Trong nền văn hoá của dân tộc Việt Nam, sẵn khẩu là loại hinh nghệ thuật đã được hình thành và phát triển từ rất sớm, từ những loại hình nghệ thuật sẵn khẩu đầu tiên như : Chèo, Tuồng,
Trang 1
BAI HOC QUOC GIA HA NỘI
'TRƯỞNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VA NHÂN VĂN
———w«##@—T——
BÙI THANH VÂN
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ
THUẬT CHÈO CÓ Ở VÙNG ĐÒNG BẢNG BÁC BỘ
VIET NAM PHUC VU PHAT TRIEN DU LICH
LUẬN VAN THAC Si DU LICH
Ha Ndi, 2011
Trang 2
Doi lượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - 9
Phương pháp nghiên cứu cửa luận văn 9
1.1.3.1 Một số ý kiến về mgiễn gốc của Chèo
41.22 Chèo có nguẫn gốc Huân VI
1124 Chào bắt nguận từ vẫn hoá nghệ thuật dân gian, dẫn tộc mer)
412.4 Hat mtia thei Tran và chào Thuyền bản 15
1.1.3 Đông bằng Bắc Bộ _ không gian văn hoá của nghệ thuật Chèo cễ 16 11.81 Điều kiện môi trưởng tự nhiên - xã hội của vùng
1.1.3.2 Đặc điểm vẫn hoá vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nau
1.1.4 Lịch nữ phái triển nghệ thuật Chèo cỗ vùng đẳng bằng Bắc Bộ
L141 Chào thời Đinh— Tiên Là (Thế kỹ X)
11.42 Chèo thời Lý~ Trấn (lệ kỹ XI— thé by XIV)
11-43 Chèo thời Lê thế ký XP thé kp XVID
L144 Chèo thời Nguyẫn và thuậc địa Pháp (từ 1802 đẫn 1945) 28
1.1.5 Nưữỡng yêu tỄ câu thành cũa nghệ thuật Chèu cễ 35
115.1 Sân khẩu Chèo c
LL6 Các dặc trưng của nghệ thuật Chèo cô se soon 3?
L161 Chéo cổ thuộc loại sân khẩu khuyến giáo dao đục - 7
1.6.2 Chèo thuộc loại kịch hát đân tộc, một đựng hát — múa —nlháe — địch mang
L163 Chéo thuộc loại lạch hãt bỉ - hài đâu lộc 38
1164 Chéo thuộc loại sân khẩu kể chuyên _ tr sự dân tốc 30 1.1.6.5 Chèo thuộc loại sân khẩu ưäc lệ và cách điệu 40
1166 Đặc điểm chuyên ding vit da dimg nghệ thuật bộc lô quy luật phát triển
1.2 Một số sân khẩu Chèu chuyên nghiệp và làng Chèo tiêu biểu vùng đằng
Trang 31.2.1 Các đoàn biểu điễn Chèo chuyền nghiệp - cee AB
1.2.1.2, Nhà hái Chóo Ha}
1.2.2 Một số làng Chèo m
2 Làng Chào Thiất Trụ— tĩnh [lung Tân - - 4
j văn hoá của nghệ thuật Chẻo cỗ vững đồng bằng Bắc Bộ 48
1⁄4 Một số phương điện tiếp cận nghệ thuật Chéo cé vùng đẳng bằng Bắc Bộ phục vụ phát triển du lịch
LAL Công tác HỖ chức quân lý
2.1 Thực trạng hoạt động du lịch tại các điểm biểu diễn Chèo chuyền nghiệp và
các làng Chèo vùng đẳng bằng Bắc Hộ - - 59
3.1.1 211.1 Nhà hát Chèo Việt Nam Hoạt động du lịch tai các điểm biểu diễn Chèo KT yên nghiệp .59
2112 Nhà hát Chèo HàA
3.1.3 Hoạt động dự tich tai otc tang Chee
2.1.2.1 Tink Thi Binh va lang Chéo Khuéc
242.2 Tính Hìma Yên và làng Chèo Thiết Trụ
22 Nhữngvá ong việc khai thác nghệ thuật Chèo cô vùng
2.2.1.2, Chính quyên địa phương
22.13 Các điểm biển diễn Chèo chuyên nại
22.14 Các công ty da lich
222 Cơ sữ vội chải phục vụ du lịch Chèo cổ
22.2.1 Các điềm biểu điền Cho chuyên mm nghiệp
2.2.2.2 Cúc làng Chèo -
2.23, Ahw câu cũa du khách
2.2.3.1 D6 môi của du khách
223.2 Thời lượng buổi điền
2.2.3.3 Các yấu tả quan trọng rong vở diễn
Trang 42.24 Hogt ding qudng hd du lich - eon BD 224.1 Các điềm biêu điền Chào chuyén nghiép - "1 BD 2.2.4.2 Các làng Chéo -
3.2.5 Nhân lực trong du lịch Chéo c
2.2.5.1 Cac diém biéu dién Chéo chuyén nghiép ys
231.8 Mu cầu của đu khách - ".-
23.2.2 Ce sévat chit phue vi du lịch Chào cỗ - - 97
2.3.2.3, Nhù cầu của du khách, He Hee eT
23.2.5 Nhân lực trong du lịch
TIỂU KẾT CIƯƠNG 2
CHƯƠNG 3 MOT SO GIẢI PHÁP KHAI THAC
VU PHAT TRIEN DU LICH
3.1 Căn cứ khoa học
4.1.1 Thực trọng dụ lịch Việt Nam giai đoạn 2005— 2010
3.12 Chiến lược phái triển Du lịch Việt Nam -
3121 Chương trình xúc tiễn du lịch quốc gia năm 201 103 3.1.2.2 Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, sâm nhìn 2030 104 3.1.3 Cúc bài học kính nghiệm -
31.31 Tại Điệt Nam
3.2 Các giải pháp khai thác nghệ thuật Chèo cỗ phục vụ phát triển du lịch
3.21, Bão tận nghệ thuật Chèo truyền thông -
3.22 Công tác tổ chức quản lý
3.2.2.1 Nhà nước
2 Chink quyên dịa phương
3 Đơn vị biểu diễn chuyên nghệp
4 Các làng Chéo m
5 Công sy dụ lịch 3.2.4 Cơ sữ tật chất phục vụ du lịch Chee ed
324, Xác định như cầu cña đu khách
Trang 5DANH MUC CAC CHU VIET TAT
Uy ban nhân dân
'Văn hóa nghệ thuật
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MUC CAC BANG BIEU
Bang 1.1 Danh sach cae duan Chéo, nha hat Chèo tại Việt Nam 43 Bang 2.1 Hoot dng của nhà hát Chèo Việt Nam tử 2005 — 9/2U11 SỞ Tâng 2.2 Ioạt động của nhà hát Chèo Hà Nội từ 2005 — 9/2011 63 Tăng 2.3 Số liệu thống kế chung du lịch tinh Thai Binh 2005 — 2009 65 Bang 1.4 Số liệu thống ké chung du lich tinh Llung Yén 2005 — 2009 67 Tăng 2.5.Cơ sở lưu trú tại huyện Đồng Hung - tỉnh Thái Bình 33
TBăng 2.6 Độ tuổi của khách trong nước đến xem nghệ thuật Chèo cỗ tại Nhà
Bang 2.7 Thi luong buổi biểu điễn theo góp ý của du khách - 87 Tăng 2.8 Các yếu tổ quan trọng theo pốp ý của du khách 88
Bang 2.9 Hiếu biết của khách du lịch quốc tế đến Hà Nội vỀ các loại hình nghệ
thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam 90
Tăng 2.10 Nhân lực nhà hát Chèo Việt Nam, nhà hát Chèo Hả Nội 292
Bang 3.1 Số liệu thông kê chung dư lịch toàn quốc sesssss 00
Trang 7MO DAU
1 L¥ do chon dé tai nghiên cứu
Từ xa xưa con người di sang tao ra nghé thuat, da biét dén sire manh ky digu của nghệ thuật Sân khẩu là loại hình nghệ thuật vô củng đặc sắc, đây được coi là
loại hình nghệ thuật thứ sảu của con người Trong nền văn hoá của dân tộc Việt
Nam, sẵn khẩu là loại hinh nghệ thuật đã được hình thành và phát triển từ rất sớm,
từ những loại hình nghệ thuật sẵn khẩu đầu tiên như : Chèo, Tuồng, Cải lương, Hát
bộ, Quan họ tới các loại hình sân khẩu du nhập từ nước ngoài như kịch nói Ngày nay, nghệ thuật sân khẩu Việt Mam đã đạt được những thành tựu vô cùng to
lớn là món ăn tỉnh thản không thé thiéu của nhiều người đân Việt Nam
Nói tới tình hoa của vin hoa dan téc không thể không nói tới nghệ thuật sân khẩu Chèo Nghệ thuật Chéo Việt Nam ra đời trong chiếc nôi đầu tiên là vùng đồng, bảng Bắc Bộ : Chiếng chèo Đông (Hải Dương Hưng Yên), chiếng Chèo Đoài (Hà 'Tây), chiếng Chẻo Nam (Nam Định, Thái Bình), chiếng Chèo Bắc (Bắc Ninh, Hắc Giang) Chèo là loại hình nghệ thuật cổ truyền của trang nên vấn hoá Việt Nam, đây cũng là một nét tiêu biểu trong văn hoá ứng xử của đân tộc Việt Nam với môi trư- ong xa héi Tìm hiểu cái dẹp trong nghệ thuật sân khẩu Chèo cho chúng ta hiểu về
mt góc của nên văn hoá dân tộc đồng thời tìm hướng đi để gìn giữ, bảo tản và phát
triển nghệ thuật sân khẩu Chèo truyền thống trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá của dất nước ta nói riêng, cũng như hỏa nhập với xu hướng toàn cau hoa cua
nhân loại nói chung
Ngày mày, với sự bùng nỗ của công nghệ thông tin, giao lưu văn hoá đã trở
thành một nhụ cầu thiết yêu giữa người dân trong từng địa phương, từng quốc gia, từng khu vực và trên toàn Thể giải Bên cạnh dé nha sy phat triển của các phương,
tiên giao thông vận tải mà con người cỏ thể dễ đàng di lại, thắm thú các nơi mà
không còn bị nhiều cần trở như trớc đây, điều nảy góp phân thúc đây sự phát triển
của ngành công nghiệp du lịch Ngành du lich tự thân nó đỏi hỗi sự cung ứng tải
nguyên du lịch để phục vụ cho sự phát Iriển eda minh, va mot trong số đó là tài nguyên du lịch nhân văn Khách du lịch muén tim hiểu những điều mới lạ, khác với
6
Trang 8những thứ hợ chưa quen biết trước dỏ, vi vậy nên văn hoá cỗ truyền của từng quốc gia bao gồm cáo loại hình nghệ thuật cổ truyền sẽ đáp ứng xuất sắc yêu cầu này Chẻo cố là loại hình nghệ thuật sân khâu cễ truyền của nên văn hoá Việt Nam Vì vậy nghệ thuật Chéo sẽ lá một sản phẩm du lịch đặc sắc có thể hấp dân khách du
lich néu chứng ta biết cách khai thác các giá trị nhủ hợp của nó Về phản mình, nếu
du lịch Chèo phát triển sẽ góp phan quan trọng cho sự gìn giữ, phải triển, quảng ba
bộ môn nghệ thuật cô truyền này
Chèo cỗ _ mật đi sản văn hóa quan trọng, có thế xem đây là mồi tài nguyên
du lich văn hỏa tiêu biểu của vùng đồng hằng Đắc Bộ Chèo cổ đã được nhiều nhà khoa học dày công nghiền cửu như GS Hả Văn Cầu, nhả nghiên cửu Trằn Việt Ngữ, Trân Định Ngôn, Bủi Đúc Hạnh, Nguyễn Lân Tuất Tuy nhiên, các công trình trước dây chủ yếu dựa lrên lĩnh vực nghệ thuật thuận tủy, việc nghiên cứu khai thác nghệ thuật Chèo cỗ phục vụ phát triển du lịch chưa có công trình nảo toàn diện,
đây đủ Vì vay, đựa trên cơ sở thành tựa của những đề tài nghiên cứu của các nha
khoa học — nghiên cửu di trước, tôi xin tổng hợp một số nét tiêu biểu nhất của nghệ thuật sân khẩu Chèo như là một sự kế thừa Dồng thời với kiến thúc về chuyên
ngành đu lịch tác giả xin chọn để tài của mình là : “hai /hác các giá trị văn hoá
của nghệ thuật Chéo cỗ ở vùng đông bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát triển du
lịcl”, với hy vọng sẽ đóng góp công sức và thêm một số ý tưởng cho việc nâng cao
sức hap dan cho việc khai thác các giá trị của nghệ thuật Chèo đôi với hoạt động đu
lịch trong tương lai
tộc Tiêu biểu như
- Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ với tác phẩm Lẻ nghệ thuật Chóo xuất bản
năm 1996;
- GS Ha Van Cau voi các tác phẩm Chẻo truyén thống và hiện đại (2001), Lịch sử nghệ thuật Chèo đắn giãa thê lỳ XX (2005), Lịch sử nghệ thuật Chèo
Trang 9(2005) đã nghiên cửu toàn bộ quá trình phát triển của Chẻo có từ buổi bình
mình văn hóa Dại Việt đến thời kỹ Cách mạng tháng 8 — 1945;
-_ Nhà nghiên cứu Trần Đỉnh Ngôn đã biên soạn các tác phẩm tiêu biểu nÏny : Mghệ thuật viết Chéo (2008), Tâu nói tấu Chèa (2009), Nghệ thuật biêu
diễn Chào truyền thông (2010), Chiéng Chéo Déng (2010),
- Tác giả Trần Trí Trắc với bài phân tích Sân khẩu Chèn chuyên nghiệp nhìn
từ một hội diễn đăng trên Tạp chỉ Văn hóa nghệ thuật số 308, tháng 2-2010;
- Tác giả Đỉnh Quang Trung với bài viết Mgôn ngữ tiềm ấn trong Chào cỗ,
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 309, thóng 3 — 2010,
- Viện Sân khẩu với tác phẩm nghiên cứu f#ực trạng Chèo hôm nay (1995),
- — Tác giả Dân Quốc với tác phẩm Trang trí chèo 50 năm một chẳng đường phái triển 1951-2001 xuất bản năm 2009,
- ‘The gid Hitu Ngoc va Lady Borton voi cfm nang song ngtt Viét - Anh Chéo
— Popular Theatre (2008),
- Tác gid Dinh Quang với Về đặc trưng và hướng phát triển của Tuông Chèo truyền thông xuất bản năm 2004,
- _ Táo giả Lê Ngọc Canh với Aighệ thuật múa chèo (2003)
Bên cạnh do con rất nhiều tác giá, tác phẩm khác cùng có dễ tài nghiên cứu
về nghệ thuật Chèo truyền thống Tuy nhiên, các mục đích và phạm vi nghiên cửu
trên déu tập trung vào khía cạnh nghệ thuật biếu diễn thuần túy Các tác phẩm nghiên cứu, lầm hiểu việc khai thác nghệ thuật Chèo cỗ phục vụ phát triển đu lịch
còn ít, điền này tạo nên tính cần thiệt của đề tải tác giả luận văn đẻ xuất
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu của luận van
Mạc đích cũu luận vău
Đô tải “Khai thác các giá trị văn hod của nghệ thuật Chèo cỗ ở vùng đồng
bằng Bae Bộ Việt Nam phục vụ phái triển đu lịch” nhằm tục dich bao Lin và phát
Thuy giá trị đi sản văn hỏa Chèo có trong hoạt động du lịch
“Nội dụng nghiên cứu của luận văn
Trang 10— _ Tìm hiểu các giả trị văn hóa tiêu biểu của nghệ thuật Chẻo cỗ có thê phục
vụ cho hoạt động đu lịch
—_ Tìm hiển thục trạng khai thác các giá trị văn hỏa của nghệ thuật Chèo cổ
trone hoạt động du lịch hiện nay
— Dé xudt một sẽ ý tưởng nhằm nâng cao súc hâp đẫn cho hoạt động đu
lịch dựa rên việc khai n giá trị văn hoá của nghệ thuật Chèo cổ
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận văn
“Đi tượng nghiên cửu của luận văn
Tuan van nghiên cứu nghệ thuật Chèo số ở vững đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, các giá trị văn hỏa của nghệ thuật cỗ truyền nay co thể phục vụ hoạt dộng, du
lịch
Phạm vì nghiên cứu cũa luận văn
Về nội dụng :
~_ Luận văn tập trung nghiên cửu khía cạnh đặc trung văn hoá, giá trị văn
hoá của nghệ thuật Chéo truyén thing
~_ Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động khai thác cáo loại hình nghệ
thuật biểu điễn truyền thông, Trong đó, tác giả nghiên cứu những vân để về chính
sách quán li vĩ mô, vi mỗ và các giải pháp kmh doanh của doanh ng hiệp
Vẻ không gian :
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các điểm biếu điễn nghệ thuật Chèo
trong phạm vị thủ đô Hà Nội, cự thể lả nhà bái Chèo Việt Nam và nhà hát Chẻo Hà Nội Ngoài ra, luận văn cũng nghiên cứu hai lảng văn hóa có sinh hoạt Chẻo sồi nối,
phong phú nữa đó là làng Chèo Khuốc — Thái Bình và làng Chèo Thiết Trụ — Hung
Yên
Về thời gian
Tận văn tập trung nghiên cửu thực trạng việc khai thác các giá ini nghệ
thuật biểu diễn truyền thông của nghệ thuật Chèo trong việc phát triển du lịch tại nhà hát Chèo Việt Nam, nhà hat Chéo I1ả Nội, làng Khuốc và làng Thiết Trạ trong
giai doan từ khoảng năm 2005 đến mắm 201 1
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 11Trong, quá trình thu thập, xử lý thông tin và viết luận văn tác giả dã sử dụng,
cao phương pháp nghiên cứu sau
Thương pháp nghiên cim lý thuyết tổng hợp, khão sát thu thập, xử lý và phân tích thông tin, số liệu
6
Phương pháp thông kê
Thương pháp tổng hợp phân tích:
Phương pháp phỏng vẫn
Thương pháp chuyên gia
Bồ cục của luận văn
Chương Í CHÈO CÔ - TAI NGUYEN DU LICH VAN HOA VUNG ĐỒNG
BANG BAC RO
Chương 2 THỰC TRẠNG KHAI THAC NGHE THUAT CHRO CO TRONG
HOAT BONG DU LICH
Chuong 3 MOT S86 GIAI PHAP KHAI THAC NGHE THUAT CHEO CO PHUC
VU PUAT TRIEN DU LỊCH
10
Trang 12CHƯƠNG 1 CHÈO CỎ - TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN
HIÓA VÙNG DÒNG BẰNG BẮC BỘ
1.1 Tổng quan về Chèo cổ
1.1.1 Khải niệm Chèo cỗ
'Từ điển bách khoa loàn thư Việt Nam định nghĩa : “Chòo là loại hình nghệ
thuật sân khẩu dân gian Việt Nam, hinh thánh từ sự tổng hợp những, yêu tổ dân ca, đân vũ và các loại hình nghệ thuật dan gian khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ
Chỗ là nghệ thuật biểu điển ngẫu img, dum trên cơ sở một thân Hò và những hệ
thông mô hình nhân vật, mô hình làn điệu đã cỏ và không ngừng tiếp tục được bổ
sung”
Trong bái “Nghệ sĩ Thủ Huyện và đôi nét vẻ nghệ thuật Chèo Việt Nam” được đăng tải trên trang web của Trưng tâm giao lưu vẫn hoả Nhật Hán tại Việt Nam Japan Foundation (36 12) ngay 04/6/2011, nghé si Thu Huyền đã khái quát
“Chèo là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, trong đó, người nghệ sĩ phải vừa biết hát, vừa biết múa kết hợp với điễn xuất Chèo thường đựng lại các cái tích hay còn
gọi là truyện cổ tích Ngày xua, mãi tích Chèo thường kéo dài thâu đêm suối sáng
và điễn ra ở các đình làng hoặc sẵn kho trong những đêm trăng thanh gió ruát của lễ
hội mùa Chèo xưa được điễn ngẫu húng và luôn có sự giao lan đổi đáp giữa khan
giả và nghệ sĩ”
Như vậy, có thể khái quát rằng Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khẩu dân gian Việt Nam Chèo la hình thức kể chuyện bằng sân khâu, lấy sản khẩu và
diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng Nội đụng của các vỡ Chèo lẫy
từ truyện cô tích, truyện Nôm, mang giả trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc, dỏng thời thê hiện tính đàn tộc Việt Sân khâu Chèo đơn giản, với các
điển viên có thể không chuyên, biểu điển ngẫu hứng Nghệ thuật Chẻo là một trong
những loại hinh nghệ thuật sân khẩu độc đảo và đặc sắc của dân tộc ta Loại hình nghệ thuật đân gian này được phát sinh và phát triển ở nông thôn Việt Nam, chủ
yêu là ở đồng bằng Bắc Bộ Chèo đại đình cáo phải triển vào thời kỳ từ thế kỹ XVT dén thé ky XIX
11
Trang 131.1.2 Nguẫn gắc hình thành Chèo cỗ
mo đời nay hát Chèo đã trổ thành một loại hình sinh hoại văn hoá nghệ
thuật quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng dời sống tính than din tộc bởi cải chất trữ tính đằm thắm sân sắc Trong kho tàng văn hỏa nghệ thuật din gian
dan We Viét Nam, Chéo 1d mot loại hình sản khẩu kịch hát dậm đã tỉnh đâu tộc, với
sự kết hợp nhuẫn nhuyễn của bảng loạt yêu tổ : hát, móa, nhạc, kịch mang tinh
nguyên hợp vẻ cùng độc đáo Vùng trưng châu và đồng bằng Bắc Bệ là cái nôi của
nghệ thuật chèo, từ cải nội ấy sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử Chèo ngảy cảng, phat triển và khẳng định được tâm quan trọng trong nền văn hoá dan gian dân tộc
1.1.2.1 Một số ÿ kiển về nguân gấc của Chèa
Có nhiều ý kiến khác nhau vẻ nguồn gốc vả sự hình thánh của chèo, tuy nhiên cá thể tóm tắt một số ý kiến như sau
— Cô một số ít ý kiến cho ring Chéo có nguôn gốc ngoại lai : Chèo thành hin từ sự kiện quản dân Đại Việt (thời nhà Trần) bắt giữ Lý Nguyên Cát (người
Trung Quốc) ở trận Tây Kết (ngày 2⁄1— 6 — 1285):
—_ Chẽo khối lên từ khi Hoài Ninh Hầu Trịnh Trọng Tử cho quân hái khúc Long ngâm khi dang dưa tang Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông (mùng 03 thang
‘Mét năm Mậu Thần — 1308) để làm giãn đám đông đân chúng vây quanh long sàng:
Cô ý kiến cho rằng danh xưng Chèo do ghi Nom, dich chit Han ma va;
hoặc từ chữ Trao (trào lộng); do phiên Nôm những chữ chào (chảo mửng), chữ châu
(chau thân thánh), chữ triểu (triều đình, đọc thành trảo đình)
Chéo chỉ dộng tác chèo thuyền, để nói nguồn gốc chèo xuất phát từ trò
tang lễ và lao động;
—_ Chèo là hình thức sân khâu thuần tuý dân tộc, bắt nguẫn từ kho tang văn
hoá nghệ thuật dân gian phong phú lâu đời Việt Nam
Về thời điểm thành hình, có những ý kiến cho Chéo có ở nước ta từ thời tiên
sử, thế kỷ thứ IV trước Công nguyên đến thê kỷ thứ Ï sau Công nguyên; hoặc thê kỹ
thứ X (thời nhà Đình), hoặc thể kỷ XTV (cuối nhà Trân)
Như vậy về nguồn gốc hình thành Chèo có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau
và hiện tại vẫn chưa có tải liệu, hiện vật nào minh chứng cu thế được Tuy nhiên,
12
Trang 14với một loại hình nghệ thuật đặc trưng, chuyên biệt như Cheo, theo tic giả luận vẫn
ý kiến thuyết phục nhất là ““Chèo có nguên góc thuần Việt”
dl Chào có nguồn gốc thuần Vist
Dựa trên những gi ghi khắc trong sử sách, văn bia qua các đời Dinh, Tiên Lê,
Ly dén cuỗi Trân nhà nghiên cứu Trân Việt Ngữ đã đưa ra cáo luận cứ sau
—_ Thứ nhất, các hình thái hát kết hợp giữa múa và các trò hề giêu đã tôn tại
ô xã hội ta khá phong phú vá ngày một phát triển :
Đời Định tương truyền có các nghệ nhân múa bát như Phạm Thị Trân, Đào Văn 8ó
Sang dai Ly vei tang lap tang li dông dão dược triểu đình nề trọng kết hợp với giới quý tộc, phần lớn déu thich mia hat như Đào Thị, phụ chính đại thân Đỗ Anh Vũ, quốc sư Từ Đạo Hạnh
Dén triểu lrần, tầng lớp Nho sĩ vừa sử dụng tốt chữ Hán, vừa mẫu mò xây
dung chit Ném, vita chan hoà với văn hoá dân gian như thầu giáo Chu ăn Am, 1w
Nhuận Chỉ, Nguyễn Šï Có, Trân Nhật Duật Các diễn trang, thái ấp của giới quý tộc là những vùng đất trù phú cho văn nghệ dân gian dém chỗi này lộc
—_ Thứ hai, sự xuất hiện những mảng trỏ có tích đơn giản, những nghệ nhân vươn lên chuyên nghiệp nhiều loại, những trỏ nhại, những bài giáo để tu day to
chức nên giáo phường, lần đâu tiên cho nhà nước quản lý, với những phường trỏ,
phường hát
Thứ ba, khú bắt gặp một Tây Vương Mẫu biển ban đào hái tiếng, ăn vận,
tiên diễn kiến Trung Quốc được miêu tả trong sử sách không thé coi đỏ là khởi
điểm cho sự ra đời kịch chúng Chèo Những cũng cách tiên hành biểu điển tiết mục
ấy, với sắc thái và âm hưởng đó, xét các mặt nghề thuật hat, mua, bidu diễn, kỹ thuật không thể nhận thay c6 dang dap Chéo ở đó Có thé ring với số điểm mới trong tiết mục sé yap phần thắc đây nghệ thuật bản địa thích ứng nhanh hơn với tình lừnh và yêu cầu thưởng thức của nhân dân Việt dương thời mả thôi
Những luận cử trên của nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ có tính thuyết phục cao và được nhiều người thừa nhận Một kịch chúng chứa dựng nhiều yếu tố thuận Việt như Chẻo thì chí có thể cỏ nguồn gốc thuận Việt
1.1.2.3 Chào bắt nguồn từ văn hoà nghệ thuật dân gian, đân lộc
13
Trang 15Có thể khẳng định rằng Chèo được sinh ra từ lối mùa hát dân gian của những, amién qué déng bằng Bắc Bô Trong những ngày tháng nông nhàn, trong những đêm
trăng thanh gió mát, những người nông đân hát đổi đáp nhau và tự sảng tác ra các
điệu hát đân gian Chính họ _ những nghệ nhân tiên tổ võ danh đã sáng tạo ra các lối điễn và oác vở Chèo
Khi nói rằng Chèo bắt nguồn Lừ kho làng đân ca cỗ truyền Bắc Bộ, có một điểm dáng chủ ý là “không phi loại dân ca nào cũng có thẻ phát triển thành Chèo,
ma chỉ những loại hát nói đậm đặc chất tự sự mới tiểm ân khả năng đó, chỉ ít cing
có số hình thái mang âm hưởng gợi nhắc đến Chị
Có vẻ từ cổ xưa, các loại dân ca đồng bằng miễn Bắc, như hat Dum, hat Vi, thất Trồng quân thường với câu trúe giai điệu ngắn gọn thắng đuột, phụ thuộc vào
gữ diệu, tiết nhịp câu dan dao 6⁄8, thêm đắm ba tiếng đệm lót vào dấu, chen giữa hoặc vào cuối cho thành vé trồng về mái Những loại dân ca có hơn thì qua lễ thói sinh hoạt và tiên trình thực hiện, đủ nói sự phát triển tùng thời kỳ với số hiện tượng nghệ thuật khá gần gũi với Chèo
Như hát Xoan (Phủ Thọ) mà các hội làng mẫy huyện Pha Ninh, Lam Thao,
Tam Nẻng, Đoan Hủng, Hạc Trì hàng năm mỏ ra nhằm cảu thịnh dau xuân, đều đón
phường Xoan về dinh hát thờ và vui chơi Việc phường Xoan di hát các làng không,
phải vì kế sinh nhai, mà đo ràng buộc về tập tục “nước nghĩa” với nhau
Trong bải Phú Năm canh thây có những câu rất piổng mây câu trong vở
Chùo Quan Âm như
Bây giờ hỗ sang trồng canh một,
Chan bay vé chan ntti Lich San,
Ve poi sdu nhdin nisi vé dan, Sông lai láng, buồn về góc bề
và còn không ÍL câu gợi nhắc vấn võ Tưu Bình — Duong 16
Hay như hát Dậm má hàng năm lắng Quyền Sơn (huyện Kha Hãng tinh Ha
Nam) mở hệi để tưởng vọng công tích Lý Thường Kiệt đánh tan giặc Chiêm thus xảo Hải Dậm cũng năm ong phạm trủ hát tờ và vúi chơi, có những hình thái diễn
xuất không khác máy hát Xoan, chẳng những thế còn có cám giác “cổ” hơn
14
Trang 16Nằm trong các sinh hoạt dân ca cổ, như hát Cửa đình, hát Quan họ, bat Dam
thường thấy đưa vào vô số giọng “vặt” mang tên hát bỗ bộ, túc là hát có điệu
bộ, mà nhiều khi thục chất là những trò điễn giản đem, hẳn nhiên, ở mức hoạt cảnh
va nếu thêm tích thị còn sơ lược, có tỉnh chất minh hoạ Nhưng thú vị là ở chỗ,
chúng lại mang tới cảm giác gần gũi nhau, trước hết về sự hài hước thông tục, anh
em với hề Chèo
Song nếu xét về mặt ơa nhạc, thì gần gũi với hát Chẻo hơn c có lẽ là bát Xâm _ loại nghệ thuật “đặc biết” của lớp người mủ lòa có năng khiéu văn nghệ Bất chấp điểu kiên hết sức khó khăn, cáo nghệ nhân Xấm biết tổ chúc nhau lại thành Láng, Phường hoặc Hội, cỏ ông (bả) Tram (do làng bầu) và số nghệ nhân giỏi nghề
có uy tín, trông coi cắt đặt công việc làm nghề Hàng năm phường hội có hop ban
xem xét 1nọi xui, bầu người dứng đầu, giải quyết các sự vụ, dạy dỗ lớp trẻ
Hat Xâm từ yêu cầu của khách thưởng thrửc đòi người nghề phải thể hiện nội
dụng ngày một mở rộng (câu hát đải hơi hơn, tích chuyện đi sâu hơn, nhân vật
nhiều hơn ) nên cũng đã gia tăng làn điệu với sắc thái nhiều diệu giống với kết cầu làn điệu của hat Chéo Có thể cho rằng hát X4m ra đời trước khi có hát Chéo, là
một trong nhiều nguồn góp phần cầu thành hát Chèo: hay ngược lại, hát Xắm chỉ là
bản sao của hát Chèo trong diều kiện và hoàn cảnh rất hạn chế của lớp người tật
nguyễn; hoặc đây là mỗi liền quan ruột rà tắt yếu không ai chổi cãi giùa hai loại
hình, bởi chính nghệ nhân Xắm xếp hat Kam va Chèo cùng loại trung ca, trong khi
Tuông vào lại Võ ca, ca Trừ vào loại Văn ca
Những điều tóm lược trên của các nhà nghiên cửa được đúc kết qua thực tê
Trghệ thuật cửa một phần kho tàng hát múa đâu gian vùng trung châu và đồng bằng, miền Bắc đã cho thay chung có những tổ chất khả dĩ dẫn đến sự bình thành hoặc có
ảnh hưởng qua lại “đâm đặc” hay “nhẹ nhẽm” tói nghệ thuật Chèo
1.1.2.4 Hải múa thời Trân và chèo Thuyền ban
Chéo Thuyén bản dánh dẫu rõ nét sự thánh hình của kịch chúng Chéo Xuất hiện vào nửa sau thời Trần (khoảng cuối thế ký XTV), với sự đóng góp của tầng lớp
trí thức bình đân — quý lộc, những hình thái văn hoá nghệ thuật thành văn cũng như
dân gian thời ấy khá đĩ xem lả những yếu tổ cấu thánh Chèo
Trang 17~_ Đã có nghệ nhân hát múa (Phạm Thị Trân), nghệ nhân làm trở nhại (Đảo 'Văn Số) từ thời Dinh,
—_ Đã có tổ chức giáo phường và định tên gợi đào, kép, hế ghỉ vào vin bin nhá nước từ thời Lý, với nhá sự Từ Đạo Hạnh sáng tác giáo trồng, Sai At lam trò
cười,
—_ Thời Trân đã có những oi thức làm nghệ thuật nỗi tHếng như (tiên sĩ) Dự
Nhuận Chỉ giỏi soạn bải hát, Thiên chương học sỹ Nguyễn Sỹ Cổ giỗi nhạc giỏi
đản, rất có tài khôi hài
Đã có một số HẾI mục hát múa, trỏ diễn thể hiện một tích truyện đơn giản
(1rang Vương và 6 người con), một loại người ở mức khải quát nhất định (các vai trình nghệ : Thày Đỏ, Thảy Đạo cả những thằng Ngõ, con Bơm, Nhiêu Lập,
hiệu Oanh )
Nói đến Chèo Thuyền ban là nói đến sự tích có 4 nhân vật do 3 người đồng,
vai Nó đã có tích hắn hoi, tuy còn ở đạng truyện huyền thoại nhưng mang y nghia
liên quan thiết trực dến đời sống con người Chèo Thuyền bản nêu lên một kiểu kể chuyện bằng sân khảư do chính những người sắm vai củng nhau thực hiện với số nét riêng,
Chèo Thuyền bản là bản Chèo xưa nhất, ra dời vào thời ký khoảng, giữa Giáo
đỏ với chèo thuyền lễ cách và trò điễn Mục liên địa tạng vì vậy theo các nhả nghiên
cứu lä đủ khả năng đánh dẫu sự thành hình của kịch chủng Chèo
1.1.3 Dẳng bằng Bắc Bộ _ không gian văn hoá của nghệ thuật Chèo cỗ
1.1.3.1 Điễu kiện môi trường tự nhiên — xã hội của vừng
a Điều kiện môi trường tự nhiên
Theo Giáo sư Trấn Quốc Vượng trong cuốn Co sở văn hóa Việt Nam (Nxb
Giáo đục 2008) cho rằng, khi nói tới vùng văn hỏa đồng bằng Bắc Bộ là nói tới vùng,
vin hóa thuộc địa phận các tính Hả Tây (cũ), Nam Dịnh, Hả Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, cạnh đó là phân đỏng bằng các tính Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tinh
Vũng châu thế Bắc Bộ có vị trí địa lí là điểm giao nhau của con đường lưa
thông quốc tế theo hai trục chỉnh : Tây - Đông và Bắc Nam Vị trí này đã tạo diều
lá
Trang 18kiện cho cư dân ở đây có nhiều thuận lợi để có thể giao lưu vả tiếp thu tỉnh hơa những nên văn hóa lớn của nhân loại
Địa hình vùng có đắc trmg là cao thấp không đếu, có nủi xen ké vai đồng, Đằng, thung lũng theo chiêu thoái dân từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Khi hậu của vùng châu thế Dắc Hộ cũng có sự khác biệt, vừng có một mùa
đông thục sự mang đặc trưng của khi hậu nhiệt đới âm gió mùa
Đông bằng Bắc Bộ co một mạng lưới sông ngôi khả dãy (khoảng 0,5 + 1 km
21 km”), gồm các đóng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sồng Mã, cùng,
các hệ thống sông nhánh và mương trắng lưới Liêu đây đặc
Tất cũ các yếu tổ trên đặc biệt lá môi trường nước đã tạo nên sắc thái riêng, biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đẳng trong đó có các bộ môn nghệ thuật biểu điễn dân gian của cư dan ving déng bằng
Bác Bộ
b Diểu kiện môi tường xã hội
Người nông dân Việt Bắc Bộ là người dân đồng bang dip dê lấn biển trồng, lúa, làm muỗi và đánh cá ớ ven biển Phương thức canh tác chỉnh của cư dân đồng
‘bang sông Hồng chính là trồng lúa mước (khoảng 82% điện tích trồng trọt cây lương,
thực)
Do đất canh tác ở đồng bằng Bac Bộ ít mật độ đân số đông vì thế để tận
dụng thời gian nông nhàn và tăng thêm thu nhập người din ở đây đã làm thêm
Tiểu nghề thủ công Trước dây, ngướt ta đã thống kê được hàng tắm nghề thấ
công, một sô làng nghề đã trở nên chuyên nghiệp, có lịch sử phát triển lâu đời nhnr
lang nghé gốm (Bát Trang, Chủ Đậu), làng nghệ dệt (Vạn Phúc, Nha X4), đúc đẳng,
và nó trở thành các làng xã Sự gắn bó giữa con người và con người rong cộng,
đồng làng quê, không chí là quan hệ sở hữu trên đất lang, trên những, di sản hữu thể
Trang 19chang như dinh lang, chia làng mà cón là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức được thể hiện rõ nhất qua hương ước, lệ làng
Chỉnh những điều kiên trên của môi trường xã hội vùng đồng bằng Việt Bắc
Bộ sẽ góp phản tạo ra những đặc điểm riêng của vũng văn hóa Bắc Hộ sơ với các
vũng khác trong cã nước
1.1.3.2 Đặc điểm vin hoa vừng đồng bang Bac BG Viet Nam
Đông bằng Bắc Độ là mảnh đất sản sinh ra nhiều nên văn hóa lớn của dân tộc
Việt như : văn hóa Đồng Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Trong bồi
cảnh ấy, văn hóa châu thổ vũng Bắc Bộ vùa có cả những nói đặc trưng chung của
văn hỏa Việt và có cả những nét riễng, của vùng,
Nói tới văn hóa ở chân thỏ Bắc Bộ là nói tới vừng văn hóa có bẻ dày lịch sử
cũng như mật độ dày dặc của các di tích văn hóa Các di tích khảo cổ, các dĩ
tích văn hỏa hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương, Đền, đỉnh, chủa, miều cỏ mặt
ở hâu khắp các địa bản Nhiều di tích nổi tiếng nhì đến TIừng, đi tích Cổ Loa, cẻ đô
Hoa Lu, Lam Sơn, phố Hiến, chủa Dâu, chủa Hương, chủa Tây Phương, đình Tây Ding
Củng với các dí sản văn hóa vật thể, các đi sản văn hóa phi vật thế của đồng bằng Bắc Hộ cũng khả da dang và phong phủ
ho tảng văn học dân gian Bắc Bộ là nguồn tải nguyên vô giá với nhiều loại
hình Từ thần thoại tới truyền thuyết, từ ca đao tới tục ngĩt, từ truyện cười tới truyện trạng mỗi thé đều có một lắm đây dặn, mang nét riêng của Bắc Bộ như truyện
Trạng Quỳnh, Trạng Lạn sử dụng các hình thức câu đỗ cầu đôi, nói lái, chơi chữ
nhiều hơn truyện trạng ở các vùng khác Có những thể loại chỉ ở Đắc Bộ mới tồn tại, kiểu như thân thoại Các thể loại thuộc nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá
đa dang va mang sắc thái vùng đậm nét, đó là hát Quan họ, hát Xoan, hát Trắng
quân, hát Chau vin, hal Cheo, múa rối Nước
Đảng kể nhất là những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Bắc Bộ Mọi
tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành 1loàng làng, thờ Mẫu, thờ các
ông lỗ nghề có mặt trên hấu khắp các làng quê Bắc Độ Các tín ngưỡng này liểm
An trong tâm thức con người và tổn tại trong lễ hội một loại văn hỏa tổng hợp
Mật độ hội hè ó Bắc Hộ khá day đặc ở các làng nghề theo vàng quay thiên nhiên và
18
Trang 20sma vy PGS, TS Ngô Đức Thịnh đã nhận định về mặt tâm lĩnh, lễ hội lả “môi trường cộng cảm văn hóa”, “cộng mệnh” với cư dân ở làng quê Việt Bắc Bộ
Củng với văn hóa đân gian, vùng châu thế Bắc Bộ theo GS Binh Gia Khanh còn lá “nơi phát sinh nên văn hóa bác học” Sự phát triển của gido duc, truyền thống,
trọng người có chữ trở thánh nhân tế tác động tạo ra một tảng lớp trí thứo ở Bảo Bộ
Trong thời tu chủ của đần lộc, Thăng T.ong với vai rò là một kinh đô cũng đâm
nhận vị trí là một trung tâm giáo dục Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng
Văn Miều, năm 1076 vua Lý Nhân Tông lập Quắc Tử Giám, chế độ thì cử được định để kén chon người hiển tại , đã tạo ra cho xứ Bắc một đội ngũ trí thức đông đão, trong dõ có nhiều danh nhân văn hóa tầm cỡ trong vả ngoài nước,
Bac Bộ là côi nguồn văn hóa của các vùng Trung Bê, Nam Bộ và từ củng đất cdi nguồn này, văn hóa Việt phát triển tổa ra các vùng khác Vai tò “hướng, dao” của vùng vẫn hóa Bắc Bộ cũng rất rõ, khi đặt trong tương quan của các vùng vin
hóa khác
Có thể khải quát rằng, vùng trung châu và đông bằng Bắc Bộ là vùng đất lich
sử ngắn đời nay của dân tộc Viét, la ving dat wom mdm cho sự ra đời và hưng thịnh của cáo triểu đại Việt cổ, là vùng phát tiết các nên văn hóa rực rở Đồng Sơn, Thăng
Long Đông Đồ Hả Nội Đây là vùng dất dảy đặc các di tích văn hóa lịch sử, bảo
len nhiều giá trị văn hỏa cễ truyền của dân tộc Việt hơn cả so với các vùng khác
trong cả nước Do có nhiều tài nguyên có giá trị văn hóa trưyền thống như vậy nên vùng chính là một “nỗ vàng” quý giá, một mãnh đất vấn hỏa màu mở dễ ngành di
lịch gieo mảm, phát triển
1.1.4 Lịch sit phat trién nghệ thuật Chào cỗ vùng dẳng bằng Bắc Bộ
Thời kỳ chuyến hoá phát triển của sân khẩu Chèo suốt gần 500 năm, từ sau
khi đánh thang quân Minh xàm lược qua các triểu Lẻ (Mạc, Trịnh — Nguyễn), Tây Sơn, Nguyễn đến lúc đất nước ta rơi vào tay để quốc Pháp Người xưa, xét hình thái nghệ thuật đã mệnh danh thời kỳ kéo đài gân 5 thé ky này là “Chèo sản đình” —
khán giả ngôi vây quanh ba ruội ngoài trời ước đình làng
1.1.4.1 Chào thời Dĩnh — Tiên Lê (thế kỳ X)
Tử giữa thể kỷ X, các thủ lĩnh người Việt dan dan gianh lai được vi thé tu
chỗ chơ đân tộc, khiến cho các triểu đại ngoại bang phải dẫn dẫn công nhận vai trỏ
19
Trang 21điêu hành đất nước và từng bước phong chúc che ho ‘trong việc xây dung chinh quyền, các vương quyền Việt Nam lúc đó cũng quan tâm đến các hoạt động văn
hoá
Tác giá Nguyễn Hồng Phong và nhóm tac gid Lich si Van học Việt Nam
(Nxb Khoa hoc, 1963) cho rằng thời Dinh, sau khi thắng trận quân sĩ hội nhau lại
đồng trò đề vụi chơi “là hình thức phôi thai của Chèo” [31, tr 28]
Trạng Lường Lương Thé Vinh (1441 1496) trong cuốn Hi phưởng phả lục
tập hợp các tư liệu truyền miệng đã ghỉ chép vẻ những nghệ sĩ thời Định như Phạm
Thi Tran, Bao Văn Số và Đăng Hồng lân Tuy hiền theo PGS, Hà Văn Cầu thì các nghệ sĩ nói trên có lẽ đã hoạt động sớm hơn, ngay từ thời Minh Công Tran Lam (một sít quân trong giai đoạn loạn mười hai sứ quân)
Tiân Lâm theo thần tích làng Lạc Đạo thì ông là người Quảng Đông, ông
sang chiếm vủng Bỗ Hải Khẩu (Bê Xuyên Thải Binh) như kiểu các thử sử phong,
kiên phương Dắc xưa Dinh Hộ Lĩnh từ Hoa Lar sang xin làm cen nuôi Tran Lam
Sau này, ngài được ông giao cho toàn bộ binh quyền, trong dỏ có cả các nô tỉ, người
hấu việc mua vui và Pham ‘Thi ‘Tran có mặt trong số đỏ Dinh Hộ Lĩnh lên ngôi lây
hiệu là Đinh Tiên Hoàng Đế, phong cho Trân Lãm làm Phụ Dực Quốc Chính Thượng Công, ăn trực ấp ở Sơn Mam Sau đó, ông lui về ở trang Lạc Dao rồi mắt ở
nay con mdi cudn sich chit Han ghi lai phép tc va Int 1é ca mua, of isi trên 100
lan điện khác nhau trong đó có làn digu Chéo Cũng tai Nam Trân hơn một trăm
xăm sau đó, có nghệ thuật múa rối nước, sử dụng nhiều làn điệu Chèo (vía, văn, lát
cach, hat chéo dò .), Chú Tếu của múa rồi nước xưng đanh rất giống xưng đanh
trong nghệ thuật Chèo
Ba Pham Thị Tran, trong các văn khẩn, văn tế của nhiều đoàn, được tôn là
Huyền Nữ (cô gái den), do dó ta có thể ngờ rằng, bả có thể là người Chăm bị hưu lạc hay bắt làm nó tỉ, sau đó gia nhập vào đoản nô tỉ của Trần Lam Khi về với Dinh
Tiên Hoàng, bà dược dựa váo quân ngữ dễ làm trò diễn phục vụ bình lỉnh thập dao
do sở trưởng của bà là múa hát Đông thời với bà có Đặng Hồng Làn va Dao Văn
S6, những người ở phía nam sông Luộc và bên tã ngan sông 1iỏng IIai ông chuyên
20
Trang 22điển trỏ nhại Ông Đảo Văn Só : “Từ khi còn nhỏ đã biết múa, biết hát, ai làm việc
gì ông cũng có thể bắt chước như hệt [làng năm, xuân thu hai kỷ, ông cùng bạn điển lại truyện của những người hào phú đã mắt, được dân lấy làm tán thưởng” [7,
tr, 278 ] Có thể coi Phạm Thị Trân, Đặng Hồng Lân, Đào Văn Bỏ lẻ những nghệ sĩ tài hoa nhất thời đó, có thể kết hợp trò nhai với múa hát đế miều tá nhân vật, vỉ vậy
đời sau tôn xưng các vị làm Té nghé
Từ các tư liệu ít ôi còn lạ, PG8 Hà Văn Cầu trong cuỗn Lịch sứ nghệ thuật Chào (Nxb Sân Khâu, 2005) đã rút ra những nhận xét tống quát sau :
Tau đầu liên trong lịch sử, trỏ điễn được Nhà mước quan lâm, lập trung, các nghệ sĩ vào triểu dình Tuy chưa cỏ tỏ chức mang tỉnh chất chuyên nghiệp quan phương, song người làm nghề cũng được khuyến khích và trở thành chuyên nghiệp,
có điều kiện làm nghề ngày một khéo hơn,
— Nghệ thuật trình diễn bắt đầu có qui có : trống đánh có phép tắc, ra trỏ có
trật tự và í† nhiều có lẻ lỗi, không con hoàn toàn tùy tiện như trước
Thời kỷ này bước quá độ chuyên từ áng trỏ vào sân chùa, tạo cơ sở cho
trỏ diễn tiên lên cấp hai : các bộ môn ca hát, trỏ nhại đã tổng hợp lại thánh trỏ diễn, đặc biệt là tái hiện cuộc sống có ý đề như kiểu các ông Đảo ông Đặng Cũng do sự can thiệp của vương quyên, các trỏ diễn dẫn dẫn di vào quá trình giải thiêng kéo dài
nhiều thể kỷ về sau
—_ Cá nhân các nghệ sĩ do chuyên nghiệp hoá, đã bắt đầu có ý thức về mình vừa tiếp tuc truyền thống img tac, vita gop phẩn sảng tạo cái mới, cùng với lập thể
cổ định dân timg trò điển
= Qua thi thé Trắng truác lập thế trong việc miêu tả các loại người trong cuộc sống, ta thấy bắt dầu có đổi đáp cá nhân với những lời trỏ tuy còn đơn giản
những đã có hậu ý rõ rệt
Trò diễn được bỗ sung nhiều yêu tố mới nhưng không bác bỗ trò diễn cíi ana chi dem lại cho trò diễn những hinh thai mới, nhất là khi trỏ diễn bị giai cấp thống trị tha hoa, dem vào cung đình làm hình thức giải trí riêng,
1.1.4.2 Chèo thời [ý — Trân (thể kỹ XT— thế kỹ XTU)
Sang những năm dau thé ky XI, vua Lê Ngọa Triểu băng hả, Đảo Cam Mộc
vận động bách quan văn võ cùng tôn Diện tiễn chỉ huy sử Lý Công Liên lên làm
21
Trang 23vua, Đức Lý Thái Tổ là một vị vua được lòng dân Buổi dầu khi lên làm vua, ông dã
quan tâm ngay đến những chính sách văn hoá hợp lòng trầm họ Một mặt ông đuy trì, đê cao và khai thác vn văn hoả truyền thông vừa thỏa lỏng muôn đân vừa tự để
cao mình một cách khôn khéo Các vua nhá Lý nuối giác mộng thoát khỏi sự thúc
ép của chính quyền phương Bac và đề tỏ ra không thua kém họ, đã tu xem minh
cũng là cơm lrời, ảng mệnh trời cai quan din Linh Nam
Trong, chính sách văn hoả, các vua nhà Lý thực hiện chính sách Tam giáo
tỉnh hành, nhưng trong thực tế Phật giáo vẫn được coi trọng hơn cả Phật giáo được
thượng tôn, thân linh được bảo vệ, chùa chiến làm nhiền, tạo cơ hội cho biển diễn
dân gian phát triển Có thể nói vảo thời Lý, cùng với các bộ môn văn hoá khác, các
trò điễn đã tiên hoá vượt bậc
Năm 1041, nhà nước liền bảnh đặt phẩm cấp nhạc kỹ thơn một trăm người
"Trước đó định danh nghữa chơ ca nhị, tạo niên tục gọi nam ca nhủ là kép và nữ ca nhỉ
la dao (Quản kép và Dào nương) Trong đần gian, do đất nude tương đổi ôn định,
cuộc sống no ám, hàng năm hội lễ thưởng, dược tổ chức khắp nơi, tạo cơ sở cho các
nghé si dân gian đua tải vả kết tính lại ở những người tài năng nhất //í phường phá lục ghỉ tên các hậu tổ Đào Hoa, Từ Đạo Hanh, Sai At va Chinh Vinh Can Dao Hoa
là người được dức Lý Thái Tổ dịnh danh nghĩa vào năm 1025 Từ Đạo Hạnh, hủy là
Lộ, con vị tăng quan đô sát Tù Vinh, thường kết bạn với nho sinh Phí Sỹ, đạo sĩ Lê
Toàn va con hat Sai At Ban ngay ho cùng nhau thối sáo, đánh trắng, bảy trò vui, tối
đến lại đọc sách thâu đêm Các văn tế tổ Chèo suu tắm được đều ghi téu Phạm Thị
Tran, Dang Iléng Lan, Dao Van S6, Tir Dao Ianh, Sai At, Chinh Vinh Can Tai chia Tang (phutmg Lang Thượng — quận Đống Đa — tp Hà Ndi), noi su Từ Đạo
anh đã từng trụ trì, đến nay vẫn còn tượng của bổn vị La Hán sử dụng nhạc cụ dân tộc đứng trước điện thờ, đó là biếu hiện hiểm thây trong các chùa Các vị trên đã có công làm cho Chèo hát tiến hoa manh mé tir cdp 46 hon nhiên lên cấp độ ước lệ và tổng hợp, trong trỏ diễn dụng, hợp cá lời trỏ, đối thoại vá múa hát trong thời gian vá không gian ước lệ Họ là những người có công lớn tạo nên sự ổn định, nên nếp trong biểu điển tù phép đánh trắng đến lẻ lôi ra làm trỏ
Hiện tượng hỗn dung ca mua trong đối thoại có thể thấy được, bởi câu nói
thường thì khó nhớ, cin câu nói vẫn vé và câu hát thì dễ truyền thụ Trang Chèo,
22
Trang 24chúng ta có thể thấy nhiều lời hát của Xoan, Đậm, Quan họ, Ca trù và có thể có cá
trò Tàng Cum
Cần hát :
“Con dao vàng lại liếc đá vàng,
Mắt anh, anh liếc, mắt nàng, nàng đưa”
là rút ra từ câu hát đối đáp, giao duyên của rò Trống quân xã Đức Bác (huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc), nhiều câu hát khác cũng có thể chứng mình tương tự, từ các cầu hát đân gian khác Trò Tàng Cưu lả trỏ của người phương Bac,
có lố dân Mã I.ưu đưa trò này vào Việt Nam héi dau công nguyên và lần hồi trở thành trò chơi đân gian phổ biền khắp nơi và đã dịa phương, hoá hoàn toàn Đến thời
Ty, Tang Cum di duoc hỗn dưng vào ca múa dân tộc Việt và trỏ thành một trỏ vtú
dân gian, hết sức húp dẫn Theo Đại Việt sử ký (oàn thư “Đình Dậu, năm thử 8
(1117) (Tống, Chính Hoà năm the: 7) Mua xuân, tháng Giêng, Diên Thánh Hậu
(không rõ tên) chết Xuống chiến bãi trò chơi “Tàng Chu” và cổ bàn khai hạ, lại
phát vàng bạc tiền lụa ở kho để phủng rất hậu” [35, tr 209| Triều dinh không cắm các trò diễn xướng mủa xuân khác má chỉ cắm trò Tang Cuu thi chde chin trò nảy 'phải rất hập dẫn, vui vẻ, nhộn nhịp không khác gì cỗ bản khai hạ chốn cưng đình
Có thể nỏi các trỏ diễn dân gian thời Lý đêu thâm dượm nội dung Phật pháp,
nhân mạnh tỉnh thin “khuyến thiện, trừng ác” Chính các nhà sư cũng tham gia
sáng tạo trỏ và biếu diễn trò đế hoằng đương Thật pháp Còn về mắt nghệ thuật thì
Tõ rằng, lúc đỗ trò điễn đã liền thêm một bước khả đài Trong các lễ mừng sinh nhật
của nhà vua đà thấy có hoá trang, phục trang Ở dân đã tắt nhiên mức độ có thâp
hơn, song khi “đồng trò” (tức là nam đóng nữ, nữ đóng nam), ÍL nhất cũng có thay
dỗi kiểu dị, dáng đứng và y trang Trồng cái dược sử dụng, vừa dễ tham gia vào dàn nhạo vita dé dan dắt cái hay, cái đẹp bằng cách bình giá câu hát, cách điễn Múa trong trò điển còn rõ tiết những ảnh hưởng của múa Ấn Độ : dù múa kiểu gì thí cuối cùng ngón tay cũng hướng lên trời giống với ngọn lửa thiêng của Tiểu ngã tiếp cận với Dại ngã trong Ấn Dộ giáo Vẻ thân phận nghệ sĩ : lúc này người nghệ sĩ được cứi trọng về tài nắng và được dối xử một cách trân trọng Ngô Toái dược phong tước Thượng chế, Đỗ Anh Vũ được ra vào nơi cung cẩm sau được Lẻ Thái Hậu
sting Ai
23
Trang 25Từ dâu thế ký XIH, nhà nước Đại Việt đã được cúng có Nhá vua, nhất là các
hoàng tử thường đi xem hội đặc biệt là các hội võ Vua Trần Anh Tông (khi còn là thai tử) đi chơi khuya bị ném đá vỡ đâu, chứng tô đất kinh kỳ đã phát triển các thủ chơi đêm, trong đó, có Chẻo hát, Riêng nhả vua, bên ngoài thì cô điện Hồ Trả, bên
trang có điện Tập IHẻn, lại có bên Dông Bộ Dâu làm nơi ngự xem cáo trỏ diễn
đân gian Ở thời kỹ này, phải kế đến ba lần đánh thắng quân Nguyên, đem lại cho nhân dân ta ngoài cảnh thanh bình kéo đài hơn một trắm năm, còn dẫn đến sự tiền
hoá mạnh mê của các hoạt động nghệ thuật trong đó có Chèo
Một là, để thưởng công cho các tướng lĩnh cao cấp, các vua nhà Trân đã phong thực ấp cho họ ở rải khắp ving Son Nam vả Hải Đồng, thêm dây lá hai đất
quý hương Ngự Thiên và Tức Mặc đã tạo thành một vùng trù phú có lễ hội quanh
năm Mỗi khi các quý hương và thái ấp mở hội, thì nghệ nhâu nô nức kéo dén gop
vui Hình thức trỏ chú thể ở vùng này lả Chẻo hát cho nên đó là những thởi cơ thuận
lợi cho việc trao đối nghề nghiệp va hoc Tập lẫn nhan của người làm nghệ
Hai là, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên — Mông vào nằm Thiên
13áo thứ bảy (1285), quân ta bắt được Lý Nguyên Cát, người phường hát trong quân ngũ của Toa Đô Sử cũ chép : “Nguyên Cát đóng tổng truyện cổ, có các tích 7ấy
Lương Mẫu hiến bàn đảo, người ra trỏ có danh hiệu là quan nhân, chủ tử, dan
nương, cầu nỗ cộng mười hai người, đều mặc áo gắm, áo thêu, đảnh trẻng, thôi sáo,
gây đàn, vỗ tay, cõ phim, thay đối nhau ra vào làm tro, có thể cảm động lòng người, nuôn chơ buốn được buẩn, muốn cho vui dược vưi Nước La có tuồng truyện bi
đầu từ day.”
Có Nguyên Cát mới bắt đầu có luồng truyện, trước đó tuy có kép, có đào,
aghệ thuật biểu diễn cung dinh Việt Nam vẫn chỉ mới là trỏ, chưa thành truyện tích,
cua khác với các trò điễn xướng đân gian bao nhiên Có lẽ ởng Lý đã đem Nam hí thời Tổng đâu thể kỹ XTTT tuy đã có tương đối đây đô các yếu tố sản khẩu, song vẫn còn tùy tiện, ngẫu img niên kết cau các vở đều có thể co giãn từ hai mươi dén sau smuci man Có thê lẫy cáo vở Tria Trinh nif, Vương Khôi, Trạng nguyên Trương
Hiệp hoặc Tây sương kỹ (của Đồng Giải Nguyên) làm vi du sẽ thay su oo gifin dé
Vi thế, khi ông, Lỷ đem tuổng truyện vào Việt Nam, tổ tiên ta đã tiếp nhận và Việt
Nam hoá một cách hoàn toàn có ý thức biên soạn lại theo cảm nhận của nhân dan ta
14
Trang 26lúc ấy Chắc chân nội dung và hình thức biểu diễn do ông Ly dem tới chỉ phát huy ảnh hưởng và gợi ý chơ tả tiên ta làm tuổng hát Vào thời đó, đồ thị Việt Nam
không hoàn toàn tách ra khôi cảnh quan nông thôn, thị — viên (đô thi vườn) vẫn còn
tổn tại Do đó mỗi giao lưu giữa nghệ sĩ chuyên nghiệp chỏn cung đình với các
hệ sĩ nghiệp du ở làng xã hãy còn mật thiết, chắc Tuổng cưng đình cùng đem lại
nhiễu gợi ý cho các nghệ sĩ Chèo hái ở nông thôn Từ đó, hiện tượng nghệ nhân sâm
khẩu vita diễn tuông, vừa diễn Chèo, trở thành phỏ biến và dược gợi là “diễn sam”, đến Cách mạng tháng Tám — 1945 van con tản tại
1.1.4.8 Chào thời Lê (thế los XV — thé byt XVID)
Với chính quyền nhả Lê, nước Đại Việt bước vào một thời kỹ Gn dịnh va phat triển mạnh mế : bước đàu có chê độ tư hữu ruộng đất, Nho giáo được coi trọng,
tầng lớp quau liêu ngày cảng déng dav
Cáo vua Lê tuy đã đảnh thắng quân Minh về mặt quan sự nhưng lại bị nhà
Minh thén tinh về mặt văn hoá Trong thơ Lê Thánh Tông, có thế thầy răng ngài ca
ngợi các hình thức ăn mặc và màu sắc ngoại lai : “áo Đông kinh, mũ múi dựa, các
r năm 1462, những người làm nghề Chéo hát không
được ải thí vì họ bị coi ngang hàng với bọn áo nghịch, trộm cướp (một nạn nhân nỗi
xnầu lục cỗ vịt, đỏ tiết dẻ
tiếng của luật lệ hả khäc nay là danh nhân Đào Duy Lừ, người đã dựng nên Lũy
Thay néi tiéng cho chủa Nguyễn ở Dàng Trong) Sau đó mấy năm, triểu đình lại ra
sắc lệnh cảm dân “nêu dang cu tang ma đến đám chèo hát cứ buông trểng xem mà không tránh thì luận vào tội lưu” Trong 24 huẳn điều bạn bố vào thời Hằng Đức lhì
hai điểu thứ nhật và thứ mười sáu ức chế heạt động và thưởng thức Chéo hat Con
Ấm không được lấy con
nhà lương gia, các thấy khoá, thây để, đến các quan đều Dị
gai các nghệ sĩ làm vợ kế cả làm thiếp, Đã trớt lẫy thì phải ly dị và phải phat don Trong hoàn cảnh đó, các nghệ sĩ một phân phải chuyển nghẻ, một số phải trở về quê
cũ Một nhà tí thức lớn, trạng nguyên Tương Thế Vĩnh, đúng ra tập hợp những ý
kiến còn sót lại của người làm nghề, ghi chép lại thánh Z2í phường phá lực cho khỏi thai nhạt Mặc đù thế, phải đến khi Lê Thánh Tông qua đời, cuốn sách mới được in
Ta và lưu hành trong nghề
'Trong thế kỷ XVI, trỏ Tàng Cưu phải triển mạnh Khoảng năm 1505, Lẻ Đức
Mao viết Ngữ hộ Tám giáp giả thuing hat á đào, gầm 128 về, chia làm chín đoạn
35
Trang 27thì ca Trủ dược nói đến hai lần, cung dàn hai lần, Tảng Cưu ba lẫn, rồi tiếng hát, nhịp hát, bài hát, sênh, phách, quản (sáo) huyền (đàn), mứa, hoa đây khắp cả chin đoạn Trong bài hát cân bình yên nói trên, ngoài việc ca tụng oai đức thân thánh và on mưa móc của nhà vua, còn thấy nhắc đến việc thưởng cho đào hát tới 6
lần, nhắc đến giáo phường 3 lần
Theo Đồng Ngạc tạp biên của Phạm Văn Thuyết thì tại dé có câu
Đảng đân cảu phúc lính đỉnh vui thay
Tiệc thần Chèo hát đêm ngày
'Thập hàng thị yến vui và
Từ các chỉ tiết trên, các nhà nghiên cứu phỏng đoán răng ca Trủ (hát thể) đã được hỗn dung với Tảng Cưu thành một we “ca — mia” 1éi lại tích hợp với trò diễn thành Chèo hát,
Ở thể kỹ XVI, Tàng Cưu còn là điễn xướng nghỉ lễ thì sang thé ky XVII, trò
Tảng Cuu đã được đàn đã hoá Bia miễu phường Đạch Mai (quận Hai Bà Trưng —
tp Hà Nội), lập năm 1669, còn ghi : “Llàng năm, chơi trỏ Tảng Cưa và các lễ cầu phúc bồn mùa và hạ điền” Bia đình Nghĩa Phê, dựng năm 1692 ghi chép tỉ mỉ hơn
“Nhiing hic mở dâm tro Tang Cuu theo kiéu nha Hán thì khoe lục, phô hồng, lụa là
éng ảnh, hát hay múa giỏi, kèn sảo giao hoa Dinh này nồi tiếng về âm nhạc mà có
cái đẹp của sự hoà nhạc” Rõ ràng ở đây trò Tảng Cứu đã có “hát hay, múa giôi”, có
phục trang dây màu sắc, có dâu nhạc giao hoà rồi Bìa làng Đại Lữ Gới Đồng Ích —
huyện Lập Thạch — tính Vĩnh Phúc) dụng năm 1710, chỉ ghỉ việc bản tré Tang Cuu
cho xã Quê Trạo, điều này chứng tổ rắng Tàng Cưu lúc đó đã trở thành một loại tình biểu điển đỗ sức dâm đương một buổi diễn Lại theo Đồng Ngạc đập biên thì
ngày hội xuân ở Đồng Ngạc có cả Chẻo hát, điều đó có thế tin được
Cudi thé ky XVI, Samuck Baron viết trong Descripion đu Tonguii năm
1685 : “Họ không có rạp hát nào ở nơi thánh thị lán nơi biểu điển, nhưng họ dã có
từ thất của các quan và sân của các tư gia thay thể Trong khi đó, ở nơi thôn xém,
họ có những nhà công công (đình) giành cho việc hát do ba, bốn người ding ra
hưng công xây dựng, dỏ lả nơi mở hội, tiệc tùng, và hát xưởng theo tục lệ Mỗi ngôi
đình đỏ thường mướn ba, bổn, hoặc năm diễn viên, mỗi tổi diễn là một vạn đẳng
26
Trang 28hoặc một nén bạc Ngoài ra, những người thưởng thức tôi điển có lòng bảo hiệp lại
thưởng thêm cho họ chỉ phụ nữ mới múa và người bát thường hát theo múa, sau
méi đoạn, người đó lại bị mệt điễn viên nam, dong vai hé cắt ngang Vai hé dé 1a người tài trí bậ nhất mà người ta có thể tìm được quanh ving và họ có đủ tài làm
cho tất cả mọi người xung quanh phải bật cười về các sáng tạo và điệu bộ của họ
” Qua lớp trỏ trình điễn hiện ra đười ngôi bút miêu lã của người châu Au, ching
†a thấy rõ rằng Chèo lúc ấy đã ở cấp độ II tiền lên ứng diễn ở thời kỳ dau của cấp dé
1H; đặc biệt là trỏ nhai đã có ý tứ và trinh bày cuộc sống như những mảnh đời Nơi
tiểu diễn đã là đình làng, đẳng thời các nhà quyên quý đã dâm bỏ tiền bạc thuê con
khát về điển tại nha
Sang thế kỹ XVITI, rõ ràng khi Nho giáo trỡ thành quốc giáo, tư tưởng phong kiến trở thành tư tưởng thống trị xã hội thì các tiết chế chính trị, tự tưởng, nghệ thuật đều có sự chuyển biến khác tước Nơi biểu diễn từ sản chủa chuyền sang sin
định khiển cho nội đụng các vỏ bớt phân thiéng va chất thẻ tục trở thành chủ đạo
Cho dến khi Chèo trở thành hình thức giải trí cho các quan, các nhà giàu và dân đô
thị như Baron đã miễu tá trên thì đối tượng phục vụ của Chẻo cũng xa dẫn cộng đồng mà đi đến thỏa mãn yêu cầu giải trí của cá nhân Chính vi vay ma dan dan trong Chẻo có những vớ nói về sự giải phòng cá nhân đặc biệt lả sự vươn lên của nữ
giới : vở Dặng Dựng lồng Nương xin lửa, Nữ hú tôi lần lượt ra đời cùng với việc
chuyển thế các truyện thơ Nêm thành Chèo Những phường gánh đi hát thuê cho
quan lại và nhà giàu, đã đơn dường cho các phường chuyên nghiệp hình thành ỡ các
đố thị lớn về sau Các nghệ sĩ sân khâu Chèo đã mướợm tích để “dịch nên trò” Tổng
Trân — Cúc Hoa, Phương Hoa, Phạm Tải — Ngọc Hoa, Phạm Công — Cúc Hoa,
Thạch Sanh dần dược chuyên thể nhưng không xác định dược vào thời gian cụ
thế nào,
Vào giữa thể kỹ XVII, nhà Minh dần dần bị ngoại lộc thôn lính, muội bộ phận
dân chúng trôi giat xuống phia Nam rồi vượt biên giới sang, cư rủ ở miễn Bắc Việt Nam Cùng với các tư liệu lao động, họ đã mang thea cả nên văn hoá đân tộc của
ho Riéng về trò điển xướng, cơ sở của Chùo sau nay, cd huyén thoại về công chúa
‘Thuy cung, kể trong, Liễu Mgb{ truyện được chuyên thành trò diễn LiỂu nghị truyền
thứ Ở Việt Nam, từ thời Lê Trung Tĩmg trở vẻ sau, nhiều cuộc chiến tranh kéo dai
Trang 29hàng vải chục năm khiến cho đân củng khổ Quan lại tham những, làm khổ trăm họ, gây ra mất dn định xã hội, khiến cho đân chứng lâm than, đói khổ “Tiệc xướng,
không còn”, “không được thỏa sông” Người dân không được đội ơn vua thi quay
vẻ thử Phật Thánh, tin vào quý thân và số phận, vào thân linh va các Mẫu nhất lả
Tức Mẫu Thoải, một bả mẹ thân tiên hiôn có mặt trong tâm linh của nhân đần Vì
vậy vỡ Đức Mẫu Thoải có thể ra đời muôn nhất vào thế kỹ XVTT sau này Điều
dáng chú ý là vở Chèo nảy, hoàn toàn miêu tả đúng theo trật bự của vờ Liễu nghị
truyền thư nhưng có thêm nhân vật Thảo Mai Từ các tiểu truyện kế ở cửa điện, cửa
phủ mà người la thường gọi là Hát gõ của đình (của ca Trù, hát Văn, Hát Xoan, hát
Dam ), dem déi chiều với nội dung các trỏ diễn, có thể thầy lá :
1) Một số bài hát gõ như Chính phụ, Quân tử Vu dịch được đem vào làm bai hát chủ các nhằn vật Irong Chèo
2) Một số truyện bằng văn vần kẻ sự tích các đẳng bậc, nhất là nữ lưu, được
sân khảu baá thành tích trỏ biển điễn khá hấp dẫn
Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cử cho răng Chẻo ra đời vào thé ky XVII nay
1.1.4.4 Chào thời Nguyễn va ihuéc địa Pháp (từ 1502 đến 1945)
Nha Nguyễn thống nhất dắt nước từ năm Nhâm Tuất (1803) đã mau chóng,
ổn định được sự thống trị trong cả nước, tất cả mợi nỗ lục khôi phục lại nhà Lê và
nhà Tây Sơn đều bị đập tắt Thướ đầu, triệu Nguyễn cổ gắng đưa lại niêm tin cho
mai céng din yên lâm sản xuât nhưng về sau do bảo thủ, cáo chính sách của triển
Nguyễn mã đặc biệt là “bế quan to cing” da gây nên những hậu quả tai hại, làm
suy yếu đất nước tạo điều kiện cho thực đân Pháp xâm lược nước t4 (1858)
Có thể nói giai doan này là thời diễn ra cuộc đâu tranh thật manh mẽ giữa bai
giá trị văn hoá : văn hoá đân tộc vả văn hoá phương Tây do Pháp mang tới Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, người Việt Nam, mỗi người có một thái độ khác
nhau, sơng củng chung tâm lý : yêu đất nước, yêu giống nòi, nên không một ngảy rgỗi yên, luôn luôn tỉnh toán, cảnh tỉnh đồng bào, từ ít đến nhiều chung sức nhau lại
dé chống Pháp Từ lúc này, chèo bắt dầu đứng truớc nhiều mâu thuần, dỏi hỏi phải giải quyết như
—_ Mâu thưễn giữa yêu cảu canh tân với tư tưởng nên nếp thủ cựu xưa cũ
28
Trang 30— Manu thuẫn giữa đôi hỏi dỗi mới về mặt trinh điển với khả năng bạn chế (của truyền thông)
— Mau thuẫn giữa yêu cầu có nhiều kịch mục với vốn kịch bản cũ không
nhiều,
—_ Mâu thuẫn giữa hình thúc sân khâu tã ý với sân khẩu tã thực
Độ là những mâu thuận chủ yếu làm xuất hiện phong trao Chéa Van minh và
Cho Cải lương,
Dura vao một số sử liệu và cử liệu ít ỏi ghi trong sách báo trước đây một số
đã vội quý hiểm còn tồn giữ và lời kế của các nghệ nhân lừng chứng kiến hoặc rực tiếp hoạt déng Chéo qua các giai doạn của thời kỳ, vào số cáo bạch, quảng cao hiện còn hm giữ tại Thư viên Quốc gia Trung ương, các nhà nghiên cứu đã tổng, hop vẻ thời kỳ cha ông ta trên đường đưa Chèo vào thành phố “phục vụ” thị din xây thập niên nứa đầu thế kỷ XX như sau
Theo một sở nghé nhân cao tuổi, trước đây IIà Nội không có phường Chèo
bản dịa Những dịp dình dám hội hẻ, giỗ chạp khao vọng, xóa phố lại cử người ra
ngoại thành mười phường chéo quanh đấy về hát giúp dăm bảy bữa với cung cach biểu điễn và thưởng thức nghệ thuật không khác mây Chèo sân đình
Sau khi chiếm thành Hả Nội, Pháp sai Đội Nghú chiêu mộ nghệ nhân lập
phường, hát mỗi tuân vài ngày trên bãi chợ IIỏm, cho lính ngụy xem để “cũng cô
tỉnh thân” Sợ quân Cân Vương đánh lén, chúng tổ chức hát từ 9, 10 giờ sáng kéo tới chiều tối Tại dây, nghệ nhân Chèø dã đặt bàn thờ Tổ ghé vào nội im Giáo
phường quán của phường nhà Trò (Ca Trủ) chuyên hát cho hội đình làng Hoà Mã
thẳng nắm, xây sát liền bên cạnh Mặc đầu địa điểm có phần chật chội, các phường, vấn diễn những tích như Trương Viên, Quan Am, Lưu Bình, Tổng Trân Cúc Hoa qua đó, nối lên số nghệ nhân tài năng như hể Quýnh nối bật trong vai Hai Móm,
kép Hy, Nữ Lã (min đồng giả gái) của gánh ông Tram Dương (Hưng Yên); phường
Chéo ông Tổng Bản (Sơn Tây) có dào Xuyên nói tiếng về những vai dao thuong va đảo lắng, có nữ TIễ là nam đóng Châu Long duyên đáng
Khoảng năm 1905, một Lư thương & Hàng Bạc lập gánh kinh doanh gọi là ánh Cheo ông cá Vy, đây lá gánh chèo chuyên nghiệp đầu tiên ở Hà Nội tập làm
ấn theo lỗi tư bản chủ nghĩa
29
Trang 31Năm 1998, mây nhân sÿŸ hợp tác với nhà buôn mua dat ở ngõ Sảm Công, xây Déng Lac dai, rap nay chứa hơn trăm khán giả, có sân khẩn mỏ phỏng theo cách làm ở trong Kinh (Huế) và qua thục tiễn làm nghé cia may rap Nam Chan, Thông Sảng nên mang nhiều dang đấp loại sân khẩu hộp Sân khâu Đông Lạc được đông
đảo khách xem tán thưởng thời gian dai, do Ban IIát có nhiều “canh tân” : lời trỏ,
câu hát, khuôn điển có trau Iruốt, cô gon Quan írơng là có thêm số lích “tuội:”
của máy phường tỉnh ngoài, như Phạm Tải Ngọc Hoa, Hoàng Trừu; chuyển sỏ tích của Tuổng sang như Tứ Linh, Hán Sở nhật là khai thác truyện cố đân gian dé viet
tích mới như Nàng tiên đc, Chàng Sọ Dừa, Đức bà Chúa Ba Đồng Lạc là rạp hát
dầu tiên thuần diễn Chèo ở Hà Nội Đẳng Lạc dòng khách khoảng dăm bảy nắm rồi lại rơi vào tỉnh trạng giống bên Hàng Bạc là thiên tích mới, cho đấu đã tịch cực chuyển từ tích Tuông và dỏ lại chuyện có Rõ rằng, khi bạn hát diễn ở một dịa diễm
cố định, với số nhiều khan gi thị dân có điều kiện mua vẻ xem thường xuyên, thì
vấn đề tích mới là chuyên sống côn, điều má các phường gánh lưu điển hàng năm
xuân thu nhị kỳ chưa thấy cấp thiết
Về địa điểm didn Chéo ớ thành thị thì thời gian này, các nghệ nhân còn nhắc
đến rạp Tám gian, rạp hà Bỏ ở Hải Phòng, rạp hàng Thao, rạp hàng Rượu ö Nam
Định, rạp Tiên An ở Bac Ninh May rạp nảy thưởng diễn khi thị Chèo, khi thì
Tudng, tay cdc phường đến thuẻ, mà chưa tỏ chức được đội hát, ban bát chuyên như
gánh chèo rạp hàng Bạc và ban hát Chèo rạp Đồng Lạc ö Hà Nội
Cuối năm 1913, Hội Sán Nhiên với mục đích “chấn bung nén hy kịch nước
thà cho tiên kịp văn mình thế giới” được thành lập T1ội chiêu mộ người nghệ, lập
ban hal, duoc phan lớn anki chi em trong gánh Chèo Hàng Bạc và một số ở ban hát Đông Lạc hưởng ứng, theo vẻ
Hội Sản Nhiên vừa tiến hành mọi việc thuận lợi thì bùng nỗ Thế chiến thứ
nhật, thực dân Pháp dấy lên khắp thành thị nông thôn, tổ chức lạc quyên, thúc ép
nhân dân ganh đua “rồng Nain phun bạc” quơ bắt thanh niều di link “bao vệ mẫu quốc” Nhiều nhà yêu nước nương theo âm mưu thực dân vận động tổ chức đồng
Đảo, luỷ sứ tuỷ hoàn cảnh góp phân duy lâu cải cách Nhiễu doạm lời, ý nghữa hoặc
kín đáo chí trích chế độ đướng thời, hoặc khẻo léo gợi lòng nhớ nước thương, nói ra
đời Không thấy vở điễn sân khân nào a dua theo thực đân lăn mình vào “phong,
30
Trang 32trao”, dé ndi một nhà báo thực dân phải thốt lên “Nếu ta nhận ring, viée lam cua chúng ta hơn 6ũ năm qua, đã tác động đến tỉnh thân, phong tục tập quần của dan
bão hộ, in đấu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng thi ta sẽ ngạc nhiên,
khi thấy riêng nghệ thuật sân khẩu ở đây thoát khói ảnh lưỡng do ”
Sau khi Thê chiến I kết thúc (1918), toàn quyến Anbe Sa-rô phát động công,
cuộc khai đhác thuộc địa ở Đông Dương lần thủ hai Cùng với mỏ than và các xí xghiệp, các nhà máy lớn, giai cấp công nhân hình thành Phong trảo yêu nước ngày
cảng mạnh mê đân dân thống nhất lại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng săn Trong bối cảnh chính trị — xã hội ấy, Chèo cũng lừng buớc chuyển mình một cách vượt
bậc,
Đề tôi nào cũng sáng đèn biểu diễn, phục vụ khán giả, các rạp được xây
dung chung quanh các giao lô Hàng Đào — Hàng Ngang — Hàng Bạc và Lương Văn
Can - Hàng Quạt Đáp ứng yếu cầu của khán giá, ngay từ những năm dẫu thé ký,
Chèo phải liên kết với Tuổng mới đủ vốn vỡ đẻ giữ rạp Nhờ sự liên kết đó Chèo
đã tự làm giảu cho mình bằng cách bình dân hoá một số vở Tudng như Xuân Đảo
ìn Tư Lệ Lúc đỏ nhiều cắt thị, Thư quản hội lương chuyên, Thật hiền quyến,
ghê sĩ sân khấu truyền thống có thể “diễn sam” cả Tuồng, Chèo nhu Tram Thịnh,
Năm Ngũ, Dịu Hương, Bạch Trẻ, Ba Tuyên, Đắc Nhã Các chủ rạp dã mới một
số nhà Nhe sang tác những vở mới như Trần Du, Phạm Mỹ Thạch, Vũ ly Tô,
Nguyễn Đang, Nguyễn Thúc Khiêm, Dinh Gia Thuyết Các vỡ mới sáng tác và biểu
điển trong thời kỳ Ấy được gọi là Chéo Văn Minh Việc tập trung các tải năng sảng,
tạo ở Hà Nội đã đem lại cho đất này vai trò đầu tầu của phong trào Chèo trong cả
Tước : tất cả các phường Chèo mạnh đều hướng về Hà Nội, học tập vá làm theo mô
hình tô chức của Hà Nôi
Năm 1916, ông Phạm Văn Duyệt tập hợp một số điễn viên Chào, đựng vỡ Từ sẵn quý lộ của Molie (Nguyễn Văn Vĩnh lúc ý địch là Trường giá học làm sang) dược khán giá thủ đồ nhiệt liệt hoan nghênh Điều dỏ làm cho những người làm sân
khẩu truyền thống phải nâng cao nghiệp vụ nhiều hơn nữa Cũng năm đỏ, một số
áo và trí thức Hà Nội như Đỗ Thuận, Nguyễn Văn Ngọc, xướng xuất niên Hội
ông vùa để tranh khách với
kich nói vừa đề thục hiện vai trỏ giáo huản của sán khâu truyền thống, ngăn chặn
nhà
chân hưng Chèo cỗ Hội xây dựng rạp diễn Chéo vá T
31
Trang 33thanh niên không bị Âu hóa một cach mũ quảng, bang mét san khéu Chéo déi moi
về hình thức, gọi là Chào Cải lương Nổi lên trong làng Chèo Cải lương là Nguyễn
Dinh Nghị
Chẻo Cái lương ra đời làm hình thành nên thể chân vạc trong sân khẩu ở Việt
Tam lúc đó
Truyên thông — Thái Tây— Cách mạng
Ba về dỏ luôn luôn dâu tranh với nhau, cô lúc hòa nhập vào nhau rồi lại tách
za, do dé Cheo luôn luôn chuyển động, chuyển động đến chóng mặt
Vào những năm kinh tế khủng hoãng kẻ cận với Thể chiến lần thứ hai, Chèo
ở nông thén hau nhu tan lui, con Chèo ở thành thị cũng xẹp xuống, Một số nghệ sĩ Chẻo chết đói như : Kép Thiệng, một bậc tài danh hiêm có của làng Chèo, vừa viết
vỡ, vừa dòng nhiều loại vai Tuổng và Cho, nổi tiếng đẹp trai nhưng nghiện nắng :
trắng mắt, thâm môi
Lam cho con gai làng tôi phải lòng !
Nhiễu nghệ sĩ phải bỏ nghẻ và thể không theo đuổi nghề Chèo hát nữa Chỉ khi đến Cách mạng thang ‘Tam 1945, các nghệ sĩ còn sống sót sau năm Ất Dậu mới trở lại sản khẩu Chèo vả cùng với chính quyền nhân đân, họ mở ra một kỹ nguyên
mới chơ nghệ thuật Chẻo
1.1.4.3 Cháo từ năm 1945 dén nay
Cũng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách tạng Tháng Tra năm 1945, là sự ra đời của một nến sân khẩu mới Hàng triệu người Việt Nam yêu nước đưới sự lãnh đạo sáng suốt của Dãng, kết tụ lại "ra ban
Cách mạng đã tạo ra những điều kiện, những tiểu để hội sinh nền sân khẩu
Việt Nam dang dứng trước nguy cơ tản lại Với Cách mạng, nghệ thuật sẵn khẩu cỏ
cơ hội tắm mình trong sinh hoạt tỉnh thần của cả dân tộc, trở thành một ngành nghệ
thuật quan trọng với hệ thống đơn vị nghệ Hhuật thuộc các kịch chúng khác nhau tù
'Tuông, Chẻo, mùa rối Nước, rồi Cải lương, kịch dân ca, kịch nói, xiếc được phân
bể rộng khắp từ trung ương đến cáo địa phương, bộ, ngành chủ quản Trong thời kỳ
32
Trang 34đổi mới và hội nhập, xuất hiện rộng khắp hoạt động biểu diễn cửa các đoàn sân khẩu xã hội hóa, tạo nên một bức tranh đa dang của diện mạo sân khẩu đương đại,
nở ra những thuận lợi và những thách thức cân được nhận thức toàn điện, cụ thể
“Trải qua đặm dải phát triển, sân khẩu Việt Nam có Ihe được nhà nước phong,
*iển quan tâm biệt đãi như dưới triều Nguyễn đã cả công đưa nghệ thuật Tuồng vào
cung đình, đến sức đấp bồi cho nó trả thành một quốc kịch với rhiêu đãi ngô nhất
định, Các hình thức sân khẩu khác như Chèo, Cải lương, kịch nói, xiếc vẫn dim
chân ở hoạt đông nhỏ lẻ, tr phát kiếu phường gánh nay hợp mai tan, ngay cả múa yốt Nước vẫn có ruột bề dày lịch sử cũng vẫn đừng lại trong phạm vĩ của trỏ diễn dân gian ở một số địa phương đơn lẻ Sau Cách mạng Tháng Tâm và sự thắng lợi của miễn Bắc, trên đường tái thiết đất nước, được sự giúp đỡ của các mước trong khối XHƠN mà các chuyên gia của bạn bè Thể giới có diễu kiện dến với giới nghệ
sĩ truyền thụ những kinh nghiệm nghề nghiệp và đồng thời nhiều nghệ sĩ trẻ của ta
được cử ra nước ngoài làm cơ sở cho việc hình thành đội ngũ nghệ sĩ sân khâu chuyên nghiệp Việt Nam
"Trên bối cánh đỏ, bộ môn nghệ thuật sân khấu Chèo truyền thông cũng được Đảng và Nhà nước tạo nhiêu điển kiện để phát triển mạnh mẽ Sau Cách mạng
‘Thang Tam, nghé thuật sân khẩu Chéo dã thật sự có dược một dội ngũ nghệ sĩ, có ý
thức trách nhiệm cao của người nghệ sĩ chiên sĩ, nghệ sĩ công đân cộng với tải năng
và trình độ chuyên môn vững vàng đủ khả năng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
vữa có giá trị tư tưởng, độ chân thực và khỗ năng truyền cảm công chứng Khá đông, nghệ sĩ gặt hái được thành quả trong lao động sáng tao, được tặng danh hiệu NSND, NBUT và được trao lặng những giải thưởng khác nhau Trong suốt lai cuộc kháng
chiến chống Pháp vả chống Mỹ, các tổ Chèo, doan Chèo hoạt dộng trong các đoàn văn công kháng chiến đã phục vụ đông đảo các tầng lớp nhân đân, công nhân, bộ đội đồng góp không nhô vào chiến thắng chưng của cả dân tộc
Đên thời kỳ dỗi mới, trong quả trình hội nhập quốc tế vá bảo hưu truyền thống văn hóa dân tộc, nghệ thuật Chèo của Việt Nam một mặt được quảng bá khắp năm châu, mặt khác, cũng tự thân hiện đại hóa đề đáp ứng thị hiểu của khán - thính
giả Quá trình hiện đại hóa luôn đi đôi với qua trình bảo lưu những tỉnh hoa văn hóa
din ide được bởi đấp qua nhiều thể kỹ
33
Trang 35Hưởng hiện dại hóa dẫu tiền diễn ra sau năm 1954 ở miễn Bắc củng với quá trình cuộc Chiến tranh Việt Nam Sau chiến tranh, quá trình này vẫn tiếp tục với mat sé
v6 Chao cai biên phân ảnh các chủ đề hiện đại Sau năm 1954, nhiều đoàn nghệ thuật Chèo Việt Nam đã đi biểu diễn ở các nước xã hội chú nghứa và được công chúng hoan nghênh Sau Chiền tranh Việt Nam, nghệ thuật Chẻo Việt Nam đã
có mặt trong nhiều kỳ liêu hoạn vần hóa nghệ thuật dân gian ở nhiều nude va thu được sự mễn mộ của công ching nhiều quốc gia Về âm nhạc, một số điệu hát Chèo
đã được các nghệ sĩ mạnh đạn cãi biên, phối khí theo phong cách và nhạc cụ hiện
đại nhưng vẫn giữ giai điệu gốc vấn có
Nha hát Chéo Việt Nam là trung tâm bảo tồn và phát triển nghệ thuật Chèo
hiện nay chịn sự quản lý trực tiếp của Cục Biểu diễn nghệ thuật, thuộc Hộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch Trong gần 6Ö nấm kế từ ngày thánh lập, nhà hát dã khỏi phục
và chính lý thành công, nhiều vớ Chẻo truyền thống mẫu mực, dản dựng, mới nhiều
tac phẩm có giá trị nghệ thuật cao, đạt nhiều giải thưởng lớn tại các kỳ liội điển sân
khẩu chuyên nghiệp toàn quốc Bên cạnh cảnh chím dâu dàn nhà hát Chèo Việt Nam, các đoàn Chèa và nhá bát Chèo địa phương cũng phát triển mạnh mẽ, Ở Việt
Tam hiện có 10 nhà hát chèo và 8 đoàn chẻo gẻm : nhà hát Chèo Việt Nam, nhà hát Chèo Hà Nội, nhà hát Chèo Ninh Bình, nhà hát Chéo ‘Thai Binh, nha hat Chéo Quan đội, nhả hát Chèo Nam Dịnh, nhà bát Chèo Tải Dương, nhà hát Chèo Tưng Yên, nhà hát Chèo Bắc Giang, nhà hát Chèo Hà Nam, đoàn Chèo Hải Phòng, đoàn Chèo Quảng Nữnh, đoàn Chèo Phú Thọ, doàn Chèo Yên Bái, doàn Chèo Vĩnh Phúc, đoàn Chẻo Thái Nguyên, đoàn Chẻo Thanh Hóa và đoàn Chèo Tuyên Quang
Trong kỹ nguyễn hội nhập, toàn cầu hỏa nghệ thuật Chèo cổ đứng trước những khó khăn thứ thách chưa từng có Với sư ra đời của các phương tiện giải trí
truyền thêng thê hệ số như Internet, võ tuyên truyền hình, trỏ chơi điện tử việc truyền bá các luỗng tự lưỡng, các giá trị văn hóa hiện đại khiến cho công chúng đặc biệt là giới trễ dẫn quay lưng lại với các giả trị truyền thông của dân tộc trong dó có nghệ thuật sân khâu Những năm gân đây, nghệ thuật Chèo đứng trước tình trạng
“khan khan giấ”, các nhà hát Chèo hoại động cằm chứng, các làng Chèo mắt dẫn đội nạũ kế cận điêu nảy đã đặt bộ môn nghệ thuật truyền thông nảy trước nguy
cơ có thể bị mai một dẫn theo thời gian Tuy nhiên, cũng với sự nỗ lục của cá nhân
34
Trang 36người nghệ sĩ củng các dơn vị hoat déng nghé thuật và sự hỗ trợ vẻ chính sách, tải
chính của chính quyên và xã hội nghệ thuật Chèo đang tùng bước được đầu tư khôi
phục trở lại Mong rằng trong thời gian tới, nghẻ thuật Chẻo sẽ sớm tim lại những ngày tháng “thống trị” trong đời sống văn hỏa tính thân cúa người dân Việt Bắc Bộ,
Từ khi ra đời đến nay, tiếng trống Chèo có ma lực cuẩn hút biết bao thẻ hệ
khán giã, không kế khán giả, huổi lác, địa vị xã hội hay quốc tịch Cùng lãi qua
những giai doạn thăng trầm của lịch sử dân tộc, nghệ thuật Chèo dã từng, bước củng,
cá được địa vị thiết yếu trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật làng xã cfing như thành thị của vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Nhưng có nhiều giai đoạn sân khấu Chèo
Việt Nam dã trái qua những khó khăn tưởng chừng không đứng vững nổi Giờ dây,
sân khẩu Chẻo đang được khôi phục nhằm giữ gin và báo tổn một loại hình nghệ
thuật dâm dà bản sắc dân Lộc
1.1.5 Những yếu tễ cầu thành của nghệ thuật Chèa cÃ
1.1.3.1, Sân khẩu Chèo cỗ
Chẻo cổ còn được gọi là Chèo sân đình là loại hình Chèo của những phường,
ân chủa, sân nhà cáo gia đình
chéo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình,
quyền quý, giàu có Sân khẩu Chèo cổ thường chỉ là một chiếc chiều trãi ngoài sân, đằng sau treo chiếc mản nhỏ Sân khẩu Chèo cổ diễn theo lỗi óc lệ vi vậy sân khâu
không có phông tuàn, chỉ số một tấm vấi nhuộm mâu ngắn đôi buông trò và sản
diễn Cảnh trí chỉ dược thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách diệu của điển viên Khi diễn viên diễn xuất nhạc công ngôi hai bên mép chiều dạo đàn để trong khi khám giả ngồi vây ba mat dé xem
1.1.5.2 Nhân vật trong Chèo
Nhân vật trong, Chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hoá vả rập khuôn Tỉnh cach của các nhân vật trong Chèo thường không thay dỗi với chính vai diễn đó
Những nhân vật phụ của Chèo có thể đôi đi và lặp lại ở bất cú vớ nảo nên hầu như không có tên riêng Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thu sinh, hề
Tuy nhiên qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kinh, Thị Mẫu, Súy
Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thảnh một nhân vật có cả tính riêng
Diễn viên đóng chèo nói chưng là những người không chuyên, hợp nhau lại trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường Chèo hay phường Trò
35
Trang 37“HẺ” là một vai diễn thường có trong, cac vé dién Chéo Anh hé duge phép chế hao thoai mai cting nhu-nhimeg anh hè trong cung điện của vua chúa Châu Âu Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người đân đã kích những thói hư tật xâu của xã hội phong kiển hay kế cả vua quan, những người có quyền, có của trong lang xã Có hai
loại hễ chính bao gồm : hễ áo dài và hễ áo ngắn
1.1.3.3 Phục trang
Phục trang của các nhân vật trong các vở diễn Chèo là những trang phục
truyền thông, thường ngảy của người đân đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Tuy theo
các vai diễn cu thé ma có các trang phục phủ hợp cho lừng nhân vật Đúc vua thì có
long bào, các bá hoảng bà chủa thị ảo váy lụa là, kế hấu người hạ thí ảo ngắn, quan chẽn Người phụ nữ chính chuyên là “khăn đen mồ qua, áo xông thắt lưng xanh đen
giản dị” hay áo tứ thâu mớ ba xmớ bây, thư sinh nhà Nho mae trang phục áo thẻ,
khăn xếp, guốc mộc Đạo cụ của người diễn hay sứ dụng là chiếc quạt Do yếu tổ
kinh phi nên thường các trang phục của diễn viên trong các vở Chèo đa phản đem
giản, dễ kiểm không quả màu mẻ, cầu kỷ, sang trọng
1.1.5.4 Nhạc cự
Chẻo sử đụng tối thiểu là hai loại nhạc sụ đây là đản nguyệt và đán nhị đồng, thời thêm cả sáo nữa Ngoài ra, các nhạc công cỏn sử dụng thêm trống và chữm
chọc Bộ gõ nêu đây đủ thì có trồng cái, trồng con, trồng cơm, thanh la, mỡ Trồng
con ding để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát Có câu nói “phi trồng tất thành Chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trồng trong dêm diển Chẻo Trong,
Chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác dé làm phong phú thêm phân đệm
vu dan thập lục, đản tan thập lục, đản nguyệt, liễu
1.1.5.5 Kỹ thuật kịch
Day là loại hình nghệ thuật tổng hẹp các yêu tế đân ca, dân vũ và các loại tình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đông bằng Bắc Bộ Nó là hình thức kể chuyện bằng, sân khâu, lây sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công, chủng,
và có thể được biểu điễn ngẫu hứng Sân khâu Chẻo dân gian đơn giản, những đanh
từ Chóo sân nh, chiếu Chèo cũng phốt khôi từ dó Đặc diễm nghệ thuật của Chèo
bao gồm yếu tổ kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tỉnh cách nhân vật,
tính chất ước lệ và cách điệu Ngôn ngữ Chèo có sử dụng những cầu thơ chứ llán,
36
Trang 38những điển cố mang tỉnh ước lệ hoặc dưa vào những câu ca dao đân dã với khuôn nấu lục bát rất tự do, thoải mái về câu chữ Chèa không có câu trúc có định năm thổi một kịch như trong sân khan Chau Au ma các nghệ sĩ tham gia điển Chèo thường ứng diễn Do vậy, vở kịch kéo dải hay cắt ngắn tủy thuộc vào căm hứng của
người nghệ sĩ hay đời hỏi của khán giả Không giổng các vở opera buộc các nghệ sĩ
phải thuộc lòng lừng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sĩ Chèo được phép
tự đo bể làn, nắn diệu dễ thể hiện cảm xúc của nhân vật Só làn điệu Chèo theo ước
tính có khoảng trên 200,
1.1.6 Các đặc trưng cũa nghệ thuật Chèo cỗ
1.1.6.1 Chào cỗ thuộc loại sân khẩu khuyên giáo đạa đức
Chèo chủ yêu di vào các câu chuyện hàng ngảy xảy ra nơi thôn đã, hoặc
trong nhà “quan”, đê nói những mối quan hệ tất xáu vẻ mẹ chẳng nàng đâu, đì ghẻ can chẳng, vợ chẳng bè bạn Các tich Chèo (cố) thường là những câu chuyện kế
vẻ cuộc đời hoặc một quãng dời có táo dụng quyết dịnh số phận nhân vat, trong dé,
nhân vật thư sinh (hoặc một viên khoa bảng) giữ vai trò chủ chết, cằm cân nẫy mực
trong giá đình, lẫy lam cương ngũ thường là rường mỗi, lây việc học hành thí đỗ làm đường tiền thân, còn người thân của họ “sẽ phải gặp” những biến cô xã hội xây
đến, để bộc lộ tâm trạng và cách ứng phó hữu hiệu khả đi vượt qua khó khăn, làm
sao nội lên những khia cạnh đạo đức, đúng với yêu cầu để ra cho tIẾL mục của tác
giả Số khia cạnh dạo đức này cũng nằm trong phạm trủ tam tong tứ dức, cụ thể ở chẻo là hiểu, nghữa, tiết, giúp chồng con họ gắng đạt bới chữ trung quản
Tựu chúng, chiếu Chèo xưa dược dua ra trước bẻ con nông dân những hình
mẫu lý tưởng như : thư sinh nhả nghèo, cổ công học tập đề tiển thản, thí đỗ xuất sắc
và khi làm quan thi x4 than “phục vụ đẳng mình quân” Cùng với họ là những người
vợ hiển thục, người đâu hiếu nghĩa, đám hy sinh tất cả cho chồng con yến tâm dủi
mai kinh sứ, chiếm báng khôi khoa làm rạng rỡ tông môn Ngoài ra còn có cá những
kẻ thất đức bất nhân ngăng trở đường đi của họ, hoặc chịu ở vị trí “đối tỷ” cốt lâm
môi bật cá vai chủ chối chính điện Phần kết của cáo nhân vật đếu nhằm làm gương:
cho người đời, hoặc là tốt đẹp tươi vưi để khêu gợi kích thích ngưỡng mộ cố gắng noi theo, hoặc là đem kết cục nhãn tiễn chẳng ra gì để họ răn ngừa, né tránh
Trang 391.1.6.2 Chéo thuộc loại kịch hát dân tộc, một dạng hát mia nhạc kịch
mang tính tổng hợp
Ö nước ta, các nhà hoạt động sân khẩu xếp Cải lương, Tuồng, Chèo cứng
loại kịch hát dân tộc, ý chí cá 3 bộ môn đẳng thời dùng bót, mủa tạo hình làm thủ
'pháp thể hiện cầu thành ngôn ngữ nghệ thuật kịch chủng,
Cân cửa miệng của nhân đân tá xưa nay vần nói hái Chẽo (hoặc xem hái) vớt
ughia bao gồm hát (bằng miệng và tâm) và diễn (bằng dộng tác hình thể) Vì thế, thưởng thức biếu điễn Chẻo được gọi là xem hát
CHỗo là một chúng loại kịch đôi hỏi nhân vật phải hành động, tĩ nhiên thiên
nhiều về hành động nội tâm, cả ước vọng và tâm trạng do ngôn ngữ nghệ thuật sở trường tâ ý chỉ phối
Với nghệ thuật Cho, trên cơ sở bản trỏ (viết bằng thơ van van va Oi thường) nghệ nhãn sẽ kết hợp khỏn khéo hát mủa với động tác cách điệu tương img,
để “kế lại” tích chuyện và thể hiện phẩm cách nhân vật, sao cho hiệu quả và sống
động Việc đòi hỏi bản trỏ phải viết theo niên luật thơ ca cũng, là diễu tất nhiên, bởi tiếng nói cơn người vên đã là hình thức cỗ nhật, đơn giản nhất của âm nhạc và chỉ riéng nói với ngữ điệu riêng biệt của từng công đồng người mới só thế biểu đạt cắm xúc suy nghỉ võ củng phong phủ của mỗi cả nhân sống trong dé Vao chiếu
diễn, nghệ nhân sẽ tùy vai, tùy nơi, tùy lúc (và chính là tủy tai riêng) mà vận dụng,
linh hoạt mỗi bộ môn nghệ thuật đã trở thánh thô pháp cấu thành ngôn ngữ Chèo
1.1.6.3 Chào thuộc loại kịch hải bí— hài dân lộc
Phản lớn nhân vật chính yên, trước hết là nhân vật nữ của Chèo đếu có quãng
người rpluiêng về khổ cực
đời hết sức khổ cực (người nghiêng về khổ cục vật cÍ
tình thần) ở đủ dạng, dủ về, mang tính bi rõ rệt, như những Thị Phương, Cúc Hoa,
Kiều Liên, Mẫu Thoải, bà Chúa Ba Tuy nhiên, những nhàn vật đẻ khi lên chiêu
Chỏo, qua điễn xuất lài tình và nhiều khi lính tế của nghệ nhân, kết hợp với đi hỏi những hình thức quen thuộc của đông dão bà con, rất nhiễu cải cười đủ kiểu, đủ zrức “pha” vào suốt thời gian diễn trò từ đầu đến cuối, chiếm tỷ lệ hàng 1⁄2 tới 2⁄3
Trang 40khi thường thức Vì thể nhiều nhá khảo cửu sân khẩu đân tộc từng “duy dank” ma cắt nghĩa chèo xuất phát từ chữ trào (trào lộng) mã ra
Tuy nhiên, cải hải không làm nên câu chuyện do nghệ nhân kế lại trên chiến
chẻo, má chỉnh là cái bí toát ra tử bản trỏ đo nho sỹ viết Tình trạng đó dẫn tới hiện tượng bị hài xen kẽ, đúng ra là hài pha vào bị, trong các vở diễn, thể hiện trong mỗi tình tiết, mỗi lớp, muỗi nhân vật, dưới các đạng : sử dụng cái hài để nhân thêm cho
cái bị “sâu” hơn, cười trong nước mắt,
Vi thế, những câu chuyện nói về mặt này mặt khác cuộc sống đen tối vi đọa đây của những người lao động, bao giờ cũng ánh lên cái có hậu Lưởng như lất yếu,
vào cung, cách dối
bao giờ cũng nay lên những tiếng cười, tràng cười đủ cỡ, dủ mì
xử của bẻ lũ thông trị Đây là nguyên nhân của những tiếng cười đỏ cung độ kích cố
trong Chèo và đo vậy ruả nói Chèo vẫn mãi thuộc loại kích hát bí bài đân tộc dộc
đáo, đặc sắc
1.1.6.4 Chào thuậc loại sân khẩu kế chuyện tu sự dan tộc
Nghệ nhân vừa bước vào chiếu Chèo đã nói rõ là sẽ kể lại câu chuyện (đã xây ra) bằng trỏ diễn, để khản giá qua đây má khách quan nhận xét những sự hay
dé, phải trái trong suy nghĩ và ủng phó của nhân vật Họ thưởng thức tải nghệ người
đóng vai, từng lúc thông cảm hay xúc động trước tỉnh huồng hoặc sự biến mà nhân
vật nhận chịu, đang thể hiện trên chiều, vừa nhắc nhau phẩm bình điển kỹ của nghệ
nhân heặc tự rút ra bài học thiết thân trong cuộc sống thường ngày
Ở võ Chào cổ nảo cũng vậy, ngay trong lớp giáo đầu, sau câu hát chúc “răm
họ câu ca cỗ vũ” hoặc đân làng “bình an khang thái” là tiếp đến
“Nhớ xưa tích cũ
Có một chàng tên gọi Truong Vien ”
Tiếp theo là các sự biến xảy ra tuần tự, làm cớ cho nhân vật bộc lô suy nghĩ
và hành động Số sự biến này, về gốc gác không có liên hệ gì với rưau, nghe qua tưởng chủng chúng là những hiện tượng xã hội xăy dến ngẫu nhiên, song xét kỹ chúng phải được đặt đúng theo trình tự đã do ban tri sắp xếp mới chứng mình được đạo đúc nhân vật, từ mông đến đây, kỳ tới khi dại yêu cầu giáo hudn ma nha san gia
để ra bản trò Nói khác đi, cách lựa chọn và trinh bảy những sự biến trong một tích
với cách từng phé của mỗi nhân vật đều có đặc điểm khuyên giáo đạo đức chỉ phối
39