1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn diện mạo phố phường hà nội giai Đoạn 1873 1945 trường hợp tuyến phố tràng tiền hàng khay tràng thi

113 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diện Mạo Phố Phường Hà Nội Giai Đoạn 1873-1945 (Trường Hợp Tuyến Phố Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi)
Tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trinh này, ta thấy tác giả đã dành nhiều tâm huyết để khảo cứu diện mạo phổ phường Hà Nội xưa trên các khía cạnh: mô tả về kiến trúc nhà cửa, các công trình công công, những

Trang 1

DẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI TRUONG DAL HQC KHOA HOC XA HOL VA NHAN VAN

NGUYEN THI HUYEN TRANG

DIEN MAO PHO PHUONG HA NOI

Trang 2

DAI HOC QUOC GIA HA NOI

TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VẢ NHÂN VĂN

NGUYEN THI HUYEN TRANG

DIEN MAO PHO PHUONG HA NOI

GIAI DOAN 1873-1945

(TRƯỜNG HỢP TUYẾN PHÓ TRĂNG TIỀN ~ HANG KHAY —'TRANG THI)

Luận vần Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60 22 54

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Phương Thảo

Ha Nii - 2015

Trang 3

LO1 CAM DOAN

Téi xin cam doan ddy id cong trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hưởng dẫn của PGS.TS Phan Phương Thảo

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có

ngudn gốc, xuất xử rõ rằng

Hà Nội, ngày 15 thủng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Iuyên Trang

Trang 4

LOI CAM ON

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc dễn cô giáo hưởng dẫn

luận văn của lôi PGS.TS Phan Phương Thảo Trong suốt quá trình nghiên

cửu, cô đã tận tình hưởng dẫn, động viên, giúp dỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng căm ơn các thấy giáo, có giáo, các cắn bộ công kde

tại Khoa Lịch sử, phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn DHOGHN; các cán bộ Thư viện Quác Gia Việt Nam,Trung lâm

Tu trữ Quốc gia I dé tao diễu kiện thuận lợi cho tôi trong quả trình hoàn

thành để tài

Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, các anh, chị em cùng lớp và gia đình đã

luôn bên cạnh, cỗ vũ và động viên những lúc khó khăn để tôi có thể vượt qua

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 5

MUC LUC

MO DAU

Chương 1: VÀI NÉT VẺ PHÓ PHƯỜNG HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1873

1.1 Khái quát chung về phố phường Hà Nội

1.2.Tuyến phế Tràng Tiền -— Ilàng Khay — Tràng Thi trước thời

Tháp thuộc

1.2.1 Vài nét sơ lược về tuyến phó

1.2.2 Cảnh quan chung của tuyến phố

Tiểu kết chương 1

Chương 2: PHÓ PHƯỜNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1873-1920 (Tuyến

phổ Tràng Tiền — Hàng Khay — Tràng, Thị)

2.1, IIệ thống chỉnh quyển thành phố IIà Nội thời Pháp thuộc

2.2 Tuyến phổ Trảng Tiên Hàng Khay Trảng Thi trong những

nam 1873-1888

2.3 Diện mạo tuyến phố đến năm 1920

Tiểu kết chương 2

Chương 3: CẢNII QUAN ĐÔ TII CUA PIIÓ PHƯỜNG IIA NOI

GIẢI DOAN 1920-1945 (Tuyến phố Tràng Tiển — Hàng Khay —

Tràng TÌ

3.1 Chương trinh quy hoạch đô thị Hà Nội của thực dần Pháp

3.2 Tuyến phổ Trảng Tiền — Hàng Khay — Tràng Thị — những đổi thay

Trang 6

3.3.1 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - - 76

3.3.2 Thư viện Quốc gia Viét Nam 78

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Ly do chon dé tai

1.1, Mua thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tế dời đô từ Tloa Lu

về Đại La, dỗi tên kinh thành là Thăng Long Kế từ mùa thu năm ấy, cho đến

nay, lịch sử Thăng Long - Hà Nội đã trải dài hơn một ngản năm Một ngắn

năm qua, những biển động không ngừng của lịch sử đã để lại những dau ấn

đậm nét trong diện mạo, cảnh quan của đô thị Hà Nội Những dầu ấn đó như

“những điều nhắc nhở của quá khủ”, mang lại cho Hà Nội một tính cách “độc

đáo” “đặc hữu”!, một sự hắn dẫn hiếm gặp nếu so sánh với cáo đô thị khác

trên thế giới Dúng như học giả W.§.Logan đã nhận xét: “Môi trường của Hà Nội ngảy nay phủ đầy những hình tượng chính trị, mỗi một chế độ đã sản sinh

ra những tỏa nhà, quang cảnh dường phố và toàn bộ những khu vực để chứng

minh cho ý thức hệ của nó, và với việc làm đó, minh chứng cho quyên lực của

chế độ đỏ đối với đô thị và cư din đồ thị” [87, tr.29] Do vậy, để tìm hiểu lịch

sử của dé thi Ha Nội, nghiên cứu điện mạo là một việc làm cần thiết

1.2 Trong nghiên cứu điện mạo đô thị Hà Nội, giai đoạn từ năm 1873

dén nim 1945 dong vai trò quan trọng vả có nhiều ý nghĩa Trong những tháng năm này, dưới tác động của những văn bản, Nghị định và các đề án quy

hoạch mà chính quyền thuộc địa ban hành, thành phế 11ả Nội từng bước được

định hình về mặt dịa giới hành chính và có sự thay dỗi mạnh mẽ về cảnh quan

đô thị Nghiên cứu điện mạo trục phổ 'lrảng 'tiền — Hàng Khay — lrảng Ihị sẽ

chơ ta thấy rõ sự đối thay này Bởi lẽ, 1í địa lý đặc biệt, trục phố đã trở

thành nơi lưu giữ khá đầy di những dấu Ân cia Ha Nai trong suốt thời Pháp

thuộc Do vậy, nghiên cửu điên mạo phế phường Hà Nội thời ky nay, không

thé không quan tâm nghiên cứu diện mạo tuyến phố Trảng Tiền — Hàng Khay

— lrảng Thị

1 Chữ dùng của PGS.TS.Nguyén Thira Hy.

Trang 8

1.3 Trong những năm vừa qua, ở Hà Nội, việc phát triển dé thi mat cách tự phát dã và đang ánh hưởng nghiềm trọng tới cánh quan môi trưởng va

đi sản văn hóa của thủ đô Điều đó được thể hiện rõ nét thông qua sự hiện

diện của những ngôi nhà siêu móng, những ngõ nhễch nhác, những khu dân

cư tự phát Đặc biệt những hoạt động kinh doanh sôi động của nền kinh tế thị

trường đang tràn ra mặt tiền các khu phổ Tất cả đã làm hễn loạn cấu trúc văn

hóa truyền thống của không gian đô thị 1rong bối cảnh đó, nghiên cửu về

điện mạo IIà Nội, nghiên cửu để bão tồn và lưu giữ những nét đẹp của thủ đô

nghìn năm văn hiến, qua đó đóng góp vào việc xây dựng và điều chỉnh quy

hoạch thành phố trong thời kỳ biên đại, vi thế càng quan trong vả có ý nghĩa

thực tiễn hơn

Từ những nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn để lãi nghiên cứu Diện

mạa phố phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945 (Trường hợp tuyển phố Trang Tién — Hàng Khay — Trang Thị) Với đề tài này, chúng tôi muỗn đi từ

sự tiếp cận diện mạo một tuyển phố cụ thể trong khu phố Tây, tit dé Lái hiện

lại phần nảo diện mạo phô phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945

2 Lịch sử nghiên cúu vẫn để

Trong nhiều năm trở lại dây, Hà Nội luôn lả dối tượng quan tâm của

nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau Vì vậy, không

có gỉ ngạc nhiên khi nhiều công trình nghiên cứu về Hả Nội của các học giả

trong va ngoai nước liền tục được công bế Trong phạm vi nghiên cửu về điện mao IIa Nội nói chưng và phố phường Hà Nội nói riêng có các công trình

nghiên cứu của các học giả sau đây

Nghiên cứu tổng thể diện mạo Iià Nội cỏ công trình của học giả

Nguyễn Văn Uâẫn với tựa đề Hà Nội nữa đầu thế ký XX (2002) Trong công trình nảy, Nguyễn Văn Ẩn đã tái hiện diện mạo Hà Nội thông qua việc khảo

sát, tìm hiểu 18 khu vực cụ thể Trong từng khu vực, cách tiếp cận của tác giả

là đi vào miều thuật vỀ cảnh quan xung quanh khu vực, cùng những nét khái

Trang 9

lược về đời sống sinh hoạt của cư dân nhằm đựng nên bite tranh twan cánh về

Hà Nội nứa đầu thể kỷ XX Mặc dủ những thông tin tác giã mang đến rất hữu

ich, nhưng vì những thông tin đỏ chủ yếu mang tính miêu thuật nên chưa làm

rõ được điện mạo của Hà Nội nói chung và phố phường Hà Nội nói riêng trên

một số phương điện như: quy hoạch và phân bố nhà cửa, sở hữu nhà đất

Ngoài công trình của Nguyễn Văn Uẫn còn phải kế đến một số công trình

nghiên cứu mang tính tổng hợp khác về Hà Nội như: /4ch sử 7hãng Long — Hà

Nội của nhỏm tác giả do G5.Phan Iluy Lê chủ biên (2012) hay Lịch sử Hà Nội

của Philippe Papin (2010) Trong hai công trình này, những vẫn đề kinh lễ -

chính trị - lịch sử - văn hóa của Hà Nội từ khi đô thị mới hình thành cho đến thời

điểm hiện nay đều được đề cập tới Tuy nhiên, cũng giống như Nguyễn Văn

ấn, gáo táo giả của hai công trình này đều chưa quan tâm khão sát một cách kỹ

cảng diện mạo Hà Nội nói chưng, phố phường Hà Nội nói riêng

Tiên cạnh việc nghiên cứu tổng thé, cde nha nghiên cứu còn tiếp cận

diện mạo Hả Nội trên từng phương điện cụ thể Trên phương diện kinh tế có

luận án Phó Tiến sỹ của Nguyễn Thừa Hÿ với tựa đề Kinh tế TÌ hăng Long

Hà Nội thể ký XEIH — XVHI — XIX (1983) Trên phương điện văn hỏa có công trình Văn hỏa Thăng long — Hà Nội hội tụ và tỏa sáng (2000) của học gid

Trần Văn Bính Trên phương điện kiến trúc, có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước như: Đặng Thải Hoàng với Kiến trúc Hà Nội thể

kỳ XIX thé I} XX (1999), Tran Quốc Bảo và Nguyễn Văn Dinh với Kiển

tic va quy hoạch Hà Nội thời Pháp thuộc (2011) Lĩnh vực này cũng nhận

dược nhiều sự quan tầm của các học giả nước ngoài, trong dó, dáng chủ ý là

công trình Hẻ Nội chu ỳ của những đối thay (2005) do Pierre Clément va

athalie Lancret chủ biên Là kết quả của những quan điểm và phương pháp tiếp cân khác nhau, cuốn sách bao gồm nhiễu bài viết của các kiến trúc sư

người Pháp và Việt Nam với cùng một chủ để chưng là tìm hiểu về IIà Nội

qua nghiên cứu bàn đồ và các yếu tố cầu thành ử nhiều cấp độ

Trang 10

Mặc dù chỉ tái hiện được những đặc lính của Hà Nội ở một khía cạnh,

phương diện cụ thể nhưng những công trình nảy đã dem lại những thêng tin

rất hữu ích cho công tác nghiên cửu về IIà Nội Đặc biệt trên phương điện

kiến trúc, những đóng góp của Đăng Thái Hoàng, Dicre Clément vá Nathalic

Lancret là hết sức đáng kể (ác tác gid đã cung cấp cho chủng ta những

nghiên cứu chỉ tiết về loại hình nhà 6, công trình công cộng trong từng thời

kỳ cụ thể (tập trung là từ thể kỷ XIX — XX) Những nghiên cứu này rất hữu

Ích trong việc tái biện diện mạo tổng thể của IIà Nội nói chung và phố phường [14 Nội nói riêng

Nằm trong nội dung những nghiên cứu về diện mạo Hà Nội, phố

phường thủ đô cũng là vấn đề được nhiều học giả quan tâm, tìm hiểu Tuy

nhiên, mỗi họ giá lại só những cách liếp cận kháu nhau

Hoàng Dạo Thúy 14 một trong những học giả sớm tiếp cận việc nghiên cứu phố phường Là Nội với công trình Phố phường Hà Nội xưa Công trình

dược xuất bán lần đầu tiên năm 1974, sau đó đã được Lái bản nhiều lần Trong

công trinh này, ta thấy tác giả đã dành nhiều tâm huyết để khảo cứu diện mạo

phổ phường Hà Nội xưa trên các khía cạnh: mô tả về kiến trúc nhà cửa, các

công trình công công, những hình thức phường hội nghề nghiệp trong phố

phường Tuy nhiên, những thông tin mả tác giả cung, cấp còn sơ giản Mô tả

kiến trúc nhả cửa: Hoáng Đạo Thủy chí tập trung đến các loại hình nhà ng,

nhà chồng điêm trong khu phổ cổ, các công trình công cộng được xây đựng khi Pháp sang chỉ được điểm qua mà chưa có sự miễu thuật về kiến trúc;

những thông tin mô tả về quang cảnh đường phổ còn ït và cũng chỉ tập trung

ở hai phẩ tiêu biểu là hàng Gai và hàng Đào

ước sang thập niên 80 của thể kỷ XẦ, có chuyên khảo Phố phường

Thăng Long — Hà Nội trong những thể kỷ XƯIH — XVIHI — XIX của Nguyễn

Thừa IIỷ, đăng trên tạp chí Nghiền cứu lịch sử số 3 (210) va 4 (211) nam

1983 Chuyên khảo này đã túi hiện rất rõ điện mạo phố phường Hả Nội thể

Trang 11

ky XVII -— XVII — XIX (chủ yếu là điện mạo khu phố cổ) trên hai nhương điện: diễn mạo vật chất (quang cảnh dường phố, kiển trúc nhà cửa, cẳng

phd) và đời sống kinh tế - xã hội của cư dân sinh sống trong phẩ phường

Trong chuyên khảo, tác giã còn đưa ra nhiều nhận xứt xác dáng về bước đường phát triển lịch sử của phố phường Thăng I.ong — Hà Nội

Trong những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ X%, một số công

trình nghiên cứu về phố phường thủ đô tiếp tục dược công bố Ngoài công

trình Thành lữy phả phường và con người Hà Nội trong lịch sử (1999) của

Nguyễn Khắc Đạm còn có Hà Nội phố phường (1999) của Giang Quân cùng

một số bải viết trên tạp chí của các tác giả: Lưu Đình Tuân với Sự hình thành

khu phố Tây ở Hà Nội (19993 tạp chỉ Xưa và Nay, số 74

Trong thởi gian gần đây, những nghiền cứu về phố phường Hà Nội

càng được đấy mạnh hơn nữa 8o với các thời kỳ trước, nhiều nguồn tư liệu

phục vụ cho việc tái hiện điện mạo phố phường là Nội đã được khai thác khá

triệt để Đỏ là dông trình nghiên cứu của học giả Vũ Văn Quân với Phá cỗ Hà

liệu địa bạ, in trong: Kỷ yêu hội thảo “Tôn tan phố

và châu Âu — Trao dỗi kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn và nẵng cao giá trị

đi sản” (2005) Và đặc biệt là céng trinh Khu phd cd Ha NGi nita dau thé kp

XY qua tu liệu địa chỉnh (2013) do Phan Phương Thảo chủ biên Công trình

nảy đã khai thác một cách triệt để không chỉ các hề sơ về khu phố cỗ thuộc phông Sở địa chính I14 Nội hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia

1 thuộc Cục Văn thư và lưu trỡ nhà nước, mà còn khai thắc các phiếu thông

tin chỉ tiết về từng số, thửa nhà đất phể cổ IIà Nội nửa đầu thế ký XÄ lưu trữ

tại Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất — những phiếu này trước đây chưa

từng được bất kỳ một công trình nảo quan tâm khai thác

lên cạnh các công trình nghiên cửu trên, không thể không kế đến

một số guỗn sách tiếp cận phố phường Hả Nội trên phương diện địa danh

Trang 12

như: Nguyễn Vinh Phúc với Phố và đường Hà Nội (2004), Từ điển đường

phố Hà Nội (2009) của Giang Quân; gần đây nhất là cuốn Tử điễn dường

phố Hà Nội (2010) do Nguyễn Viết Chức chủ biên Những công trình này

cung cấp những thông tin rất ngắn gọn về tên gọi các con phổ ở Hà Nội, kèm theo đó là những mô tả đơn gidn về chiều đải các phố, khu vực lệ

thuộc, một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu

Nhìn một cách tổng quát, các công trình nghiên cứu về phố phường Hà

Nội mang những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, phần lớn các gông trình chủ yếu Lập trung mê tả chỉ tiết điện mạo phố phường Hả Nội trên các phương diện: quang cảnh đường phổ, kiển

trúc nhà ở và các công trình công cộng Đã có công trình tiến hành khảo cứu

sâu về điện mạo phố phường (oông trình của Kguyễn Thừa Hỷ) nhưng chưa

đi vào từng tuyến phố cụ thể và cũng mới chỉ dừng lại ở phạm vi thời gian là

ode thé ky XVIL— XVII — XIX

Thứ hai, đã có một số công trình quan tâm sir dung ngudn ur liu dia

chính, địa bạ để tái hiện điện mạo phố phường Hà Nội trên các phương diện: cánh quan tự nhiên, tỉnh hình sử hữu nhá đất, quy mô và cơ cầu sử dụng dt,

không gian ở nhưng mới chỉ tập trưng nghiên cứu trong khu vực phố cỗ

Thứ ba, dường như chưa có một công trinh chuyên sâu nào khảo cứu về

điện mạo khu phố Tây ở Hà Nội giai doan 1873-1945 Những tuyến phố

mang tỉnh điển hình trong đô thị Hà Nội cũng chưa được quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc Do vậy, những đổi thay mạnh mẽ của phố phường IIà

Nội thời kỳ này chưa được khắc họa rõ rằng,

Trong bối cảnh nghiên cửu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cửu Diện mạo phố phường Hà Nội giải đoạn 1873-1945 (Trường hợp tuyển

phố Tràng Tiần - Hàng Khay — Tràng Thủ) Hướng nghiên cửu, tiếp cận của

chúng tôi sử dụng chủ yếu nguồn tư liệu địa chính kết hợp với khão cứu các

tài liệu liên quan, sẽ không chỉ dừng lại ở sự miều thuật đơn thuẫn những thay.

Trang 13

đổi về điện mạo phố phường Hà Nội mà sẽ cố gắng luận giải những căn nguyễn chỉnh trị - văn hỏa — quân sự của sự biển đổi diện mạo đỏ

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở các nguồn tải liệu có liên quan, nghiên cứu một cách toàn

diện để tái hiện được diện mạo phổ phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945

(Trường hợp tuyến phố Tràng Tiền — Ilang Khay — Trang Thi), bước đầu đưa

ra những luận giải về sự biến dổi diện mạo phổ phường so với các thời kỳ

trước Trên cơ sở đó có thể xem xét áp dụng hoặc thừa hưởng những yếu tố

tích cực não có lợi cho công cuộ ải tạo thành phổ trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn Diện mạo phố phường Hà Nội (Trường hợp myễn

phố Tràng Tiển — Hàng Khay — Trang Thị) làm đối tượng nghiền cứu và

được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1873 đến năm 1945

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn áp dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ

thể của các ngành khoa học như: Sử học, Văn hoá học, Dịa lý học lịch sử để

thu thập, xử lý và phân tích thông tim

- Phương pháp chú yếu của luận văn là nghiên cửu khu vực học

- Luận văn có tham khảo một số lượng lớn tư liệu địa chỉnh nên quá

trình xử lý và trình bày thông tin không thể thiếu phương phap định lượng,

6 Dong gop của luận van

- Luận văn góp phần làm sáng tổ diện mao phé phudng 114 NGi ndi

chung, tuyển phổ Trảng ‘Tian — Hàng Khay — lrảng Thi nói riêng trong một

giai đoạn lịch sử của Thủ đô

- Khắc họa lại hiện trạng kiến trúc, biến đổi cảnh quan của một số đã tích văn hóa — lịch sử tiêu biểu của Hà Nội trên tuyến phố nghiên cứu

- Trên cơ sở các nguén tài hệu lưu trữ, đặc biệt là nguén tư liệu địa

chính, luận văn bước đầu đưa ra những luận giải về sự biển đổi điện mạo phố

Trang 14

phường Hà Nội nói chung, Luyển phố Trảng Tién — Hang Khay — Trang Thi nói riêng so với các thời kỳ trước, làm rõ ánh hưởng của người Pháp dối với quá trình đô thị hóa của Hà Nội thời cận đại

- Luận văn dưa ra những phác họa về điện mạo phố phường Hà Nội giai đoạn 1873 -1945 trong đó có nêu lên cả những ưu điểm vả hạn chế trong,

quy hoạch đô thị 114 Ndi qua từng thời kỳ Đỏ là những bài học lịch sử tất có

ý nghĩa cho Hà Nỗi trong qui hoạch và cải tạo Thành phổ giai đoạn hiện nay

7 Cầu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luan vin sẽ được triển khai trong ba chương,

Chương 1 : Vài nét về phố phường IIà Nội trước năm 1873

Chương 2: Phố phường Hà Nội giai đoạn 1873-1920 (Tuyến phố

‘Trang "tiền — Hàng Khay — Tràng Thị)

Chương 3: Cảnh quan đồ thị của phổ phường IIà Nội giải đoạn 1920-

1945 (Tuyến phó Trảng Tiền — Hàng Khay — Trảng Thi)

Trang 15

Chirong 1:

VẢI NÉT VỀ PHÓ PHƯỜNG TIẢ NỌI TRƯỚC NĂM 1873

1.1 Khái quát chung về phố phường Hà Nội

Từ một làng nhỏ ven sông, trải qua bao đổi thay của thời gian, cho đến

dầu thế kỷ XI với sự kiện Lý Thái Tổ dời đỗ từ vùng rừng núi Hoa Tư v nơi

thành Dại La củ, Thăng Long đã chính thức đi vào lịch sử như một thành thị

trung đại Việt Nam Trong budi đầu thánh lập, phần “thành” được thánh lập

trước tiên, sau đó kéo theo phan “thị” Didu nảy được giải thích như sau:

thành trì phong kiến nơi giai cấp thống trị ở cần rất nhiều nhu cầu sinh hoạt

xa xi Chính vì thế, các phiên hợp chợ ngoài thánh (nơi cung cấp hàng hóa

cho giai cấp thống trị) từ chỗ họp thường kỳ rỗi ai về nhả nấy đã dân dần có

người cư ngụ lại trên đó để bán hàng Những người thường trú nảy có thể là

thợ thủ công hay thương nhân hoặc làm các nghề linh tỉnh khác Khi cư ngụ

lại, họ phải lập phố để ở Theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa cũng như

nhu sầu của giai cấp thống trị và của nhân dân địa phương, các phế chợ dan

được kéo dài ra, lợn mới, nấi chợ nọ với chợ kia, biển dần dân các lang va

ruộng làng thành các khu phế

Trong nhiều thế kỷ tiếp theo đỏ, dù đã trưởng thành khá nhiều về quy

mô nhưng Thăng Long hầu như không thay đôi về cấu trúc cơ bản Suốt thời

kỳ Lý — Trần, qua thời Lê sơ, thành thị này vẫn bao gồm hai bệ phận chính là

“thành” và “thị” Trong đó, khu vực “thành” đóng vai trỏ hạt nhân quyết định,

khu vực “thƒ” là một bộ phận cộng sinh, tồn tại được là nhở vào phan “thành”

ước sang giai đoạn XVI — XVIHL kinh thành Thăng Long có bước phái triển

đột khởi không những ở khu vực “thành” mả cả ở khu vực “thị” Dôi với khu

vực “thành”, đây là giai đoạn mả kinh thành đã trải qua ba đợt xây cất, mở

rộng và tu bễ lớn Tần thử nhất do vua Tê Tương Dực tiến hành để thực hiển

Trang 16

mục đích ăn chơi xa xỉ Lần thứ hai do Mạc Mậu Hợp khởi xướng nhằm để

phòng những dợt tấn công của họ Trịnh Và lần thứ ba có ý nghĩa vả quan

trọng nhất là do các chủa Trịnh tiến hành trong suết thế ky XVII va dau thé

kỹ XVII

Sự phát triển của phần “thành” tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực

“thi” cia Thăng Long phát triển mạnh mẽ Sở đĩ có thể khẳng định như vậy

là vì khi tiến hành việc sửa sana, xây dựng quần thể các công trình kiến

trúc, chỉnh quyền phong kiến đã buộc phải huy động một lực lượng rất lớn những thự thủ sông thuộc các ngành nghề khác nhau từ các địa phương

xung quanh về kinh đô để làm việc Đến kinh đô và sau khi làm việc trong

các công xưởng của nhà nước, nhiều thợ thủ công đã ở lại lập nghiệp tại

các phá chự, khiển cho khu vực “thị” ngày cảng có sự phát triển mạnh mẽ

Không những thế, trong suốt thời kỳ tồn tại của mình, nhả nước phong kiên

Lê — Trịnh cên duy trì ở Thăng Long một bộ máy quan liễu chỉnh trị - quân

sự thường trực khống lỗ Điều nảy đã tạo ra một nhụ cầu cung ứng lớn lao

về lương thực, thực phẩm, vật đụng, hàng hóa không chỉ trong những phố

chợ nội tại của kinh thành mà còn Lừ các vùng phụ cận đỗ về

Vẫn dang trên đà phát triển, lại dược kích thỉch bởi nhiều yếu tố thuận

lợi, khu vực “thị” của Thăng Long đã có sự phát triển trội vượt Cùng với khu vực “thành” nỏ đã dưa Thắng I.ong — Kế Chợ trở thành một trung tâm chỉnh

trị - kinh tế lớn nhất trong cả nước, một trong những thành thị lớn của vùng

Đông Nam Ava phương Đông nói chưng, trước sự chiêm ngưỡng không phải

không có cơ sở của các lái buồn và giáo sỹ phương |

Chợ sánh ngang nhiễu thành thị khác ở châu Á” [31, tr.141]

Trong khu vực “Ủu” của Thăng Long, nơi phát triển nhộn nhịp nhất

\y: "Quy mô của Kẻ

chính là khu vực buên bản phía Đông, thường được dân gian gọi với cái tên

“36 phố phường” Tên “phường” xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam, có

thể tử thời Bắc thuộc Nghĩa đầu tiên của khái niệm “phường” là chỉ một khu

Trang 17

vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long,

Tới thời Trần, Trần Thái Tông tiến hành định các phường về hai bên tả hữu

của kinh thành, chia thành 61 phường Vào đầu thời Lê, cả nước có 56 phú,

187 huyện, 54 châu hương, 9728 xã, 294 thôn, 59 phường Khu vực thượng

kinh có 1 phủ, 2 huyện và 3ó phường [79, tr.271] Ngoài ý nghĩa là một đơn

vị hành chính, “phường” còn có ý nghĩa là một đoàn thể, một nhỏm người có

tổ chức củng làm một nghẻ nghiện (phường bạn, phường thợ, phường chẻo)

Tiên cạnh khái niệm “phường” là khái niệm “phố” “Phổ” có nhiễu nghĩa khác nhau: “Phố” theo Lê Qúy Đôn trong Thượng kinh phong vật chỉ là

những chỗ bờ sông bến nước, trên bến dưới thuyền Ngoài tính chất như đã

nêu trên, “phố” ở đây còn ám chỉ “phố xá"” của từng khu phường hoặc làm

nghề thủ công hoặc làm nghễ buôn bán Điều này có nghĩa là nếu như

“phường” nguyên là một khu vực trong thành thị thi “phố” nguyên nghĩa là một chỗ ban hang, noi bay hang (thee cách nói ngày nay lả cửa hảng, cửa

hiệu) Phố có thể là ngôi nhà bảy hàng bán hoặc cũng có thể là một Lứp lều,

một chỗ trồng được lấy làm nơi bày hàng hóa để buôn bán Nhiều ngôi nha, nhidu các phố như vậy tập trung san sát nhau tạo (hành một dãy phố Qua thời

gian cdc diy gdm nhiều phố ấy cũng được gợi tắt lá phó vả dần dẫn từ “phố”

với nghĩa là một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át từ “phố” với nguyên

nghĩa là ngôi nhà bảy bán háng

Chính vi sự biển nghĩa này mà ngày nay khi phân biệt “phường” và

“phố”, người †a coi phế như đường trục của phường gồm có một con đường, hai

bên có nhà cửa — nhà ở và thường là cổa hiệu — có bề mặt trông ra ngoài dường

Trong khi các phường nặng về hoạt động sản xuất thì ở các phố lại chú trọng đến

hoại động buôn bản Chỉnh hoại động này mới thể hiện rõ nét yếu tổ “hị” của

'Thăng long Vậy phố phường 'Thăng l.ong buôn bán những mat hang gi?

*Phổ xã” là một từ qnen thuộc trong ngôn ngất dẫn tốc trong tiếng Việt cổ “xá” có nghĩa là nhà ở, cửa

hàng, cửa hiệu

Trang 18

Thing Long là đất để đô, nơi kết tĩnh tài hoá tứ xứ: Những người thợ thú công ở khắp nơi kéo về nội dé lam ăn Họ mang theo những nghề đặc sắc

của quê hương mình, họ làm hàng ở trong phường rồi bày bán ở các mặt

phường là phổ Thường mỗi phổ chỉ bán hoặc sản xuất sản phẩm của dỗi ba làng nhất định Những phố nghề được hình thành từ đây ên của các phố được lấy từ chính tên nghề thủ công sản xuất và kinh doanh để đặt tên cho phố đó Có thể kể tới các phổ tiêu biểu như: phd hang Long, hang Ma, hang

Quạt, hàng Buém, hang Tre, hang Thiếc, hàng Đảo, hàng Bạc Sự gắn bó

thân thiết đỏ đã khiến cho người ta có cảm giác giữ lên phố hàng là đã giữ

được cả linh hỗn của nghề thủ công đó

Sự đa dạng của các mặt hàng thủ công và sự phát triển về hoạt động

buôn bán đến mức cáo phố hàng của Thăng Long thoi ky nay cn thu hit ca

những thương nhần người nước ngoái đến buôn bán và sinh sống như người

Tả Lan, Anh, Pháp từ thế kỷ XVH và đặc biệt là tằng lớp thương nhân Hoa

kiểu đến buôn bản và cư trú từ đời Trần Phố hàng không còn đừng lại ở một

khu vực buôn bán riêng của kinh thành nữa mà còn có xu hưởng mở rộng đón nhận hoạt động ngoại thương từ bên ngoài

Trong bối cảnh đó diện mạo của phố phường Hà Nội hiện lên với

những nét phác họa rõ nét và độc đáo

hư trên đã trinh bày, những người nước ngoài dén Thăng Tong bir rat

sớm Họ đã ghi chép, mồ tả phổ phường Thăng Long một cách ti mi, chi tiết

và sống động Dưới những ghi chép của họ, quang cảnh đường phế trong các

thể kỹ XVII— XVIH hiện lên thật rõ nét

*Những đường phổ chính ở Kẻ Chợ thường Tất rộng rãi, tuy vẫn có một

vài ngỡ phổ chật hẹp Phần lớn các phố đều được lát đá, đúng hơn là được vá vin hằng những phiến đá nhỏ, nhưng rất cẩu thả Về mủa mưa, chứng rất bẫn

thiu va về mùa khô, vẫn còn những vũng nước đọng và một sé mương rinh

đây những bủn den bốc mùi hôi thối ứ trong và chung quanh thành phổ Điều

Trang 19

đó làm cho nơi đây trớ nên không được ưa thích và có người cho răng chúng

cũng rất mắt vệ sinh Tuy nhiên theo những diều tôi sắm thấy và từng biết, thì

nơi đây vẫn khá trong lành” [3I, tr.227]

Không chỉ miễu tã điện mạo dường sả ma quang cảnh phố phường mỗi

khi có phiên chợ cũng được đề cập đến thật chỉ tiết Chợ tràn ra cả lòng đường,

bàng hóa bày la liệt cùng với người đi lại mua bán đổi chác làm cho đường sá

của kinh thành gần như tắc nghẽn: * đân số của Kế Chợ lớn hơn nhiều, nhất

là vào phiên chợ ngảy I vả ngày 1S âm lịch hàng tháng khi người dân củng với

hàng hóa từ các làng ven đô đỗ về đây nhiều không đếm xuế Những con phố

ngày thưởng vốn rộng rãi và quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nổi chỉ

nhich được 100 bước trong vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi” [31, tr.141]

Nhà sửa ở hai bên mặt phổ liền sát nhau, thường được dựng bằng trợ và

lợp bằng rơm rạ Chiều cao của các ngôi nhà ở Thăng Lơng lúc bẫy giờ tuân

thủ nghiêm ngặt những quy định mà chính quyền phong kiến đã để ra: “Vua chúa không cho phép những thần dân cua minh xây nhà cao, vì sợ rằng họ có

thể gây mưu hại Tất cả các nhà cửa đều phải xây thấp, ngoại trừ các cung

điện, và nếu ai muốn sống thì đều phải lánh trốn khỏi đường phố mà đức vua

cưỡi voi hoặc ngổi kiệu di qua” |3], tr.234]

Chúng ta thấy nhận xét đỏ cũng phủ hợp với điều quy định về đẳng cấp

đã được san định thành văn vần lưu truyền trong dan gian

Dân phường nhà giáp đường quan Không được làm gác trông ngang ra đường

Có cần lâm chỗ chứa hàng

Chiêu cao không được cao bằng kiệu quan [30, tr.48]

Tiên cạnh những ngôi nhà được làm bằng gỗ hoặc bằng Ire nửa, trong

thời kỳ nảy cũng đã xuất hiện một số nhà làm bằng sạch 'Iuy nhiên số lượng

những ngôi nha nay rat it Mét vai nha gạch trong số này chính là các thương

điểm của người nước ngoài Sự tổn tại phổ biến của những ngôi nhà tranh

Trang 20

vách đất đã đưa Lới một nguy cơ thường trực giữa kinh thành náo nhiệt, đó là

hỗa hoạn Cha Baldinotli khi đến Đảng ngoài vào thế ky XVI, di đề cập đến

những vụ hỏa hoạn nảy trong những ghi chép của mình: “ nhà cửa được

dựng bằng những cây sây ở trong xử, to như những cây gỗ mà người ta gọi là

tre Những ngôi nhà đẻ lợp rơm ra và không có cửa số rong thành phổ cá

những ao vũng nước lớn cho phép dập tắt nhanh chóng ngọn lửa khi bén cháy

vào nhà Có những vụ hỗa hoạn thiêu cháy đến 5,6 nghìn nóc nhà, nhưng sau

đỏ người ta đựng lại nhà cửa sau độ +, 5 ngảy” [31, tr.67]

Chính điều này đã dẫn đến khi xây dựng những ngôi nhà tranh, cư dân

không quên sáng tạo thêm những công cụ để phòng chống hỏa hoạn: *Phần lớn

những nhà đều có một cái sản hoặc khu sau nhà Trong mỗi sân người ta trồng

thấy một kiến trúc nhớ xây vòm giống như một cải lễ cao chứng sáu bộ

(1,8m), cửa mở sát mặt đất Cái khám đó xây bằng gạch từ đỉnh tới đáy, bên ngoài lại trát đầy mốt lớp bùn đất Nếu nhà nào thiếu sân, thì họ xây loại khám

lò đó ngay 6 trong piữa nhà nhưng nhỏ hơn và hầu như chẳng có nhà nào trong

thành phế lại không có một cái khám lò như vậy Công dụng của chiếc khám xây này là đưa vào đỏ những đỗ hàng trọng yếu nhất mỗi khi xây ra đám cháy,

vì những ngôi nhà tranh này rất đễ bị bén lửa, dặc biệt trong những mùa hanh

khô IIêa hoạn đã thiêu hủy nhiều ngồi nhà trong chốc lát, đến nỗi họ thường

chỉ đủ thời gian để bảo quán những hàng hóa của họ trong những khám lỏ nóc

vòm đỗ, mặc đủ họ cũng ở ngay sat gan dé Vi moi người đều có sáng kiên đó, nên chính quyền đã nghiêm cẵn ra lệnh cho mọi nhà phải có những phương tiện

phòng cháy chữa cháy, không để ngọn lửa lan rộng ra chưng quanh Cử mỗi

khi đến mủa khé, moi nha đều phải đặt một vại nước lớn bên trên nóc nha, sin

sảng kéo đỗ xuống mỗi khi cần thiết Ngoài ra, mọi người phải có sẵn một vây sảo đài, ở đầu buộc một chiếc thúng hay một cải gầu để múc nước từ những

ngòi rãnh tưới lên những ngôi nhà Nhưng khi ngọn lửa đã bốc cháy quá to, thi

cả hai cách thức trên đều trỡ thành vô hiệu, lúc đó họ bẻn cắt những mỗi buộc

Trang 21

của lớp mái tranh, để chứng rơi tử những rui kẻo xuống đất một cách tương đối

ít khó khăn Vi mái nhà được lợp bởi nhiều máng tranh kết với nhau ứ một vải

chỗ buộc nên việc tháo dỡ cũng dễ Nếu có mảng mái cháy nào rơi lên trên

hoặc gần cái khám lò trong chửa đựng hàng hỏa, thì họ cũng để kéo ra chỗ

khác Bằng cách đó những nhà bên cạnh có thể nhanh chóng tháo dỡ mái nha

trước khi ngọn lửa lan bén tới và những tắm mái tranh có thể mang đi xa hoặc

ít nhất cũng dễ nó tự cháy một mình ở một chỗ riêng Để dùng cho mục dich

đó, ngôi nhà được lệnh phải để một cây sào tre dài trước cửa có móc câu liêm ở

đầu để dỡ mái tranh nhà Nếu người nảo bị phát hiện không có vai nướ trên

nóc nhà, cái cần gầu và chiếc sảo có câu êm ở trước cửa họ sẽ bị trừng phạt

nặng nễ vì tội chỗnh mâng” [31, tr.226-227]

Như vậy, trong các thế ký XVI — XVIIL, quang cảnh phố phường Hà Nội đặc biệt là khu buôn bán phía đông rất nhộn nhịp đông vui, đóng vai trò

quan trọng trong đời sống kinh tế của kinh thành Bước sang thể kỷ XIX, từ

dia vi trước dây là kinh đô của cã nước, nay rút lại vỀ mặt hành chính còn là

hai huyện của một tỉnh nên Hà Nội không côn được coi như một biệt khu độc

lập nữa Do đó, tính chất thành thị trước kia nay cũng bị pha loãng đi rất

nhiều Ảnh hướng của nông thôn, nếu trước dây dã có ở một mức độ nhất

định thi nay càng có điều kiện xâm nhập Š ạt vào phế phường IIà Nội, tạo nên

một sự hỏa dồng đảng kể giữa phương thức sinh hoạt và quang cảnh của các

phá phường Thăng Long cũ với các vùng phụ cận chung quanh [30, tr.55-56] Điều này có thể thấy rõ khi chúng ta tìm hiểu cảnh quan tự nhiên của phố

phường Hà Nội giai đoạn này

Vào đầu thế ky XIX, cdc con phé cua Ia Ndi lúc bấy giờ đều thuộc về

1 hoặc 2-3 đơn vị hành chính thôn/phường Ví như phố hàng Gai nằm trọn

vẹn trong phường liên Hưng thuộc tống Đông Thọ, hoặc phố hàng Khoai

mét phan thuộc thôn Tuyén Thiên, một phần thuộc thén Vinh Tri của tổng

Trang 22

Đằng Xuân Chính vì thé nếu khai thác nguồn tư liệu địa ba chúng la hoàn toàn có thể phác họa cảnh quan tự nhiên của phố phường Hà Nội

khảo sát tư liệu địa bạ, có thể thấy một nét nổi bặi trong cảnh quan tự

nhiên khu phê cổ Hà Nội chính là mật độ day đặc của những ao, hồ, sông, ngôi Có thể kể tên các hồ ao trong khu vực này là: hỗ Hàng Cân, Hang Bd,

hỗ ở sau Tlang Thiếc, Tlang Quạt, hỗ ở sau Tlang Béng, [lang I]ém, hé Tang

Than, hồ vây quanh dén Huyén Thiên ở Hàng Khoai Các hé ao trong khu

vực phần lớn đều có điện tích nhỏ Điều này hoàn toàn đúng với những nhận

định về [Tả Nội là một thành phế sông hỗ [68, tr.132]

Khai thác tư liệu địa bạ, một điều không thể không chú ý tới là những

cột mốc, những vật làm giới hạn địa giới của các đơn vị hành chính Dởi lễ

đây chính là một kênh thông tin phần ánh phần nào quang cảnh tự nhiên của

phố phường Hà Nội thời kỳ này Các vật ding làm ranh giới nhiễu nhất là:

thành Đại La, quan lộ, đường lớn, đường nhỏ, ao hỗ, sông ngòi, nhà cửa dân cư Thậm chí những hàng rào tre, bờ tre, tre xanh vẫn cỏn là giới hạn của

không ít thôn, phường Ví dụ: giấp giới của thôn Cựu Lâu tông Dông Thọ, huyện Thọ Xương như sau

Đông pián quan tang thổ củng chân thanh Dai La va quan hd Hữu Vọng,

củng quan lộ, đối điện với xưởng đúc tiên, lay quan lộ lam gidi, lại một đoạn

giáp quan lộ, dối điện với địa phận thôn Hỗi Mỹ tổng Kim Hoa, cùng lẫy nửa

đường lảm giới

Tây giáp địa phận thôn Vũ Thạch tổng Kim Iloa củng quan lộ, đối điện

với dân cư thôn ấy, cùng lấy nửa đường làm giới, lại giáp xưởng đúc tiền

cùng địa phận thôn Vọng I1Iả và ruộng tịch điền, ruộng mạ, công thé thôn I1ồ¡

Mỹ tống Kim IIoa cùng công thổ thôn Yên Trung Thượng tổng Vĩnh Xương, cùng lấy cây gao làm giới

Nam giáp hề Iiữu Vì ‘ong và địa phận thôn Vọng Đức tổng Thanh Nhàn

củng quan lộ, đối diện với thôn ấy và địa phận thôn Hồi Mỹ, cùng lấy nứa

Trang 23

đường làm giới, lại giáp quan lộ và địa phận thôn Vũ Thạch, lấy bờ rào của

dan cw ban thôn lảm giới, lại giáp quan hồ phường Phục Cổ cùng quan tang,

thổ và ruộng tịch điền, ruộng mạ, củng, lấy cây gạo làm giới

ắc piáp chân thành Đại La và địa phận thôn Vũ Thạch tổng Kim Hoa, lấy ba rao cia dân cư bản thôn làm giới, lại giáp céng thd than Vong HA ban

tổng, lay cây gạo làm giới, lại giáp dân cư thôn Yên Trung Thượng tổng Vĩnh

Xương và quan lộ, đối diện với địa phận công thé thôn ấy và ruộng tịch diễn,

ruộng mạ, cùng lấy quan lộ làm giới [41, tr.57]

Sự tồn tại của những vật làm giáp giới đó như là chứng chỉ cảnh quan

“làng trong phố” ở hăng luong đầu thé ky XIX [68, tr.135]

Không chỉ được phác họa thông qua những nghiên cứu trên cơ sở

nguồn tư liệu địa ba, điện mạo phố phường Há Nội thể kỷ XIX lừng bước

được hiển hiện thông qua những ghỉ chép của những người châu Âu từng có

thời gian sống và làm việc tại đây

Những người Hoa ở ving ven biển phía nam Trung Hoa, rất thạo nghề

°buên bán và đi biển, đã tràn sang nhiều đô thị ở Dông Nam Á từ thế kỷ XVI,

trong đó cỏ Thăng Long - Ké Cho Thể ký XTX, triều đình Huẻ thi hành chính

sách ngoại piao lẫy lỏng nhà Thanh, ưu ái Hoa kiểu, nhiều dot nhập cư mới

của người Iloa lại tràn vào [14 Nội Tuy số dân không nhiều nhưng hầu như

họ nắm tất cA các hoạt dộng kinh tế chủ yếu cúa thành phổ Họ sống trong

những căn nhà gạch đẹp nhất, ở phố khang trang nhất Trong giai đoạn nảy, quang cảnh phố phường IIà Nội có một sự đối lập rất lớn giữa những khu phố

của người An Nam và khu phố Hoa kiều: *Irên khu phố dược những Hoa

kiều lát đá thì những phế phường của người An Nam như thể một đám rong

rêu mọc ký sinh” [31, 1.493] Sở dĩ cá thể khẳng định như vậy là vi, trong

khi: “Phân lớn những phố Hoa kiều được lát ở khoảng đường bằng những

tảng đá cẩm thạch lớn, nguyên thô Như vậy đường phế có thể đi lại được

trong những ngày mưa” |3], tr.494| thì những đường phố người An Nam ở

Trang 24

không hễ được lát đá “Chỉ cần một cơn mưa nhỏ lá bùn lầy ngập ngụa, trong

đó lẫn lồn cả đũ mọi thứ rác rưới mả dân chúng đã dỗ vứt ra ngay giữa dường

phẩ”[31, tr.497]

Các phố khác nhau của Hả Nội lúc bẩy giờ dược phân cách với nhau bởi những cánh cổng lớn chắn ngang các con phố và được đóng lại khi trời

tối Các cổng nảy cực kỳ vững chắc và người ta bố trí ở phía trên một hành

lang nhỏ cho người canh gác Một khi các công này đóng lại thì không thể

nảo vào được các phố bởi lẽ: “Các cổng phân giới các phường phế cỗ có một

cách thức đóng cửa rất độc đáo: một bức lường đá được xây ngang từ đầu này

tới đầu kia của con phổ, trong bức tường này trổ một cửa lớn hình chữ nhật

được đóng khung vững chải và được đóng bằng bến cây đã gỗ tạo thành

khung vuông Những cây đà cã phía trên và dưới của khung nảy được khoan

lỗ theo khoảng cách đêu nhau để tra vào từ hai đầu một loạt những thanh gỗ

tròn dựng song song với nhau Những lỗ phía trên được khoan rất sâu, đến mức người ta có thể nâng từng thanh gỗ tử dưới lên cao, đủ để nhắc dầu phia

đưới của nó và từ đó mớ ra một lỗi đi Hệ thông nảy cho phép mở cửa hết cỡ, bằng cách nâng hết các thanh gỗ, hoặc chỉ hé ra một lỗi đi nhỏ bằng cách đơn gián chí nâng lên một hoặc bai thanh gỗ”|31, tr616|

Những cêng phố ở Ilà Nội lúc bấy giờ như lä một hình ảnh thu nhỏ của

cổng lảng - một công trình tự vệ mang phong vị của làng quê ở piữa chến đô

thành Công phố mang tính chất khép kin, riêng tư, ôm ấp ở trong nó một không gian đặc thù [68, tr.140]

Kiến trúc nhà cửa của phố phường Hà Nội thời kỷ này cũng rất dặc thù

“Những căn nhà được xây dựng không đều, mỗi một nhà theo một đường chỉ

giới khác nhau, đã tạo nên con phổ một dãy nối tiếp những góc lồi lãm” [31,

tr.497] Những ngôi nhà được xây dựng theo kiểu nhà ở - cửa hàng với mái nhà

được lợp ngói hay rơm Tạ Loại nhà này chia thành hai phần có hai chức năng

khác nhau: Gian ngoài, giáp mặt phổ dùng lam cứa hàng còn những gian bên

Trang 25

trong là nhà ở có một đặc điểm là mặt tiên hẹp và chạy dai vao trong Loai nha nảy được chia thành nhiều phòng, thường có một lối đi hẹp và dải, giữa các phần

thường có một hay nhiều khoảng sân nhỏ để hút gió trời vả ảnh sáng cho các

phỏng chỉnh, tuy nhiên các phỏng này thường vẫn rất tôi

Vì tận dụng ngôi nhà vừa để ở, vừa làm cửa hàng nên những cửa hiệu ở

TIà Nội lúc bây giờ không có gian trưng bày hàng rực rỡ như những cửa hàng

ở châu Âu Cửa hiệu chỉ là “Những mái tranh sà xuống dất thấp Mặt trên căn

nhà trông ra đường phố thường chỉ là một tắm khung liếp cơ động, buậc ở

bên trên và người ta nắng nó lên vào ban ngày, giữ nó nằm nghiêng nhờ vào 2

cái gây chẳng Chính ở dưới túp lễu ngẫu hứng đó, vừa để trú mưa đồng thời

tránh nắng, mà người bán hàng bày biện đồ hàng của mình” [31, tr.497 - 498]

Đây là hình ánh phố biến trên các con phố ờ Hà Nội thời kỹ này

Thông qua những nét phác họa trên, có thể thây trước khi người Pháp

đặt chân tới Hä Nội, thành phố vẫn chưa có bước chuyển mình theo hướng đô

thị hiện đại Phố phường Hà Nội vẫn mang những nét đặc trưng của người

Hoa và người Việt được quy hoạch một cách tự phát mà không có sự định

hướng của nhà nước

1.2.Tuyến nhấ Trảng Tiền — Hàng Khay — Tràng Thí trước thời

Tháp thuộc

1.2.1 Vài nét sơ lược về tuyển phố

Trảng Tiền Hàng Khay Trảng Thi ngày nay là một tuyến phố đẹp

và náo nhiệt thuộc quận IIoàn Kiếm, thành phố IIà Nội Theo trục đông - tây, bắt dầu từ đường 'Iyần Quang Khai dén phố Hàng Khay là phố

708m Tiếp đó là phố 1làng Khay - con phố nối liền phố Trảng Tiền với phố Trang Thi, dai 160m Bat đầu từ phổ Ilàng Khay đến đầu phố Nguyễn Thái Học — đường Điện Hiên Phủ (cuối) là phố ràng ‘Thi dai 860m

Trước thời Pháp thuộc, tuyến phế chỉ là sự ghép nối của những đoạn

đường mòn thuộc đất các thôn lang ở huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức

Trang 26

Tên gọi mỗi phố do dân chúng tự đặt ra và đã quen gọi từ lâu gắn với

những đặc điểm nỗi bật trên con phổ: gọi la phố ‘Trang ‘Thi vi phé di qua

khu vực Trường Thi Ha Ndi thé ky XTX; goi la Hang Khay vì có lễ lúc dầu

việc khäm trai — nghé chinh oủa cư dân sống trên phố chủ yếu làm trên

khay; gọi là lrảng Liên vì có một xưởng đúc tiễn lớn được mé tai day vao

năm 1803 và hoạt động cho dén khi bị bắt bó vào năm 1887

Sau khi Ha Nội trở thành nhượng địa của Pháp (1888), tuyến phổ bắt

đầu có tên chính thức Thời kỳ đầu thuộc Pháp, phố Tràng Thi được gọi là

Rue Camp des Lettrés, phd Hang Khay và 'Iràng Tiền (đoạn từ quảng trường

Thả hát lớn đến hết phố Hàng Khay ngày nay) được gọi Rue Incrusteurs`;

một đoạn phố Tràng Tiên (đoạn từ quãng trường Nhà hát lớn đến đường Trần

Quang Khải) được gọi là Rue de France Sau đó, phố Camp des Lettrés được

đổi lai 1A Rue Borgnis Desbordes con phố Incrusteurs được đặt tên JA Rue

Paul BerÉ Cách mạng tháng Tám thành công, Hà Nội Ltr trung tầm dầu não

của thực dân Pháp đã trở thảnh trung tâm cách mạng của cả nước, thủ đô của

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Ngày 1-12-1945, Chú tịch Uý ban nhân

dân thành phố Trần Duy Hưng dã ký duyệt tờ trình về việc đặt tên cho các

phd ở Iã Nội Lần đầu tiên, việc đặt tên phố được quy định theo những

nguyễn tắc thống nhất của Nhà nước Việt Nam mới, trong dé nguyén tắc dau

tiên là phải giữ nguyên tên cũ của Hả Nội 36 phố phường Chính vi vậy, một

loạt tên phố gần gũi, thân thương với người dân thủ đô như llàng Đảo, Ilàng

di ồn lử nghẻ truyền hông của các cư dân sinh

đẻ là nghề ham xà cử Côi im trai dược dưa vàn Bắc Kỷ khoảng năm

1820, íL lâu sau thì vào Hà Nội và có những Liên bộ rất nhanh Các thợ thủ công Hả Nội, đặc biệt khóo lay, tranh với the Nam Dinh ur thé trong nghệ thuật khẩm xã củ Cho tối năm 1878, việc sản xuất mặt hàng này com rit nhớ bé nhưng chất lượng rất tink

poi như vậy

Trang 27

ngắn xưa, gắn liền với lịch sứ hình thành và phát triển của Hà Nội Cũng theo vin ban nay, phố Borgnis Desbordes dược đổi là phố Trang Thi, phố Paul

Bert duge tach ra làm hai phé gọi là phế Trang Tiền và Tlang Khay, đoạn phổ

Ruc de France dược dỗi là phố Đền Thủy

Thời tạm chiếm, theo Nghị định ngày 28-2-1951 của Thị trưởng

thành phố Hà Nội Thẩm Hoàng Tín về việc dat tén mdi cho các phố, phố

Trảng Thi được đối là phế Mỹ quốc; một đoạn phế Paul Bert và phổ Dần Thủy được đổi lả phố Pháp quốc; một đoạn phé Paul Bert (doan từ ngã tư

Đng Khánh — phố Hàng Hải đến Ty Cảnh bình — Công an quận Hoàn

Kiếm, tức phô Ilàng Khay cũ) được đổi là phố Anh quốc Từ ngày giải

phóng thủ đồ, ta xóa bổ các tên này, khôi phục lại các tên cũ Phố Mỹ quốc

được đổi là phố Irảng Thị, phố Anh quốc được gọi là phố Hàng Khay, phố Pháp quốc đổi là phố Tràng Tiền Các tên gọi nảy được giữ nguyên cha đến

ngây nay

1.3.2 Cảnh quan chung của tuyễn phố

Ở phần trên chúng ta đã pháo họa một số nét co ban về điện mạo phố

phường Hà Nội trước thời kỳ Pháp thuộc Vậy trong bối cảnh chung đó, tuyến

đường Tràng Tiển Hảng Khay Tràng Thị hiện lên như thế nảo?

Đường Hàng Khay — Tràng Tiền vốn có sẵn từ thế ký XVI khi Chúa

Trịnh cho đắp một con đường từ cửa Tuyên Võ trước Phủ Chúa ra đến bờ sông Iléng, ngăn đôi hô IIoàn Kiếm thành hỗ Tả Vong và hề IIữu Vọng Con đường

Chúa ngự được lát đá tảng để voi ngựa có thể đi lại dược mỗi khi nhà Chúa ra

lầu Ngũ Long ở cạnh cửa ô Tây Long Thế nhung đến năm 1788, khi Phủ Chúa cũng như lâu Ngũ Long không cỏn, thì con đường lát đá tang bị người ta cậy ra

để làm việc khác, cỏ mọc làm che lấp dần, lỗi di chỉ còn là con dưỡng môn

bình thường lẫy lội về mùa mưa

Được hình thành muộn hơn đường làng Khay - Trảng Tiền, đường

‘Trang ‘Thi la mét con đường cũ có từ đầu thế kỷ XIX khi lập ra lrường thi

21

Trang 28

Hương Hà Nội ở phía đồng nam thành Thăng Long trên địa điểm lại giữa

con dường nảy Tà những con phố từng tổn tại thời xưa cũ nên quang cảnh

tuyến phố cũng giống như quang cảnh chung của đường phổ TIả Nội lúc bây

giờ Wilham S.Logan d& miéu tả trục tuyển nảy vào thởi điểm dầu những năm tắm mươi của thể kỷ XIX lả: “Một con đường ngoằn nghèo dải 1,Skm,

dung lién sát với cổng thành nhưng chỉ với một cụm rải rác các ngôi nhà

giữa những ruộng lủa về phía ‘Irang ‘Thi Ở phía hd Hoàn Kiểm, sự phát

triển của khu nhà ở liên tục hơn, nhưng ruộng lúa vẫn có đây ở bên trong các

khấi phế” [87, tr.121-122]

Hãi ký của Honnal — trủ sử đầu tiên ở Hà Nội — cảng khẳng định tính

chính xác của những mô tả trên khi ông đưa ra những nhận xét về phổ Thợ

Khám lúc bấy giờ: “Đường ph đó hợp và lầy lội, hai bên có những túp lễu

tranh, là nơi ở của đám dân chúng khốn khế bao gồm những cửa hiệu nhỏ của người dân bản xứ và những phu phen” [31, tr.539]

Xung quanh tuyến phố tồn tại rất nhiều các nhà tranh vách dất “thắn

thỏi và ban thỉu” [15, tr.42] che lấp tâm nhìn trông ra hỗ Hoàn Kiếm Kiến

trúc những ngôi nhả này vẫn là kiểu nhà ống truyền thống “ có nhiều những

gian hàng nhỏ Những gian tầng trệt, khá bẵn, trần trụi và xấu xi Một đấy

những căn phòng hẹp, bị cắt quãng bởi những mảnh sân, ở đỏ nước mưa

cháy xuống đã làm mốc rêu những phiển gạch, kéo dải từ mặt tiền nhả đến

trong vườn, hoặc đến bờ hỗ, xa, rất xa Thững gian buồng và những kho hàng ở bên trong nhà, những xưởng thợ ở phía bên ngoài, người qua lại đều

nhìn thấy rõ” [31, tr 536]

Như

, trước khi có những hoạt động xây dựng của người Pháp,

tuyển phố Tràng Tiền — Ilàng Khay - Tràng Thi vẫn mang đặc điểm truyền

thống Việt Nam Đường phố hẹp, hai bên là những ngôi nhà vừa ở vừa sẵn

xuất và buôn bán với các mặt hàng gỗ khảm xả cử độc đáo Đó là kiểu nhà ở

đỗ thị Hà Nồi thế ký XTX, nhả một tầng lợp tranh xen lẫn nhà gạch phát triển

2

Trang 29

liên tiếp theo chiễu sâu với các sẵn trong Điều nảy hoàn toán Lương đồng với cảnh quan chung của nhố phường Hà Nội lúc bấy giờ

Tiểu kết chương 1

Trước khi người Pháp đặt chân tới Việt Nam, Hà Nội là một dỗ thị

phong kiến Cấu trúc đô thị Hà Nội mang những đặc trưng điển hình của

một thảnh phố nông nghiệp truyền thống Đông Nam A Bé là sự hòa trộn

giữa lảng xã trong không gian đồ thị, tính pắn kết công đồng trong đời sống,

sinh hoạt và hoạt động kinh tế nông nghiệp tiểu thủ công nghiệp [5,

tr.12] Hai thành phần chỉnh tạo nên cấu trúc không gian đô thị, chỉ phối sự

phát triển của đô thị Hà Nội trong lịch sử chính lả khu thành nội và khu thị

đân buôn bán - thường được gọi là “36 phố phường"

Toản bộ khu vực 36 phố phường lập trung nhiều phường hội thủ công,

mỗi phường sản xuất một mặt hàng riêng, chiếm một hoặc vai phô Cách tổ

chức phường đô thị hoàn toàn khép kín, các phố được ngăn cách với nhau bởi

những chiếu công lớn, mang phong vị của một ngôi làng truyễn thông Mang

lưới đường sả trong khu vực nhỏ hẹp, đa phân các phố là đường đất, không có

vi» hẻ, thường lẫy lội lúc trời mưa và bụi bặm khi trời nắng Ổ các phổ Hoa

kiều, dường sá có khá hơn nhưng nhỉn chung vẫn chưa dược cải thiện:

“Những con phố thường là khá hẹp, được lát gạch theo kiểu Trung Quốc,

nghĩa là chỉ được lát ở mặt lòng dường trên một bẻ rộng khoảng chừng Im va

những viên gạch vuông thì phần lớn đã bị vỡ nút hoặc xô lệch Dọc theo hai bên đường, thực sự lả những vũng nước đọng hôi thếi hoặc không có lỗi

thoát” [32, tr.62] Hai bên đường những mái tranh lụp xup xuất hiên dày đặc

không tuân theo bất kỳ một hàng lối và quy định nào đan xen với những ngôi

nhả ống xây gạch có mặt tiền hẹp, lòng nhà sầu Sự phát triển theo dang tự nhiên trong hướng của các tuyến phố củng các ngôi nhà bên đường khiến cho

hình thái cấu trúc đô thị của khu vực có đặc điểm tự do, không đằng đều Đây

là yếu tổ tạo nên nót đặc trưng đậm đả và riêng biệt cho phố phường Hả Nội

23

Trang 30

nói chung vả tuyển phố Trang Tiền — Hang Khay — Trảng Thị nói riêng, Đúng

như học giá Nguyễn Quốc Thông từng nhận xét: “Chính cầu trúc đô thị không

đồng đều, những dãy phế ngắn vả hẹp, những ngôi nhà thấp nhộn nhịp dân cư

dến từ ngoại ô và những vùng quê xa xôi dã mang lại cho Hà Nội một đáng về

đặc biệt về diện mạo đồ thị" [71, tr.21-22]

24

Trang 31

Chirong 2:

PIÓ PHƯỜNG HÀ NỘI GIAI DOẠN 1873-1920

(luyến phố Tràng Tiền - Hàng Khay — Tràng Thì)

2.1.Hệ thống chính quyền thành nhề Hà Nội thời Pháp thuộc

Năm 1867, sau khi đánh chiếm được toàn bộ Nam Kỷ lục tỉnh, cùng

với việu thiết lập hệ thống chỉnh quyền oai trị ở Nam Kỳ, thực dan Phap bat

đầu nhỏm ngó ra Bắc Kỳ Những phat dai bac đầu tiên bắn vào Cửa Bắc thành

TIA Nội ngày 20 tháng 11 năm 1873 đã mở đầu cho kế hoạch xâm chiếm Hà Nội Trong lần đúng độ này, mặc dủ quân dân ta đã chiến đấu rất dũng câm

nhưng do chênh lệch lực lượng, thành Hà Nội đã rơi vào tay Pháp Nhăm vin

hải tình thổ, nha Nguyễn đã kỷ với Pháp hiệp ước 1874 nhượng chu Pháp một

khu đất rộng 2,5ha ở Hà Nội để xây dụng chỗ ở cho Lãnh sự Pháp với một lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người Sự lắn dần của Pháp cộng với sự

bal lực của triều đỉnh Huế đã dẫn đến diện tích khu nhượng địa dược mỡ rộng

tới 18,Sha Ngày 28-8-1875, Pháp bắt đầu đặt lãnh sự quán tại Hà Nội Như

vậy, về mặt pháp lý, mặc dù Bắc Kỳ chưa chính thức trở thành đất “bảo hộ”

của Pháp, nhưng trên thực tế, Pháp đã dặt dược chân vào Hả Nội, quá trình

ảnh hưởng của Pháp ở I1ả Nội chỉnh thức bắt đầu

Mặc đủ buộc phải trao trả thành 1à Nội cho triều đình Huế sau khỉ

đạt được những thỏa thuận có lợi, nhưng tham vọng của Pháp không dừng

lại ở đó Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ, Pháp lại xúc

tiễn kế hoạch xâm lược Bắc Kỳ lần 2 Ngày 25 tháng 3 năm 182, quân

Pháp do Henri Riviere chi huy dem theo 2 chién ham cung 300 quan ra Bắc

Kỳ và ngày 3 tháng 4 năm 1882 bất ngờ đồ bộ lên IIà Nội Đến trưa ngày

25 thang 4 nim 1882, quân Pháp đã chiếm được thành Hà Nội Sau đó, với

các hiệp ước Harmand và Patenôtre, Pháp thực sự chiếm lĩnh Hà Nội đẳng

thời làm chủ hoản toàn Việt Nam và Đông Duong.

Trang 32

Ngay sau khi làm chủ được Hà Nội, thực dân Pháp rất chú trọng đến việc xây dựng cho Hà Nội một bộ máy cai trị về mặt hành chỉnh Ở cấp thành phố, bộ máy đó bao gdm lIội đồng thánh phố và Tòa Đốc lý thành phổ Ở cấp cơ sở là hộ và phố

Hội đẳng Thành ph

Ngay 19-7-1888 Toản quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập tại

Hà Nội một Hội dễng thành phố, dứng dẫu là một Đắc lý kiêm Chủ tịch Hội

đồng Thanh phố vả và 16 ủy viên (lúc đầu là 12 người Pháp, 2 người Việt, 2

người Hoa, sau là 4 người Việt, không còn người Iloa tham gia nữa) Cáo uỷ

viên của Hội đồng Thành phố đều đo 'Lỗng 'Trủ sử bố nhiệm với nhiệm kỹ là 3

năm Giúp việc cho Đốc lý còn có hai phó Đốc lý và Toà Đốc lý

Cách tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thành phá được Nghị định

ngày 19-7-1888 quy định: Hội đồng Thành phổ họp thường kỳ mỗi năm bến

lần, vào đầu các tháng hai, năm, Lám và mười một, mỗi phiên họp kéo dai 10

ác phiên hop bất thường sẽ dược tổ chức nếu có để nghị của từ 3 uỷ

Hội dồng Thành phố Hà Nội đã được hoàn thiên thêm về tổ chức bing

một loạt các Nghị định của Toàn quyền Dông Dương và các Sắc lệnh của

Tổng thống Pháp trong những năm tiếp theo Tổ chức nảy ngừng hoạt động

sau sự kiện Nhật dảo chỉnh Pháp ngày 9-3-1945

Trang 33

31-12-1888 của Công sứ - Đốc lý Thanh phố với chức năng tương đương với

các Toả Công sử các tính Thời gian đầu, tổ chức của Toà Đốc lý chỉ bao gầm

một số phỏng, ban sau: Văn phòng, Phỏng Kế toán, Phòng Cảnh sát, Phòng

Quan lý giao thông dường bô, Phỏng Địa chính VỀ sau, tổ chức vả chức năng của các phỏng, ban thuộc 'Toà Đốc lý Thành phố mới được bổ sung vả

sửa đổi lại cho phủ hợp với sự phát triển về địa giới hành chính và đô thị hoá

của Thành phổ [20, tr.34-41 ]

Hộ trưởng và Phô trưởng

CẤp cơ sở thành phế TIà Nội là các khu — hộ vả phố, cùng với đá là

hệ thống các hộ trưởng (trưởng khu phế) và phổ trưởng người Việt, do chính

quyền Pháp sắp đặt Trong con mắt của người Pháp, hệ thông này, đặc biệt là

các Phố trưởng được đánh giá lá có vai trò hữu hiệu Một Nghị định năm

1897 quy định chung chung, mập mờ về nhiệm vụ các Irưởng phố la: dan xếp, hòa giải những xích mích, tranh chấp giữa những người Việt, để chỉnh

quyền thuộc dịa bớt dị một nhiệm vụ mà họ không thể nào làm dược Các

Nghị định những năm sau đỏ quy định cụ thé hon, theo đó, những viên chức

này có nhiệm vụ theo dõi và bảo cáa Đốc lý những sự vu hén quan đến việc giữ pìn trật tự chưng, lập đanh sách những đối tượng dòng thuế, theo dõi tỉnh

thỉnh đóng thuế của những người đã thay đỗi nơi cư trủ; phối hợp với các viên

chức chuyên môn của thành phố trong thực thi các quy dịnh về vệ sinh thành

phố; có quyền nhận và chứng thực một số giấy tờ Ngoài ra, khi được cấp trên

yêu cầu, họ cỏn phải tiến hành điều tra, xác minh những sự việc đối tượng

thuộc phạm vi khu vực mỉnh quản lý [61, tr.170-171]

Với việc thiết lập bệ máy hảnh chính mới, thực dân Pháp có được một

công cụ đắc lực để triển khai những dự án quy hoạch, chỉnh trang lai [Id Noi

trong những năm tiếp theo Trong bối cảnh ấy, đô thị Hả Nội nói chung va

tuyến phố Trảng Tiên — TIảng Khay — Tràng Thỉ nói riêng có những chuyển

biến quan trọng về quy hoạch và điện mạo

27

Trang 34

2.2 Tuyén phố Tràng Tiển — Tầng Khay — Tràng Thi trong những

năm 1873-1888

Mỡ tuyển đường chiến lược nỗi khu Nhượng địa và thành Hà Nội

Khi mới chiếm đóng Hà Nồi, thực dân Pháp đã tiến hành công việc quy hoạch, xây dựng một số tuyển phố 'Irước hết, nhà cầm quyển cho mở một

trục phố mới từ công khu nhượng địa giáp bờ sông tới cửa Nam thánh IIà Nội

trong đó có quân dội Pháp dồn trú Irục phố dó chính là tuyển đường, Trảng

Tiền Ilàng Khay Trang Thi ngày nay Có hai lý do khiến chính quyền

thực đân lựa chọn mở tuyển đường này

“thứ nhất, dựa trên những nhận định về vị trí mang tính chiến lược của

tuyến phố Đầu năm 1883, đội quân viễn chỉnh của IIlenri Riviere ở IIà Nội

chỉ đóng ớ hai địa điểm: ở phia Đồng lả khu nhượng địa và ở phía Tây là

trong thành Hà Nội Mọi liên lạc thường xuyên giữa hai dia điểm bị cắt đứt từ

ngày 19-5-1883, ngày Riviere tử trận tới ngày 3-6-1883, ngày lực lượng trong thành Hà Nội dược tăng viện lên tới 500 người Ngày 4-6-1883, chỉ huy

trưởng Morel Beaulieu gửi thư cho Thống đốc Nam Kỳ cho biết: “Khu

nhượng dia ngỗn ngang đủ thứ, hiện nay rất khó xây dựng Toàn bộ phần

phía Tây ngập bùn sau mỗi trận mưa, những chỗ giữa các công trình vả taluy cọc thực sự biến thành đầm lầy Khu thành 1Ià Nội sẽ là tâm điểm chúng ta,

trong đỏ khu nhượng dịa sẽ chỉ là lếi ra sông để nhận tiếp tế” |81, tr E| Trong

những điều kiện đó, người Pháp đã nhận ra tầm quan trọng của tuyến phố Tràng Tiền — Ilàng Khay — Tràng Thỉ - con đường trực tiếp nối nhượng dia

với thành Ha Nổi và khu phố buôn bán Chính vì thể, người Pháp đã ra sức

cải tạo, quy hoạch tuyến phổ này và biến nỏ trở thành trục chỉnh của một khu

phổ Pháp sẽ nảy sinh sau đó

Vị trí địa lý mang tính chiến lược của tuyến phố càng được Andrẻ

Massen khẳng định trong Hà Nội giai đoạn 1873-1888: “Không gì có thể

bảo trước mat phé nim ở ngoại õ toàn đầm lầy như phố Hàng Khám có ngày

28

Trang 35

lại trở thành một trưng tâm náo nhiệt của Hả Nội Khu phổ kiểu Pháp chi

này sinh từ con đường đỏ mả không ở nơi nào khác đơn giãn vì con dường

nảy trực tiếp nối khu nhượng địa với thành HIả Nội và với khu phế buôn

bắn” [1, tr.69-70]

'Thứ hai, từ việc quy hoạch và cải tạo tuyến đường 'Iràng Tiền — Hàng

Khay — Tràng Thị, chính quyền thực dân có thể phát triển vả mở rộng khu

nhượng dịa ra bên ngoài thành phố mới chỉnh phục dỗng thởi có điều kiện dễ

phô trương về cái gọi là “sứ mạng khai hóa” của nền văn minh Pháp quốc đối với những người bản xử

Năm 1883, người Pháp cho mở con đường đầu tiên là đường Paul BerL

Những quy hoạch của chính quyền thực đân đã làm bộ mặt tuyến phô có

những thay đổi mạnh mỡ Từ một “con đường rộng chưa tới 3m đầy những hồ

nước hôi thổi” (ném 1883), nim sau phố đã được “mở rộng như một đại lộ”

T31, tr.515] và đến năm 1885 nó đã trở thành “một phố được trải đá đấm khá tốt, rộng từ 16 dến 18m” |32, tr66J Không chỉ quan tâm đến việc lát đá ở

lòng đường, chính quyển thuộc địa còn cho lát vỉa hẻ và quy hoạch không

gian hai hên đường phố Ngày 15-1-1887, mật khoản tín dụng 600 lrane được

chấp thuận cho phó công sử Hả Nội dễ lát vĩa hè phố Paul Bert với mép bằng

gach [1, tr.137] Và sau đó ở hai bên đường, người ta cho trồng những cây

phượng vĩ hoa dé rac Quang cảnh này dã dizgc Dr Hocquard ghi lại rất rõ

nét: “Khi vượt qua công, chủng tôi thấy ngay một đại lộ lớn trồng nhiều cây

và hai bên đường là những cái nhà lợp tranh: Đó là phế Llàng Khẩm (Thợ

Kham)” [31, #598] Nhung sau đó các chủ hiệu dễ nghị dẫn bỏ đi dễ lấy anh

sảng, không khi đỡ 4m thấp và bớt muỗi về mùa mưa và cũng là để làm mất cái nạn ve sầu kêu làm bọn Tây khó ngủ [82, tr.663]

Sau đường Paul Bert, chính quyển thuộc địa tiếp tục cho cải tạo và quy

hoạch đường Tràng Thi Vào năm 1884, nếu như Tràng Tiên — [làng Khay đã

là một con đường được mớ rộng thì đường Tràng Thị chưa phải là một đường

29

Trang 36

phổ Chúng ta có thể thấy rõ điều nây khi đọc những dòng hỗi ký của một sĩ quan Pháp: “Ra khỏi thành phổ (tức là di hết phố Hàng Khay) thi dén con đường đẩy bóng râm mát, bên trái là đồng ruộng, bên phải là lãy tre dày trong

có tiếng sé chiép chiếp I.Ẻ đường cảnh tre ram va cao ngã xuống tận dầu

người qua đường, bên trong lũy tre những cô gái nhìn khách nước ngoài vẻ tỏ

mmò Phía trái con đường, giữa đám ruộng thấp có một khu nền đất chung

quanh có tường xây bao bọc khá cao Đó là trường thi Hương lúc này thì cả

khu bỏ hoang tàn và đỗ nát, tường nhà vỡ, mái sụt, cổ mọc khắp nơi ” [82,

tr783] Tuy nhiên, sau năm 1890, diện mạo nảy đã hoản toản biến mất

Đường Tràng Thị đã là một đường phổ 'Lây với cái tên Borgnis I3esbordes:

“Đường phố thắng tắp, mặt đường rộng, trải đá và có vỉa hè, hai bên đường

trồng những cây bảng lớn soi bỏng mát, tối có đến thắp sáng” |§2, tr.784]

Sau khi được cải tạo theo hướng giao thông hiện đại, trục phố Irảng

Tiền — làng Khay — Trang Thi thực sự trở thành trung tâm, xuất phát điểm

của hệ thống giao thông kiểu phương Tây ử Hà Nội Sở dĩ có thể khẳng định

-Đỡ bổ tà nghiêm cắm việc làm nhà tranh, xây dung nhà gạch

Mặc dù dã tiến hành đầu tư cải tạo nhưng tuyến phó có vị trí chiến lược

nảy vẫn làm chính quyền thuộc địa cảm thầy đau đầu vì quang cảnh hai bên

đường vẫn đầy ắp những ngôi nhà lá và thiếu hụt những ngôi nhà kiểu châu

Âu Rự tổn tại các khu nhả tranh là một vẫn để rất lớn không chỉ trong quy hoạch tuyến phố nói riêng, đô thị thành phố nói chung mà còn liên quan đến

an toàn trong khu vực Do nhà được làm bằng các vật liệu dễ

30

Trang 37

chen chúc và san sát nhau nên thường xuyên xãy ra hóa hoạn, có khi thiểu Irụi

cá một đấy phố hang mấy trăm nóc nhả Trước tỉnh hình đỏ Phó Công sử HÀ

Nội ký Nghị định ngảy 17-9-1886 nghiêm cấm xây dựng cũng như sửa chữa

các công trình bằng tranh ở khu vực có mặt tiền trên các phố Hảng Khay, Hảng 'Iyống, Hàng Chiếu [16, tr.222] tiến ngày 26/12/1886, 'Tẳng trú sử Paul

Bert lại ký một Nghị định gia hạn đến ngày 1/1/1888, phải đỡ bổ tất cả các

nhả làm bằng tranh ở phé Paul Bert’ ‘liép do, ngày 16/3/1888 Công sứ Pháp

& IIA Nội lại ra một Nghị định cấm xây cất những nhà bằng lá cách dưới 15

mét những nhà xây bằng gạch và lợp ngói trên đại lộ Hoàn Kiểm, các bến

sông, các phố 'lrảng Tiền, Hàng Thêu, Ngô Quyển, Nhà Chung, Hàng Bông,

llàng Chiểu, Đường Thành, làng Bai, [ang Ca, M3 May, [lang Buém va

đoán đầu phố Trảng Thị |72, tr.27|

Chính sự đầu tư cải tạo và tác dụng của những Nghị định được ban

hành đã làm quang cảnh nhà cửa xung quanh khu phố cũng có sự thay đổi rõ

rét Méu như vào năm 1884 hai bên phố Trảng Tiền — Hang Khay: “là những

ngôi nhà tranh, hai hay ba cửa hiệu của người Trung Quốc, TẤt sạch sẽ và hầu

như sang trọng, bắt đầu cho mat day những gian hàng nhỏ” [31, tr.533| thì sau khi những ngôi nhà tranh trên tuyến phổ bị dỡ bỏ, lần lượt thay thé là

những nhà gỗ tre lợp tranh lá xen kế với một sé it nha xây gạch binh thường

được dựng lên Dần dẫn đọc dường phổ, những nhà hảng của người Pháp mọc

lên và họ bắt đầu xây cất nhà gạch có gác thay thế cho nhà gỗ lụp xụp Sự thay đổi nảy cảng được khăng định khi tờ Tương lai Bắc Kỳ miễu tả về những

ngôi nhà trên phố Hàng Khay vào năm 1WB8: “Chúng ta dang chứng kiến sự đổi thay của khu phố này Khắp nơi, những ngôi nhà gạch lịch sự và những

cửa hàng đẹp đế đã đang mọc lên trên những mảnh đất mà xưa kia là nơi cư

# Trong thực tế, Nghị định này đuổi dân nghèo ra khỏi nơi sinh sông của họ, tạo điền kiện cho chính quyền thuộc địa cướp không đuọc mật điện tích đắt dai đáng kê,

31

Trang 38

trú tập trung của những người An Nam, những ngôi nhà làm mỗi cho hỏa

hoạn và dịch bệnh” |87, tr 142]

Lúc đầu, chỉ có những cửa hiệu nhỏ như cửa hiệu sản xuất nước có ga,

tiệm bánh, tiệm tạp hóa Sau đó, có thêm cdc quan cả phê (quản cả phê của

ba Beire được mở đầu tiên ở khu phố nây vào năm 1883), quán rượu (năm

1885 đã có tới sáu quán rượu ở phố nảy), một hiện thợ cạo có bán nước hoa,

một cửa hàng được phẩm (nhà Julien Hlane ở chỗ góc bờ hồ), một phỏng doc

sách và cho thuê truyện Tất cả đều là những vật phẩm phục vụ cho đám quan chức Pháp và gia đình, các nhà thực đần tư bản củng các sĩ quan, binh

lính Pháp J.Boissiere mô tả phế Iràng Tiền vào cuối thể ky XIX: “Doe thea

phổ Paul Bert có những cửa hàng bóng lôn như tiệm cà phê, nhà hàng ăn, như

đổ cho người du khách mới cặp bến biết được rằng muốn nói gì thì nói, Hà Nội vẫn là một thành phố Pháp Hãy đi qua để phát hiện ra những biễn hiệu

“Bazar de Paris” (Chợ phiên Paris) “Aux fabriques de France” (ở các xưởng

chế tạo Pháp quốc) Hiệu tạp hóa, cửa hàng thám, cửa hàng để sắt, hiệu

thuốc tây, hãng buôn bán hàng thuộc địa, thôi thì đủ thứ” [32, tr.67]

Xây dựng một sé công tình công cộng

Mặc dù chưa “bình định” được Bắc Kỳ nhưng ngay tử tháng 10-1875,

người Pháp đã chú trọng xây dựng IIà Nội nhằm biến 1Ià Nội thành một trung

tâm chính trị, quân sự ở Đắc Kỷ dễ nhanh chóng thực hiện kế hoạch khai thác

thuộc địa, bắt đầu bằng việc khởi công xây đụng các công trình kiên cỗ trên

khu nhượng địa Các công trình ở khu nhượng địa bao gom tỏa Lãnh sự, sở

chỉ huy quân dội, nhà ở cho sĩ quan, trại lỉnh 'Lất cả các công trình nay déu

được bao quanh bằng các ụ đất và các hàng rào cọc gỗ Tuy nhiên, một thời

gian sau đó, vì cho rằng chủng gây nên những điều bất lợi, làm cách biệt khu

nhượng địa với thánh phố nên tẤt cả gác cọc gỗ và các ụ đất bao quanh khu

nhượng địa đã được dỡ bỏ trong năm 1886 Ngoại trừ Tòa lãnh sự, toàn bộ

các ngôi nhà ớ đây đểu được xây dựng một cách đơn giản theo chủ nụ

32

Trang 39

công năng duy lý Đặc điểm chung của các công trình là mặt bằng hình chữ nhật dơn gián với hành lang rộng bao quanh Vật liệu chủ yếu sử dụng là vật

liệu địa phương kết hợp với kết cấu thép nhẹ mang từ Pháp sang

Sau khi làm chủ được Hà Nội và tiến hành chỉnh trang vỀ mặt dường

sả, chỉnh quyền thuộc địa rất quan tâm đến việc quy hoạch không pian xung,

quanh hd Iloan Kiém, đặc biệt chủ trọng xây đựng khu phố Tây mà trục phố

Tràng Tiền — Hàng Khay — Tràng ‘Thi 1a trung tâm

Để có đất làm đường và xây dựng khu phố Pháp, vào năm 1886, chính

quyền thude địa đã phá hủy nhiều ngôi chùa cổ ở khu vực xưng quanh hồ

Hoàn Kiếm bất chấp những lá đơn khiếu nại của dân chứng trong khu vực

Trong đó điển hình là việc phá hủy chùa Phổ Giác Chùa Phổ Giác tục gọi là

chia Tau (người Pháp viết Cua Tao) vì ngôi chùa cỗ này xưa kia có một Tâu

tượng (chuồng xol) do các tủ binh người Chăm tréng nom Sau năm 1882,

thực dân Pháp chiêm đóng nơi này làm cơ quan tình báo quân sự Năm 1886 -

còn đến 15 cửa ô (trước là 16, sau cửa 6 Nhân IIòa quãng bệnh viện Quân đột

108 ngày nay dã bị mất, có thể đo bị sụp lớ xuống sông Hằng) Nhưng sau khi

khi Pháp hạ Thánh Hã Nội lần thử 2, các của ô đều bị đỡ bó (chỉ đế lại ô

Quan Chưởng do có ý kiến bảo tồn của trường Viễn Đông Bác Cổ), trong đó

có cửa ô lây Luông ở Irảng Tiển Mếu như trước dây cửa ổ này có thể là

“một vỏm cuốn uến cong rộng lớn xây gạch chắc chắn vuông vin” thi dén

năm 1886 nó đã bị phá hủy và được thay bằng một cửa ô mới đơn giản hơn

rất nhiều Cửa ô mới nay được gọi là cửa Pháp Quốc, ở lối đi vào khu nhượng

địa, với 2 cột trụ xây thẳng đứng, trên có đấp hình 2 con lân [32, tr.63]

33

Trang 40

Từ phần đất chiếm dụng được, chính quyền thực dân đã xây dựng một

cụm công trình công sở hành chính - chính trị, thường được gọi là “Bốn Tủa”

ở phía đông nam hỗ Iloàn Kiểm Cụm công trình kiến trúc nảy được xây dựng

trong những năm 1886-1887, pềm tòa Đốc lý, Kho bạc, Pưu diễn và Phủ

"Thống sử, ở 4 póc đối xứng nhau, giữa lả vườn hoa Paul Bert với bức tượng

của viên quan cai trị này Tiếp đó, chính quyền thuộc địa còn xây đựng một số

công trình phục vụ hoạt động quản lý hành chính trên trục phố lrảng Tiền —

Ilang Khay Trảng Thi Điển hình là công trình Nha Kinh lược Bắc Kỳ Nha Kinh lược Bắc Kỳ bắt đầu được thiết lập trong năm đầu niên hiệu Ilàm Nghĩ (1885) Sự tồn tại của tổ chức nảy là kết quả của một sự thóa hiệp nửa vời của hai thế lực trước là đối địch sau thành cấu kết Triều đỉnh Iluế muén théng

qua cơ quan nay dé vot vat chal quyền lực còn lại của mình ở Bắc Kỳ, còn

Pháp thì coi Kinh lược như một công cụ để nắm lay trong việc bình định và

gai trị Bắo Kỷ, qua đó thực hiện âm mưu tách Bắc Kỷ ra khỏi triều đình Huế

Sự thỏa hiệp này dược thê hiện rõ nét trong những quy định về quyền hạn của

người đứng đầu Nha Kinh lược: Kinh lược Bắc Kỳ có toàn quyền thay mặt

triều đình để cai quản Bắc Kỷ, mọi hoạt dộng của Kinh lược Bắc Kỷ đều phải

đặt dưới sự chỉ đạo và giảm sát của Thống sử Bắc Kỳ

Nha Kinh lược Bắc Kỳ bắt đầu được xây đựng từ thing 7-1886, đến

tháng 2-1887 thì hoản thành Địa điểm dược chọn để xây dựng cơ quan này là

tại khu đất vẫn trước đây là Trường Thi Hà Nội Công trinh nằm trên một mảnh đất vuông văn quay mặt ra ba phố Borgnis Desbordes (Trang Thi), dai lệ

Jaurépuiberry (Quang Trung) và đại lộ Rollandes (Hai Bà Trưng) Kiến trúc

của đh Kinh lược được mô tả: “là một tòa nhà lớn, khiếm nhường nhưng

được trang trí sang trọng, bên trong có một khoảng sân rộng với một bể cá

vâng, hòn non bộ và nhiều chậu hoa Tòa nhà đã được trang trí lồng lẫy nhiều

ức màn trướng gim thêu, hoành phí câu đối và những bản văn khắc thiếp

vàng trên những bài vị sơn sơn đó của xứ Đắc Kỳ, những đề gỗ đẹp, những

34

Ngày đăng: 17/05/2025, 19:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.2:  Diện  tích  dất  cắt  làm  đường - Luận văn diện mạo phố phường hà nội giai Đoạn 1873 1945 trường hợp tuyến phố tràng tiền hàng khay tràng thi
ng 3.2: Diện tích dất cắt làm đường (Trang 62)
Bảng  3.7:  Diện  tích  trung  bình  của  loại  hình  gác  2 - Luận văn diện mạo phố phường hà nội giai Đoạn 1873 1945 trường hợp tuyến phố tràng tiền hàng khay tràng thi
ng 3.7: Diện tích trung bình của loại hình gác 2 (Trang 69)
Bảng  3.9:  Diện  tích  trung  bình  của  loại  hình  nhà  tạm - Luận văn diện mạo phố phường hà nội giai Đoạn 1873 1945 trường hợp tuyến phố tràng tiền hàng khay tràng thi
ng 3.9: Diện tích trung bình của loại hình nhà tạm (Trang 71)
Bảng  3.13:  Diện  tích  trung  bình  của  loại  hình  gác  1,  gác  2  trên  phố - Luận văn diện mạo phố phường hà nội giai Đoạn 1873 1945 trường hợp tuyến phố tràng tiền hàng khay tràng thi
ng 3.13: Diện tích trung bình của loại hình gác 1, gác 2 trên phố (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w