Lý đo chọn dé t Thủ đô Hà Nội là trưng tâm chính trị - hành chính quốc gia, trưng tâm lớn vẻ văn hoá, khoa học, giáo đực, kinh tế và giao dịch của cả nước; là nơi t trụ sở của các cơ
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI _
VIÊN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HOC PHAT TRIEN
TÓNG VĂN LỢI
HỆ THÓNG BẢN ĐỎ
THĂNG LONG - HÀ NỘI THẺ KỶ XV - XIX
CHUYEN NGANH: VIET NAM HOC
MA SO: 60 31 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỌI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỌI _ -
TONG VAN LOL
HE THONG BAN DO THANG LONG - HA NOI THE KY XV - XIX
CHUYEN NGANH: VIET NAM HOC
MA SO: 60 31 60
LUAN VAN THAC SI
NGƯỜI HƯỜNG DẪN: PGS.TS VŨ VĂN QUÂN
TS PHAN PHƯƠNG THẢO
HÀ NỌI - 2009
Trang 33 Mục tiêu nghiên cửu Ăn non
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và một số khải niệm
Phạm vi nghiên cứu
Aưột số khái HỆ
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Nguễn tư liệu
7 Đông góp của luận văn
8, Câu trúc củn luận văn
CHUONG 1: SUU TAP BAN BO THANG LONG - HÀ NOT THE KY
XV-XIX
1.1 1.1 Tác động của điểu kiện tự nhiễn vả hải cảnh lịch sử đến quy
hoạch Thăng Lang - Hà Nội thế kỹ XV - XIX
1.1.1 TÁc động của điễu kiện tự niên
Diéu kiện tự nhiễn
Tác động của các yéu t6 séng hé dén quy hoach Thăng Long - Hà Nội _
Bản dồ Hà Nội do người Việt Nam về
Ban dé Ila Nội cuối thê lạ XIX do người Pháp lập
kỳ
NDA
11
Trang 41.3 Tiểu kết cà
CHUONG 2: DIEN MAO THANH THT THANG LONG THE KY XV -
XVHI QUA “HONG DUC BAN BO”
2.1 Diện mạn thành - lũy qua “Hồng Đức bản để”
21.1 Thành Dại LA à cà
21.2 Hoang think
Hoàng thành qua bai đợt xây dựng lớn ndm 1490 va 1516.00.00 ccc
Khu vực phía tây Cẩm thành
Khả vực phía nam Cấm thành: Đông Trường An - Tây Trường An
Khu vực phía dong Cam thành: Đông cung và Thái miễu
Các cửa Hoàng thành
Phit chia Trinh
Về hai bức tường phía bắc của Hoang thanh
2.1.3 Cam thành
2.2 Diện mạo “thị” qua “Hồng Đức bản đề”
2.3 Tiển kết
CHƯƠNG 3: DIỆN MẠO THÀNH THỊ THĂNG LONG - HÀ NỘI
QUA HE THONG BAN BO THE KY XIX
3.1 Thành Hà Nội thời Nguyễn
3.2 Diện mạo đô thi Thang Long - Hà Nội cưới thé ky XTX
3.21 Những yếu lỗ châu Âu ở Hà Nội cuỗi thế kỹ XIX
222 Ony hoạch Hà Nội cuỗi XIX qua ban đồ Pháp
Trang 5323 Sự thay đổi cảnh quan a6 thj 20 nam cudi thé kj XIX
Sự thay đối cảnh quan tự nhiên
Khu vực phố cổ và làng xã ven đô
3.3 Tiểu kết
KẾT LUẬN co 222cc
TAL LIEU THAM KHAO
PHU LUC 1: SUU TAP BAN BO THE KY XV - XIX
PHY LUC 2: SO SANH THONG TIN TREN BAN BO HONG BUC
PHU LỤC 3: BIỂN NIÊN SỰ KIỆN
Trang 6DANH MUC CAC CHU VIET TAT TRONG LUẬN VAN
Trang 7DANH MỤC BIẾU, BẰNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
2 | Hiểu để 2 n số xuất hiện các chủ thích trên 11 bản đỗ 33
Trang 8MỞ DẦU
1 Lý đo chọn dé t
Thủ đô Hà Nội là trưng tâm chính trị - hành chính quốc gia, trưng tâm lớn vẻ
văn hoá, khoa học, giáo đực, kinh tế và giao dịch của cả nước; là nơi
t trụ sở của các
cơ quan trung, ương, của Đăng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cáo cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan lrọng nhất của đât nước [Phép lệnh Thủ đô, điều 1 |
Gần 1000 năm giữ vị trí trưng tâm đất nước, Thăng Long - Hà Nội trở thành một trong những thủ đô có lịch sử lâu đời nhất ở khu vực Dông Nam Ả cũng như trên thể giới Với vị thê “ở giữa khu vực trời dất, dược thể rằng cuộn hỗ ngồi, chính giữa nam bắc dông tây”, vùng dắt "rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sữa, muôn vật hết
phân thịnh", Thăng Tang - Hà Nội da va dang 18 noi hdi Lu va (6a sing tinh
khí thiêng sông núi Qua bao thăng trâu: biến thiên của lịch sử, thành phó
xông bay không ngừng phát triển nhằm khẳng định vị thể “(hẳng địa", “tụ hội quan yếu
của bẵn phương" đề trẻ thành “nơi thượng đồ kinh sư mỗi muôn đời" [63, 2⁄41]
Tìm hiểu vẻ lịch sử Thăng Long - Hà Nội, có nhiều nguồn tư liệu được sử dụng, trong đó bản đồ cỗ có ý nghĩa quan trọng Đây là nguồn tự liệu có giá Irị nghiên cứu về nhiều phương điện, một cơ sở xây đựng hệ thống bản đổ Hà Nội qua các thời kỷ
Thông tin từ han dé có cho phép xác định cau trúc cửa hệ thông thành húỹ, các công trình kiến trúc Tuy nhiên, bản đồ cổ nói chung, bản để Thăng Long - Hả Nội nói
riêng đến trước thẻ kỹ XIX được vẽ rất ước lệ nên chỉ cỏ thể đem đến một hinh dưng,
tương đối vẻ khu vực được mô tả
Bản để Thăng Long trước thê kỷ XV hiện nay không còn Chúng ta chỉ có
những bản đồ “Hồng Dúc” được biên tập, sao chép trong cdc thé ky XVIL XVII, dau XTY trên cơ sở các bản đề được thiết lập đưới thời Lê Thánh Téng (1460-1497) Dó là
những bản đồ xua nhất vẻ Thăng Long,
Thé ky XIX, ching ta có nhiều ban dé Thing Long - Hà Nội hon Bản để thời
Nguyễn do người Việt Nam vẽ có hai loại: một theo họa pháp hiện đại (như Ban 46 Ha
Nội 1873 của Phạm Dinh Bách); một còn ước lệ (như bản đồ T1ả Nội diu thé ky XIX,
1Tioài Dức phú toàn đồ năm 1831 do Lễ Dức Lộc, Nguyễn Công TiếnÌ, bản để Dẻng Khánh Bản dé cuéi thé ký XIX do người Pháp vẽ có theo phương pháp hiện đại có
số lượng khá phong phú
Ì Hoài Đực phụ taàn để hiện nay chưa Lin thấy nguyên bản Bán để chúng ta vấn sứ dựng, thậm chí lưu lau Viên
‘Théng tin Khoa học xã hội la ban dé dugc Trin [uy Bá vẽ lai theo ty lệ hiện dại vào năm 1956,
1
Trang 9Suu tập bản đỏ Thăng Long - Hà Nội thế kỹ XV - XIX có thé gop phần nhận
diện hình ảnh kinh đô thời phong kiến trước khi có những biển chuyển mạnh mẽ vào dau the ky XX Vi the, tôi lựa chọn van dé HE THONG BAN ĐỒ THĂNG LONG -
HA NOI THE KY XV - XIX lam dé tai luan van Théng qua hệ thóng bản đồ, luận văn
di sau tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội trước khi được quy hoạch đề trở thành đô thị hiện
đại kiểu phương Tây
2 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề
Dưới thời phong kiến, các triều dai Ly, Tran, Lẻ đã xây dựng hàng trăm cung
điện lớn nhô, nhiều lần mở rộng, thu hẹp, gia cổ đề thành Thăng Long - Hà Nội thêm kiên cô và vững bên Thẻ nhưng, những thăng trâm của lịch sử cùng sự đôi thay vương
triều, chiến tranh đã làm cho những cung điện, đèn đài, lâu gác, thánh lũy bị san
bằng gần như không cỏn lại dâu vét gì trên mặt đất Đỏ là một thực tế khỏ khăn cho các nha nghiên cứu Song, dường như vì thế mả Thăng Long - Hà Nội cảng thu hút sự quan tầm của giới nghiên cứu trong vả ngoài nước Hàng nghìn công trình, bài viết được
công bó đã thẻ hiện sự lôi cuốn mạnh mẽ của chủ đề này,
Năm 2008, Đẻ tải “Điều tra, sưu tâm tư liệu” thuộc Dự án “Điều tra, sưu tâm, biển soạn và xuất bản tủ sách Thăng Long ngàn năm van hien” đã tập hợp được 5.426 công trinh nghiên cửu, bài viết vẻ Thăng Long - Hà Nội, về mọi lĩnh vực, từ lịch sử (21%), di tích lịch sử (159%), văn hỏa (14%)
Biểu đỗ 1: Tổng quan các lĩnh vực nghiên cứu về Hà Nội
aja ly Lịch sử
Kinh tế nYtế
Trang 10Vân để vị trí, quy rô, kích thước, phạm vị của các tòa thành trên dat Thing Tương - Hả Nội được sự quan lâm của nhiễu nhà nghiên cứu với nhiều ý kiến tranh luận,
thậm chí tái ngược nhau Có quan điểm cho rằng Hoang thanh Thang Tong nim dich
về khu vực phía tây của vườn Bach Thao (Tran [uy Bá, Hoàng Dạo Thứy) Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng Iloàng thánh Thăng Long nằm ở phía đông, trong phạm vỉ
thành Hà Nội thời Nguyễn (Trần Quốc Vượng, Vũ Tuần San, Phan Huy Lê) Nếu như
vòng, thành Đại La ngoài cùng của kinh thành Thăng Long đã đạt được sự thống nhất tương đối của các nhà Hà Nội học thì phạm vi, giới hạn của Cám thành, đặc biệt lì
Hoang thành Thăng Long vẫn là cầu hồi bồ ngõ
Người đầu tiên sử dụng bản đồ ITồng Dức để kiến giải vị trí Hoàng thành Thang
Long là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Dựa vào “đỏ bản thành Thăng
Long dời Hồng Đức” (tức bản đỗ Hồng Đức), tác giá cho biết “thành này (tức Hoàng, thành - TVT,) hình như thước thợ mộe” Những kiến giải của Nguyễn Văn Siêu về vị trì
Hoàng thành Thăng Tong, Cung thành vẫn nôn nguyên giá trị đến ngày nay [76, 177
Nghiên cửu về bứn đỏ Thăng Long - Liá Nội, trừ một số bài viết có tỉnh chất giới
thiệu thi luận văn Bán đồ tông Đức của Lê Thước (Nghiên cứu lịch sử, số 9.1963) đã
mở dầu cho các nghiên cứu vẻ bản đỗ có Năm 1962, tập sách Hồng Đức bản dé được
Bửu Cảm, Đồ Văn Anh, Phạm Văn Thúy, Tạ Quang Phát, Trương Bủu Lâm địch và
xuất bản đựa trên vẫn bắn lưu giữ tại Đông Dương văn khó (Tokyo Bunko, Nhật Bân)!
Điểm mạnh của công trình la dich, chủ thích nguyên bản nửwmg công tác giám định văn bản chưa được quan tâm thỏa đáng,
Thập kỹ 80 của thế ky XX, tic gia Đủi Thiết dã lần lượt chớ công bố các luận văn: Về các tâm bản đồ thành Thăng Long đời Lê (thể kỷ XU) (Tap chi KCH, số 3.1981), Thêm một số bản đồ Thăng Long thời Lê (thế kỷ XƯ - XETH) (Tap chi KCH,
số 1.1982); Sắp xếp các thể hệ bản đã hiện biết thành Thăng Long thoi La (thé i)
XVID (Tap chi KCIL, sé 4.1984); Phát hiện hàng loạt bản đồ Thăng Long thời Lê (Tạp
chí Thông tia Khoa học xã hội, số 10.1984) Hằng những, phân tích cúa núnh, tác giá
“bước đầu thứ chí định vị tri của tỏa thành Thing Long (bie Hoang thành, vỏng thành
thứ hai) như sau, số với địa dank bién nay:
Trang 11
- Phía tây, lấy Hỗ Khẩu làm điểm mốc, từ dó vạch dường thẳng theo trục bắc
a phi Yên, Hữu Tiệp cũ
nam, thi dé (ay Hoang thanh, tức là nó bao gồm cả đất các lãng Ngọc Hà, Đại
- Phía bắc không quả sông 'Tô Lịch
- Phía nam, nêu lẫy bến ô tô Kim Mã làm mốc, vạch đường thẳng theo hai phía đông tây thì cá thể đá là tường thành phía nam Tloang thành” [195, 70] Bản để A 2531
được tác giả cho là gần nhất với bản đổ biên soạn năm 1490 [197]
Năm 1986, tác giả Phạm Hân có bài Suy nghĩ sơ bộ về bộ Bản đô Hồng Đức qua tấm bản đồ kinh thành Thăng Long đã giới thiêu các văn bản: Hồng Đức bản đỗ (A2499, VHL41), An Nam quéc Trung đô tính thập tam tuyên hình thể để họa (A.2531), An Nam hình thắng đỏ (A3034), Thiên Nam 16 dé (A.1081), Nam Việt bản
để (A.1063), Giao châu dư địa chỉ (VIIL30), Thiên tái nhàn đâm (A.584), Thiên hạ bán
dé tổng mục lục đại toàn (A.1362) Tác giả nhận thấy “bản dé kinh thành Thăng Long, được thể hiệu trong 10 cuốn sách nói trên giếng nhau vẻ địa hình, địa vật Song những chỉ tiết thể hiện sự cầu trúc của Hoàng thành có khác nhan” Tác giá đi đến nhận
định bản A.2499 “chính xáo hơn cả th
trong Câm thành mã ngày nay trên thực địa vết tích những công trinh chủ yêu vẫn oòn Chỉ có bản để đó mới cùng cắp cho ta nguễn théng tin tương đổi đây đủ dé tim hiển vị
tri thành Thăng Long” [140, 60, 64]
¡ 2002 đã thúc
mẽ hoạt động nghiên cứu về Hà Nội Nhiều nguồn từ liệu mới, khám phá mới, quan
điểm mới được chia sẻ, thảo luận Tại 114i thảo vẻ Iloàng thành Thăng Long năm 2004,
tac giã Ngô Dức Thọ trình bay tham luận Thang Long qua tự liệu các bản đồ cổ phân
tích về bản để Hồng Đức Theo đỏ, tác giả phân chia 11 tâm bản đồ Hồng Đức thành
hai nhỏm: Nhóm 1 (có vẽ bức tưởng ếp) gồm các ban dé A 2499, VHL41; A.3034,
A.2531; A.2006, A.1081 va A.1603, Nhóm 2 (không vẽ lường ếp) gồm có c¡
A.2716, A.13; VHL30 va A.1363 Táo giả cũng kị
biên vẽ trang nhiêu thời kỳ khác nhau song tật cả đều là những truyền bản từ một bản
chơ câu hói: đâu là bản gần nhất với nguyên bản được bạn hành năm 14607
4
Trang 12Cuộc triển lãm “Chu trình phát triển 100 năm” tổ chức tại Van Miéu - Quốc Tử
Giảm tháng 11.2002 đã giới thiệu bộ sưu tập 78 bân đồ Hà Nội qua các thời kỳ do cá
nha nghién cứu của Viện Nghiên cứu kiến trúc, đồ thị và xã hội Paris (TPRAUS) tuyến
chọn trong số cáo tài liệu lưu trữ của Pháp Ngoài một số bản đỏ có niền đại từ giữa thế
ky XTX thi phan lớn bản để (72 văn bản) là bản để do người Pháp lập từ năm 1882 đến
1954 Lắn đâu tiền, một hệ thông bản đỗ Hà Nội thời thuộc địa được giới thiệu gần như đây đủ đã cho thấy vai trò của bản đỗ trong nghiên cửu Hà Nội Thành công của cuộc
triển lãm được giới thiệu trong cuốn sách: Hà Mội - chư kỳ của những đổi thay, hình
thái kiến trúc và độ hệ Gần đây nhất, cuỗn sách Bản đồ cỗ Hà Nội và vùng phụ cận
được xuất bãn lã sản phẩm của cuộc triển lãm cùng tên do Trung tâm văn hóa Pháp tại
Hà Nội ('Espace) và Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp tổ chúc” Đáng chủ ý trong sưu tập nảy là bán đổ 7họ Vương Vĩnh nhị huyện đồ mô tả vùng nội thành
Hà Nội hiện nay 34 băn đồ khác được vẽ theo tý lệ bán đổ học hiện đại, bắt đầu từ bán
đỗ Hà Nội 1873 của Phạm Đình Bách và kết thúc bằng bàn đỗ Mới thành Hà Nội (bản
dé chi dẫn tên phối do Viện Quy hoạch dô thị Hà Nội vẽ, Ban Địa chính trực thuộc Văn phòng Thủ tướng xuất bản năm 1965 Điểm mới của công trình đã giới thiệu thêm
phan do khó khăn trong công tác giám định văn bản, đặc biệt đối với
Tức, mặt khảo, những bản để hiện đại do người Pháp lập thì mới chỉ được giói thiệu, triển lãm mà chưa được khai thác nghiên củu
dimg mite nhiing théng tím ma
ban dé Hong
3 Mục tiêu nghiền cửu
- Nghiên cứu, lâm rõ những thông tin lịch sử trên hệ thống ban 48 Thăng Long -
~ chù kỳ của những đài they, hinh tit kiến trúc và dé thi, Nxb Khoa hoe ky thudt, 11.2003, 345 trang,
3 Bản độ có 1a Nội tà vùng phụ cận, Ngb Thể giỏi, IL2009
3
Trang 13~ Trên cơ sở tham chiêu giữa các bàn đỏ với thông tìn từ các nguồn tư liệu khác,
khôi phục điện rạp của kinh thành Thăng Tong - Ha N6i thé ky XV - XTX
4 Đỗi tượng, phạm vi nghiên cứu và một số khải niệm Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn lấy tư liệa bản đồ cổ vẻ Thăng Long - Hà Nội làm đổi tượng nghiên cứu chính Bãn đồ được đối cluếu, so sánh dé tim ra những nét tương đồng, dị biệt trong cách thể hiện hình anh Thang Long - Hà Nội Những nguồn từ liệu đuợng thời,
đặc biệt là chính sử, lư liệu gìn chép của nguời phương Tây được dẫn dụng nhằm làm
rõ hơn những chỉ tiết mà bản đồ thể hiện Ö đây cần làm rõ hai đối tượng nghiên cứu là ban đồ vả nội dung ma ban dé thé hiện Đối tượng nghiên cứu là bản đỗ nhưng nội đụng băn đề thể hiện là không gian địa lý, lịch sử, chính trị, văn hỏa Thăng Long - Hả Nội nên đối tượng nghiên cửu của để tải có chức năng kép, tức là bản thân ban dé va nội dung mà bản dỏ thể hiện Đối tượng nghiên cứu thông qua bản dỗ lá Thăng Long -
Hà Nội Là một đô thị, Thăng Long - Hà Nội, từ trong lịch sử đến ngày nay, mang
những đặc trưng chung cũ
46 thị Việt Narm: cùng tính chất sủa đô thị phương Đông
thời trung đại, cùng tính chất của đô thị chuyển đối sang mô hình phương Tây thời cận
đại Nhưng Thăng Long - Hà Nội khác với nhiều đô thị Việt Nam, mà điểm khác biệt
lớn nhất, trở thành xuất phát điểm cho những khác biệt khác, là vai trỏ trung tâm chính
trị hành chính quốc gia của đỏ thị này Dảy chỉnh là nét riêng biệt làm nên đặc tỉnh của
‘Thang Long - [la N6i voi r cách một không gian địa ly - lịch sử - trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, xã hỏi và văn hỏa
Phạm vĩ nghiên cúu
Giới han hoi gian nghiên cứu
- Giới hạn đầu: Thế kỷ XV Dây là mốc thời gian xuất hiện và còn lưu giữ được những hình ảnh của bản đỏ TTằng Dức
- Giới hạn cuối: thể kỳ XIN Đây lả khoảng thời gian hình ảnh Thăng Long - Hà
Nội được thế hiện là đồ thị cễ truyền mang phong cách phương Đông (ở một chừng mực nào đó, phong cách phương Pang thé hiện bởi sự gắn kết giữa thành quan liêu và thị kinh tế, dân gian, sự khác biệt về cơ sở hạ tầng, địch vụ giữa đô thị hiện đại và đô thị tuyển thông ) Các bản đề từ cuối thế kỹ XIX trở đi đã thể hiện những đâu ấn đỏ thị mới do người Pháp quy hoạch, tải thiết vả xây dựng, Giới bạn thé ky XV - XIX sẽ
dic ta dé thi Thang Long - Hà Nội với những nét đặc trưng riêng biệt của nó, kiểu
Trang 14Giới bạn không gian nghiên cửu
D&c thủ của Thăng Long - IIà Nội thế kỷ XV - XIX thế hiện hình ảnh đồ thị mà
phạm vi của nó tương trung với các quận Hoán Kiếm, Ba Đình, Hai Bả Trưng, Đồng Đa,
'Tây Hỗ ngày nay, với trung tâm là các quận Hoàn Kiếm (khu kinh tế thương nghiệp),
Bà Định (trung lâm chính trị, hành chính, quân sự)
Một số khái niệm
Về lên gọi Thăng Long, Trung Đô, Phụng Thiên, Kế Chợ
Thăng Long là tên gọi được ra đời vào năm 1010 kh Lý Thái Tế đời đồ từ loa
Lu vé ving dat IIa Nội ngày nay Mang ý nghĩa biểu tượng là Rồng Bay, Thăng Long,
lả tên gọi xuyên suốt trơng lịch sử hình thánh và phát triển của kinh dé nude Đại Việt thời phong kiến Trung Đồ là tên gọi xuất hiện năm 1462, Phụng Thiên là tên gọi xuất hiện năm 1469 Hai tên goi Trang Đô, Phụng Thiên tổn tại trong suốt thế kỷ XV dén
XVI Thing Long, Trung Đồ, Phụng Thiên là những tên gọi chính thie eda nha nude
đàng để gợi kinh đô của quốc gia Đại Việt
Tên gọi Kê Chợ là tên gọi dân gian dược Alexandre De Rhodes giải thích là
“Kinh đê xử Đông Kinh”, “Những người ở trong chợ, nghĩa lá những, người ở kinh dỗ Đông Kinh” nhằm phân biệt với người ở Kế quê, Kê mùa [100a, 60, 123] Tên gọi Ké
Chợ rất phố biến trong các ghi chép, du ký của người phương Tây
'Tên gọi Hà Nội chính thức xuất hiện vào năm 1831 do cuộc cái cách hành chỉnh của vua Minh Mệnh, và tiếp tục được giữ nguyên cho đến ngày nay
Các tên gọi Thăng Long, Trung Dô, Phụng Thiên, Kẻ Chợ, Hà Nội được sử
đụng trang luận văn đều đừng đế chỉ vị trí kinh đô của quốc gia Dại Việt, thủ phủ của
liên bang Đồng Duong thời cận đại
Về thuật ngữ Kinh đê, thành thị, 46 thi
Theo giải thích của Alexandre De Rhodas thì Kinh đô, kinh kỳ là “thú đô xử
Dong Kinh” [100a, 130] Thành thị là khái niệm xuất hiện sớm, phỏ biển ở phương, Tây dùng để chỉ một trung tâm chính Irị - hành chính, một trung tâm kinh tế hoặc cả
đai Trong luận văn, khái niệm thành thị được sử dụng tương đương với khói miệm đô thị, kinh đô Tuy nhiên, khi nghiên cứu bản đồ, chúng tôi sử đụng khái niệm thành thị với hai ý nghĩa: Thành là “thành phổ có xây tường” [100a, 217] với ý nghĩa các lớp
thành - lũy vật chất được xây bằng gạch đá hoặc đắp bằng đất dùng để bảo vệ cho bộ
may trung ương phong kiển; Thị là “chợ” theo cách gidi thích của Alexandre De Rhodas với ý nghĩa là khu vực buôn bản, kinh tế công thương nghiệp của Thăng Long -
7
Trang 15Hà Nội Đô thị là là khái niệm chỉ không gian cư trú và hoạt dộng của công dồng cư
ä trung
din phi néng nghiệp, n của một vùng lãnh thổ, của một đơn vị hành chính -
Tãnh thổ hoặc của đât nuốc Ngày nay, khái niệm đỏ thị được dùng ở nhiêu cấp độ khác nhau, có thể là vừng đô thị, dan vj hành chính - lãnh thô đô thị hoặc chức năng đồ thị Thuật ngữ đồ thị được dùng phể biến trong chương 3 của luận vin ding dé chi một trung tâm chỉnh trị, kinh tế, xã hội mới được quy hoạch va xây dựng dưới ảnh hướng,
của người Pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Bán dễ Thăng Long - Ha Nội là nguẻn tải liệu hình ảnh quan trọng trong việc
nghiên cửu đồ thị Khi sử dụng chúng nhằm mục đích khôi phục lại điện mạo Thăng
Tương - Hà Nội, tức là chứng ta đã trực tiếp sử đụng bản đỗ với vai trô là nguồn sử liệu Chỉnh vì thế viêc phân tích bản để là một trong những cách tiếp cận mang tính phương pháp luận để tim hiểu hình ãnh đô thị trong quá khứ
Phương pháp khu vực học dược sử dụng trong luận văn nhằm nghiên cứu những
kiến và cận đại nên phương pháp nghiên cứu đô thị được ứng dụng một
Đỏ là phương phâp phân tích cấu trúc đô thị, tổ chức không gian đô tủ, thiết lập các
trung tâm phát triển của Thăng Long - 114 Nai trong lich st
Phương pháp phân tích, đối chiêu tư liệu, so sánh bản đề
Phương pháp mô tả lịch sử đê phụ đựng hình ảnh Thăng Long - Hà Nội
yêu cầu bắt buộc trong nghiên cứu khu vực Đây không chỉ là kỹ năng/phương pháp
ma còn là sự đổi chiều, kiếm chứng giữa văn bản và thực địa
6 Nguồn tư liệu
Dé tai str dung bén nguần tư liện chính là bản đỏ, tư liệu chữ Hán, tư liệu chữ
phương lây, tư liệu thực địa.
Trang 16Nguân tư liệu quan trọng nhất, dỏng thời là dồi tượng nghiên cửu của đề tài chính là bản đồ Thang Tong - Ha NGi Irong lịch sử
Bỗ sung, đối chiêu với nguồn tư liệu bán đỗ là tư liệu từ chính sử, quan trọng,
nhất là Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lý tục biên, Đại Nam thực lục Đây là các
nnguần tư liệu cô tính chất chính thông, gần gũi về niên đại với tư liệu bãn dỗ sử dụng,
trong luận văn Ngoài ra, các bộ chỉnh sử được gÌủ chép muộn hơn cũng dược sử dụng,
phục vụ cho nghiên cứu sau khi đá đổi chiều, so sánh
Những ghí chép bằng chữ Hán của cá nhân, du ký, dịa phương chỉ vẻ Thăng, Long - Hà Nội, văn bia bỗ sung, thông tin cho các bộ chính sử do không bị hạn chế
bởi tính chính thông của
Nguễn tư liệu thử ba là tư liệu chữ phương Tây hết sức phong phú Dó lá những,
du ký của giáo sĩ, thương nhân phương lây từng đến Thăng Long - Kẻ Chợ trong các thể kỹ XVII, XVII Thế kỹ XIX, Hà Nội dược phân ánh da chiều bởi thư từ, ghi chép
của những người linh viễn chính có trình độ trong dội quản xâm lược Pháp, của những, nhà báo, phóng viên, những quan chức cai trị cao cấp người Pháp ở Hà Nội
Nguễn tư liệu thử tư lá các tải liệu thu thập trong quả trình kháo sát, điển dã thực địa Dó là địa danh, truyền thuyết, ký ức dân gian Khi sử dụng nguồn tư liệu này, chúng tôi phải tiển hành so sánh, déi chiéu can than dé kiém tra cac din chứng,
Ngoài ra, hiận văn cỏn tham khảo, kế thừa các kết quả nghiên cứu của cáo để
tài, công trình nghiên cứu về Tháng Long - Hà Nôi
7 Đông góp của luận văn
- IIệ thông, nghiền cứu những bản đổ Thăng Long - TIà Nội
- Phân tích hình ảnh thành thị/đô thị Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử quả
nguân tư liệu bản đồ
- Lắm rð những thông tin bản đó Thăng Long - Hả Nội thể kỷ XV - XIX thẻ hiện
- Phân tích, làm rõ câu trúc, tô chức không gian thánh thị/đô thị Thăng Long -
Hà Nội trong lịch sử Đây là khái niệm chưa xuất hiện trong ý thức của những nhà
hoạch định thanh thị thời phong kiến, nó chỉ xuất hiện khi các khái niệm “đồ thị học”,
“đồ thị hỏa” ra đời từ cuối thể kỹ XIX Thể nhưng, tổ chức không gian của thành thị Thăng Long - Hà Nội thởi phong, kiến trước hết phải dược nhìn nhận nó là một #uøig tâm quyên lực tuyệt dối, là khu vực “bắt khả xâm phạm” đối với mọi tầng lớp dân cư Cái nhân lõi đầu
thành lũ
11, quan trọng nhất, ấn tượng nhất chính là sự hiện điện gũa cáo tòa
huyện chế đặc biết, duy nhất chỉ có ở Thăng Lơng - Hà Nội mả không có ở
9
Trang 17‘bat cw dia phương nào khác Do đó, nghiên cửu bản dd Hà Nội có phải tháy được cấu
trúc đặc thủ mày Dựa lrên ý nphữa đó, để tải tập trung làm rö
8 Câu trúc của luận văn
Ngoài phân mở đâu, kết luận, tài hệu tham khảo, phụ lục, luận vắn tập trưng vào
ba chương:
Chương l: Sưu tập bản để Thăng Long - Hả Nội thể kỹ XV - XIX
Chương 2: Diện mao thanh thi Thing Long thé ky XV - XVII qua “Hồng Đức bản đề”
Chương 3: Diện mạo thành thị Thăng Long - Hả Nội qua hệ thông bản dễ thể kỹ XX
*
Trong quá trình thục hiện luận văn, với trách nhiệm và tỉnh cảm, PGS.TS Vũ Văn Quân, I'S Phan Phương Tháo đã dành cho tôi những tru ái đặc biệt POS.LS Nguyễn 'Thùa Lý đã dành thời gian góp ý cho những luận điểm trong luận vẫn Tôi xin cám on
sự quan tâm của thấy cô dành cho tôi, trong công việc cũng nÌư trong cuộc sống
Luận văn được hoàn thành đưới sự động viên, khích lệ của người thân trong gia
đình, bạn bè Ở đây, tôi bảy tỏ sự biết ơn chân thanh với những tỉnh cảm mọi người
dành cho tôi
Tôi cũng muốn nói lời cám em chân thành đến Ban Tanh dao Viện Việt Nam học
và Khoa học phát triển, các phỏng han, anh chị em trong Viện, vừa là cơ sở đào tạo, vừa
là nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, động viên, nhắc nhở tôi hoàn thành công việc
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng rhững vấn đề trình bày trong luận văn chắc chan củn nhiều thiểu sói, tôi rất mong nhận được những ý kiến phân hãi đẻ luận văn có thể
hoan thién tét hon
Chan thanh cam on!
Trang 18CHƯƠNG 1
SUU TAP BAN DO THANG LONG - HÀ NỘI THẺ KỶ XV - XIX
Bần đồ là hình thức thể hiện không gian có tính chất địa lý thuần túy nhưng khi
sử dụng làm sử liệu lhủ bản [âm nó và những thông trụ bình ảnh thể hiện cũng được
nghiên cứu Nhìn nhận không gian địa lý mà bản đồ thể hiện trên các yêu tô điều kiện
tự nhiên, tác động của các hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử là điều cần thiết Với
chức năng kép, khu vực nghiền cửu lá Thăng Long - LIả Nội được thể hiện trên bán đỏ
phải được xem xét trên nhiều góc độ để thấy được mối quan hệ khăng khít gia tự
nhiên và con người
1.1 Tác động của điểu kiện tụ nhiên và bối cảnh Hch sử đến quy hoạch 'Thăng Long - Hà Nội thé ky XV - XIX
1.1.1 Tác động cũa điều kiện tự nhiền
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội trước khi được mở rộng nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có giới hạn
tọa độ địa lý?
20°53'23” - 21°23°00” dé vi Bắc
105°43'40° - 106°03"30" dé kink Pong
Khu vực nội thành gồm các quận Hoàn Kiểm, Ba Đình, Hai Bả Trung, Đồng,
Đa, Cầu Giây, Thanh Xuân, Lay Hd, Hoang Mai, Long, Biên với 128 phường, diện tích 89,7km?
Năm ở trưng tâm đồng bằng Bắc Hộ, đặc trưng của khí hậu TIả Nội là nhiệt đới
ẩm gió mủa Lượng mưa trung bình năm đạt l.676,2 mm Các tháng có lượng mưa trung bình cao la thang VIL và VU Mua khô lượng mưa thấp và không én dịnh qua
các năm Nhiệt độ trang bình năm của Hà Nội là 23°C, nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng, VI) là 29,3°C, tháng lạnh nhất (tháng T) là 16,0%
Nhu vậy, biên độ đao động nhiệt
' Theø bản đỗ địa bủnh và hành chính, lỉ lệ xích L/100.000, tờ Hà Nội kí hiệu F-48.104 và tò Hà Đông kí liệu F-
48.116, in năm 1991 của dục Bàn đỗ - Bộ Tổng Tham mưu Quản dội Nhân đán Việt Nam
1
Trang 19trong năm lả 12,5°C Cũng như nhiều nơi khác thuộc Bắc Bộ và Bac Trung Bo, Hà Nội
chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió tiùa
'Trong phạm vị lãnh thể Hà Nội, mạng lưới dòng chấy tự nhiên khá dày đặc, mật
độ khoảng 0,5-1,0em/kmẺ Lớn nhất là sông Hồng với 93km chảy qua địa bản Trong
ht Hà Nội cẻ
( nhiều hỗ, đ
có các sông Tô Lich, Kim Ngưu, Lù, Séi Ngoài ra, 6
Bay Mẫu, Thiên Quang, hỗ Tây, Trúc Bạch, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Đóng Đa, Xã
Đàn, Ba Mẫu với tổng điện tích mặt mước khoảng, 3.600 ha
m vữa bự nhiền vừa nhân lạo Đỏ là các
Chế độ thủy văn của hệ thông sỏng ở Hà Nội - điển hình là sông Hồng - hoàn toàn phụ thuộc heo mùa: mùa lũ và mừa cạn Sông Hồng có lưu hượng nước lớn nhất ổ
Việt Nam đã gây cho Hà Nội nhiều thách thức vào mùa mưa (1ä lụt và mùa khô (hạn
hán, thiếu nước) Nằm ở hạ nguồn, nơi dòng sông bắt dau phản nhánh đề chia rước ra biển, đoạn sông Hồng chảy qua địa phận Hà Nôi đặc biệt hung đữ vào mùa mưa khi phải đón nhận một lượng nước rất lớn từ thượng nguồn đỗ về Laru lượng nước bình quân hàng năm đạt mức 2.640 m”⁄s với tổng lượng dòng chảy qua tới 83,5 triệu mỸ, Lữ
sông, Hồng chủ yếu do các phụ lưu chính là sông, Đà và sống Lỏ gây nên Hàng năm
mùa lũ kéo đài 5 tháng (tháng VI - X đương lịch) Tháng có lưu lượng bình quân lớn
nhất, đình lũ là tháng VTTT, bằng 15% Lổng lượng nước cả nằm, Lương đương với lãi lượng 7 tháng sửa cạn (tháng XI đến tháng V năm san) Tháng có lưu lượng nhô nhất
là tháng HI Mức nước báo động & séng Tang tai [la Nội chia thành 3 cấp bảo động sẽ 1: 95m; báo đồng số 2: 10,5m và bao động số 3: 11,5m Lượng, phủ sa sông, Iỗng rất
lớn, trung bình 100 triệu tẫn/năm, trong mùa lũ chiếm 90% tổng lượng phủ sa cả năm
1187, 49, 70] Để bão vệ an toàn cho người vả tải sắn, ngay từ thời xa xưa, hệ thống đề
đã được xây dựng và ngày cảng kiên cổ hơn Hiện nay, hệ thống dê sông ở Hà Nội (chủ
yêu là dê sông Hỏng và sông Đuống) có chiều đài wén 300km Đồng thời, dê sông, cũng là tuyén đường giao thông quan trọng trên địa bàn Hà Nội
Lưu vực sông Hồng và sông Đuồng chảy qua địa phận Hả Nội cò nhiều đoạn theo
quy luật hoạt động của dòng sông, nhưng lại chịu thêm tác động của hoạt động nhân sinh lâm cho nhiều đơm hai bên bờ bị xói lỗ, gây ảnh hưởng tới các công trình xây dụng và
sinh hoại của người đân Theo các kết quả nghiên cửu, xu hướng biển đổi của sông Hồng tiện nay là quá trình xâm thực ngang, xói lẻ các bài bổi cao và bồi tụ các bãi bồi thấp Doc séng Héng trong khu vực Hà Nội có thể chia thành ba đoạn chính sau:
Đoạn Thượng Cát - Nhật Tân dải khoảng 10km có dòng chảy khá thẳng từ tây
sang đông, bãi bôi bên bở nam hẹp và có nơi đang điển ra quá trình xói lô Các bãi bồi
12
Trang 20khu Đại Mạch, Tầm Xá rồng khoảng 1.800m, dài từ 4 - Skra bi chia cat boi cdc dong,
chây nhỏ
Đoạn Nhật Tân - bến Pha Đen dai khoảng, 10km Dòng chảy theo hướng tây
- đông nam mở rộng hơn so với đoạn trên, nhiều bãi bồi ven lỏng, bãi giữa bị chia cắt
bởi những đồng clay hd Bai giữa từ cần Long Biển dến cầu Chương Dương dang có
hiện tượng xói lổ mạnh
Doan Pha Den - Vạn Phúc đài 14km, dòng chảy gần theo hướng bắc - nam, lòng xiồn khúc gây xỏi lớ ở Đông Dư, Bat Trang, Duyên Hà
Hà Nội nằm trong một câu trúc địa chất khá phức tạp Giai đoạn trước Kainozoi (khoảng trước 65 triệu năm trước) là thời kỳ hình thành nên phần nên móng vững chắc của lãnh thổ Việt Nam, vùng đồng bằng Hắc Hộ, trong đỏ có vũng đất Thăng Long -
Hà Nội Giai đoạn Dệ tam kéo dài trong khoáng 5Ú triệu năm là khoảng thời gian xảy
ra các hiện tượng va quả trình địa chất để tạo ra bó mặt tự nhiên cia ving dit Hà Nói hiện nay Đây là giai doạn hình thành lớp phi tram tích trên bẻ mặt bóc mòn của các
thành tạo rong giai đoạn trước và là giai đoạn vĩmg trững Hà Nội liên tục tị hạ lún Trong thời kỳ nảy, Thăng Long - Ha NGi liên Lục xây ra sụt lún và mở rộng về hai phía
đông bắo và tây nam từ trục trung tâm có hướng tây bắc - đồng nam, có sự biến đối dân
từ điều kiện lục địa sang điều kiện của hễ đâm lây lớn Giai đoan Đệ tứ (từ khoảng 1,6
triệu năm trước đến nay) lá khoáng thời gian LIà Nội được hình thành với đặc điểm: có thời kỳ quả trinh biển chiếm ưu thể, khi thì quá trinh lục địa có vai trỏ chủ đạo
Bề mặt địa hình hiệp nay của Hà Nội hầu hết là đồng bằng được cầu tạo bởi các
trầm tích châu thổ nằm ở các mục độ cao khác nhau (từ 5 đến trên 20m) Trong phạm
vị thành phổ Tà Nội, địa hình đẳng bằng chiếm diện tích rất lớn, phân bỏ ở các quận
nội thành, huyện Từ Liêm, Thanh ‘ri, Gia Lâm, một phản nhỏ ớ huyện Đông Anh Độ cao cửa bè mặt địa hình đạt từ 4 - 5 đến 8 - 10m so với mực nước biển
Quả trình hình thành, phát triển địa chất đã tao nên một điện mạo tương đổi
bing phẳng vẻ mặt địa hình trên vừng nội thành Ila N6i hiện nay Diện mạo tự nhiên của Hà Nội vào thể kỷ XI được Lý Thái vị vua sáng nghiệp triểu Lý khái quát vào nơi trung lâm trời dất, được cai thé réng cuộn hỗ ngồi, dã dùng ngôi nam - bắc - tây - đông, lại tiện hướng nhìn sông tựa núi, Địa thế rộng mà bằng, dất dai cao mỏ
La thi 46 tự nhiên của đồng bằng lắc Bộ, trên nên bồi tự của sông Liễng, vùng,
nội thành Ha Nội nhanh chóng trở thành điểm cư trú dông dúc ở khu vực đồng bằng,
13
Trang 21e Bộ Đỏ là cơ sở tự nhiên, xã hội đẻ Hà Nội trở thảnh trung tâm của đất nước vảo thể kỹ X, được duy trì và gi ng đến ngảy nay
Hình 1: Không ảnh Hà Nội - khu vực nghiên cứu
Trang 22Tác dộng của cúc yếu tỐ sông hồ đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội
Khi nghiên cứu những bản đỏ Thăng Long - Hà Nội thể kỷ XV - XIN, tắt cả đếu
thể hiện dòng chãy của đoạn sông Hồng qua Hà Nội' Đây là dòng chảy chính, án ngữ
Hà Nội ở phía đông, Một hệ thống sông hỗ khác được thể hiện kha chỉ tiết và nổi bật trên bản dễ là đoạn sông TA
th và hỗ Tây ở phía bắc, sông Kữn Ngưu và đãi hồ lớn 6
n hệ mật thiết vỏ
phía nam Hệ thống sông hỗ này nội kết với nhau và sông Hồng,
1ạo thành thể liên hoàn bao bọc Thăng Long - Hà Nội Người xua đã khải quát như sau:
Nhị Hà quanh bắc sang dòng,
Kim Ngưm, Tô Lịch lả sông bên này
Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm
Sòng Hồng án ngữ ở phía dòng Hà Nội, đóng vai wo chủ dạo đối với sự hình thành cia déng bing Bac Bộ Là một con sông lớn, sông Hồng vừa là nguồn sống vừa
chứa đựng nguy cơ húy điệt, là nhân tố định hình cho không gian vùng châu thể Bắc
Bộ nói chúng, Thăng Long - Hà Nội nói riêng,
Sự biển đổi dòng cháy của sông llỗng trong lịch sử có anh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đô thị Thăng Long - Hà Nội Các nghiên cửu cô địa chất cho biết,
Tủ thể ký IX đến thể kỷ XV (trong khoảng 600 năm) sông Iiễng phát triển có
dang gan tring tâm với lòng sông hiện nay nhưmg với biên độ tên khúc của chúng khá
mạnh Có nơi biên độ uốn khúc đạt tới 8km, điền hình là đoạn trên đất Đan Phượng nơi tiếp giáp với cửa sông Cả Lô Trong giai đoạn này lỏng sông bị con người chính phục
và bước dâu hình thành các tuyến đê bao quanh sông
500 nam trở lại đây đưới tác động mạnh mẽ của eon người, sông [léng trong dia phận ITà Nội ít bị biến động và chịu chỉ phải sâu sắc của hệ thông đề Trong qué tinh van động biến đối lỏng sông, sự dịch chuyên trục lỏng, dẫn vẫn không ngừng xáy ra làm xáo trộn, dị chuyển các bãi bồi ven và giữa sông, gây xi lớ, bồi lắp lòng sông [187,
118]
Ì Tên sông Hẳng smắt hiện muộn vào thời Pháp thuộc Trước khi có tên gọi sông Héng hay Hồng Hà, sông Hồng
có Lên lả sông Cái Đoạn sông Hồng cháy qua Hà Nội có lên là Nhĩ Há hoặc Ni Hà 'Trên các băn đỏ cúa Pháp,
sóng Tỗng được chủ là Fleuve Rouge - sông Dò vì sóng có nhiền phù sa, đọc ám IIán Việt là Hỗng Ha
15
Trang 23
Hình 2: Vận tốc trung bình của sông Hồng - đoạn chãy qua Hà Nội - vào thời điểm
đỉnh lũ năm 2000 (ngày 26/7/2000) ở điều kiện tự nhiên (vận tốc Min là 0.25m/s; Max
Phương thức chủ yếu chính phục sông Hồng thời xưa là đắp đê Thực vậy, đô
cao của Hà Nội so với mực nước biên lả 6m, tức lả còn ở bên dưởi mực nước sông Hồng vảo thời điểm cao nhất Trong khi đó đỉnh lũ có thể đạt tới 12m trong suốt thời
kỳ có giỏ mùa “Thường thường, cứ một năm hai lẫn, con sông lại tràn dòng chây vào
đầu tháng sảu vả mười một, lâm ngập đến nửa thành phó” [§6, 14] Do vay, dé sông Hồng cỏ vai trỏ sống còn với Hà Nội Mặt nên của Hà Nội có được trước hết la do
Trang 24cũng không thể xé hàng rào dược Công trình này nhỏ cao độ 16 hay 17 bộ (4,8-5,1m)
ch đình
trên mặt nước vào mùa khô, nhưng khi rửa mưa đến, nước lụt dâng lêm chỉ
từ 2 đến 3 bd (0,6-0,9m) No đã được dựng lên để đủ sức chống đỡ lại sức mạnh của dang nước vào mùa mưa bởi khi ấy dòng nước đập vào chỗ này mãnh liệt đến nỗi trước ngày người ta cho đóng những cọc ấy cơn để đã bị phá vỡ và de đọa quét sạch tất cả những gi nằm trên luỗng nước chảy qua, ngay cá bn thân thành phố" [92, 681 Dưới thời Nguyễn, đoạn sống Hồng chảy qua Hả Nội được tu sửa kiên số Tháng 11.1811, vị “sông,
Nhị Hà lõ, nhà sửa đân huyện Hoài Đức hư hại nhiễu”, dân cư các phố ỡ thành “tự đem gach đã và cây gỗ làm kè đá khác để ngăn giữ ” Nhà nước “xuất tiền kho 47.000 quan
thuê đân dap đề mới (từ phường Đông Hà đến cửa Ông Tượng 108 trượng) để bảo về”
[70, 827] Tháng 9.1835, Tống đốc Hà - Ninh Đặng Văn Thiêm tau báo với Minh Mệnh
“Bờ sông ngoài thành đất của tính [LIà Nội] trước bị nước lụt làm lỡ đã dp
đường quai và mỏ kẻ để chồng đố, nhưng ngày một sụt lỡ thêm Sau khi nước lụt rút rồi,
thần đã thân dén xem xét tỉnh hình: từ kè dá phường Thạch Khỏi dến bãi Tam Bảo dai
hon 470 trượng, thể rất sung yếu, mà nước ở bên bờ sòng sâu từ 1 đến 3, 4 tượng không,
lấp
thành đất, các triều đại thay rang dia thé chd do, trong thi Tay Ha, ngoai thi song Cai, giữa thi thành đất, mệt dải đường đề liên nhau, e có cái nạn mước xói đánh lờ, cho nên, từ phường Nhật Chiêu đến phường Thạch Khỏi, đỗ đá đắp kè đải hơn 600 trượng, Sau đó
sức nước không phả hại được nữa, bèn bỗi thành bấi” [71, 778]
xiăm 1996, đoạn đề sông Hông chạy qua Hà Nội được gia cổ và nâng cao lên 14m để có
thể ngăn được mức nước lũ cao hon Chiểu cao và bề rộng của đê được nắn lại, nâng
lên đảng kể Lai suòn đê được đắp không đối xửng, đảm bảo chẳng chịu nước lũ tắt hơn [116, 37]
Như vậy, vẫn để trị thủy luên chiếm vị trí hàng đâu trong quá trình hoạch định không gian đô thị Chế ngư và chung séng voi sng Héng là nhân tế đâu tiên và quan trọng nhất đối với 48 thi Thing Long - 114 Noi trong lịch sử cũng như hiện nay Doạn
đề chạy qua địa phận Hà Nội là săn phẩm của lịch sủ, lả cồng sức của người đân Thăng
Long - Hả Nội đựng dap dễ đảm báo cuộc sống, Trong, dịa phận hành chỉnh Hà N:
Hữu Hồng bắt dâu từ km.48 thuộc dịa phận xã Thượng Cát, huyện Tử Liêm vá kết thắc
ủ km85+685 thuộc xã Vạn Phúc - huyện Thanh Tri, dé Ta Hong bat dau lừ km 48+200
thuộc địa phận xã Đại Mạch - huyện Đông Anh và kết thác ð km 76— thuộc xã Bát Tràng - huyện Gia Lâm Mặt đê Hà Nội cao trung bình ! 14m (chưa kế con trạch ngăn nước cao trên mặt đê từ 1 - 1,Sm) Mặt để rộng trung bình từ 7 - lũm, chân đê rộng
trung bình 5Ó - 70m (bao gồm cả cơ để) Sự tồn tại của hệ thông đê đã làm biến đổi
17
Trang 25
nghiêm trọng và mát cân bằng về địa hình vùng ven sông Đáy sông và bãi bôi giữa hai
din biển đối một cách cơ bấm theo thời gian [187, 134] Do đó, có “nhiều phần của
thành phố hoàn toàn nằm thấp ở dưới mực nước sông, nên nước có thê chảy trân vào”
Cũ định kỳ, can sông Tông đe đọa thành phố Tà Nội bằng những trận ngập lụi Paul Doumer vi von tinh khí thất thường của dòng sống như “một người nằm ngũ xấu tính luôn luôn cựa quậy trên chiếc giường của minh” [93, 5]
Tuy luôn đe dọa cuộc sống kinh thành bằng những trận lựt đữ đội nhưng sông
Tléng cong là nguồn sống đường nuôi hoạt động thương nghiệp, buôn bán liên vùng, trong nước và quốc tế của Thăng Long - [14 Nội “Con sông này cực kỳ thuận lợi cho thanh phé vi do la nơi mọi thử hàng hóa đếu dược mang dén day, thau tom moi hoat động của vương quốc với vô vàn những tau thuyền di lại buôn bản ngược xuôi trong
sông lớn chãy qua thành phố vũ nuôi duỡng cảnh phổn vĩnh nơi đây Vô số thuyềi
nhỏ và những con tàu cap bên vào thánh phố, chuyên chế tất cả các loại hàng hóa và các để dự phỏng, đã điều khiến cư đân các trần tới đây và công việc chính của họ là
buôn bản với kinh thành” Sự nhộn nhịp của đông sông Lổng còn vượt xa “cá thánh Venise với tất cá những chiếc thuyén mũi cong và tau di lai trên sông [Venise] cing không thể nào làm cho người ta hình dụng ra được cảnh tap nap thuyén bé di lai va su
dông đúc dân cư trên con sông cửa Kécho [Kế Chợ[” Lượng thuê thu được từ các tàu
eo Ở liên
đông” [101, 10] Saint Phalles cing ghi chép như Richard về %
không thể tưởng tượng nổi, làm cho việo cập bên trở nên khó khăn” trên sông Iiểng ở Thăng Long vào năm 1753 [102, 1]
số lâu bè đồng đúc
Cũng gắn bó mật thiết với cuộc sống Thăng Long - Hả Nội còn có sống Tô
1.ịch Đây là đông sông nội hạt, thông với sông Hồng ở quãng Chợ Gạo, chây theo phố
Nguyễn Siêu, men theo đường Thụy Khuê, nói với hồ Tây ở giữa số nhà 284-286
đường Thụy Khuê, chạy đến ngã ba Budi, hop lum véi séng Thiên Phù, men theo đường Dưởi, đường Láng, Ngã Tư Sở, Dai Kim, Thanh Liệt (chỗ này có đoạn sông đào
nối thông với sông Nhuệ ở Cầu Bươu), qua các xã của huyện Thanh Trì tới xã Hoa Binh (Thường Tin), để vào sông Nhuệ Năm 1889, thực dân Pháp lấp nhành sông 'Tö từ
chỗ
cửa thông với sông Hồng (cửa Hà Khẩu) qua Hàng Cá, Hàng Lược, Phan Pinh
Phùng lập ra cóc phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hèng Cá, Hàng Lược, Phan Binh
Phùng, Đóng vai trò giao thông đường thủy, từ sông Tô có thẻ theo sông Hồng qua cửa
Hà Khẩu đi các vùng và ngược lại Từ phía nam có thế qua séng Pay, séng Nhué thea sống Tô Lịch vào Thăng Long Vi nối thông với sống liễng nên vé mua lũ, nước từ
18
Trang 26sông Hồng theo sông Té Lich tran vào nội thành Để dâm bảo an toàn, đọc theo sông,
Té Lich đều có đề, Sự kiện tháng 7.1475, nước lũ, vỡ đê sông Tá /¡ch ä phường Kim
Cổ [64, 466] sự kiện tháng 4.1503, Lễ bộ Tả tị lang Dương Trực Nguyên lâu xin đấp
đê bên sông Tô Lịch [6S, 33] đã minh chứng cho việc đắp đê trong nội thành Thăng, Long, đọc theo cáo đỏng sông nhỏ
Sông Kim Ngưu vốn là một nhánh của sông Tô Tách từ phường Yên Lãng chây theo đường La Thành qua công Nam Đồng, Phương Liệt tới phường Thịnh Liệt thông với sông Sẻt, qua các xã Yên Sỏ, Tứ Hiệp, Ngít Hiệp, Đông Mỹ (Thanh Trì) rồi chay vào huyện Thường Tín, nhập vào sông Nhuệ
6 phia nam, Thing Long bị án ngữ bởi một hệ thống hỗ đầm liên tiếp, bắt đầu
từ khu vực Văn Miễu Quốc Tử Giám, chạy men theo đường Tôn Đức Thắng về phứa
tây nam, hòa với hệ thống hỗ ở khu vục Trung Tự, Hào Nam, Kim Liên, Bạch Mai
Những hồ nước có vai trò chứa nước vào mùa nước Hệ thống hỗ này nối thông với sống Kim Ngưu Và cũng để ngăn nước từ sông Kim Ngưu tản vào đảm hề ở bên trong thánh Dại La vào mùa nước lớn, một cổng ngằm được xây đựng, gọi lá Lâm Khang cổng khẩu (5/11 bản dỗ Hồng Đức thẻ hiện dịa danh này) Công Lâm Khang có
vị trí tại khu vực trường, Đại học Bách khoa Hà Nội hiện nay!, Để ứng phó với tình trạng liên thông giữa các sông nội địa và ao hỗ trong kính thành, hệ thống công điều tiết nước được quan lâm đặc biệt Tuy bản đổ Hồng Đức chỉ chủ thích cổng Lâm
Khang nhưng ở đoạn nẻi giữa sông Tỏ Lịch vả hả Tây (số nhà 284-286 Thuy Khué),
mét céng ngầm cũng được xây dựng, Dâu vét hiện còn là những viên gạch vỏ được sử
dung đến ngảy nay
Hồ nước là nhân tổ hiệu hữu trong đời sống đê thị Thăng Long - Hà Nội Trước
tiết, nỗ cụng cấp nude sinh hoại hàng ngày cho cư đân thành phố Khi thành phá bị hỏa hoạn, “có nhiều hề ao cho phép đập tắt lửa nhanh chóng" [88, 10] IIà Nội nằm giữa những hồ nước giống như trước những mảnh nhỏ của một tắm gương lón nên là nơi lưu giữ kỷ ức và những huyén thoại Không ít lời ngợi ca được dành cho những, hỗ nước trong thành phố, đặc biệt là hỗ Hoàn Kiếm Paul Doumer nhẫn mạnh đến hồ Hoàn Kiếm, nhân tổ “tạo niên tắt cả sự duyên đáng của thành phố" {93, 16], “thực sự là
viên ngọc quý của thủ đô xứ Bắc Kỳ” |96, 22J Quan trong hơn, “chính hỗ nước đã định vị và định hướng cho không gian xây dụng: kinh độ, thành nội, định chùa, nhà ö
nông thôn, làng trong lòng đồ thị” [116, 46Ï
! Trong đọt điên tra khảo sát nãm 2004, chúng tôi được các cụ giả ö Kim Liên cho biết đến đấu thẻ ký XX, gảm cổng Lãm Khang {4 noi nuôi giấu cán bộ cách mạng của Hà Nội
? Ching téi thống kẽ một số hễ lớn trong thành phố, cụ thé:
19
Trang 27HỆ thống sông hỗ dày đặc tác dộng tới dời sóng dỏ thị Thăng Long - Hà Nội ở
cả hai mặt tiêu cực vả tích cục
Ở mặt tiêu cực, sự biến đổi của long sông, nhất lả sông Hồng cùng với chế độ dòng chãy phức tạp vào mùa mưa lả nguyên nhân thường xuyên vả trực tiếp đe dọa đến
Thăng Long - Hà Nội Nhiều lần võ đê ở Thăng Long mà sử sách ghi chép
Tháng 6.1513, nước lũ, vã đẻ phường Yên 1Toa thông vào hỗ Tây [65, 71]
Trang 28
Tháng 6.1632, mưa to 3, 4 ngày không ngớt Sân trong cung và các điện nước ngập vải lắc Ngày mùng 5, mưa rihw trúi, nước sông Nhị đâng cao Vương [Trinh
Tráng | nhân đó thân dem Thai uy Simg quốc công Trịnh Kiểu và các định cơ dị thuyền
thuận đồng xuống đoạn đẻ các xã Thám Đương, Yên Duyên, Khuyến Lương huyện
Thanh Tri dé coi hộ đế” [65, 233]
thống sông hé con lả trỡ ngại, hạn chế sự phát triển của đỗ thị Để phát triển, đấp để có định dòng chây là cách thức được lựa chợn Tuy nhiên, với chiêu rộng tir 1.000 đến 1.S0Ôm, sông Hồng thực sự là một trở ngại khiến thành phó trước đây không, thể mở rộng sang bên kia sông
Ö mặt tích cục, sông hỗ trở thành nhân tổ bão vệ sự an toàn vẻ quốc phòng cho Tháng Long - Hà Nội Người Việt là những nhà thí công, quy hoạch dặc biệt xuất sắc khi
biết nương tựa vào Lự nhiên, biển những rhược điểm của tự nhiên thành du điểm cho các công trình kiến trúc, đặc biệt là các công trình thánh lũy Kinh thành Thăng Long được quy hoạch trên cơ sở lợi dụng sông Hỏng, Tô Lịch - Kim Ngưu trở thành những chướng
ngại vật tự nhiên: phía đông, sông Hồng án ngữ, phía bắc, sông Tỏ Lịch và hỗ Tây trở
thành chiên lũy tự nhiên lợi hại, phia tây và phia nam, sông Tỏ Lạch - Kim Ngưu đắm bảo ngăn chặn, làm căn bước tiến cúa quân xâm lược Ở khia cạnh khác, sự liên thông giữa các sông - hỗ là nhân tỏ tích cực kích thích sự phát triển giao thông,
giữa các vùng với Thăng Long, biển các vừng cửa sông trở thành trung tâm buồn bản
điểm kết nói
Tớn, là hại nhân phải biển của một khu vực nhất định Phường Giang Kháu (sau đổi là Hà
Khẩu, quảng khu vực Hàng Đường, Chọ Gạo ngày nay) - nơi ngã ba lợp lưn của sống
Tiẳng và Tô Lịch sớm trở thành trưng tâm thương mại phát triển
Tận dụng và phát huy ưu thể tự nhiên là nét nổi bật trong công tác quy hoạch
Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử Ở day, Thing Tong - Ha Nội dã khéo léo kết hợp
giữa cái nhân vi và cái tự nhiên vốn có của vừng đất sông - hỗ Điều kiện tự nhiên chi thối sư phát triển không gian của đô thị, nhưng ngược lại, đô thị đã tận đụng tự nhiên, biển tự nhiên thánh sự điểm tô cho thành phỏ, đặc biệt 1a thành lũy và giao thông Do
đó, có thể khẳng định, Thăng Long - IIà Nội chính là khu vực đặc tả được mỗi quan hệ
biện chứng, không tách rời giữa tự nhiền và con người Tự nhiên dụnh hình không gian
nhưng chính con người dã cái tạo khong gian do cho phủ hợp với nhu câu phát triển
của đô thị Sự kết hợp hai hoa này chính là nhân tô quan ương để biến khu vực này
thành nơi “thượng đô kinh sư mãi muôn đời” như mong muốn của Lý Công Uẫn Là
2
Trang 29thủ đỏ tự nhiên của Việt Nam với lịch sử hàng nghìn nắm, Thăng Long - Hả Nỏi cũng
1à thủ đô văn hiến - vău hỏa của đất nước - cơn người Việt Namn, tạo niên một không gian văn hỏa đặc biệt nhật của vùng văn hóa chau thé Bac Bê
1.1.3 Túc động của bỗi cănh lich sit
Năm 1427, cuộc kháng chiến chẳng Minh kết thúc thắng lợi bằng hội thể Đông,
Quan Ngày 14.41428, Binh Dịnh Vương Lê Lợi lên ngôi, đại xá, đổi niền hiệu là Thuận Thiên, đóng đố ở Dông Kinh [61, 294] Trong 100 năm tẻn tại (1427 - 1527)
vương triểu Lê sơ dã dạt dến dính cao cúa sự phát triết
vương triểu phong kiến sau dỏ học tập, mô phòng, Thời điểm huy hoàng của giai doạn
thịnh trị là dưới thời 1ê Thánh Tông (1460 - 1497) Vua Lé Thanh Tông, trong 37 nấm
cam quyển trị nước đã nhiều làm cho đmh bản để toàn quốc, cơ sở cho gác bản sao
- Canh 3 ngày 25.4.1510, hoạn quan Nguyễn Khắc lái làm loạn, ép vua đến cưng
Trùng Hoa, lại đến các diện Van Tho, Cần Đức, Kinh Thiên Bọn phản nghịch lên ra ngoài, dam kiệu ngự đi dón Hoa Khuê Vương Tùng làm ngụy chia Vua sai Tho quan
công Trịnh Hụu đi đánh, đuải đến phường Đông Hà (nay là Ô Quan Chưởng) [65, 53]
Tương Dực chạy ra nguài cứa Bảo Khánh Sáng ngày nrùng 7, tương Dực củng với
Thừa chỉ Nguyễn Vũ đi tắt qua cửa nhà Thái học, đến hỗ Chu Tước, phường Bích Câu
thì bị Trịnh Duy Sản bất được, đem giết ở cửa nhà Thái bọc An Hòa hầu Nguyễn
Hoằng Dụ đóng quân ở Bê Để, “nghe tín Duy Sản giết vua liên đem quân vượt sông, đốt phá phố xá ở kinh thành” Nhân cơ hội trong thành loạn lạc, ngày 11, nghĩa quân 'Trần Cáo tân công và chiếm được kinh thánh Quang cảnh Thăng Long trong cơn biến loạn cưng đình và chiến tranh như sau: “Lúc ấy, thành đã thát thú, xã tắc bỏ phế, dân
én Thai Cực: truộc phường Thải Cục, huyện Thọ Xuong, lương đuang với khu phó ïTáng Dào ngày nay
32
Trang 30chúng vào thành tranh nhau lấy vàng bạc, của báu bạch dân, xạ hương, lụa là tơ gai dây
trong đân gian, sách vở, hồ tiêu, lương liệu các thử với bộ liên đường phố cao đếu một, hai lắc không thế kế xiết Người khỏe mạnh tranh: cướp vàng bạc, có người lấy được đến ba, bến trăm lạng, người yến cũng được đến hơn hai trăm lạng Cưng khuyết, kho tang đo vậy mà hết sạch” [65, 76, 77]
- Quân đội nhà Lô phần công, áp sát kinh thành: Trấn Chân “tập hợp các cựu
đũng sĩ và hương binh con em được 5, 6 nghìn người, đây bình ở chợ Hoàng Hoa (tức
chợ Ngọc Hà)”, “đánh nhau đữ đội” với quân Trân Cáo ở Cén bắn (Giảng Võ) Trình
Ty, Lê Sạn, Lê Dực, Trương Iuyén Linh kế tiếp tiền vậy ngoài của Dại Hưng Trịnh Duy San chỉ huy các quân thủy bộ vây bốn mát thành Trận chiến kéo đài từ bên Thai Cuc (Hang Dao) dến bén Đồng Hả (Hàng Chiếu, Ô Quan Chưởng) [65, 77, 78]
Trân Cáo chạy khỏi kinh thành thì giới tướng lĩnh nhà Lễ lại mâu thuẫn với nhau
An Hòa hâu Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở phường Đông Hà, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy đóng quân ở ngoài thành Dai La, đánh lẫn nhau Ngày 1.7.15L7, Nguyễn lloằng Dụ cất quân đánh Trịnh Tuy ở cáo phường Vĩnh Xương, Khúc Phố, Phục Cổ tại kinh thành [65,
§2, 83| Quân linh “thả sức cướp phá, trong thành sạch không” Chiến tranh dã biến kinh
thành Thắng Long phỏn thịnh trở “thành bãi săn bản, đánh cá” | 65, §8|
Trong bôi cảnh kinh thành loạn lạc, Mạc Đăng Dung từng bước củng cỗ quyền
lực Ngày 15.6.1527, “Mặc Dãng Dụng từ Cổ Trai vào kinh bắt vua phái nhường ngôi,
giáng phong vưa lắm Cung vương rồi giam cùng với Lloàng ‘Thai Liệu ở cung Tây Nội
Vài tháng sau, bắt phải tự tử” |[65, 108, hoản tất công cuộc đảo chính cung dinh, Những cựu thân của nhà Lê sơ, do chịu nhiều ân diễn đã không than phục nha Mac ma
trải lại, 6 năm sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1533), Nguyễn Kim đón Lê Duy
Ninh lập lâm vua, tập trung bình lực ở Thanh Hoa nhằm khôi phục lại quyền thing trí của họ Lê, hình thành cục điện Nam triểu (Lễ Trung Tưng) và ắc triều (nhà Mạc) 65 năm chiếm đóng kinh thành Thăng Long (1527 - 1592) là từng ấy năm Mam triểu luôn hiên tấn công, đe dọa sụ tổn tại của nhà Mạc Trước các cuộc tân công liên tục của nhà
Lê 'rung Hưng, Thăng Long trỡ thành chiến trường lớn giữa quân đội Nam - Bắc
triểu Tháng 12.1593, quân Tê - Trịnh đây bật nhà Mạc khối kinh thành Thăng Long
Giảnh lại Thang Long tir tay nha Mae, hai ho Trịnh - Nguyễn vốn đang là thông
gia tốt đẹp lại trở mặt, trở thánh thù địch tạo nên cục điện chúa Nguyễn ở Dàng Trong, vua Lê chủa Trịnh ở Đảng Ngoài Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn tử nam 1627 dén
1672 hết sức khốc liệt Thăng Long, trong một chừng mực nảo dỏ cũng chịu những tác động của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn
23
Trang 31
Giữa thế kỷ XVII, diễn ra nhiễu cuộc khởi nghĩa nông dân: Nguyễn Tuyển,
Nguyễn Cừ, Vũ Tì ở Hải Dương, Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dụng đ
Sơn Nam (1739 - 1740), Nguyễn Danh Phuong ở Sơn Tây (1740 - 1751), Nguyễn Hữu Cầu ở Hãi Phỏng (1741 - 1751), Lê Duy Mật (1738 - 1770) Các cuộc khỏi nghĩa
hiên uy hiếp kinh thành, khiển Thăng Long nhiều khi “chin động”, dẫn đến cảnh
“Người ở kinh đô dắt diu nhau ra khỏi thành ,, các nơi đảo hằm chôn của, làm sẵn lương, khỏ Không ai có chí cổ thủ cả” [55, 153] Chủa Trinh Doanh phải sai đại thần “chia nhau giữ nơi xung yếu ở kinh thành”, “chọn đỉnh trắng đặt đần lũy, phòng bị giặc cướp
bao vây” |72, 594, 595] dd bio vé Thing Long
ánh nồi d
Dinh cao của phong trào nông đản thể kỷ XXVIH là khởi nghĩa Tay Son Nam
1786, Nguyễn Huệ đem quân tiến sát kinh thành Thăng Long, dành tan lực lượng quân
‘Trinh 6 ‘Thanh Trị và lầu Ngũ Long (khu vực Bưu diện Hà Nội hiện nay), lật dỗ vai trỏ
thực quyển của chúa Trịnh Tháng 7.1786, Nguyễn Huệ
điện Kính Thiên, chính thúc bản giao quyển quân lý Đăng Ngoài cho Tế Hiển Tông,
sau đó là Lê Chiêu Théng Tuy nhiên, tình hình chính trị Đảng Ngoài sau khí Nguyễn Tuệ rút quân vào Phú Xuân (Huế) cũng không ấn định hơn Trong ha nim (1786 -
1788), Thăng Long khêng một phút yên binh Con cháu chủa Trịnh làm loạn, đánh nhau liên miên ở phía nam kinh thành Nguyễn liữu Chính, Vũ Văn Nhậm chuyên
quyền ở Thăng Long, hiếp đáp vua Lê Không dui tai de tri nước, Lê Chiêu Thống trên chay ở Đắc Giang, Thái hâu và Lê Quýnh chạy sang Quảng Châu dâng biểu cầu cứu Tên vua Thanh Cần T.ong Chứp thời có, 29 vận quân Thánh do Tổng đốc lưỡng Quảng
ang a6 sách quân và đân” ð
Tôn Sĩ Nghĩ chí huy ổ ạt xâm lược Đại Việt, chiếm đóng Thang Tong
'Trước sức mạnh ban đâu của quân Thanh, Ngõ Thì Nhậm chủ trương “chơ quân
dich ngủ trọ mây đêm ở Thăng Long”, rút lui về Tam Điệp - Biên Sơn lập phòng tuyến
phòng thủ Cùng thời gian đó, Nguyễn Huệ lên ngồi vua, lấy niên hiệu là Quang Trung,
ngày đêm tiến quân ra Bắc Đêm 30 Tết, quân Tây Sơn vượt sông Gián Khẩu, thân tốc tiến quân ra Thing Long Mung 3 Tét, Quang Trung tân công Ngọc Hỏi Đô đác Đăng
Tiển Dông thea đường Khân Mục hất ngờ tắn công Dóng Da, tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân Thanh do Sam Nghi Déng chi huy Tin thất bại từ các mặt trận đồn dap báo về khiển Tôn Sĩ Nghị vội vàng vứt bỏ ấn tin, sắc phong, cuồng cuồng tháo chạy khỏi 1hãng Long, Chiểu mùng 5 Tết, nhân dàn Thăng Long “mặt tươi như hoa” chảo đón đoàn quân thắng trận do Quang Trung dẫn đầu
Thăng Long được giái phóng nhung Quang ‘Trung dong 46 6 Phu Xuan hang
Long củng 11 trắn ngoái lắc thành được giao cho Ngô Thì Nhậm toàn quyền kinh lý,
Nhà Tây Sơn có sửa chữa chút ít doạn tường thành phía đông, từ cửa Đông Hoa dén
24
Trang 32cửa Đại Hưng nhằm gia có những đoan hu hỏng Năm 1802, Nguyễn Ảnh dánh bại lực lượng Quang Toân ö Bắc thành Chiếm được Thăng Long, Nguyễn Ảnh cho đối tên
Tông là Rồng thành Long với ý nghĩa Thịnh vương, đặt Thăng Long là thủ phủ của
trấn Bắc Thành Một tòa thành mới làm trị sở của trân Bắc Thành theo kiểu Vauban
được xây dụng năm 1805 Năm 1831, một lẫn nữa vai trò chỉnh trị của Thăng Long siám sút khi Mình Mệnh tiền hành cái cách hành chính, thánh lập tĩnh Hà Nội Tỉnh Hả
Nội gầm 15 huyện thuộc 4 phú Hoải Đức, Thường Tin, Úng Hòa và Lý Nhân với giới
han: phia ding gidp tinh Hung Yên, phía tây giáp Sơn Tây, phía ram giáp Na Định
và Ninh Binh, phía bắc giáp Bắc Ninh Ngoài bại nhân là bai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, Hà Nội mở rộng đến Phủ Lý (Hà Nam) và Sơn Tây
Trong nửa dầu thế kỷ XIX, Hà Nội từng bước giảm sút về vai trỏ trung tâm
chính trị Trước hết, (Gia Long cho xây dựng một tòa hành cung ở sau diện Kinh Thiên
gồm Š gian 2 chấi để vua nghĩ ngơi khi Bắc luận Năm 1818, vì gỗ ở điện Kính Thiên
mnụo mát không thể lu bổ được, Gia T.ong cho đỡ xuống, dựng một nhỏ Phan vọng để
triểu hôi trong những ngày sóc vọng [73, 50, 51] Vẫn ở trung tâm tỏa thành, năm
1836, Minh Mệnh ra lênh đờ bỏ gản hết các công trinh cung điện, chỉ đề lại chính điện,
tiển điện, hai tỏa tá hữu [71, 971] Năm 1840, lấy lý do các tòa Tiên điện, Chính điện
“rộng rãi chồng chập, quả lá xa phí" nên Thiệu 1rị cho phá đỡ một phản, chỉ để lại một
tòa nhà 3 gian 2 chán |73, 59]
Theo thời gian, các vua Nguyễn thực thí chính sách cải tạo từng bước đẻ han chê tới mức thấp nhất sự xa hoa lộng lẫy mà thành TIà Nội thời Nguyễn còn gi được
trên cơ sở một sỏ cung điện của nhà Lê, biến khu vực Cảm thánh - trung tâm dưới thời
Lê - trở thành một thành lũy quân sự với đúng nghĩa của nó
Vào đầu thời Gia Long, Hà Nội là nơi lập rung các co quan dau nfo eta Lan
ắc Thành nh Tổng trấn, Phó Tổng trấn, Tiiệp trấn, Tham hiệp Sau cải cách hành chính, bộ máy hsảnh chinh [la Nội được cơ cầu lại Dứng đầu tỉnh là Tổng đốc (kiêm
lý tính Ninh Binh) - Tuần phú, giúp việc quân sự lá Lãnh bình, phụ trách giảo dục là
Đốc học Dưới có các co quan chuyên môn gồm bai ty là Hồ chính và Ấn sát Hộ máy
quan lại và cơ quan hành chính đến đồng trong thành Tại hai huyện Thọ Xương, Vĩnh
Thuận (cấp huyện) đều có một Trí huyện (về sau, để giảm bớt số lượng quan lại, Trị
huyện Thọ Xương kiêm lý công việc huyện Vĩnh Thuần), 2 Để lại, 8 Thông lại Trụ số
huyện Thọ Xương ở gân Cửa Nam Dưới cắp huyện là Tổng, đo Cai tổng quản lý Về
cơ bán, bộ máy hánh chỉnh trên đuợc duy trì cho đến những năm 1886 - 1888
xâm lược Việt Nam, trong đó có Bắc Kỳ và Hà Nôi Ngày 30.4.1873, Jean Dupuis tit
công Đà Nẵng, mổ đâu cuộc ch
25
Trang 33Vân Nam tới Hà Nội chiếm cửa sông Nhị Hà, cho quản lính lên bờ bao vây chợ, cướp hang hoá và hành hung người Theo yêu triều Nguyễn, ngày 11.10.1873, Francis
Hà Nội Lục quân Pháp có đại bác yếm hộ tiến đến hai của Đỏng và Nam, trong khi đó
Dupuis cho quan tén công khu phố buôn bán nhưng, bị chặn lại ở ö Quan Chưởng,
Nguyễn Trị Phương chỉ huy quan din
quyết chống trả Mặc dù quân đân Hà Nội anh ding bao vé thanh nhimg voi wu thé vé hoa lực, Pháp chiếm được thành
Những tín tức từ Hả Nội được cấp báo vẻ Iuổ Vưa Tự Dức cử Khâm sai đại
than Trần Định Túc đến Ha Nội dễ hội kiến với Francis Garnier Mot mặt hội dâm, mặt
khác quân Pháp liên tạc dánh phả dễ tăng sức ép với triểu Nguyễn Ngày 21.12.1873, Garter (an công quân triểu đình ở Cầu Giấy nhưng bị rơi vào hận địa phục kích của
quân Cờ Đen và bị giết lại trận Quân Pháp hoàng trang cực độ trà Dupuis gọi là “sự
khủng khiếp lớn lan tràn lan trong thành” Tuy nhiên, triểu Nguyễn đã không tân dụng,
cơ hội, tiếp tục ký Hiệp ước 1874 với những điều khoản có lợi cho Pháp, nhượng cho
Pháp một khu nhượng địa rộng 2,Sha ở Liả Nội, đổi lại Pháp sẽ trá 1á Nội
Môi năm sau, tình hình Hà Nội lạm yên, ngày 26.8.1875, lãnh sự Pháp tại Hà Noi la Le Jumeau de Kargaradec lới nhiễm sở Trong thời gian này, Pháp tiếp tục gây sức ép, buộc triểu đình Iluế phải nhượng một khoảng dat 6 phia déng nam Ia Ndi,
giáp bo sông IIỏng, rộng 185.085 thước vuông lâm nơi trú quân' Cụ thể hơn, ngày
31.8.1875, Tổng đốc Hà Nội Tran Dinh ‘Tue va Tuan ph Tran Hy Tăng ký với lãnh sự Kargaradec ban Hiệp định “nhường hẳn toàn bộ khu vực Đổn Thủy cũ” rộng 15ha để
Pháp xây dụng lãnh sự Tuy nhiên, tham vọng của Pháp không đừng lại ở đó Sau một
thời gian chuẩn bị lực lượng, hai chiến bạm củng 300 quan Phap do Henri Riviere chi
tuy bắt ngờ đồ bộ lên Hà Nội ngày 3.4.1882
Nhận thấy ưu thế của quân đội Pháp cũng như rút kinh nghiệm của lần thất bại trước, Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu cho xây dựng, củng có lực lượng bố phòng, gia có
thành lúy, tăng cường đại bác
Ngày 20.4.1882, ITemi Rivière gửi thư cho Hoàng Diệu buộc phải nộp thành đầu hàng, 8h, ba pháo ham Fanfare, Massue và Carabine và bộ binh Pháp bắt đầu tân công Hoàng Diệu củng tuần phủ Hoàng Hữu Xửng dốc thúc quân lính chống dánh Nhân dân Hà Nội tự tay châm lửa dót nhá tạo thành một bức tường lửa ngăn chặn quân
! Hiện nay lã khu vực từ Bão tăng Lịch sử xuống tới các bệnh viện 108, bệnh viện IIữu nghị Việt - Xô
26
Trang 34Pháp Đến 10h 4Š phút, Riviboe chiếm dược luỹ bán nguyệt bảo vệ cũa Đắc 11h, kho
Sau thal bai Cau Giấy, Bormal được chỉ định giữ chức công sứ Hà Nỗi (mặc dâu tới Hiệp ước Hanuand (ngày 25.8.1883) triểu đình Huế mới sông nhận Pháp có quyền
đặt công sứ) tới Hà Nội vào quãng tháng 6.1883 và đặt eơ quan “Pháp quốc trủ sứ” tại
nhà một Hoa kiểu ở phố Hàng Gai Hà Nội tổn tại song song hai chính quyên quản lý của triều Nguyễn và Pháp nhưng quân Pháp hẳu như giữ thể chú động, Lễ kiểm soát an ninh, ngày 9.6.I883 Trung tướng Iouet ra lệnh thiết quân luật, lập Tiểu đoàn “Cỏ vàng” bao gồm bọn Việt gian, Hản gian; củng củ và xây thêm lô cốt, pháo dải ở thành
Hà Nội; phân bố lại lực lượng chiêm đóng, Với những kế hoạch cụ thể, thực dân Pháp từng bước gạt bỏ ảnh hưởng cửa triểu đình Huế tại Hà Nội
*
Trong 5 thế kỹ ŒXV - XDO, cuộc sống của Thăng Long - Hà Nội có nhiều biến
động Đâu thê kỹ XV, 30 năm Minh thuộc đã tàn phả Thăng T.ong, để rồi sau đỏ, các vua Lê sơ phải ra sức tái thiết, xây đựng lại kinh thành Thế kỹ XVI, Thing Long trở
thành chiến trường khốc liệt của các tập đoàn phong liến Thể kỳ XVIH, phủ Chủa được tập trung xây dựng trong khi Hoang thành gần như bị bỗ mặc cho nẵng mưa Thái
độ võ trách nhiệm cửa Lê Chiêu Thống khi hén ha cho dét chảy phú Chúa, “lửa chảy trong ba tháng mới tắt”, công với sức làn phá của quân Thanh khiến Thăng T.ong cảng
tiêu điều hơn Thành ra, “Thắng Tong phí chiến địa” chỉ bà khái vọng của người Thăng
Long - Hà Nội, của người Việt Nam yêu chuông hoà bình Và, qua cơn bình lửa, trải
nắng mưa thời gian, điện mạo cung đài lâu gác, thành nọ lũy kia của Thăng Long ngày
cảng bị tàn húy, đã đưa đến một thụ:
Nội kiến thiết và dựng xây nay cÍ
tế là, bảy tám trăm năm lịch sử Thăng Long - Hả
cởn lại bao nhiêu trên mặt đát, để rồi chỉm sâu vào lòng dất, trong sự lãng quên của thời gian
Trang 35
Những biên có trên mảnh dất Thăng Long đã có những tác động lớn đến điện mạo
hệ thống thành lũy Nhiều đoạn lũy, bức tưởng thành được xây dựng rồi lại phá bỏ đã
góp phân lạo sự phúc tạp khi nghiên củn, bóc tách các lớp thành lũy trên đất Hà Nội
1.2 Sưu tập bản đỗ Thăng Long - Hà Nội thế ký XY - XỨC
1.21 Ban dé Hang Bite
Sưu tập bản đồ Hồng Đức
Dưới thời Lê, lần đầu tiên nhà nước che lập bản đồ là vào năm tháng 6.1467 “12 thừa tuyển điều tra hình thế múi sông, sự tích xưa nay của các nơi trong hạt mình, vẽ thành bản đỏ ghỉ chủ rõ ràng rồi gửi về Hộ bộ để làm bản để địa lý” [64, 422]
Tháng 4.1469, vua Tê Thánh Tông cho “Quy định bản đỗ của phủ châu huyệu
xã trang sách thuộc 12 thừa tuyên phủ Phụng Thiên 2 huyện (trước là phủ Trung
Đô)” [64, 437]
Tháng, 4.1490, vua Lẻ Thánh Tông tiếp tục cho “xác định bản đồ toàn quốc: 13
phủ, 178 huyện, SỐ châu, 20 lương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn,
1 40 động, 30 nguồn, 30 trường” [64, S07]
xử thừa Luyên, 52
637 trang, 40 sá
Chung ta hiện thời chưa tìm thấy bản đồ được lập vào các năm 1467, 1469,
1490, Các nhà nghiên cứu trên cơ sở những ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư về
việc lập bản dỗ vào thời Hồng Đức khi sử dụng những bản dỗ cô Thăng Long trước thể
kỹ XTX đều gợi chúng là
đồ Hồng Đức duoc Trần Huy Bá giới thiệu Irong bài viết Thành Thăng Long với cuộc
đối thay trên tạp chí Trì Tân số 10 (tr.133-135), số 11 (tr.138-151) năm 1941 Năm
1954, P IIuard va M Durand céng bé trong Comnaissance du Vietnam (iéu biết về
pan đỏ Hồng Đức hay Hồng Đức bản đô lâu tiên tập lân
Việt Nam) Năm 1960, Trần Huy Bá một lần nữa công bố trong Lich sit thit dd Ha Nội Năm 1962, Hồng Đức bán đồ được xuất bản ở miễn Nam Kế từ đó, tên gọi Hồng,
Đức bản đỗ dược sử địng phổ biến, mặc rhiên dùng để chỉ các bản dễ cỗ về Thăng
ÿ XV-XIX
Tơng trước thể kỹ XTX dược biên vẽ rong các
Tuy nhiên, rong khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các bản đỗ này đêu có tên gọi riêng, đỏ là:
Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị luận đồ, trong sách Thiên Nam nt
Trang 36Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đỗ, trong sách Nam Việt bản
đổ, ký hiệu À 1601;
rung đồ nhất phú nhị huyện chỉ hình, trong sách Thiên tải nhân đảm, kỹ hiệu A.2006;
Trung đô, trong sách Hồng Đức bản đồ, ký hiệu A2499
1rung đồ đồ, trong sach An Nam quéc, Trung dé tink thip tam tuyên hình thẳng
đồ hoa, ký higu A.2531,
Thăng Long thành Phụng Thiên phủ nhất phú nhị huyện trong sách Thiên tải
Trung đã xứ nhất phù nhị huyện tam thập lục phường nhất danh Phụng Thiên
phủ, trong sách Thiên hạ bản đồ, kỷ hiệu VLIL30/VIIe.01282
Trung đô nhất ph nhị huyện hình thằng chỉ đồ, trong sách Hồng Đức bản đồ,
ky hiệu VHI.41
‘Trong số các sách trên, 4 cuỗn có ghỉ năm tháng bản đồ được bạn hành lá ngày 6.4.1490, Tuy nhiên, những kết quả nghiên cửu gân dây đều khẳng định các văn bản trén déu có niên dai thé ky XVII, XVII, thâm chi dau XIX Khi tién hành sơ sánh 11
‘ban dé, chúng tôi nhận thấy thành Thăng T.ong được thể hiện giống nhau về hình dang
~ hình thước thợ Ở phía bắc và phía lây, tường thành men theo đông chây của sống Tô
Lịch Phía nam, tường thánh chạy phía sau Văn Miễu, gân như song song với cạnh bắc, trừ một đoạn tường gấp khúc Tường phía đông song song với be séng Hdng Bén
trong tỏa thành hình thước thợ là những chủ thích vị trí các cung điện, địa danh quan
trọng Nhiều lớp địa danh này xuất hiện tương đối muộn chứng tỏ các bản đỗ đều được
sao chép, bỗ sung thêm thông tin bối người đời sau Về nội dung, bộ bản đỗ Thăng Tơng trong 11 cuốn sách trên giống nhau về đại thể trên phạm vi cương giới, hệ thông,
hành chính, địa hình, địa vật thẻ hiện
‘Trung đồ Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện dỗ, trong sảch 7 biến Nam
ft chi 16 dé the, ky hiệu A.23 Thiên Nam tứ chỉ lộ dồ thự thể hiện bản đề hệ thông đường sá Việt Nam, đường bộ từ Thăng Long đến Bồ Chính, Ta Hà; đường thuỷ đến
Nghệ An Văn bân có 123 trang, khổ 31 x 19cm
29
Trang 37Trưng đô sơn xuyên hình thắng chỉ dễ trong sach Thién Nam 16 dé, kỷ hiểu
A1081 Thién Noon 16 dé do Nhit Ngoc Hoàn biên soạn năm Cảnh Hưng 31 (1770) bao
gồm bản đồ Trung đô và 13 thừa tuyên, vẽ cửứ tết đên các phủ huyện xã, bản đô 4 trục
đường lớn từ Trung đô đi Chiêm Thành, Châu Khâm, Quảng Tây và Nam Quan Sách
êm 202 trang, khể 22 x l lom
Trung dé Thing Long thành nhất phủ nhị huyện đỗ trong sich Nam Việt
bản đổ, ký hiệu A.1601, 186 trang, khổ 29,5 x 17,
Thiên Nam tứ chí lô đề thư (từ tr 63-186)
cm Ban A.1601 can có Toản tập
uyện hình thắng chỉ dé trong Héng Duc ban dé, 52
(Thăng Long) và 13 bản đỗ thuộc 13 thửa tuyên (Thanh Hóa, Nghệ An, Son Nam, Son Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hỏa, Lạng Sơn, An Bàng, Thuận Hóa, Quảng Nam), rong đó có ghi rõ 49 châu, 181 huyện, 53 phủ, các núi, sông, thành trì, đường sông, đường bộ, đường biển A.2499 còn có thêm một sổ văn bản Hán Nôm kháe, cụ thể: bài Giao Chấu chú áo Trương Phu va Méc Thanh soan nam Vinh
Lạc nhà Minh, sau khi đánh 114 Quý Lí, nói về vị trí, bở cối đất Giao châu, ?oán đập
Thiên Nam tú chỉ lộ đồ tư (trong A 2499 từ tr 59-158), do Dỗ Hà, hiệu Dạo Phủ soạn
và viết lời dẫn: bản đồ đường bộ, dường sòng, dường biển từ Thăng Long di Chiêm Thành, Châu Khâm, Châu Niệm, Quảng Tây, Vân Nam, Bắc Quang; từ Đông Hởi đi
Cao Miễn, bản đỏ phủ Cao Bằng, bản đồ ấn doanh Mục Mã vẽ năm Cảnh Thịnh
Trưng đô nhất phủ nhị huyện chỉ hình trong sách † biên tải nhàn đảm, ký hiệu A.2006 được Đảm Nghĩa An biên soạn đầu thời Gia Long
Trung đê đã trong An Nam quốc, Trung Ẩô tịnh thập tam tuyên hình thẳng đổ hoa, kí hiệu A 2531, 26 trang, khổ 15 x 124cm gém bản để Thăng Long, 13 thùa tuyên vả 1 bản đỗ sông nui cd nude Trung dé để được vẽ ở tờ 2b - 3a,
VER 41 đo mặt gia đình ở Tiên Biên, h Nghỉ Xuân tặng ông Lê Thước năm 1960 Ông Lê Thước tặng lại Thu viện Khoa học trung ương näa 1965 (uay chuyền về Thư viện VNCHA Theo lới ông Lê Thuớc (ghỉ trong, 'VHL4I và A.2499) thì tập bản đỗ nảy không phải vữ vào thời Hồng Đức (1470-1497) Vĩ "Tning Đề" thời Hồng
“Đức mang tên là Vương Phh (từ 3a); chít "Yên Bang" viết thành "Yên Quảng" (kiểng hủy T.ẻ Duy Bang, từ 233)
"Tân Binh” viết thành "Tiên Binh" Œciẽng hủy Lê Duy Tân, lò 230)
` Trên sách ghỉ lá vẽ răm Lê Hồng Đức 21 (1490), nhưng theo vi trí và địa danh của bản đề, có thẻ biết tap nay
Sach cũ nát
30
Trang 38
Thăng Long thành Phụng Thiên phú nhất phú nhị huyện, trong sich Thién tdi nhàn đêm, kí hiệu A.2716
'Trưng đô nhất phủ nhị huyện hình thing chi 46 tr sich An Nam hinh thdng đổi, kí hiệu A.3034, 280 trang, khổ 29 x 18cm là tập bản đỗ thỏi Lễ gồm: bản đồ toàn quốc, bên dễ Trung đô (Kinh dé Thăng Teng) và bản đỗ 13 thừa tuyên (gồm
53 phủ,
181 huyện, 49 châu), bản đỗ đường thấy, đường bộ từ Kinh dô Thăng Long đến Chị
Thanh, bản đồ đi sử từ Thăng Long đến Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) Có nhiều
thơ vịnh cảnh, nhiều địa danh phí bằng chữ Nôm Trưng đó nhất phù nhị luyện lình
thẳng chỉ đồ được vẽ ở tờ, Tb-5a, khễ 30 x 40cm
Thăng Long thành Phụng Thiền phú, nhất phú nhị huyện trong sách Thiền Nam tứ chỉ lộ đỗ thư, kỉ hiệu VHL.30,
Trung đô xứ nhất phủ nhị huyện tam thập lục phường nhất danh Phụng
Thiền phủ trong sách Thiên bạ bản đô, VHL30/VHG.01282
Các văn bản này xuất hiện rải rác trong quâng thời gian đài và muộn, thậm chỉ đầu thế kỹ XIX? Ngoại trừ những điểm khác biệt nhỏ, phải so sánh mới có thế nhận
thấy thi 11 bán đồ rất giống nhau về hình dang các tòa thành, các yếu tổ tự nhiên Dại
um kink thing d6, phy: Nam de oie AB, Sich nal, mail md số tờ Ngay bản đồ Thăng lật đoạn, mới được bi lại
Ngay trong một văn bàn dã chủa dựng nhúng phúc tạp Đeu cử bản A.2199 là bản dược sử dựng, trích dẫn nhiều nhất
cũng có nhiễu vấn để về văn bản Bản A.2499 bao gồm: Hỏng Đúc bản đổ, Giao chân chí, Chí lược Giao chỉ đạo tam,
"Thiên Nam từ đã thư, Giáp Kgo bình Nam đỏ, Cảnh “Thịnh lầu đỏ Đm Man quốc, Củo Bằng phú toàn đổ, Mục
Mặc đã văn bản ghỉ là hoàn thành vào năm Hồng Dúc 21 (1490 nhưng nhiều trong số đã có ni đại muộn So cánh trong dỗi giúa các thừa tuyên, phủ, huyện, chân, tương, phường, sã giữa A.2499 với ghi chép tir Bot Diệt sứ bộ toàn ru cũng khác nhau
Trang 39
thể, các ban déu dặt Trung Đô đúng vị trí giới han bởi sông Nhĩ Hà ở phía dông, sông,
Té Lich & phi
và phía tây, phía main la sing Kim Nyon Hinh ding Hoàng thành,
Cém thanh déu có sự trừng khớp Sự giống nhau này cho thấy mỗi quan hé khang khit
giữa cáo bản đề, đồng thời phân ảnh chung nhất hình ảnh kinh thành Thăng Long trong,
một thời gian dải
Khi nghiên cứu bản dỗ này, chúng ta gặp khó khăn bởi niên dại văn bản, tỹ lệ
họa pháp nhưng cũng có điểm tương đổng rất lén về hình đáng, lượng thông tin Vì
vậy, khi sử đụng bản d6 Héng Đức với vai trỏ là nguên tư liệu hình ảnh quan trọng,
chúng tôi đồng ý “không cân quan tâm nhiều đến tỷ lệ, tắm bản đổ nhằm giới thiệu một
không gian cũng như đề điển giải không gian đó, nó đành một vị trí lớn cho những địa
điểm dược dành giá là quan trọng vả giảm thiểu hoặc loại bỏ những dịa điểm khác Hỗ
Tây - ở dây vừa bị thu hẹp, vừa bị dịch chuyển vẻ phia dông - nỗi liền với sông Tỏ
Lich
Quốc Tử Giám, biểu tượng của con đường hoạn lộ nằm ngay chính giữa kmh thành”
[184, 1⁄4] Những hình ảnh bản đề thế hiện sẽ cung cấp thang tin mới, bố sung cho
nghiên cứu vẻ Thăng Long - Hà Nội
mu ngay giữa bản đổ Tương tư thư vậy, các đấy tường thành được mổ rộng ra
Thông tin từ chủ thích trên ban dé Hong Die
Chủ thích trên bản đỗ là những yếu tô cấu thành nên ban đổ, là nguồn thông tin
được người vẽ thể hiện nhằm cưng cấp cho người xem Lượng chủ thích từ các bán đỏ
không đều nhau, cụ thể
Tượng thông tin trên bản đô là không giống nhau Có những bân đồ thé hiện
nhiéu théng tin nhu ban A 2499, VIIL30, A.2716 (50-53 chú thích), A 1081, A.3034
(40, 12 chủ thích) phổ biển ở múc 3⁄4 đến 38 thông tin (A 2006, A.2531, VIIL41) Bản
VHc.01282 đơn giản nhất với 20 chủ thích
Dé tién theo dõi lượng thêng tin có được từ các chú thích, chúng tôi tiến hành phân loại thành 6 nhém là Phương hưởng, Sông-hồ-nui-đảm: Đơn vị hành chính,
Thành lũy, đỉnh thự, cung điện; Di tích lịch sử, công trinh tôn giáo tín ngưỡng:
Ì sự phân chỉa có tính trơng đối, căn cứ trên nội dung mà chú thích biểu đạt thông tin Vĩ đụ, mục 8êng:hŠ
đàm là những chú Lhích liên quan đền điều kiện tự nhiên, đỏ lá sông, hồ Mực Thánh lũy, dinh thự, cung ởi
hợp các lớp dja danh liên quan dến thành lũy, cung điện
32
Trang 40
Biểu đô 2: Tần số xuất hiện các chú thích trên 11 bản đồ
Phương hướng: Các chủ thích liên quan đến phương hướng, giáp giới của kinh
thành Thăng Long đều được chỉ định khả rõ ràng Ngoài việc phân chia các hướng
nam, bắc, tây, đông thì các bản đỏ đều thẻ hiện giới hạn hành chính của Thăng Long
như: phía đông giáp với Kinh Bắc, phía tây giáp với Sơn Tây, phía nam giáp Sơn Nam, phía bắc giáp Sơn Tây (hoặc Kinh Bắc) Tuy chủ thích không rõ ràng lả phía đông giáp
với Kinh Bắc ở địa phân huyện nảo những thông tin về phương hướng, giúp người xem
co những hình dung, dủ rằng rất tương đối về giới hạn
Sông-hồ-núi-đầm là yêu tổ chỉ định rất quan trọng với Thăng Long Tân số xuất hiện của lượng thông tin nảy rất lớn (24.3%) Vẻ sông, 11 bản đồ đều thể hiện sông Nhĩ Hà và Tô Lịch, sông Thiên Đức (8/11), Thiên Phù (6/11) Co 5 ban dé (A.1601, A.2499, A.2531, A.2716, VHL.30) có chủ thích kèm theo hình vẽ về 4 sông
nảy, khẳng định sự ảnh hưởng quan trọng của nỏ đối với giao thỏng và xây dựng của
Thăng Long
Dong chảy sông Hồng cỏ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sông sinh hoạt của Thăng Long Trong quả trình vận động, sông Hỏng đã bồi lắng ở giữa sông những bãi bồi lớn,
đó lả bãi Vạn Bảo (10/11 bản đồ thẻ hiện) và Cơ Xa (5/11 ban đỏ thể hiện), Ngoài
sông, Hỗ Tây cũng có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống Thăng Long Bản đồ thẻ hiện Tây Hồ là một hỗ nước lớn nhất trong tắt cä các hỗ được vẽ, nỏi thông với sông
Tô Lịch Bên cạnh hình ảnh còn kèm theo chủ thích (11/11 bản đỏ) Một hỏ nước lớn
cũng rất quan trọng là Đại Hồ Đại Hồ là một tập hợp tất cả các hỗ nước ở phía nam Van Miéu liên thông với nhau Pham vi của Đại Hỏ, nhiêu bản đồ không vẽ thông nhất
nhưng đó là khu vực Nam Đông, Thính Quang, Kim Liên ngày nay Đền dau the ky
33