Nhìn chung, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về gác bài bản, cáo tác giả, tàc phẩm, các nhân vật có công trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật Dan ca tài tử Nam Bộ nhưng chua c
Trang 1BALHOC QUOC GLA HA NOL a
TRƯỜNG DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
PHAN VO THU TAM
KHAI THAC CAC GIA TRI VAN HOA NGHE THUAT
CUA BON CA TAI TU NAM RQ - VIET NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIÊN DU LỊCH
Luan vin Tha si Du lich hoe
‘Ha NGi, 2014
Trang 2BALHOC QUOC GLA HA NOL a
TRƯỜNG DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
PHAN VO THU TAM
KHAI THAC CAC GIA TRI VAN HOA NGHE THUAT
CUA ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ - VIỆT NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIÊN DU LỊCH
Chuyên ngành: Du lịch học (Chương trình đào tao thi diém)
Luan vin Tha si Du lich hoe
NGUOI HUGNG DAN KHOA Hoc: TS DUONG VAN SÁU
‘Ha NGi, 2014
Trang 3MỤC LỤC MỤC LỤC
ịcb sử nghiên cứu đề tải
3 Mục dích nghiên cứu
4, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
ó Những dóng góp cúa luận văn
7 Bễ cục luận văn
Chương 1
'TÔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ
1.1 Tên gọi, nguồn gốc vả lịch sử đòn ca tải tứ Nam Bộ
1.1.4 Khái quát quả trình tồn tại và phát triển
1.2 Những đặc điểm cơ bản của din ca tai tir Nam BG
1.1.1 Thang âm nhạc tải tử [38]
1.3.2 Ngữ điệu và hơi trong nhạc tài tử - cải lương Nam Hộ
1.3 Những giá trị nổi bật của đờn ca tải tử Nam Bộ
1.3.1 Giá trị lịch sử
1.3.2 Giá trị văn hóa —nghé thuật
1.4 Cách thức tô chức nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ
1.4.1 Nghệ sĩ, phương tiện và đạo cụ biểu diễn
1.4.2 Thôi gian và không gian biểu dién
1.5 So sánh nhạc tài tử, nhạc cãi lương
Trang 4Chương 2 44 'THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT ĐỜN
2.1 Khái quát thực trạng đời sống văn hủa của cư dân đồng bằng Nam
2.2.1.1 Dờn ca tài tử Nam Bộ vùng nông thôn và thành thị 53
2.2.1.2 Bon ca tài tử trong sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước 55
2.2.1.3 Mỗi liên hệ giữa các nhóm đờn ca tải tử Nam Bộ thành thị và nông
2.2.2 Dém ca tai tử trong kho tầng đi sản văn hỏa phi vat thể Việt Nam 5
2.3 Việc tổ chức khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật của đờn ca tài
2.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khí khai thác nghệ thuật đờn
2.4.1 Những thuận lợi cơ bản 7
1.4.1.4 UNESCO công nhận là đi sản văn hóa phi vật thỄ của nhân loại 81
2.4.2.1 Cơ sở vat chat phuc vu cho Don ca tai tử Nam Hộ al 2.4.2.2 Nguồn nhân lực lrong hoạt động đồn ca lải tử 82 1.4.2.3 Chế đô, chính sách đổi với dim ca tai tr 83
Trang 5GIẢI PHÁP KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN CÁC GIÁ TRỊ CỦA
NGUE THUAT DON CA TAL TU NAM BO PUUC VU PUAT TRIEN
3.1 Định hướng khai thắc các giá trị của nghệ thuật đờn ca tài tử Nam
3.1.1 Định hướng của các co quan quản lý nhà nước thuộc ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch trong bảo tồn và khai thác các giả trị của nghệ thuật đòn ca tải tâ Nam
2 Định hưởng của các địa phương trong việc bảo lồn và khai thác các giá trị của
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thắc giá trị của đòn ca tài tứ phục
3.2.1 Nghiên cứu, dánh giá hiệu quả khai thác các giá trị của dờn ca tải tử plục vụ
3.2.2 'Tim ra nguyên nhân của việc được và chưa được trong khai thác đồn ca tai tử
3.2.3 Đầu tr xây dựng cơ sở vật chất, hạ tẳng kỹ thuật tại các điểm biểu diễn đờn ea
3.3.4 Dào tao nguồn nhân lưe phục vụ phát triển du lịch %6
3.2.4.2 Những người khai thác văn hóa, kính đoanh du lịch 100 3.3.5 Nghiên cún, phát triển các lan điệu và nội dung của các bài bản gắn với việc bảo tân, khai thác và phát triển loại hình đờn ca tai tử 101 32.6 Xây dụng các sản phẩm du lịch vẫn hóa đặc thủ tit dem ca tai tử 103 3.3.7 Đầy mạnh các hoạt đông tuyên truyền quảng bá, xúc tiền đu lịch văn hóa gắn
VỚI Các tuyên điểm có tổ chức đờn ca tải tr 106
3.1.8 'Tế chúc liên kết, phổi hợp hoạt động giữa các cơ quan trong ngành văn hóa và
441 Đôi với UBND cac tinh, thành phố có hoạt động đờn ca tài tử 11
3.3.2 Đối với Sở văn hóa, thể tháo và du lịch các tỉnh, thành có hoạt động đòn ca tài
Trang 6ĐANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Asian - Pacific Alliance
3 | DBSCL Dong bang sông Cửu Long,
4 | DCIT Don ca tai ti
6 | DSVII Ti sản văn hóa
Gross Domestic Product
16 | TPHCM Thanh phd 116 Chi Minh
17 |TT-BVITTDL | Thâng tư - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
18 | UBND Cy ban nhân din
19 | UBND-VX Gy ban nhân din — Văn xã
United Nations Development Programme
20) UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quắc
United Nations Educational Scietific and Cultural
21 | UNESCO To chite Gide dus, Khoa hee va Van hoa ofa Lién Organization
Hiệp Quốc
Trang 7
World Bank 24| WB
Ngân hàng Thể giới United Nations World Tourism Organization
25 | UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới
Trang 8
Tiiện nay ở Việt Nam có rất ít để tải nghiên cứu chuyên sâu về loại hinh xrghệ thật đờn ca lải lử Nam Bộ mặc đủ ở nhiều địa phương trong khu vực Đồng bang sông Cứu Long có các đội, nhóm, câu lạc bộ đơn ca tải tử sinh hoạt định
*kỳ mỗi tuần, mỗi tháng Để tải nghiên cứu sẽ cung cấp một phân tài liệu cho
việc nghiên cứu về nghệ thuật đời: ca tải Lử Nam Bộ giúp thể hệ trẻ thêm yêu amén, tran trọng, giữ gìn văn hóa của dân tộc Bên cạnh đó, để tài cũng đưa ra những hướng đi moi trong việc bảo tổn và phát huy các giá trị truyền thông của dom ca lai tử phục vụ cho việc phát triểu du lịch, thúc đây nên kinh tế của Nam
Hộ nói riêng và Việt Nai nói chung
Pon ca tải từ Nam Bộ được giới thiệu đến UNESCO từ những năm 1960
„mà người có công lao tơ lớn trong việc dưa loại hình âm nhạc này đến với bạn
ˆ thể giới la Giáo sư Tran Văn Khẻ Năm 1963 Giáo sư đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba thủ một đĩa đờn ca lài tử để giới thiệu với UNESCO Một đĩa Lương bự
đã dược thực hiện vao năm 1972 với phần trình tâu của Œ8.15 Trần Van Khé
và nhạc sự Vĩnh Bao Ngoài ra, Cocora Radio France - mét co quan truyén théng của Pháp - đã mời óng cùng ông Vĩnh Bão (năm 1972) và nghệ sĩ đàn tranh Hải
"Phượng (năm 1994) ghi âm hai đĩa Đờn ca tải tử khác vả cá hai đĩa này đều nằm trong danh sách đĩa nhạc bản chạy nhất nước Pháp, được nhận giải Phê bình âm
uh
áo uăm phát hành Các bộ đứa thu Đờn ca tất tử theo lời mời cla UNESCO
của các ông vẫn được lưu trong kho lưu trữ ãm nhạc dân tộc của tổ chức nảy
Bây nhiêu cũng đủ để thầy nghệ thuật Đèn ca tải tử không chỉ được người Việt WNam yêu mến mỏ cả những người nước ngoài tai oie nude trên thể giới từ lâu
Trang 9đã biết đến và quý trọng vốn nghề thuật vừa bình dân vừa cao quỷ này Còn hiện tại, Dờn ca tài tứ vẫn lá loại binh nghệ thuật dân tộc được nhiều du khách nước
ngoài chọn khám phá, thưởng thức khi đến Việt Narn
Từ nhỏ tôi dã nghe dờn ca tài tử và lớn lên củng với những bán Nam Ai, câu hò, điệu lý của bả và mẹ, đi vào giác ngủ bởi câu hát vọng cổ thật mùi mẫn,
trữ linh của
ông những diễu ấy đã ăn sâu vào lâm trí lôi và thôi thúc tôi thục tiện để tài nghiên cứu mày để làm món quả gửi đến ông ba, cha mẹ và bạn bè của tôi — những người luôn yêu quý và tự hào vị đã có đờn ca tài tử
2 Lich sir nghién cir dé tai
13àn về vẫn đẻ đờn ca tải tử Nam Hộ ID8 có nhiều công trình nghiên cửu của các học giả, chuyên gia âm nhạc Các công trình nghiên cứu đã được công
bồ như
- Tác giả Trần Phước Thuận đã công bổ quyền “Bước đẫu âm biểu tác giả và tắc phẩm cỗ nhạc Bac Liêu", năm 2002 Công trình giới thiện cho người
đọc các lác giả cô nhạc Bạc Liêu như Nhạc Khi, Nguyệt Chiến, Cao Văn Tâu,
Mộng Vân, lrần Tân Hưng, Trọng Nguyễn Các bản cỗ nhạc truyền thông gồm 20 bản tổ Đặc biệt công trình co phan bản về thời điểm ra đời, nguồn
gốc của bản Dạ có hoài lang,
- Tác giá Võ Tản liưng đã nhiều năm tâm huyết với nghề, yêu mến va quý trọng nghệ thuật Đờn ca tai tử Nam Bộ đã có công trình nghiên củu “Cổ nhac tầm nguyên”, xuất bản nim 1958 Công trình bao gồm cae bai bin cin bản của nhạc Tài tử và cáo bài bản nhỏ sân khấu cải lương (bản đờn và bài ca)
- Tác giã Trân Ngoc Thạch với công trình nghiên cứu “CỐ nhạc Việt Nam — Đờn ca tài tứ”, năm 2001 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả bản
về sự ra đời của đảng nhạc Tài tử Nam Bộ, sưu tâm, gớp nhặt cáo bài bản Tài
tử cô và những sang tác mới của đờn ca tải tử Việt Nam,
- Tác giá Nhị Tấn (nhạc sĩ Nhị Tân luật sư Nguyễn Tân Nhị) đã nghiên cứu, biên soạn quyến “Nhạc tài tử Nam Bộ”, xuất bàn năm 1997 Công trình
gồm 2 phần, phần Ì sưu tâm các bận đờn và bài ca trong hệ thống Bắc, Ha, Nam,
Trang 10Oan, Ngự, phần 2 ghi lai cac buổi sinh hoạt cầu lạc bộ, các bải ca, sưu tầm, nghiên cửu liên quan đến nhạc tài tứ
Nhìn chung, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về gác bài bản, cáo tác
giả, tàc phẩm, các nhân vật có công trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật Dan ca tài tử Nam Bộ nhưng chua có công trình khoa học nào công bổ công
trình nghiên cửu khai thác các gid iri của nghệ thuật Đờn ca lãi từ Nam Bộ phục
vụ phát triển du lịch ở Việt Nam
4, Đi lượng và phạm vỉ nghiên cứu
Tập trung nghiên cửu ứng dụng những giá trị văn hóa nghệ thuật của đòn
ca tài tử & các tỉnh Tây Ninh, TP H Chí Minh, Tiên Giang, Bên Tre, Kiên Giang va Bạc Liêu để đưa vào khai thác kinh doanh du lịch tại Nam Bộ
Về nội đừng: Dả tài gẻm có những vẫn đề chính sau:
~ Tìm hiểu tĩnh hình thực tế của hoại động khai thác kinh doanh du lịch dựa váo nghệ thuật Dân ea tai tú
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiện quả khai thác kinh doanh
du lịch dựa vào nghệ thuật Đám ga lài lử,
Trang 11~ Cung cấp một phân tải liệu cho việc nghiên cửu về nghệ thuật Đản ca tải tử giúp thể hệ trẻ thêm yếu mến, trân trọng, giữ gin vốn cổ của dân tộc
Khả nững ứng dụng trong thực liễu: Xây dựng luyến du lịch về chương trình tham quan và xem biểu diễn nghệ thuật Dan ca tải tử tại các tỉnh Đồng,
‘bang sông Củu Long
5 Phương pháp nghiên cứu
"Trong quá trình thực hiện để hoàn thành khóa luận, người viết sử dụng
những phương pháp nghiên cửu sau”
~ Phương phấp sưu tầm và nghiên cứu tài liệu: phương pháp sưu tầm va nghiên cửu tải liệu là phương pháp truyền thông thưởng được sử dụng trong
nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu đu lịch nói riêng Nguồn tài liệu
được lắc giả sưu lâm và nghiên cửu rất đa đang, phong phú, bao gồm sách, bảo, các tài liệu đã được công bổ, xuất bản, tài liệu lưu trữ, bảo đài và những tài liệu được đăng trên các website như: Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Tổng cục
Du beh, Cue quan Wy di sẵn, các trang web của địa phương khu vực Nam Bộ
'Trên cơ sở những tải liệu thu thập được, tác giả đã so sánh, đối chiếu vả tiền
thành lựa chọn thông tổn cần thân nhằm kế thừa một cách có chon lọc những
thành tựu nghiên cứu của quả khử
- Phương pháp phân tích vả tổng hợp: Trên cơ sở nguồn thông tim, tư
liệu, số liệu thu thập được từ các công trình nghiên cứu tuốc đây, từ việc khão
sát thực tiến tác giả tiển hành phản tích, tổng hợp số liệu thông tin theo mục tiêu nghiên cửu của đê tài
- Phuong pháp so sánh vả đối chiếu: Những số liệu, thông tin có từ nhiều nguồn khác nhau đã được tác giả so sánh, đối chiều với để đưa vào đề tải sao
cho sát với thực tế nhất
~ Phương pháp liên ngành du lịch — văn hóa: Bởi âm nhạc luôn gấu với
truyền thông van hóa của dân tộc, cho nên tác giá đã xem xét các yếu tổ từ góc
nhìn văn hóa, tru tiên phát triển du lịch dựa vào văn hóa nhưng không làm mật
đi bản sắc văn hóa của đân lộc.
Trang 12- Phương pháp khảo sát thực tế: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dã
nhiều lần đến các địa phương có liên quan đẻ khảo sát, tham dụ các buổi liên
Thoạn, sinh hoạt đờn ca lài lử của các đội, nhóm, câu lạc bộ đồn ơa tài tử ở các dia phương nhự Tiên Giang, Bén Tre, Cân Thơ, Hậu Giang, Bạc Liễu
6 Những dóng gúp của luận văn
- Cung cấp một phẩn tôi liệu cho việc nghiên cửu về nghệ thuật Đần ơa
tải tử giúp thể hệ trẻ thêm yêu mến, trân trọng, giữ gìn vốn cỗ của dân tộc
- Tìm hiểu tỉnh hình thực tẻ của hoạt động khai thác kinh đoanh du lịch
dua vào nghệ thuật Đềm ca lài tử
- Dưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh
du lịch dựa vào nghệ thuật Đàn ca tài tử
- Khả năng ứng dụng trong thực Hền: Xây đựng tuyển du lịch về chương trình tham quan và xem biéu dién nghệ thuật Dàn ca tài tử tại các tỉnh Dễng bằng sông Cửu Long,
7 Bỗ cục luận văn
Ngoài phẩn mở đầu, kết luận, danh mục đẻ tài, tài liệu tham kháo, phụ lục, cầu trúc để lài gồm có 3 chương
- Chương 1: Tìm hiểu chung về nghệ thuật đờn ca tài từ Nam Độ
- Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị văn hỏa của nghệ thuật Dờn
ca lai tử Nam Bộ - Việt Nam phục vụ phát triển du lich
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác các giả trị văn hóa của nghệ thuật Dờn ca tài tử Nam Hộ - Việt Nam phục vụ phát triển đu lịch
10
Trang 13Chương 1 'TÔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT DỜN CA TÀI TỦ NAM BỘ
1.1 Tên gọi, nguồn gắc vả lịch sử đờn ca tài tủ Nam Bộ
1.1.1 Khải niệm
Dén ca tai ti Nam Bộ là săn phẩm văn hóa phí vật thể của Nam Bộ,
Trang lính bác học, vừa dần gian gắn liền với mọi sinh hoại công déng din cu
Nam Bộ, được cải biên từ nhạc cung, đình Huế và sảng tác mới trên nền tăng âm
nhạc đân ca, hát đối, hò vẻ của vùng đắt Nam Bộ
Qi như vậy cũng đóng, mọi người cũng hiển, nhưng chưa thật sự diy
đủ, chưa nhất quán và chưa thẻ hiện được tính đặc thủ của vũng đất Nam Hộ
Tên gợi “ca nhạc tải bi”, “dan ca lài Lữ” còn mang hơi hướng lân nhạc,
chỉ có “dờn ca tài tử” thể hiện dược tính dân gian vả tỉnh dặc thủ của vùng dat
Nam Hộ, nhưng chỉ gọi “đờn ca tải tú” không lá chưa đủ nghĩa, vì đờn ca tải tứ của vùng nẻo chưa được đề cập tới Qua một thời gián khá dội, cáo nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thông, các nghệ nhân, nghệ sĩ dã nhiều năm tranh luận với
nhau thông qua điễn đàn báo chỉ, các cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm ở các cấp, cuối cùng đã thông nhát tên gọi là “Đòn ca tải tử Nam Bộ”
Don ca tai tứ Nam Bộ, có hai tính chất cơ bản: Bác học và dân gian Tính tác học là một đòng nhạc được định hình theo hệ thông thang âm ngũ cung (hẻ,
xu, xang, x@, công), có điệu thức âm nhạc (hơi, điệu, bài bản) và mang lính triết
lý đạo học Phương Dông, thể hiện đây đủ nguyên lý học thuật Tỉnh dân gian lả
tự phát qua các thời kỳ (trước khi định hình), trong mọi giai cấp, tắng láp xã hội
gọi ]à “trí kỹ, trì âm” Đờn ca lài tử Nam Bộ có trường phái mà không có trường
11
Trang 14lớp đảo tạo chính quy, truyền dạy theo hình thức truyền nghẻ truyền thông “cằm tay chỉ việc” (cá đản và ca), những người truyền nghà đỏ thường là các bậc nghệ
nhân Đờn ca lài lử Nam Bê rất gần gũi với cuộc sống cí
cũ người, nó vừa
biểu hiện dược tính giao tiếp, vừa là tỉnh tiêu khiến, diễn ra ở bắt cứ noi nao,
hoàn cảnh nào, không phân biệt sang — hèn — địa vị xã hội, có lúc nhàn rỗi “tra
quên cả sự đời, chỉ biết gửi trọn hẳn vào cuộc chơi Diễn tấu, đờn ca chuẩn mực,
đúng bái bản, đúng điệu thức, đúng nhịp, đúng câu, đùng lớp củng lúc như đã
hẹn, có thể gọi là đồng điệu “tâm đâu, ý hợp”
Don ca tai tử Nam Bộ là một bộ phận trong nên văn hóa dân gian Nam
Độ, phân anh được tình cảm của cơn người với con người, con người với thiên
nhiên, với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, được biểu hiện bằng những điệu thức âm nhạc, lời ca, đo các nghệ nhân, nghệ sĩ sáng tạo tiên, rồi ruyển
nghệ từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.3 Nguẫn gắc
Từ trước dến nay có một sở nhà nghiên cứu đã nghiên cứu loại hình dàn
ca tải tử Nam bộ, nhất là tỉ tư liệu để chứng minh ai là người có công đã sáng
tác ra đông nhạc lãi tủ Nam Bộ, nhưng vẫn chưa có kết luận nào đáng tin cây,
kẻ cả các cuộc hội tháo về nghệ nhân Nguyễn Quang, Đại (bạ Đợi) với nhạc lễ, nhạc tài tử Nam Bộ ảo Sở Văn hỏa Thông tin tỉnh Long An tô chức vào tháng
Trang 15Nam lánh nạn, với vốn ca nhạc Huẻ sẵn cỏ ông đã cải biên một số bài bản trở
thành đặc trưng âm nhạc Rlam Hộ vả tạo nên phong trao Don ca tai tit Nam Bo
ð miền Đông do ông đứng đầu, nhóm rniển Tây (Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho)
do ông Trần Quang Quờn đứng dàu, nhóm Hạc Liêu, Rach Giả do ông Lê Tài
Khj (1862 — 1924) quê ở Bạc Liêu đứng đầu và ông được tôn là hậu tổ nhạc
Khi
Sau nhiều năm, ông Nguyễn Quang Đại (3a Đợi), Liên Quang, Quon,
nhạc Khi và nhiều nghệ nhân khác đ Nam Hộ đã cải biên, sáng tạo bố sưng mệt
số bài bài từ điệu thức Bắc, Nam Đặc biệt điệu thúc Oán Chánh, Oán Phụ là hoàn toàn do những người sống ở vùng đất Nam Hộ sáng tạo nên Tất cá các bài
bản được cãi biên, sáng tạo bổ sung đều thể hiện được tính đặc trưng Nam Bộ
Trong hàng trăm bài bản của dòng nhạc lài tứ Nam: Bộ, có một số bài bai
do các nghệ sĩ, nghệ nhân Nam Hộ sáng tạo nên Qua đó cũng khăng định rằng
đồng nhạc tài tử Nam Bộ và phong trao Đờn ca tải tử Nam Bộ là đo nhiều bậc
xrghệ nhân, nhạc sĩ và nhiều lớp người sống trên vùng đất Nam Bộ và lợi thế về nên tăng âm nhạc dân ca Nam Bộ, vẻ thiên nhiên từ đó sáng tạo nên Từ nhạc cung đình Huế lan tỏa vào, trên cơ sở đó các nghệ nhân, nhạc sĩ cãi biên thêm
thành nhạc tài tử Nam Bộ
Don ca tai tử Nam Hộ ra đối vào những thập ruên cuồi củng của thế ký XIX (hoãn năm 1885)
Don ca tải tử Nam Bộ bao gồm Đờn và ca:
1.1.3.1 Dân theo dòng nhạc tài tử Nam Bộ Thạc tài tử Nam Bộ gêm có 05 nút nhạc chính: Hò, xự xang, xê cảng, Nat nhạc phụ: Phạn, tổn, lả, oan
Nét nhạc cách nhan quãng tám (gọi theo nhạc tan) co 14, liu, xang, xé, xăng,
Ủ cách quảng tám — với chữ XỰ
LH cách quãng tám — với chữ HỖ, còn gọi là CỚNG
XR cách quãng lắm: voi chit XR, com có chữ XẾ, XẾ
13
Trang 16XANG cách quảng tn — với chữ XĂNG, còn có chit KANG Nếu dùng nhạc theo thang âm từ trên xuống vả từ dưới lên thi tủy thuộc
chữ nhạc, nhưng có đôi khi bộ dấu khác nhau
Vị dụ: Thang âm từ trén xudng: LIU CONG XB XANG
Thang âm từ đưới lên: XỔ LIU
Thạp tải từ Nam Bộ khoân 136 bài bản, rihưng chủ yếu vẫn là 20 bài bản
chính (còn gọi là 20 bài tổ) và một số bài bản phy Bao gồm: 3 Nam, 6 Bắc, 7
Tải, 4 Oán:
Ba Nam: Nam Xuan, Nam Ai, Nam Đão (Đảo ngũ cưng)
Sau Bde: Luu Thủy Trường, Phú Lục, Binh Ban, Cé Ban, Xuan Tinh, Tay Thi
Bay Rai: Xing Xô, Ngũ Đối Thuong, Ngũ Đối Hạ, Long Pang, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc
Bồn Oán: Tứ Đại Oán, Cửu Khúc Giang Nam, Phụng Cau, Pung Hoang
Ngoài ra côn có các bài Oán Phụ (Cải biển): Bình Sa Lạc Nhạm, Thanh _Dạ Để Uyên, Cung Thêm Ly Oán, Xuân Nữ, Ngươn Tiêu Hội Oản, Võ Văn Hội
Qan và còn nhiêu oán nhô khác
Đặc biệt về sau này, còn phát triển nhiều bài, bản ngắn theơ hơi diệu
quãng như: Sương Chiều, Tủ Anh, Khec Hoang Thiên, Sái Phụ, Tân Sái Phi, Phong Ba Định, Xang Xừ Tu, Liễu Thuận Nương (Ông Mông Vân — quê ở Bạc Liêu cỏ công lớn trong dòng nhạc này)
'Mỗi bài bản trong 20 bản tổ của dòng nhạc tài từ Nam Iộ đều phân chia
ra nhiều lớp, thường gọi là lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 Hoặc còn gọi là lớp HỘ, lop XB, lớp CỎNG, XANG VĂN, XANG DÀI, lớp HÔI THỦ, lớp DỰNG, lớp TRÖNG, lớp MÁI Dặc biệt bản Cửu Khúc Giang Nam (trong Bồn Oán) vừa phan chia lớp, lại vừa phân chỉa khúc, gồm 9 khúc, thường gợi là bài Giang
Nam
14
Trang 17người dit bai va
Don ca tai từ Nam Bộ thường sử dựng nhịp 1, nhịp 2, nhịp 4, nhịp 8, nhịp
32 (nhịp 16, 32 là phái triển từ bài Da Cổ Hoài Lang đến bài vọng cổ ngày nay), hưng phổ biển vẫn là nhịp 4 và nhịp 8
1.1.4 Khải quất quá trình tân tại và phát triển
Tân theo những tự liệu của các nhà nghiên củu, các văn nghệ sĩ Naun Bộ
và những người yêu nghệ thuật Don ca lài tử, cải lương, người ta có thể biết rẳng, kế từ nữa cuối thế ki XIX toi nay, Đờn ca tài tử Nam Bộ đã có một quá trình phải triển trên một trăm năm Con số đỏ thật nhỏ hoi so voi Hick sử âm nhạc của một quốc gia đã có tuổi đời hàng ngàn năm Mặc dù vậy, thể loại ca nhạc này đã có một súc phát triển thật đáng khâm phục — không chỉ bởi tốc độ
phát triển nhanh chỏng của nó, mà cả bởi sức chống chọi với bỗi cảnh khất
nghiệt ma nó phải đương đầu
Những chặng đường quan trong whit trong qua trình hình thành và phát triển của Đơn ca tài tử Nam Bộ - kể cả cội nguồn sâu xa nhất, nơi đã dặt nên tảng ban đầu cho sự thai nghén thể loại ca nhạc nảy
Nita dau thé ki XIX
Nha Nguyễn lên ngôi, kinh đô đặt ở miền Trang, Các thể chế chỉnh trị,
xã hội và văn hóa nghệ thuận, trong đó có âm nhạc — đặc biệt là nhạc lễ, của
triều đại nay có ảnh hưởng không nhỏ tới cả rước, đặc biệt là vùng đất phía
Nam nơi mà những ắnh hướng của họ Nguyễn đã hiện điện từ trước đỏ trên
ai trăm năm khi các chủa Nguyễn cát cứ ở Đang Trong
_Nữa cuỗi thé ki XIX
15
Trang 18Thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lăng nước ta Dân tộc Việt Nam rơi
vào cánh nước sôi lúa bỏng _ chiến tranh, đản áp, chết chóc vá sự áp bức bóc lột tàn khỏe khiến cho cả đân tộc phải rên xiết, khổ đau và căm thủ chất chẳng
Trớ trêu thay, chinh trong hoàn cánh dò Đờn ca tài tử lại nấy sinh và chẳng bao
lầu sau khi chào đời nó đã phải cất lên tiếng khỏe đau đón và căm hận quân xâm lược, nhắc nhở người đân chớ quên nổi đau mất nước, đồng thời kiện cường
chống chọi với những trào lưu nghệ thuật, 4m nhạc mỏi từ phương Tây tràn vào cùng những khuynh hướng “Tây phương hóa” ngay trong mước đề bảo tốn quốc
tiên quốc túy cửa đân lộc
Trỡ lại bối cảnh của nứa cudi thé ki XIX Trong cơn quốc nạn, củng với
sự lung lay nghiêm trang của vương triều nhà Nguyễn, ca nhạc cưng đình cùng những Thú vui của hoàng gia cũng suy lần dân Thể loại nhạc thỉnh phòng của
các ông hoàng bả chúa nhà Nguyễn — Dờn Iuế vả ca Tiuế đã theo các nghệ nhân cưng đình truyền ra ngoài đân rồi phát tán đi các nơi Một trong những dòng, chảy của nó đã xuôi về phía Nam, qua đất Quảng, vào sau tới làn Nam Bộ Thể loại nhạc này tuy không phải là cội nguồn trực tiếp đặt nên móng đầu tiên cho
sự hình thành phong trào Đơn ca lài tử ở Nam Bộ, nhưng là mội trong những, tác nhân góp thêm dòng lực và có sự ảnh hưởng quan trọng tới hưởng phát triển
cua Don ca tai tử Nam lộ
Sự giao lưu và thì đua giữa các môn phải tải tử miền Đông và miễn Tây
lúc bẫy giờ dã góp phản quan trọng vao sy phat triển của dồn ca tải tử - chẳng, những vẻ kĩ thuật đòn, ca, mà cả về phương diện ghỉ chép, hệ thống hóa, tụ
chỉnh những bản nhạc cỗ, dao tạo những nghệ sĩ đờn ca, sáng tác, nhờ đó dẫn
tới sự phát triển mạnh mẽ của phong trảo sáng tác mới theo lỗi cỏ nhạc Theo
xphệ sĩ Ba Văn, khoảng 1910, bên cạnh những điệu hò, lý
, ngâm ở Nam Hộ
đã có đủ 3 Nam, 6 Bac, 4 Oán, 7 bái lớn, 8 bài ngự, 10 bài liên hoàn Toản bộ
“hệ bài bản cơ bản của ca nhạc tải tử - trong đỏ bao gồm cá 20 bản tổ, được đúc
kết trang “công thức” ngắn gọn: “Nhật lý, Nhì ngâm, Tam Nam, Tứ Oán, Ngũ
Điểm, Tục Xuất, Thất Chính, Bái Ngự, Cứu Nhĩ và Thập thủ liên hướn” Chững
16
Trang 19dé thôi dã có toi 72 bin ma giới tài tử xưa coi như ngưỡng tối da mà người chơi đản buộc phải bó công phu luyện tập cho thành thục trên dây đản như cổ nhạc
sự Nguyễn Văn Thỉnh đã từng chỉ hảo: “Thậm đa lịch luyện thất thập nhị huyền
công” Ấy là chưa kề vô vàn dị bản của chủng và rất nhiều bản mới do các nhạc
i nding sang tac, trong sd đó có nhiều bản còn được lưu truyền cho
sử, nghệ sĩ
tới nay cùng hàng trăm bài ca gắn với dí sản âm nhạc phong phú đó
Sức phát triển nhanh chỏng của đờn ca tài tử khéug chí dừng ở đây
Khoảng 1914 — 195, khi những lời hồ hào đầu tiên về việc canh tân “hí kịch"
vừa xuất hiện, thì — với tĩnh thân canh tân và thích ứng nhanh nhạy với thời đại, nghé si tai ht Nam bộ đã mau chóng tạo những chuyển biển mei cho loại hình
nghệ thuật này Từ lới sinh hoạt tri âm tri kỷ trong khuôn viên gia định, chòm xóm hoặc trên dòng nước lung linh bóng bằng, đờu ơa tài tử bước lên về phương
thúc và hình thúc trình điễn Chỉ trong vòng trên đưới mười năm, lối ca Tử đại
cản “Bùi Kiệm — Nguyệt Nga” như có vẫn đáp của cô Ba Đắc đã gợi ý cho sự
sảng lạo từng bước hình thức ca ra bộ, rồi lát chộp, lát lớp, cuối cùng dẫn tới
sự hinh thành một thể loại sản khâu kịch hát mới thể loại kịch hát “vua”, có
sức lam truyền mạnh mẽ nhất trơng cả nước ở thế kỉ XX: hát cải lương, tức sân
khâu cải lượng,
Tie sau khi sân khẩu cãi lưỡng “lên ngôi” cho đổi nap
Chững đường nay ly đài và trải qua nhiều bước thăng trằm, nhúng về
cơ bản không cò những bước chuyên đột biến lớn lao như ở giai đoạn trước Trong suốt chặng đường trên nửa thể kĩ ây, đờn ca tài tử phải đổi mặt với những
thách thức mới: sự bành trưởng và sức hắp đẫn mãnh liệt của hát cãi lương, và
sau đỏ chẳng bao lâu là của tần nhạc (nhạc mới) Việt Nam Bên cạnh đỏ là
những trao lu van hóa nghệ thuật Âu Mỹ vẫn tiếp tục xâm nhập và ảnh hưởng
không nhỏ tới tập quản, lối sông, thị hiểu của người đân
‘Trong béi cảnh đỏ, ngay cá thể loại kịch hát “vua” cũng đã phải nhiều
phen chao đảo và dân bị lai tạp — khi Tàu, khi Tây Tuy nhiên, bất chấp tất cã, dim ca lai lữ vẫn tiếp Lục con đường của mình: thích ứng với thời đại, sẵn sảng
Trang 20tiếp nhận cải mới để phát triển, nhưng kiên cường gin giữ bản sắc cỗ hữu của xinh Nó tên tại song song dưới cá hai hình thức _ sinh hoạt thính phòng trí kỷ
Thư thuổ xữa và những hình thức trình điễn mới: trên sân khấu — trước đông:
đão công chúng, hoặc tàch biệt hẳn với công chúng qua phương thức ta phát trên các phương tiện truyền thông mới đu nhập và các đĩa hát Dáng nể hơn
xiữa, nó đã không bị những hình thức hát mới thay thế hoặc làm lựi tàn Trái lại, đờn ca tải tử còn tiếp tạc làm chỗ dựa vững chắc và là nguồn hỗ trợ đắc lực cho
sự phát triển của sân khâu cải hương
Tiên thực tế, nhiều nghệ sĩ thời đó vừa là thành viên những ban, nhôm:
tải tủ, vừa tham gia diễn cho các gánh cải lương, Lễ giế tổ cỗ nhạc không, có sự phân biệt người của giới tải tử hay cửa giới cải luong Tuy nhiên, giữ được Trghiểm ngặt nhất những rét tĩnh tế và các tính họa cửa cỗ nhạc vẫn là lối dim
ca tai từ Nghệ sĩ Hãy Nhiêu đã có nhận xét “Ca hát trên sân khâu dé ding hon
ca tài tử" Côn về phan don, aha nghiên cứu Đắc Nhân đánh giả: “ kỹ thuật biếu điễn bài bản nhạc của các đàn nhạc tải từ ất là tế nhị sơ với lối biểu điển trên sân khẩu vả có một sức hấp dẫn kỷ diệu” Bởi vậy, trở nên dễ hiểu lả đờn ca tài
tử không những tiếp tục là “lờ” đảo tạo nhiều danh ca, danh cầm cho chính
aninh, ma con lả nguồn cung cắp nhân tài cho cải lương, Sáng tác của các nghệ
sĩ tải tứ không chí làm giàu cho vền bải bản tài tử, mả còn góp thêm nguồn dự trữ cổ nhạc phong phú cho sân khẩu cải lương,
Mặc dầu vậy, mới quan hệ giữa đơn ca tải tứ và hát cải lương, là mỗi quan
hệ tương hỗ bai chiều, Cải lương khống chỉ dụa vào đờn ca tải tử, mà ngược lại,
nó cũng tiếp thêm sức sống trẻ trung cho thế loại đã sinh thành và lâm chế dựa vững chắc cho né Trước hết, cải lương kich thích thêm động lực cho sự nở rộ
của phong trão sáng tác những tác phẩm nhạc mới theo lối cố nhạc trang giới
im ca lân điệu”, “có nhạc
tài tủ Những thuật ngữ th tân” ra đời từ đó Vào
những thập kỉ giữa của thể kí XX; hàng tram nhac phẩm thuộc loại nảy được
sáng tác Nhiều bài trong số đá còn tiếp tục đọng lại cả trong sinh hoạt don ca
tài tử cũng như trên sân khâu cải lương Người trong nghệ đương thời và nhiều
18
Trang 21thể hệ sau hỏ có thê quên Mông Vân - hiện tưởng nói bật của trào lưu sáng tác
và canh tên nói trên Theo sự bảnh trưởng mạnh mế của sân khấu cãi lương, cỗ
lừng những sáng tác của giới tải lữ NHm Bộ đã được lam tru,
đất nước, thậm chí sang cä các nước láng giéng nơi có Việt Kiểu sinh sống, rôi bằng nhiều con đường, được truyền bá tới tận những nước xa xôi khác
Dan ca ti Lit va dải lương đo dỏ đã trở thành một cặp déng hành ăn ý,
tổ trợ đắc lực cho nhau trên đường phát triển, cũng như trên đường bảo tổn gìn
giữ vên cổ nhạc cũng như canh tân và tiếp thư những yêu tổ mới Nhờ đó, cả
hai đêu có sức phát Iriển và tiếp tục tÔn lại vững vàng; giữa những luỗng ca nhạc
và nghệ thuật ngoại lai ngập tràn cũng như những thể loại ca nhạc, nghệ thuật
mới trong nước với lòng tin và tự hào mãnh liệt đôi với đi sản cổ nhac eta dan
tộc Cải tên “Nhạc cổ điển Việt Nam” mà nhóm tải tử Hậu Giang đá dùng để tôn vinh cỗ nhạc đân tộc — với hàm ý như một sự đổi trọng với “nhạc cỗ điển
phương Tây" mà nhiều người đương thời ngưỡng mộ như đỉnh cao duy nhất của
âm nhạc thê giới, chính là biểu liện cụ thí
đó
ia long tin và tư hảo đáng trân trọng
Cũng không thể quên nhắc rhớ rằng, sự phát triển của phong trào đờn cả
tài tử và hát cải lương không chỉ tạo dộng lực cho sự phát triển của nghệ thuật
don, ca va sing tac, ma cén tao da cho cả nghề lam dan cũng như việc nghiên cứu biên soạn cáo sách về cỗ nhạc Thanh của của hoạt động mày trổ bông kết trái với những công trình suy tầm, biên soạn và nghiên cửu được xuất bản trong trhững thập niên 50 — 60 ở mniên Nam của Trịnh Thiên Tư (ca nhạc cô điển), Võ Tan Hung (Cé nhac tâm nguyên), nhóm nhạc sĩ Hận Giang (Nhạc có điển Việt
Nam), Lê Văn Tiển (Hưởng dân sử dụng một số nhạc cụ dân tộc qua bài ban Cai lương), Dắc Nhẫn — Ngọc Thới (Bài bản cải lương) ở miễn Tiắc — đấu ban
về âm nhạc cải lương, sơng cũng đã đem lại cho công chúng nhiều hiểu biết sau
hon vẻ cỗ nhạc Nam bỏ 126 lá chưa kế nhiều bài viết rất có giá trị trên các báo
va tap chi
19
Trang 22Củng với cải lương, giới tài tử cũng, dã rất nhanh nhay trong việc tiếp nhận thể nghiệm nhiều nhạc cụ mới của phương Lây như violon, mandoline, guitare và Việt hóa chúng để trình diễn cỗ nhạc Tuy nhiên, không xô bê như
Ở nủa sau thể kỉ XX tuy có phẩn giảm sút hơn trước, song phong trảo
sáng tác và nghiên cứu cỗ nhạc vẫn tiếp điển Những tìm tỏi nghién ci dé ap
dụng Âm — Dương ngất hành vào sảng tác và bản Ngii chau minh Pho chao doi năm 1979 cia nhạc sư Nguyễn Văn Thỉnh ở miễn Déng trong sự đăng đối với
Tứ bữu Liên thành của nhạc sư Lê Tài Khi (Nhạc Khi) ở miễn Tây thuở trước, những công trình nghiên cứu lớn nhỏ liếp tục duợc xuất bàn
1.2 Những đặc điểm cơ bản của đờn ca tải tử Nam Hộ
1.2.1 Thang âm nhạc tài tit [38]
Ba thang âm cơ sở
Thang bồi âm: Dây là thang âm hình thành do sợi dây đàn hoặc ông hơi khi Tìng lự chia thành nhiều phần âm bằng nhau và những phần âm ây cùng rung lên Chúng tạo nên một chuối âm theo nguyên lÿ: âm trên có tản số bằng tản số của âm đưới sát nó cộng với tần số của âm cơ bản Do nó được hình hình thành
tử một định luật vật lý nên tôi goi nó là thang âm cửa trời Vẻ mắt tần số, thang bôi âm là là một thang âm có tần số các âm ở các bậc là những số hạng của một
cập số cộng, trong đó số hạng đầu là tân số cơ bản của âm ở bậc khối đầu và công sai cũng là tần số cơ bản đó
Trang 23Bang 1.1 Thang bồi âm
we
Aang ges Me} xen
Thang am Pythagoras - Quản tủ: Tương truyén Ja thang 4m otia Pythagoras,
wha triết học và toàn học người Hy Lap, sing vào thế kỹ thứ VT trước Công nguyên Ông đã lần lượt chia sợi dãy đàn thánh 3 phần bằng nhau rồi lây 2 phần
thi được một âm cao hơn âm gắc một quãng 5 đúng Cũng khoảng thời gian này,
tại Trung Quốc, Quân Tử đã thực hiện như lrên với các ống hơi và cũng thai được kết qủa tương tự Ông nêu quy tắc nồi tiếng: Chia ba, bớt một, thêm một 'Hai cách làm trên đều cho ta một loại thang âm trong, đó các nốt nhạc được liên tiếp chẳng theo quảng 5 đúng tự nhiên:
a) Lấy Do (C) làm âm khởi đầu vả với tỷ tần bằng 1 = 0,000 xen, ta có,
Trang 24Thang bây bậc chia dều - Ý nệm chia đầu: Nhiều nghệ nhân nhạc cỗ tuyển
ở ta thường coi thang bảy bậc chia đều lả thang âm gốc rễ Nó được sinh ra ở
Ấn Độ từ thời cỗ đại với cái lên Gândhara-Chảma rối truyền sang thước thuộc
ving Eng Nam chau A G dao Java (Indonesia), trước dây nó có tên là Pelog
Nó cũng đã có mặt trong nhạc cổ tryên của Thái Lan, Lào, Campuchia và bóng
đáng của nó vẫn còn (én [ai Loi ngày nay Về muặt lần số, thang bay chia déu Ja một thang, ấm có tân số các âm ở các bậc là những số hạng của cấp số nhân trong
đó số hàng đầu là tần số cœ bản của âm ở bậc khởi đâu và có bội bằng 217:
Tam thang âm nhạc cỗ truyền Liệt Nam
Thang âm bắc: Về đại thé, cdch thành lập thang äm lắc trùng hợp với nguyên lý cầu tao thang am Pythagoras — Quan Tt Riéng bac Xang va vac Phan hơi chênh cao Chúng có tỷ lẫn bằng căn bậc lui của tích giữa Lỷ tần Xang hoặc Phan trong thang bay bậc chía đều với
am Pythagoras Do đó, chúng có số cents bằng trung bình cộng của các bậc ay:
Xang (27 x 49)! 1339602027 506.165 cents
tân của Fa hoặc Si-giáng trong thang
Phan = (27 x 16/9"? = 1.79453359 = 1012.331 cents
Khác với các bài bản thuộc điệu Bắc mà tlưng âm của chúng có thể quy
vẻ cùng một dạng cơ bản, thang âm của các bài bản thuộc các hơi trong điệu
Nam khéng thẻ làm như vậy vi chúng không giỏng nhau
Thang Âm quá độ Xuân: Sự thâm nhập đầu tiên của thang bồi âm vào thang bảy bậc chia Gdểu xáy ra ở âm quảng nâm trên âm cơ bản, tức bởi âm số
12 Am nay đã chia quãng tam thành hai phân không bằng nhau, do đó su chia đến chỉ có thể xây ra trong nội bộ từng phân (quãng 5 đúng và quãng 4 đứng)
Thang âm Xuân: Đề có màu sắc tươi tắn hơn, tạo được những giai điều
nhẹ nhàng, sảng khoái và nghiêm trang của hơi Xuân, người ta đây âm Xử cao
ngang với bằi âm số 1Ô và hạ thấp Xang bằng cách “mượn”? âm Xang ở thang béy bac chia déu Déng thời nâng cao hai bậc Xụ, Cổng để chúng có cao độ
đứng pitta Xu, Công của thang âm quả đô Xuân và thang àm Bắc:
Xu |(3/2J“'x9/8J? 111580337 198699 cenls
k 8
Trang 25Cao độ của hai bậc Xu, Cổng chứng tỏ thang âm Xuân có mi liên hệ giản
tiếp với thang âm Đắc và bậc Xang, đâu tích của thang bãy âm chúa đều là bằng
chứng về mối liên hệ trục tiếp giữa thang âm Xuân với thang bậc chia đêu
Thang âm qua độ 4i: Ngoài bôi âm số 12, nay thêm bài âm số 9 thâm nhập vào thang bay bậc chia đều Chúng trở thành hai điểm chốt chia cắt Lừ Xự đến Liu thành hai phần bằng nhau: Xự - Xê và Xế - Liu Đây là hai quãng 4 đứng chẳng liên liếp và khi chía đều thì ta có sáu quãng bằng nhau:
Bang 1.3 Thang âm quá độ Ai
Trang 26Thang âm Ai: Đề có thang âm Ai, ta phải mượn Xang ở thang âm quả dô
Xuân vá Công, Phan ở thang báy bậc chia đều để lập nên dạng cở bản dưới đây:
Bang 1.4 Thang âm Ai
THANG ÂM AI
Hỗ : xy 1 xt XANG : XẾ CÔNG rod PHAN - LỮU
asso xai 70/86 De Ì ‘ses | 175,569 158.08 § 17
eases „Xem Ệ thạo 265928 0 Tú BH
TragẩnRuễn vo” va ray Oe MÔ RA sau Trẻ — TA
Thang âm quá độ Ai đã cung cấp hai bậc Xự, Xừ cho thang âm Ai Thang
âm Ai cũng có mối liêu hệ trực tiếp với thang bảy bộc chúa đều, thể hiện 6 hai
bậc Cổng, Phan Riêng bậc Xang, do lẫy ở thang âm quả độ Xuân nên cao hon Xang Xuân
Thang dm qua dé Odn dạng Ï: Ngoài bỗi âm số 12, nay thêm bỗi âm số 13 thâm nhập vào thang bảy bậc chia đều Clrủng cắt ngang thang âm nảy thành
tiến đoạn
a/Hò-Xu — (từbồiâmsố 8 đến bồi am 36 9)
by Xự - Xê (từ béi âm số 9 đến bồi âm số 12)
Ẵœế - Cổng —_ (từ bôi âm số 12 đến boi atm số 13)
d/ Cổng - Liu (từ bổi âm số 13 dễn bối am sé 16)
Sự chia đều để lây chỗ đứng cho ba bậc còn lại Xử, Kang, Oán chỉ côn có
thể thực hiện được trong hai doạn b/ và di,
Thang âm Oán dạng 1- Tứ thang 4m quả độ trên, chỉ cân thay Xự bằng cach
“mượn” nó ỏ thang bãy bậc chia dều là ta có được đạng cơ bản của thang âm Oản
Không kế thang bảy bậc chúa đều và những thang 4m quá độ, chí so sánh
với các thang âm thuộc điệu Nam thì đây là thang 4m đưy nhất cha đựng trong
nó cũng lúc cả quấng ba và quấng sáu gần như trung lính
Trang 27Bang 1.5 Thang âm Oắn dang 1
THANG ÂM OẨN DẠNG ï
tung giữa nÍcbỆc~ Xen
eh a son 203510 32857 hàn trau thon tàn w
Tăng 1.6 Thang Âm Oăn dạng 2
THANG AM OAN DANG 1]
ogg ctevte xen : S08 | Gog | i j 808 |
é ' thận xả sae mg asian wes 1210
5 LA sị ba
Bang so sánh các thang âm- Đ so sành, nhận xét, ta xếp các thang âm:
Tắc, Xuân, Ai, Oán I, Oán TT vào một
Trang 281.22 Ngữ điệu và hưi trong nhục tài từ - cũi lương Nam Bộ
ấy lâu nay trong môi trường nhà nghề cững như giới nghiên cửu nhạc
Tài tử - Cải lương vẫn thường lưu hành các khải niệm ĐIỆU vả HƠI Có mây
cách hiểu về ĐIỆU và HƠI như sau:
- Thứ nhất, điệu được dùng để chỉ một tập hợp sắc thải nhạc đặc trưng
Ở đây, người ta phân loại ầm rhạc làm 2 thành phần là điệu Nam và điệu Bắc Trong đỏ điệu Đắc dược chia thanh 2 hoi: Bac và Nhạc lễ (còn gọi hơi Ha, hoi Bay bai hay hot Bay bài có (hơi nhạc này bao gồm 7 bài: Ngữ đối thượng, Ngũ đối tự, Long đăng, Long ngâm, Van giá, Tiểu khúc, Xàng xê nên côn gọi là hơi
Bây bài Cải tên Hơi hạ là lây từ chữ Hạ của bài Ngũ dối bạ, có lẽ là bài bản
được tra thích nhất trong hệ thông 7 bài Những bài này thuờ ban đầu là đại điện chính của nhạc lễ Nam bộ, nên hơi nhạc của chúng cũng được gọi là hai Nhạc
lễ hay 'Thất chỉnh, và thời trước thường được chơi chú yếu bằng đản cỏ nên cũng, gọi là Bảy bài cò Ngoài ra, do âm điện 7 bài này rất gần gũi với hoi Bac nên
cũng gọi là Bảy bài Bắc lớn) Điệu Nam cha thành 3 hoi: Xuân — Ai — Đảo.
Trang 29Riêng Oán có người xếp vào điệu Nam, có người xếp riêng thành điệu Oán,
nhưng cũng thường gọi hơi Oan
~ Thứ li, điệu được đùng tương đương như hơi để chỉ duy nhất một sắc thái nhạc dặc trưng Cỏ ngÌữa người ta cũng đúng thuật ngữ diệu thay cho hơi
Ví dụ có thể gọi hơi Bắc, hơi Nhạc lễ, hôi Quảng, hei Dao, hoi Xuan, hoi Ai,
tơi Oán, và cũng gợi diệu Bắc, điệu Nhạc lễ, điệu Quảng, điệu Đão, điệu Xuân, điệu Ai, điệu Oán
- Thứ ba, do hơi và điệu được dừng lẫn lồn nên dẫn đến một quan niệm
ngược lại, tức điện lại năm trong hơi Khi đỏ các khái niệm riêu rên bị đào
ngược lại, vi dụ trong hơi Nam cỏ các điệu Xuân Ai Dao, trong hoi Bac có điện Bắc và điệu Nhạc lễ
Trong niên âm nhạc cô truyền Việt Nam, khải niệm ĐIỂU còn được dùng thô biển với nghĩa để chỉ đích danh một làn điệu nảo đó Riêng khái niệm HƠI đây và đàn tranh đều gảy bằng tiếng tơ Đại lược cô bến trếng chính là: tính, tính, tình, tình, bại đặt thêm ba tiếng phụ là: trưng, Lạng, tảng, bây tiếng ấy thay đổi lam chú khách mà thành ra xoang, điệu”
“Trong riên ân nhạc cổ guyển Việt Nam, khái niệm ĐIỀU còn đuợc dùng:
phổ biến với nghĩa để chỉ dịch danh một làn diêu nào đó, Riêng khái niệm HƠI,
đến nay có lẽ chỉ thấy dùng trong các thể loại Tuổng, Cung dinh, Thinh phòng,
Huế, Nhạc Ï
lân gian và nhạc Tải tử - Cải lương Nam Bộ Đây cũng chính là
các thể loại nhạc sử dụng phương thúc lưu truyền bái bản bằng hệ thống, ký tự
THỏ, Xự, Xang Trong nhạc Cung đình và Thỉnh phòng Tuế, khái niệm DIU
và HƠI được đảng đổng nghĩa, để chỉ 2 sắc thái âm nhạc là Bắc (còn gọi là Khách) và Nam của vùng âm nhạc này Điệu Bắc cũng là hơi Bắc, điệu Nam
cũng là hơi Nam Tương tụ, trong nhạc Tuởng (giới hạn & hu phai tuéng Bac),
khái nệm ĐIEU và HƠI được sử dựng đan xen để chỉ 3 sắc thái âm nhạc 1á Bắc
(con goi là Khách), Xuân và Ai (còn gọi là Oán) Irong nhạc Tài tử - Cái lương
hư đã trình bay, khái niệm ĐIEU và HƠI khá phức rạp Số lượng màu sắc âm nhạo nơi đây lên tới con số 7 là Bắc, Nhạc lễ, Đão, Quảng, Xuân, Ai và Oán
kẻ 3
Trang 30Lúc thì gọi HƠI trong ĐIỆU, lúc thi gọi ĐIỆU trong HƠI Rõ ràng, sự lộn xôn
không mang tính thông nhất là điêu đã và đang hiện tổn tại trong môi trường lưu tuyển nơi đây Trong đó, cách gọi điệu Bắc phân biệt với điệu Nam có lẽ vay mượn từ quan niệm của nhạc Cung dinh vả Thỉnh phòng Huế, Đó cũng là
'Tóm lại, hơi (hay điệu) là một hệ thống các yếu tổ biểu cắm của nhạc
thanh mang tính quy luật đặc thủ Mỗi kiểu dang hoi tương đương với một màu
sắc nhạc đặc trưng cho thể loại Hoi được tạo nên bởi 3 thành tổ cơ bắn
+ Thang âm lá mối tương quan mang tính quy luật về cao độ của các ñm
bậc trong giai điệu
+ Phương thức vận hành giai điệu là quy hiật cấu tạo và vận hành của
giai điệu, thể hiện những mỗi quan hệ chính — phụ, bước kết nối của cáo bậc
trong thang âm
+ Phương phép trang điểm được hiểu như một tổng thể bao gồm các cách xung, nhắn, vuốt, mổ, luyến láy Nó thể hiện sự trang, điểm mang tinh quy luật
của các bậc trong thang âm
Với quan niệm như trên, sẽ thấy trọng nhạc Tài tử - Cải lương không có
khải niệm điệu Nam (hay hơi Narn) Ngoài ra, sự khác biệt giữa hơi Ai và hơi
Oân trong nhạc Tài tử - Cải lương chủ yêu thể hiện ở cầu trúc rửnp điêu trong, bài bản cụ thể, cón các quy kuật đặc thủ biểu căm mâu sắc âm nhạc thí khá tương đồng Bởi vậy, có thể xếp 2 loại hơi này làm một trong sự đối sánh chưng
Dưới đây là bảng so sánh thể hiện mỗi quan hệ về hơi giữa nhạc Cung định, Thính phòng Huề, nhạc Tuồng và nhạc Tải tử - Cái lương
Trang 31Hơi Nam Thạc Cung định,
Taina phong Huế ~
Hơi Khách ‹ Hơi Bắc
Hoi Bik (Khdets) Hơi Nhục lễ
Thạc Tải tớ
tải lượng Hội Ai4Oan) - [TH tim Ai (Oiám)
Hoi Dio Hơi Quảng
Nhin vào biếu đẻ trên, sẽ thấy hơi Đão và hơi Quảng chính lá nét riêng,
biệt của nhạc Tải tủ - Cai hrong, trong dé hoi Quảng được xem như sự tigp thn
những tình hoa của âm nhạc Quảng Đông _ Trung Quốc Ngoài ra, điểm chung
nhất giữa 3 thể loại Am nhạc chính là hơi Khách (hơi Bắc : hơi Nhạc lễ) Rõ
ràng, nhạc Tài tử - Cải lương đã tiếp thụ toàn bộ các hơi nhạc của Tuông Ở day, tính kế thừa đó được biểu hiện như một sự tiếp thu dòng cháy âm nhạc của người Việt lừ Bắc vào Nam
1.3 Những giá trị nỗi bật của đừn ca tải tử Nam Bộ
1.3.1 Giá trị lịch sứ
Theo tư liêu nghiên cứu về Đòn ca tài tử thi nghệ thuật Đòn ca tài tử
Nam Bộ ra dời vào những thập niên cuối củng của thế ký XIX (khoản năm 1885) Tinh đến nay âm nhạc tài tử chỉ mới ra đời và phát triển khoảng hơn 100 xăm Như vậy, so với Nhã nhạc cung đình Huế ra đời từ thể kỷ thứ %V đến giữa thé ký XX, Dan ca quan he Lac Ninh có ý kiến cho lá Quan họ có từ thế ký
11, số khác cho là từ thế ký I7; Ca trù có từ thời Lý (Thể kỹ XD thì Đèn ca tai
tử Nam Bộ có bể dày về thời gian khá íL Tuy nhiên, Đồn ca tải Lữ Nam Bộ lại
đáp ứng khá dây đủ các tiêu chuân về xét công nhận Di sản phi vật thể của nhân
Trang 32loại theo Công ước về việc bảo về di sản văn hóa phí vật thể Cụ thể theo định nghia “Di san văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quản, các hình thúc thể
tiện, biểu đại, trí thức, kỹ răng và kèm theo đồ là những công cụ, để vật, đồ lao
tác và các không, gian văn hỏa có liên quan mã các cộng đồng, các nhỏ người
và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn
Don ea lài tử Nam Bộ còn có giá trị lịch sử quan trọng khủ bên than sự ra đời của nó là một trong những minh chúng bằng nghệ thuật những biến đổi quan trọng trong lịch sử đân tộc Sự ra đời, tên tại và phát triển của nỏ gắn chặt với
sự thay đổi, biển động của triểu đại phong kiến nhà Nguyễn hay sự giao thoa nghệ thuật âm nhạc Bắc Nam, Đồng Tây: trong nước và quốc tế
1.3.2 GIÁ trị văn hảa — nghệ thuật
Cho tdi nay, don ca tai ti van ton tai ở các tỉnh Nam Bộ như một nhụ cầu,
tinh thin khéng thé thiéu etia người dân Nhiễu bài bán của nó vẫn được truyền
day ð các trường nghệ thuật, các lớp đạy tư của nghệ nhân, nghệ sĩ cỗ ba miễn
dất mước cũng, như ở nước ngoài Giới trẻ văn có những người theo học loại hình nghệ thuật tỉnh xảo này Dẫu đã ngót trầm tuôi, nhạc sư danh tiếng Nguyễn Vĩnh Bao vẫn tiếp tục tiệp nhận vá trao truyền không mệt mỗi vốn cổ nhạc quý giá nảy cho học trỏ khắp bốn phương Dấu đã bước qua ngưỡng “thất thập cổ lai
hy”, nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng vẫn miệt mải với những công trinh
nghiên cứu sầu sắc về cỗ ny
nhân tải năng và các nhà nghiên cửu trẻ thuộc những thể hệ kế tiếp nhau củng
Nam Bộ Bên cạnh họ còn nhiêu nghệ sĩ, nghệ tiếp bước,
30
Trang 33Don ea tai tử thực sự là một hiện tượng lớn của âm nhạc Việt Nam trong thời cận hiện đại Ở đó không chỉ có sự kế thùa, gin giữ trong tinh than tu tin,
tự hao với đĩ sân văn hóa nghệ thuật cỗ truyền của đân lộc, mà gòn có sự udp nổi và phát triển với sức năng động lớn lao không ngững déi mới, tiếp thu và đân tộc hóa những yếu tổ mới đề thích ứng với thời đại Dó không chỉ là một sản phẩm của văn hóa và con người Việt Nam, mà côn là một mẫu ruực điển tình của sức sống Việt Nam trong thời cận hiện đại, một tâm gương sáng cho znuôn đời sau — không chỉ với giới nhạc cổ truyền mà cả giới nhạo mới trong việc kế thừa, bảo tồn và phát triển để thích ứng với thời đại mới
1.4 Cách thức tổ chức nghệ thuật đờn ca tài tứ Nam Bộ
1.41 Nghệ sĩ, phương tiện và đạo cụ biểu diễn
Những nghệ sĩ, nhạc gĩ nỗi tiếng rong làng đía nhựa cỏ thể kể đến nu: Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ), Phạm Văn Nghỉ (Tư Nghỉ) — đản kừn, tranh, cò, gáo; Trương Văn Đệ (Bây Hàm) — đàn kừm; Văn Hà Tân (Chín Trích) — đàn cò; Hai Thanh (đái phát thanh Pháp A), Ba Phung din kim (là người sắng tạo dây
‘6 ba), Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện), Hai Thơm đàn cò, kun, tranh, violon
và thôi tiêu, Nguyễn Thế Quý (Sáu Quý) đàn tranh, Mười Côn dan co va violon:
Năm Lòng, Nam Giai, Bảy Quế Vẻ ca có các nghệ sĩ nam ca sĩ Năm Nghĩa,
liễng Châu, Tảm Thua, Thanh Tao, Tám lằng, Út Trả Ôn, Minh Chi, Bay Cao,
Sau Thoàng Nũ ca gĩ Hai Sạn, Ngọc Nữ, Hai Đá, Ba Niệm, Ba Bến Trố, Năm Cân Thơ, Ba Trả Vĩnh, Bạch Huệ, Lệ Liễu
Trong hòa đờn, hòa ca Tài tử, hòa hợp tiếng đàn của các nhạc khí là yêu
câu quan trọng Với đặc điểm ngẫu hứng, tự nhiên rửtrng các nghệ sĩ Tài tử vẫn biết cách giữ đặc điểm hỏa sắc _ hỏa hợp trong khi choi dan Dan don ‘Tai ter
thường có đản kim (nguyệt, đàn tranh, đàn cô (nhị), đàn gáo, đản độc huyền
(đàn bầu), ống tiêu được chơi theo thâm mỹ âm nhạc: hòa
thanh (ba, bến bè ở các âm vực cao, Irung, trắn) như âm nhạc Tây phương
Tgoài hình thức độc tấu, thường thấy trong hình thức hòa đèm, hòa ca là sự kết
không hòa
hợp hối hay nhiều nhạc ụ có âm sắc khác nhau Xus nay, Đờn ca lái tử chuộng
31
Trang 34lối hòa dàn thông thường là hai, ba nhạc khi, hiếm khi hòa dàn năm nhạc khí Kim hỏa với tranh tiếng tơ với tiếng sắt, hoặc kìm hỏa với cò nhạc cụ dây gây với nhạc cụ đây kéo Câu nỏi cửa miệng của nhạc giới là “sắt cằm Tảo hiệp”
để chỉ song tấu dân có (nhị) dan tranh, dankim (nguyét) dan tanh, “tam chi liên hoàn pháp” đề chỉ lối hòa tâu ba nhạc cụ: đàn kim, đàn tranh, đàn cò; đàn
kim, dan tranh, đản độc huyền (đàn bau) hay đản tranh, dàn cỏ và dan dc
huyền Hoặc đơn gin hon, nhạc giới cỏ cách liệt kẽ và kết hợp pha trộn các
nhạc cụ hỏa tâu thao thứ tự “kim — cò — tranh — độc —tiêu” v v (hiểm khi thấy
sử dụng sáo trong hòa âm nhạc Tài lử)
Trong hỏa tâu Tài tử xua it thấy xuất hiện những nhóm hóa đàn có hai
hay ba nhạc cụ cừng âm sắc Xu hướng đưa vào đàn hỏa tâu thật nhiều nhạc cụ,
thậm chí các nhạc cụ cùng âm sắc nh kim, guitare phim lỡm, sên của một số
Neay nay, do lần lôn giữa phong cách Tài tử và Cải lương nên dan don it duos
chăm chút, người ta thấy đàn guitere phím lồm khả phổ biên trong các buổi hỏa đơn Tải tử
Người nghệ sĩ Tải tử luôn muốn tha tôi, “thứ” dựa vào một nét mới, nét
lạ khi chơi đàn, và kể cả thử đưa vào một âm sắc mới, lạ bằng một nhạc khí mới Điều đó giải thích vì sao nhiều tên tuổi vang danh trong giới tiếng đản sến, đản đoán, đản tam, đản mandoline, đản mando guitare va sau nay kể cả violon,
guitare phím lãm Nhưng qua những thế nghiệm đó, lần lượt nhiễu nhạc khi
tham gia dan dim réi rời khôi bởi không phù hợp và do nhạc giới không ưa chuộng, không chấp nhận
Cũng vi tính chất Tài tử, ở đầu đó, trong đản gian, đàn đòn Tài tử có thế
sử đụng tắt cả những nhạc khí nào ruà họ sẵn có Đôi khi, chỉ với cây có, thậm
Trang 35chỉ, nễu chỉ có trên tay cây violon — nhạc khí Tây phương, nhưng người nghệ sĩ
'Tải tử cũng sẽ có cách thể hiện tính chất riêng của loại hình nghệ thuật này Họ
đân với những sự cần trọng, chính chuyên của người nghệ sĩ Họ số sắp chữ đản
sao cho đúng bài bản, uốn chữ sao cho dúng giọng điệu, biết thêm thắt để thể
thiện được tình căm của mnình trên một nhạc khi xa lạ với âm nhạc Tài tử
1.42 Thải gian và không gian biéu diễn
Trong một bài giảng, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bão miêu tá nhạc Tải tử -
thủ chơi tao nhã của người miễn Nam như sau: “Tại miễn Nam, từ thành thị đến
thôn quê, đầu đầu cũng có ngưới chơi rữậc Tài tử Năm mười người kết hợp lại thành nhóm, nhóm nào chơi theo nhóm ấy Ngoài ra cũng chơi giao lưu với
những nhóm khác để học hỏi, trao đối hay so tải cao thấp Họ xem âm nhạc như
Tột thú vưi phong lưu, táo nhĩ nên lúc rãnh rồi tổ chức đản ca với nhan, nhất là
về đêm Dịa điểm thì luân phiên, hôm nay tai nha nhạc sĩ A, hôm khác tại nhả
nhạc sĩB Cuộc chơi thuờng khi là không có chương trình, không tính trước ai
sẽ đàn với ai và dân bân gì, cho aĩỉ ca Ai thích đân với ai thủ “bắt cặp” mà đản,
‘Theo GiaDinh Thanh Théng chi cba ‘Trinh Hoài Đức thì “thôi quen thích văn nghệ, đản ca” trong các tằng lớp cư đân miễn Nam: “phàm có cầu đão hay
việc vui, déu bay trỏ điển Tuông, ”, [u.146]; với người buôn bản thì “ lai
bén chủ khách tỉnh toán hỏa đơn, thanh toán rồi cùng nhau đờn ca vui chơi ”
1.25J Có thế bạn đều từ chỗ đàn ca chơi giữa những người không chuyên, chỉ
để giải trí, săn là những tay dén ca chuyên nghiệp của ban nhạc Lễ, nhiều nhạc
sĩ tụ hợp nhau lại thành ban nhạo đản ca chơi hoặc chuyên đờn ca phục vụ tại các tư gia, các lễ đảm Trong những buổi đàn ca ây, cả chủ nhân (nêu biết chơi
nhạc) cũng sẵn sảng củng những nhạc sĩ hỏa đàn hỏa ca Chủ - khách củng nhau trao đối tiếng đàn, ý nhạc, cùng giới thiệu cho nhau nghe những tim tỏi
xuới lạ của mình và củng thường thức Phong trào lan rộng bởi người miễn Nam sẵn có tính thích văn nghệ, đờn ca
Cáo cuộc vui chơi đờn ca được tổ chúc tại nhà riêng, trong bầu không
khí thân mật giữa vải người bạn, biết đồn, biết ca và một số bạn bè thân thuộc,
33
Trang 36những người yêu thích mà tỉnh cách cuộc chơi là giải trí Giới “thượng lưu”,
những nhà danh giả, trí thức ở miễn Nam thời trước thị thích mời nghệ sĩ đến chơi nhạc ở nhà Họ yêu chuộng tiếng đàn của nghệ sĩ nào đó, mời đến ding
com, trở chưyện vá “cao hứng” mở ra một cuộc hỏa don như không clrủ ý từ
trước Cũng có thể là một buổi họp mặt giữa những người bạn, gia chủ biết nhạc, thich don ma, trong số thực khách có rhững tay đồn, thì sau buổi la budi
trả có đòn ca tài tử Chú khách cúng chơi, bạn bè củng thưởng thức Người nghệ
sĩ cũng có thể từ chỗi nêu không cảm thầy hứng thủ Là “chơi” nên không ai bắt
buộc ai, phải thật lòng thấy thích, thấy himg thi tiếng đàn, lời cá mới thực sự bay bổng, mới thực sự là Tải tử
1.5 So sánh nhạc tài tử, nhạc cải lương
1.5.1 Nhạc tài tt
Thạc tài tử có nguồn gốc tr nhạc ngũ âm (ngày nay thường được gọi lả nhạc lễ, đùng trong củng đỉnh, đám ma) đ Xam Bộ mang tính tôn nghiêm trang trọng đùng trong các dịp lễ đám Dàn nhạc lễ ti âm cha ra lâm 2 nhóm (phe) văn và võ với 5 nhạc sĩ sử dụng 5 đến 6 nhạc cụ trong từng trường hợp
Thạc văn gồm các nhạc cụ có, cò chủ, cô gáo tre, cd gao dita, trong nhac
(hay trông bát câu), trông cơm và thường trình tâu các bản: Nam xuân, Nam ai,
Dão ngũ cung, Xăng Xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đổi bạ, Long đăng, Long Ngâm,
Vạn giá, Tiểu khúe và thêm Xuân nữ
Nhạc võ gồm các nhạc cụ: trồng duc, trồng cài, chập bạt, dầu (hoặc thanh la), mỏ sừng, kẻn trưng, bổng và thường trình tấu các ban: Danh thét, Bai lay, Táng điệu, Táng thích, Đánh đàng, Đánh chập, Tiếp giá
Vào khoảng năm 1985 - 1850, phe văn có một sự cách tân tách ra nhỏm nhac méi gém chủ yêu là cáo nhạc cụ khảy vả kéo, gọi là nhóm đòn cây, mang đáng đập của nhạc hòa tâu thính phòng Sự thánh lập tr
ual phat lừ việc yêu
câu của chủ nhả và các đổi tượng am hiểu nhạc muốn nghe chơi, giải trí nhẹ
nhàng trong lúc ngoài chương trình cúng lễ
34
Trang 37Thời gian sau, mô hình này dược học tập và phố biến ở nhiều nơi, phát triển thành phong trảo đờn cây Có thé trong giai đoạn nảy, để tạo sức hút và
cạnh tranh với nhóm khác nihạo sĩ đã Lừng bước chăn chỉnh hoặc cât saan
một số bản nhạc cỗ Huế (Luưu thủy, Phú lục, Bình bản, Cô bản), bỏ sung cho số
‘ban vén it ởi của nhạc đồn cây,
Từ năm 1875 trỏ đi, phong trào đờn cây đã lan rộng ra nhiều tĩnh thành
phía Nam vả trở thành một thủ chơi tao nhã của các gia đình quyền quý Không
gian và thời gian tô chức được mở rộng hơn: nơi phòng khách hay điểm trang
trọng nhật trong nhà, ngoài sân vườn, trên (huyện, dưới bến sông trưng những, lúc trà dư tửu hậu, liên hoan IDối tượng tham gia biểu diễn và thưởng thức
cũng đa dạng hơn: các đanh gia thể phiệt, tac nhân mặc khách, tài tử giai nhân
Và để thụ hút khách trì âm, mộ điệu, hình thức ea được xen kế với hình thúc
đòn Lúc này, mới có bài ca soạn theo lối vin tu su, mang nhiều nội đụng khác nhau trên cùng một bản don (dua theo các tác phẩm thơ ca truyền thông như:
Kim Van Kiểu, Tae Vân Tiêu, Tô Huệ chúc cảm hỗi vă ) Vai bồ người đến
và người ca đều quan trọng như nhau nên tất cá đều củng ngôi trên một bộ văn thoặc chiều nhạc đề thể tiện nghệ thuật Từ đây, mới có thêm muội nhạc cụ gõ lá
nhịp sanh tức bai miếng phách gỗ do người ca nắm giữ (trước do, việc giữ nhịp
do người đàn kim gỗ ngón tay vào thủng đản)
Phong cach chơi dân thoát đi cái vẽ tôn nghiêm của nhạc lễ mà đi vào
chiều sâu tình cảm, cốt cảch của âm nhạc thính phòng, Ở đây cho phép người chơi thể hiện với phong thái khoan thai, đỉnh đạc bằng tất cả xâm xúc và tài năng của mủnh trên một câu trúc mồ hình sơ giản của lòng bản, rniễn là đừng nhịp, không, lạc hơi Đề người chơi “trị âm trí ký” với nhau, người ta căn cử vào
muc dich choi (giải trí, tiêu khiển ) và phong cáoh chơi (phong lưu, tao nhã )
để gọi họ là những tài Lử (talents) Ca nhạc với tỉnh chất và những cơn người như vậy, gọi nôm ma lá đờn ca tài tứ, sau nảy được gọi bằng thuật ngữ quy hơn
là âm nhạc tài tử hay ngắn gọn han 1a nhac tai tir (music of talents)
35
Trang 38Nhạc tải tử ngày cảng phát triển rông khắp Nam Bộ, diễn hình một số nhóm nổi tiếng ở nhiều địa phương như: Hạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Déc, Vĩnh Kim — Cái Thia (Mỹ Tho),
ân Dude (Long An), Sái ồn Các nhóm ấy lên
kết theo hai khói: tải tứ miễn Đông và tải tử miễn Tây với người dứng dầu là Nguyễn Quang Dai tic Ba Dợi ở Cân Dước và Tran Quang Quon tt Ky Quon
ở Vĩnh long Cả hai khối đều có những đóng gop ral kon trong vide cai sean, sáng, tác mới bái bản, giảng day va truyền bá nhạc tải tứ theo cách riêng của
ninh Nhờ đó, số bài bản đã tăng nhiều hem lên và thường là những tác phẩm
lớn, có lớp lang với thời lượng diễn lẫu đài, tương xứng với các hân căn cơ đã
©
Cho dén dau thé ky XX, cdc nhà âm nhạc tài tử mới có những bước hệ
thông các vấn để học thuật âm nhạc Về dan nhạc, được cấu trúc theo lam hòa
(tranh kim — 06), ter buyệt (tranh — kim — cỏ — tỷ hoặc tam), ng tuyệt (tranh —
kim — cd — ty - tam hoặc tranh — kim — cò — tỷ - tiêu hoặc sảo Từ đầu thế kỹ
XẤ, dân bầu mới được dua vào đân nhạc tải tử và thay vị trí ưu tiên của lÿ, lam
Đặc biệt bộ sanh trước đỏ được cải tiền thành một nhạc cụ mới gọi là Song lang
(cồn gọi là Song loan, thường do người đản khu gõ nhập làm vai trò chỉ huy đàn
nhạc) Về bài bản, được chọn lọc theo hơi diệu và sắp xếp thành từng loại khác
nhau, Theo thử tự thời gian, các báng xếp loại sau day được nhiều người áp
dụng
- Năm 1900, bảng xếp loại đầu tiên của ông Ba Đợi gọi là 20 bán tễ (hay gân đây còn gọi là 20 bài bắc — hạ - nam — oán)
36
Trang 39Đăng 1.1 Bảng 20 bài Đắc — Hạ - Nam — Oán
ngũ cung (Nam đảo),
hoảng Giang Nam (Giang Nam ctu kine), Phung cấu (Phụng cầu
hoàng),
Đây là bảng xếp loại được đánh giới nhạc tài tổ xen là mâu mực Bởi vị, dấu cho đến nay có nhiêu bài bản khác ra đời nhung vẫn không tạo được nét xrới lạ về mặt câu trúc cũng như hơi nhạc, nhịp điệu (rừ bản Vọng Cổ)
Tiên cơ sở 26 bản tổ, nhạc tài tử có cáo loại hơi khác nhau: bắc, lễ (nhạc, hạ), xuân, ai, đão, oán (ngoài ra còn một loại hoi đã có ở thời điểm đó nhưng Đài bản chưa phố biến lắm, gọi là hơi Ngự - tám bài Ngu, 1899) Riêng nhóm sau bắc, bài bản có khác nhau ở 3 cấp độ nhịp: nhịp đói, nhịp tự và nhịp tắm
Mỗi loại có nhịp song lang được gỗ báo vào nhịp thử hai của nhịp đôi, nhập thứ
3 — 4 của nhịp tự, nhịp thứ 6 — 8 của nhịp tắm Nhịp lự có trong sảu bắu, bảy bài, ba nam, nhịp tám có trong, bản oán Ngoài ra trong, tiết nhịp còn phân biệt tai hình thức: nhịp nội (chánh), nhịp ngoại
~ Tiếp theo, vào năm 1945 ông Nguyễn Văn Thịnh tức Giáo Thịnh — một nhạc sư danh tiếng ở Sải Gòn, đã đúc kết một bảng xếp loại mả theo đánh giá
Trang 40của nhạc giới là tuy công phu nhưng thiếu hản các bài bản của khỏi tài tử miễn 'Tây, gọi là 72 bài bản cỗ nhạc Nam phân (còn gọi là Thất thập nhị huyền công)
Bang 1.2 Bang 72 bai ban cổ nhạc Nam phần
36 ban Bắc Tuưu thủy, Phú lục, Binh ban, Co ban,
Xuan tinh, fay thi
hạ, Long đáng, Long ngâm, Vạn giá,
Tiểu khúc
Nam, Phụng oầu, Bình sa lạc nhạn,
Thanh da dé quyén
quan, Ái tử kê, lắc Man tân cổng,
Tương tư, Duyên kỳ ngô, Quả phụ
bam oan
Liên hườn, Bình bản, Tây mai, Kim tiên, Xuan phong, Long hé, Tau ma
'Từ những năm 10 của thẻ ký ý XX, bên cạnh dòng cháy chính thông, nhạc
sân khâu hóa ca nhạc
tai tử đã có đồng chây khác là chuyên hoa ti gia tha
thính phòng Đâu tiên là sáng kiến dưa nhạc tải tử biểu diễm phục vụ thực khách
ở nhà hang Sau đỏ là hình thức ngồi trình diễn trên bộ ván sản khấu rạp chiếu
bóng Tiếp theo, đứng trên bộ van ca có động tác minh họa đơn giản — gọi lả ca
38