông Thành, phường Nam Thành, thôn Hạ Trạo, thôn Thiện Trạo, thôn

Châu Sơn Ngoại ra, có một số trường hợp yêu tô chính đứng trước yêu tô phụ, vỉ

dụ: thôn Khê Thượng, thôn Khê Hạ, thôn Hải Nham

- Dia danh Hán Việt kết hợp thun Việt: đây là nhóm địa danh thường cỏ câu

tạo bằng ] yêu tô Hản Việt hoặc thuần Việt đứng trước kết hợp với một yếu tô chỉ

vị trí, phương hướng đứng sau Hầu hết các yếu tô Hản Việt thường đứng sau yêu tô thuần Việt, ví dụ: thôn Đoài Hạ, thôn Đoài Thượng chỉ một số ít trường hợp có

yêu tỏ thuần Việt đứng sau yếu tổ Hán Việt nhưthôn Khê Trong, Khê Ngoài

Về địa danh cỏ các thành tổ cỏ quan hệ đẳng lập

~ Địa đanh thuần Việt kết hợp với Hán Việt: Loại nảy gồm các thành tổ có củng từ

loại và cùng chức năng Ví dụ: thôn Vàng Ngọc Đây là loại địa danh ít sử dụng ở Ninh Bình

- Dia danh Hán- Việt: Loại địa danh là từ ngữ Hán - Việt giữa các yêu tổ có quan hệ đẳng lập trên địa bản Ninh Bình khả nhiều, trải đều khắp các loại địa danh

chỉ các đơn vị cư trủ như xã, phường, thôn, xóm: dn Lạc, An Hoa, Phúc Hòa, Phúc

Ninh, Vĩnh Quang Loại cầu trúc này cũng được sử dụng trong cách ghép các yêu

tố Hản- Việt có sẵn trong các địa danh và tên cũ đề tạo địa danh mới: xãYên Lâm (bao gồm một yêu tỏ của địa danh xãCổ Lâm (xã cũ) + một yêu tỏ của địa danh

huyện Yên M6), xa Khanh An (bao gồm một yêu tổ trong địa danh xã An Vé (tén

cñ)+ một yêu tổ trong địa danh huyện Yên Khánh),

Loại địa danh có 3 âm tiết thường chửa quan hệ hạn định Âm tiết thử 3 trong,

địa danh thường chỉ phương hướng hay sỏ thứ tự đẻ phân biệt đối tượng nảy và đổi

tượng khác có củng thành tổ chung và thành tổ thứ nhất, thành tô thứ hai trong địa

danh Ví dụ, thôn Yudn Ang N6i, thon Yuan Ang Ngoai

Qua việc mô tả tính chất quan hệ giữa các yếu tỏ trong hệ thống địa danh chỉ

các don vị cư trủ ở Nimh Bình, chúng tôi thây cấu trúc địa danh ở đây cũng có

Trang 40

ai vấn để địa danh Ninh Bình ~ Phạm Thị Héng Nhung

những điểm tương dong voi cau tric địa danh ở một số địa phương khác, thẻ hiện

- Co su da dang vé mat cau tric, bao gém các câu trúc đơn, câu trúc phúc Trong cầu trúc phức có các kiêu quan hệ đẳng lâp và quan hệ chính phụ

- Quan hé ding lập thường gặp ở các địa danh chỉ các đơn vi cu tra co nguồn góc Hản - Việt Ngoài ra, chúng còn xuất hiện rải rác ở các địa danh thuần

Việt và địa danh bản địa

~ Quan hệ chính phụ cỏ trong tất cả các địa danh cỏ nguồn góc khác nhau

Việc sắp xếp theo trật tự chỉnh trước, phụ sau chủ yêu ở các địa danh thuân Việt và

địa danh bản địa; còn sắp xếp theo trật tự phụ trước, chính sau thì chủ yêu ở các địa

danh Hán -Việt

Nhu vay có thể nói, về câu trúc ngữ pháp, địa danh chỉ các đơn vị cư trủ ở

Ninh Binh cũng phản nào phản ánh đặc điểm của câu trúc ngữ pháp tiếng Việt

Đồng thời, qua sự thay đổi trật tự cú pháp trong một số địa danh thuần Việt, Hán -

Việt, các địa danh Mường, ta cũng thấy rõ được sự ảnh hưởng, sự tiếp xúc và giao

thoa giữa nhiều ngôn ngữ của cư dân sinh sông trên địa bàn

3.2.2.3 Sự chuyển hoá địa danh

Địa danh có thẻ chuyên hoá địa danh này sang địa danh khác

Hiện tượng nảy xảy ra khi một địa danh ban đầu xuất hiện, sau đó những dia

danh chỉ các đơn vị cư trú trong khu vực cũng được đặt tên theo địa danh, bao gồm

cả 2 yêu tổ thành tổ chung va dia danh trong phức thê địa danh đó đỏ Ví dụ: chợ Rịa > thôn Chợ Rịa: địa danh “Ria” trong phức thẻ địa danh chợ Rịa được chuyên hóa thành địa danh thành “Chợ Rịa” trong phức thể địa danh thén Cho Ria, cau

Huyện > phô Cầu Huyện: địa danh “Huyện” trong phức thể địa danh Cầu Huyện

được chuyển hóa thành địa danh “Cầu Huyện” trong phức thẻ địa danh Cầu

Ngày đăng: 17/05/2025, 19:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm