Trong công trinh này, ta thấy tác giả đã dành nhiều tâm huyết để khảo cứu diện mạo phổ phường Hà Nội xưa trên các khía cạnh: mô tả về kiến trúc nhà cửa, các công trình công công, những
Trang 1
DẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI TRUONG DAL HQC KHOA HOC XA HOL VA NHAN VAN
NGUYEN THI HUYEN TRANG
DIEN MAO PHO PHUONG HA NOI
Trang 2
DAI HOC QUOC GIA HA NOI
TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VẢ NHÂN VĂN
NGUYEN THI HUYEN TRANG
DIEN MAO PHO PHUONG HA NOI
GIAI DOAN 1873-1945
(TRƯỜNG HỢP TUYẾN PHÓ TRĂNG TIỀN ~ HANG KHAY —'TRANG THI)
Luận vần Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Phương Thảo
Ha Nii - 2015
Trang 3LO1 CAM DOAN
Téi xin cam doan ddy id cong trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hưởng dẫn của PGS.TS Phan Phương Thảo
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có
ngudn gốc, xuất xử rõ rằng
Hà Nội, ngày 15 thủng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Iuyên Trang
Trang 4LOI CAM ON
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc dễn cô giáo hưởng dẫn
luận văn của lôi PGS.TS Phan Phương Thảo Trong suốt quá trình nghiên
cửu, cô đã tận tình hưởng dẫn, động viên, giúp dỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng căm ơn các thấy giáo, có giáo, các cắn bộ công kde
tại Khoa Lịch sử, phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn DHOGHN; các cán bộ Thư viện Quác Gia Việt Nam,Trung lâm
Tu trữ Quốc gia I dé tao diễu kiện thuận lợi cho tôi trong quả trình hoàn
thành để tài
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, các anh, chị em cùng lớp và gia đình đã
luôn bên cạnh, cỗ vũ và động viên những lúc khó khăn để tôi có thể vượt qua
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 5MUC LUC
MO DAU
Chương 1: VÀI NÉT VẺ PHÓ PHƯỜNG HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1873
1.1 Khái quát chung về phố phường Hà Nội
1.2.Tuyến phế Tràng Tiền -— Ilàng Khay — Tràng Thi trước thời
Tháp thuộc
1.2.1 Vài nét sơ lược về tuyến phó
1.2.2 Cảnh quan chung của tuyến phố
Tiểu kết chương 1
Chương 2: PHÓ PHƯỜNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1873-1920 (Tuyến
phổ Tràng Tiền — Hàng Khay — Tràng, Thị)
2.1, IIệ thống chỉnh quyển thành phố IIà Nội thời Pháp thuộc
2.2 Tuyến phổ Trảng Tiên Hàng Khay Trảng Thi trong những
nam 1873-1888
2.3 Diện mạo tuyến phố đến năm 1920
Tiểu kết chương 2
Chương 3: CẢNII QUAN ĐÔ TII CUA PIIÓ PHƯỜNG IIA NOI
GIẢI DOAN 1920-1945 (Tuyến phố Tràng Tiển — Hàng Khay —
Tràng TÌ
3.1 Chương trinh quy hoạch đô thị Hà Nội của thực dần Pháp
3.2 Tuyến phổ Trảng Tiền — Hàng Khay — Tràng Thị — những đổi thay
Trang 63.3.1 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - - 76
3.3.2 Thư viện Quốc gia Viét Nam 78
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Ly do chon dé tai
1.1, Mua thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tế dời đô từ Tloa Lu
về Đại La, dỗi tên kinh thành là Thăng Long Kế từ mùa thu năm ấy, cho đến
nay, lịch sử Thăng Long - Hà Nội đã trải dài hơn một ngản năm Một ngắn
năm qua, những biển động không ngừng của lịch sử đã để lại những dau ấn
đậm nét trong diện mạo, cảnh quan của đô thị Hà Nội Những dầu ấn đó như
“những điều nhắc nhở của quá khủ”, mang lại cho Hà Nội một tính cách “độc
đáo” “đặc hữu”!, một sự hắn dẫn hiếm gặp nếu so sánh với cáo đô thị khác
trên thế giới Dúng như học giả W.§.Logan đã nhận xét: “Môi trường của Hà Nội ngảy nay phủ đầy những hình tượng chính trị, mỗi một chế độ đã sản sinh
ra những tỏa nhà, quang cảnh dường phố và toàn bộ những khu vực để chứng
minh cho ý thức hệ của nó, và với việc làm đó, minh chứng cho quyên lực của
chế độ đỏ đối với đô thị và cư din đồ thị” [87, tr.29] Do vậy, để tìm hiểu lịch
sử của dé thi Ha Nội, nghiên cứu điện mạo là một việc làm cần thiết
1.2 Trong nghiên cứu điện mạo đô thị Hà Nội, giai đoạn từ năm 1873
dén nim 1945 dong vai trò quan trọng vả có nhiều ý nghĩa Trong những tháng năm này, dưới tác động của những văn bản, Nghị định và các đề án quy
hoạch mà chính quyền thuộc địa ban hành, thành phế 11ả Nội từng bước được
định hình về mặt dịa giới hành chính và có sự thay dỗi mạnh mẽ về cảnh quan
đô thị Nghiên cứu điện mạo trục phổ 'lrảng 'tiền — Hàng Khay — lrảng Ihị sẽ
chơ ta thấy rõ sự đối thay này Bởi lẽ, 1í địa lý đặc biệt, trục phố đã trở
thành nơi lưu giữ khá đầy di những dấu Ân cia Ha Nai trong suốt thời Pháp
thuộc Do vậy, nghiên cửu điên mạo phế phường Hà Nội thời ky nay, không
thé không quan tâm nghiên cứu diện mạo tuyến phố Trảng Tiền — Hàng Khay
— lrảng Thị
1 Chữ dùng của PGS.TS.Nguyén Thira Hy.
Trang 81.3 Trong những năm vừa qua, ở Hà Nội, việc phát triển dé thi mat cách tự phát dã và đang ánh hưởng nghiềm trọng tới cánh quan môi trưởng va
đi sản văn hóa của thủ đô Điều đó được thể hiện rõ nét thông qua sự hiện
diện của những ngôi nhà siêu móng, những ngõ nhễch nhác, những khu dân
cư tự phát Đặc biệt những hoạt động kinh doanh sôi động của nền kinh tế thị
trường đang tràn ra mặt tiền các khu phổ Tất cả đã làm hễn loạn cấu trúc văn
hóa truyền thống của không gian đô thị 1rong bối cảnh đó, nghiên cửu về
điện mạo IIà Nội, nghiên cửu để bão tồn và lưu giữ những nét đẹp của thủ đô
nghìn năm văn hiến, qua đó đóng góp vào việc xây dựng và điều chỉnh quy
hoạch thành phố trong thời kỳ biên đại, vi thế càng quan trong vả có ý nghĩa
thực tiễn hơn
Từ những nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn để lãi nghiên cứu Diện
mạa phố phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945 (Trường hợp tuyển phố Trang Tién — Hàng Khay — Trang Thị) Với đề tài này, chúng tôi muỗn đi từ
sự tiếp cận diện mạo một tuyển phố cụ thể trong khu phố Tây, tit dé Lái hiện
lại phần nảo diện mạo phô phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945
2 Lịch sử nghiên cúu vẫn để
Trong nhiều năm trở lại dây, Hà Nội luôn lả dối tượng quan tâm của
nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau Vì vậy, không
có gỉ ngạc nhiên khi nhiều công trình nghiên cứu về Hả Nội của các học giả
trong va ngoai nước liền tục được công bế Trong phạm vi nghiên cửu về điện mao IIa Nội nói chưng và phố phường Hà Nội nói riêng có các công trình
nghiên cứu của các học giả sau đây
Nghiên cứu tổng thể diện mạo Iià Nội cỏ công trình của học giả
Nguyễn Văn Uâẫn với tựa đề Hà Nội nữa đầu thế ký XX (2002) Trong công trình nảy, Nguyễn Văn Ẩn đã tái hiện diện mạo Hà Nội thông qua việc khảo
sát, tìm hiểu 18 khu vực cụ thể Trong từng khu vực, cách tiếp cận của tác giả
là đi vào miều thuật vỀ cảnh quan xung quanh khu vực, cùng những nét khái
Trang 9lược về đời sống sinh hoạt của cư dân nhằm đựng nên bite tranh twan cánh về
Hà Nội nứa đầu thể kỷ XX Mặc dủ những thông tin tác giã mang đến rất hữu
ich, nhưng vì những thông tin đỏ chủ yếu mang tính miêu thuật nên chưa làm
rõ được điện mạo của Hà Nội nói chung và phố phường Hà Nội nói riêng trên
một số phương điện như: quy hoạch và phân bố nhà cửa, sở hữu nhà đất
Ngoài công trình của Nguyễn Văn Uẫn còn phải kế đến một số công trình
nghiên cứu mang tính tổng hợp khác về Hà Nội như: /4ch sử 7hãng Long — Hà
Nội của nhỏm tác giả do G5.Phan Iluy Lê chủ biên (2012) hay Lịch sử Hà Nội
của Philippe Papin (2010) Trong hai công trình này, những vẫn đề kinh lễ -
chính trị - lịch sử - văn hóa của Hà Nội từ khi đô thị mới hình thành cho đến thời
điểm hiện nay đều được đề cập tới Tuy nhiên, cũng giống như Nguyễn Văn
ấn, gáo táo giả của hai công trình này đều chưa quan tâm khão sát một cách kỹ
cảng diện mạo Hà Nội nói chưng, phố phường Hà Nội nói riêng
Tiên cạnh việc nghiên cứu tổng thé, cde nha nghiên cứu còn tiếp cận
diện mạo Hả Nội trên từng phương điện cụ thể Trên phương diện kinh tế có
luận án Phó Tiến sỹ của Nguyễn Thừa Hÿ với tựa đề Kinh tế TÌ hăng Long
Hà Nội thể ký XEIH — XVHI — XIX (1983) Trên phương điện văn hỏa có công trình Văn hỏa Thăng long — Hà Nội hội tụ và tỏa sáng (2000) của học gid
Trần Văn Bính Trên phương điện kiến trúc, có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước như: Đặng Thải Hoàng với Kiến trúc Hà Nội thể
kỳ XIX thé I} XX (1999), Tran Quốc Bảo và Nguyễn Văn Dinh với Kiển
tic va quy hoạch Hà Nội thời Pháp thuộc (2011) Lĩnh vực này cũng nhận
dược nhiều sự quan tầm của các học giả nước ngoài, trong dó, dáng chủ ý là
công trình Hẻ Nội chu ỳ của những đối thay (2005) do Pierre Clément va
athalie Lancret chủ biên Là kết quả của những quan điểm và phương pháp tiếp cân khác nhau, cuốn sách bao gồm nhiễu bài viết của các kiến trúc sư
người Pháp và Việt Nam với cùng một chủ để chưng là tìm hiểu về IIà Nội
qua nghiên cứu bàn đồ và các yếu tố cầu thành ử nhiều cấp độ
Trang 10Mặc dù chỉ tái hiện được những đặc lính của Hà Nội ở một khía cạnh,
phương diện cụ thể nhưng những công trình nảy đã dem lại những thêng tin
rất hữu ích cho công tác nghiên cửu về IIà Nội Đặc biệt trên phương điện
kiến trúc, những đóng góp của Đăng Thái Hoàng, Dicre Clément vá Nathalic
Lancret là hết sức đáng kể (ác tác gid đã cung cấp cho chủng ta những
nghiên cứu chỉ tiết về loại hình nhà 6, công trình công cộng trong từng thời
kỳ cụ thể (tập trung là từ thể kỷ XIX — XX) Những nghiên cứu này rất hữu
Ích trong việc tái biện diện mạo tổng thể của IIà Nội nói chung và phố phường [14 Nội nói riêng
Nằm trong nội dung những nghiên cứu về diện mạo Hà Nội, phố
phường thủ đô cũng là vấn đề được nhiều học giả quan tâm, tìm hiểu Tuy
nhiên, mỗi họ giá lại só những cách liếp cận kháu nhau
Hoàng Dạo Thúy 14 một trong những học giả sớm tiếp cận việc nghiên cứu phố phường Là Nội với công trình Phố phường Hà Nội xưa Công trình
dược xuất bán lần đầu tiên năm 1974, sau đó đã được Lái bản nhiều lần Trong
công trinh này, ta thấy tác giả đã dành nhiều tâm huyết để khảo cứu diện mạo
phổ phường Hà Nội xưa trên các khía cạnh: mô tả về kiến trúc nhà cửa, các
công trình công công, những hình thức phường hội nghề nghiệp trong phố
phường Tuy nhiên, những thông tin mả tác giả cung, cấp còn sơ giản Mô tả
kiến trúc nhả cửa: Hoáng Đạo Thủy chí tập trung đến các loại hình nhà ng,
nhà chồng điêm trong khu phổ cổ, các công trình công cộng được xây đựng khi Pháp sang chỉ được điểm qua mà chưa có sự miễu thuật về kiến trúc;
những thông tin mô tả về quang cảnh đường phổ còn ït và cũng chỉ tập trung
ở hai phẩ tiêu biểu là hàng Gai và hàng Đào
ước sang thập niên 80 của thể kỷ XẦ, có chuyên khảo Phố phường
Thăng Long — Hà Nội trong những thể kỷ XƯIH — XVIHI — XIX của Nguyễn
Thừa IIỷ, đăng trên tạp chí Nghiền cứu lịch sử số 3 (210) va 4 (211) nam
1983 Chuyên khảo này đã túi hiện rất rõ điện mạo phố phường Hả Nội thể
Trang 11ky XVII -— XVII — XIX (chủ yếu là điện mạo khu phố cổ) trên hai nhương điện: diễn mạo vật chất (quang cảnh dường phố, kiển trúc nhà cửa, cẳng
phd) và đời sống kinh tế - xã hội của cư dân sinh sống trong phẩ phường
Trong chuyên khảo, tác giã còn đưa ra nhiều nhận xứt xác dáng về bước đường phát triển lịch sử của phố phường Thăng I.ong — Hà Nội
Trong những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ X%, một số công
trình nghiên cứu về phố phường thủ đô tiếp tục dược công bố Ngoài công
trình Thành lữy phả phường và con người Hà Nội trong lịch sử (1999) của
Nguyễn Khắc Đạm còn có Hà Nội phố phường (1999) của Giang Quân cùng
một số bải viết trên tạp chí của các tác giả: Lưu Đình Tuân với Sự hình thành
khu phố Tây ở Hà Nội (19993 tạp chỉ Xưa và Nay, số 74
Trong thởi gian gần đây, những nghiền cứu về phố phường Hà Nội
càng được đấy mạnh hơn nữa 8o với các thời kỳ trước, nhiều nguồn tư liệu
phục vụ cho việc tái hiện điện mạo phố phường là Nội đã được khai thác khá
triệt để Đỏ là dông trình nghiên cứu của học giả Vũ Văn Quân với Phá cỗ Hà
liệu địa bạ, in trong: Kỷ yêu hội thảo “Tôn tan phố
và châu Âu — Trao dỗi kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn và nẵng cao giá trị
đi sản” (2005) Và đặc biệt là céng trinh Khu phd cd Ha NGi nita dau thé kp
XY qua tu liệu địa chỉnh (2013) do Phan Phương Thảo chủ biên Công trình
nảy đã khai thác một cách triệt để không chỉ các hề sơ về khu phố cỗ thuộc phông Sở địa chính I14 Nội hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia
1 thuộc Cục Văn thư và lưu trỡ nhà nước, mà còn khai thắc các phiếu thông
tin chỉ tiết về từng số, thửa nhà đất phể cổ IIà Nội nửa đầu thế ký XÄ lưu trữ
tại Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất — những phiếu này trước đây chưa
từng được bất kỳ một công trình nảo quan tâm khai thác
lên cạnh các công trình nghiên cửu trên, không thể không kế đến
một số guỗn sách tiếp cận phố phường Hả Nội trên phương diện địa danh
Trang 12như: Nguyễn Vinh Phúc với Phố và đường Hà Nội (2004), Từ điển đường
phố Hà Nội (2009) của Giang Quân; gần đây nhất là cuốn Tử điễn dường
phố Hà Nội (2010) do Nguyễn Viết Chức chủ biên Những công trình này
cung cấp những thông tin rất ngắn gọn về tên gọi các con phổ ở Hà Nội, kèm theo đó là những mô tả đơn gidn về chiều đải các phố, khu vực lệ
thuộc, một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu
Nhìn một cách tổng quát, các công trình nghiên cứu về phố phường Hà
Nội mang những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, phần lớn các gông trình chủ yếu Lập trung mê tả chỉ tiết điện mạo phố phường Hả Nội trên các phương diện: quang cảnh đường phổ, kiển
trúc nhà ở và các công trình công cộng Đã có công trình tiến hành khảo cứu
sâu về điện mạo phố phường (oông trình của Kguyễn Thừa Hỷ) nhưng chưa
đi vào từng tuyến phố cụ thể và cũng mới chỉ dừng lại ở phạm vi thời gian là
ode thé ky XVIL— XVII — XIX
Thứ hai, đã có một số công trình quan tâm sir dung ngudn ur liu dia
chính, địa bạ để tái hiện điện mạo phố phường Hà Nội trên các phương diện: cánh quan tự nhiên, tỉnh hình sử hữu nhá đất, quy mô và cơ cầu sử dụng dt,
không gian ở nhưng mới chỉ tập trưng nghiên cứu trong khu vực phố cỗ
Thứ ba, dường như chưa có một công trinh chuyên sâu nào khảo cứu về
điện mạo khu phố Tây ở Hà Nội giai doan 1873-1945 Những tuyến phố
mang tỉnh điển hình trong đô thị Hà Nội cũng chưa được quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc Do vậy, những đổi thay mạnh mẽ của phố phường IIà
Nội thời kỳ này chưa được khắc họa rõ rằng,
Trong bối cảnh nghiên cửu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cửu Diện mạo phố phường Hà Nội giải đoạn 1873-1945 (Trường hợp tuyển
phố Tràng Tiần - Hàng Khay — Tràng Thủ) Hướng nghiên cửu, tiếp cận của
chúng tôi sử dụng chủ yếu nguồn tư liệu địa chính kết hợp với khão cứu các
tài liệu liên quan, sẽ không chỉ dừng lại ở sự miều thuật đơn thuẫn những thay.
Trang 13đổi về điện mạo phố phường Hà Nội mà sẽ cố gắng luận giải những căn nguyễn chỉnh trị - văn hỏa — quân sự của sự biển đổi diện mạo đỏ
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở các nguồn tải liệu có liên quan, nghiên cứu một cách toàn
diện để tái hiện được diện mạo phổ phường Hà Nội giai đoạn 1873-1945
(Trường hợp tuyến phố Tràng Tiền — Ilang Khay — Trang Thi), bước đầu đưa
ra những luận giải về sự biến dổi diện mạo phổ phường so với các thời kỳ
trước Trên cơ sở đó có thể xem xét áp dụng hoặc thừa hưởng những yếu tố
tích cực não có lợi cho công cuộ ải tạo thành phổ trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chọn Diện mạo phố phường Hà Nội (Trường hợp myễn
phố Tràng Tiển — Hàng Khay — Trang Thị) làm đối tượng nghiền cứu và
được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1873 đến năm 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn áp dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ
thể của các ngành khoa học như: Sử học, Văn hoá học, Dịa lý học lịch sử để
thu thập, xử lý và phân tích thông tim
- Phương pháp chú yếu của luận văn là nghiên cửu khu vực học
- Luận văn có tham khảo một số lượng lớn tư liệu địa chỉnh nên quá
trình xử lý và trình bày thông tin không thể thiếu phương phap định lượng,
6 Dong gop của luận van
- Luận văn góp phần làm sáng tổ diện mao phé phudng 114 NGi ndi
chung, tuyển phổ Trảng ‘Tian — Hàng Khay — lrảng Thi nói riêng trong một
giai đoạn lịch sử của Thủ đô
- Khắc họa lại hiện trạng kiến trúc, biến đổi cảnh quan của một số đã tích văn hóa — lịch sử tiêu biểu của Hà Nội trên tuyến phố nghiên cứu
- Trên cơ sở các nguén tài hệu lưu trữ, đặc biệt là nguén tư liệu địa
chính, luận văn bước đầu đưa ra những luận giải về sự biển đổi điện mạo phố
Trang 14phường Hà Nội nói chung, Luyển phố Trảng Tién — Hang Khay — Trang Thi nói riêng so với các thời kỳ trước, làm rõ ánh hưởng của người Pháp dối với quá trình đô thị hóa của Hà Nội thời cận đại
- Luận văn dưa ra những phác họa về điện mạo phố phường Hà Nội giai đoạn 1873 -1945 trong đó có nêu lên cả những ưu điểm vả hạn chế trong,
quy hoạch đô thị 114 Ndi qua từng thời kỳ Đỏ là những bài học lịch sử tất có
ý nghĩa cho Hà Nỗi trong qui hoạch và cải tạo Thành phổ giai đoạn hiện nay
7 Cầu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luan vin sẽ được triển khai trong ba chương,
Chương 1 : Vài nét về phố phường IIà Nội trước năm 1873
Chương 2: Phố phường Hà Nội giai đoạn 1873-1920 (Tuyến phố
‘Trang "tiền — Hàng Khay — Tràng Thị)
Chương 3: Cảnh quan đồ thị của phổ phường IIà Nội giải đoạn 1920-
1945 (Tuyến phó Trảng Tiền — Hàng Khay — Trảng Thi)
Trang 15Chirong 1:
VẢI NÉT VỀ PHÓ PHƯỜNG TIẢ NỌI TRƯỚC NĂM 1873
1.1 Khái quát chung về phố phường Hà Nội
Từ một làng nhỏ ven sông, trải qua bao đổi thay của thời gian, cho đến
dầu thế kỷ XI với sự kiện Lý Thái Tổ dời đỗ từ vùng rừng núi Hoa Tư v nơi
thành Dại La củ, Thăng Long đã chính thức đi vào lịch sử như một thành thị
trung đại Việt Nam Trong budi đầu thánh lập, phần “thành” được thánh lập
trước tiên, sau đó kéo theo phan “thị” Didu nảy được giải thích như sau:
thành trì phong kiến nơi giai cấp thống trị ở cần rất nhiều nhu cầu sinh hoạt
xa xi Chính vì thế, các phiên hợp chợ ngoài thánh (nơi cung cấp hàng hóa
cho giai cấp thống trị) từ chỗ họp thường kỳ rỗi ai về nhả nấy đã dân dần có
người cư ngụ lại trên đó để bán hàng Những người thường trú nảy có thể là
thợ thủ công hay thương nhân hoặc làm các nghề linh tỉnh khác Khi cư ngụ
lại, họ phải lập phố để ở Theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa cũng như
nhu sầu của giai cấp thống trị và của nhân dân địa phương, các phế chợ dan
được kéo dài ra, lợn mới, nấi chợ nọ với chợ kia, biển dần dân các lang va
ruộng làng thành các khu phế
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo đỏ, dù đã trưởng thành khá nhiều về quy
mô nhưng Thăng Long hầu như không thay đôi về cấu trúc cơ bản Suốt thời
kỳ Lý — Trần, qua thời Lê sơ, thành thị này vẫn bao gồm hai bệ phận chính là
“thành” và “thị” Trong đó, khu vực “thành” đóng vai trỏ hạt nhân quyết định,
khu vực “thƒ” là một bộ phận cộng sinh, tồn tại được là nhở vào phan “thành”
ước sang giai đoạn XVI — XVIHL kinh thành Thăng Long có bước phái triển
đột khởi không những ở khu vực “thành” mả cả ở khu vực “thị” Dôi với khu
vực “thành”, đây là giai đoạn mả kinh thành đã trải qua ba đợt xây cất, mở
rộng và tu bễ lớn Tần thử nhất do vua Tê Tương Dực tiến hành để thực hiển
Trang 16mục đích ăn chơi xa xỉ Lần thứ hai do Mạc Mậu Hợp khởi xướng nhằm để
phòng những dợt tấn công của họ Trịnh Và lần thứ ba có ý nghĩa vả quan
trọng nhất là do các chủa Trịnh tiến hành trong suết thế ky XVII va dau thé
kỹ XVII
Sự phát triển của phần “thành” tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực
“thi” cia Thăng Long phát triển mạnh mẽ Sở đĩ có thể khẳng định như vậy
là vì khi tiến hành việc sửa sana, xây dựng quần thể các công trình kiến
trúc, chỉnh quyền phong kiến đã buộc phải huy động một lực lượng rất lớn những thự thủ sông thuộc các ngành nghề khác nhau từ các địa phương
xung quanh về kinh đô để làm việc Đến kinh đô và sau khi làm việc trong
các công xưởng của nhà nước, nhiều thợ thủ công đã ở lại lập nghiệp tại
các phá chự, khiển cho khu vực “thị” ngày cảng có sự phát triển mạnh mẽ
Không những thế, trong suốt thời kỳ tồn tại của mình, nhả nước phong kiên
Lê — Trịnh cên duy trì ở Thăng Long một bộ máy quan liễu chỉnh trị - quân
sự thường trực khống lỗ Điều nảy đã tạo ra một nhụ cầu cung ứng lớn lao
về lương thực, thực phẩm, vật đụng, hàng hóa không chỉ trong những phố
chợ nội tại của kinh thành mà còn Lừ các vùng phụ cận đỗ về
Vẫn dang trên đà phát triển, lại dược kích thỉch bởi nhiều yếu tố thuận
lợi, khu vực “thị” của Thăng Long đã có sự phát triển trội vượt Cùng với khu vực “thành” nỏ đã dưa Thắng I.ong — Kế Chợ trở thành một trung tâm chỉnh
trị - kinh tế lớn nhất trong cả nước, một trong những thành thị lớn của vùng
Đông Nam Ava phương Đông nói chưng, trước sự chiêm ngưỡng không phải
không có cơ sở của các lái buồn và giáo sỹ phương |
Chợ sánh ngang nhiễu thành thị khác ở châu Á” [31, tr.141]
Trong khu vực “Ủu” của Thăng Long, nơi phát triển nhộn nhịp nhất
\y: "Quy mô của Kẻ
chính là khu vực buên bản phía Đông, thường được dân gian gọi với cái tên
“36 phố phường” Tên “phường” xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam, có
thể tử thời Bắc thuộc Nghĩa đầu tiên của khái niệm “phường” là chỉ một khu
Trang 17vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long,
Tới thời Trần, Trần Thái Tông tiến hành định các phường về hai bên tả hữu
của kinh thành, chia thành 61 phường Vào đầu thời Lê, cả nước có 56 phú,
187 huyện, 54 châu hương, 9728 xã, 294 thôn, 59 phường Khu vực thượng
kinh có 1 phủ, 2 huyện và 3ó phường [79, tr.271] Ngoài ý nghĩa là một đơn
vị hành chính, “phường” còn có ý nghĩa là một đoàn thể, một nhỏm người có
tổ chức củng làm một nghẻ nghiện (phường bạn, phường thợ, phường chẻo)
Tiên cạnh khái niệm “phường” là khái niệm “phố” “Phổ” có nhiễu nghĩa khác nhau: “Phố” theo Lê Qúy Đôn trong Thượng kinh phong vật chỉ là
những chỗ bờ sông bến nước, trên bến dưới thuyền Ngoài tính chất như đã
nêu trên, “phố” ở đây còn ám chỉ “phố xá"” của từng khu phường hoặc làm
nghề thủ công hoặc làm nghễ buôn bán Điều này có nghĩa là nếu như
“phường” nguyên là một khu vực trong thành thị thi “phố” nguyên nghĩa là một chỗ ban hang, noi bay hang (thee cách nói ngày nay lả cửa hảng, cửa
hiệu) Phố có thể là ngôi nhà bảy hàng bán hoặc cũng có thể là một Lứp lều,
một chỗ trồng được lấy làm nơi bày hàng hóa để buôn bán Nhiều ngôi nha, nhidu các phố như vậy tập trung san sát nhau tạo (hành một dãy phố Qua thời
gian cdc diy gdm nhiều phố ấy cũng được gợi tắt lá phó vả dần dẫn từ “phố”
với nghĩa là một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át từ “phố” với nguyên
nghĩa là ngôi nhà bảy bán háng
Chính vi sự biển nghĩa này mà ngày nay khi phân biệt “phường” và
“phố”, người †a coi phế như đường trục của phường gồm có một con đường, hai
bên có nhà cửa — nhà ở và thường là cổa hiệu — có bề mặt trông ra ngoài dường
Trong khi các phường nặng về hoạt động sản xuất thì ở các phố lại chú trọng đến
hoại động buôn bản Chỉnh hoại động này mới thể hiện rõ nét yếu tổ “hị” của
'Thăng long Vậy phố phường 'Thăng l.ong buôn bán những mat hang gi?
*Phổ xã” là một từ qnen thuộc trong ngôn ngất dẫn tốc trong tiếng Việt cổ “xá” có nghĩa là nhà ở, cửa
hàng, cửa hiệu
Trang 18Thing Long là đất để đô, nơi kết tĩnh tài hoá tứ xứ: Những người thợ thú công ở khắp nơi kéo về nội dé lam ăn Họ mang theo những nghề đặc sắc
của quê hương mình, họ làm hàng ở trong phường rồi bày bán ở các mặt
phường là phổ Thường mỗi phổ chỉ bán hoặc sản xuất sản phẩm của dỗi ba làng nhất định Những phố nghề được hình thành từ đây ên của các phố được lấy từ chính tên nghề thủ công sản xuất và kinh doanh để đặt tên cho phố đó Có thể kể tới các phổ tiêu biểu như: phd hang Long, hang Ma, hang
Quạt, hàng Buém, hang Tre, hang Thiếc, hàng Đảo, hàng Bạc Sự gắn bó
thân thiết đỏ đã khiến cho người ta có cảm giác giữ lên phố hàng là đã giữ
được cả linh hỗn của nghề thủ công đó
Sự đa dạng của các mặt hàng thủ công và sự phát triển về hoạt động
buôn bán đến mức cáo phố hàng của Thăng Long thoi ky nay cn thu hit ca
những thương nhần người nước ngoái đến buôn bán và sinh sống như người
Tả Lan, Anh, Pháp từ thế kỷ XVH và đặc biệt là tằng lớp thương nhân Hoa
kiểu đến buôn bản và cư trú từ đời Trần Phố hàng không còn đừng lại ở một
khu vực buôn bán riêng của kinh thành nữa mà còn có xu hưởng mở rộng đón nhận hoạt động ngoại thương từ bên ngoài
Trong bối cảnh đó diện mạo của phố phường Hà Nội hiện lên với
những nét phác họa rõ nét và độc đáo
hư trên đã trinh bày, những người nước ngoài dén Thăng Tong bir rat
sớm Họ đã ghi chép, mồ tả phổ phường Thăng Long một cách ti mi, chi tiết
và sống động Dưới những ghi chép của họ, quang cảnh đường phế trong các
thể kỹ XVII— XVIH hiện lên thật rõ nét
*Những đường phổ chính ở Kẻ Chợ thường Tất rộng rãi, tuy vẫn có một
vài ngỡ phổ chật hẹp Phần lớn các phố đều được lát đá, đúng hơn là được vá vin hằng những phiến đá nhỏ, nhưng rất cẩu thả Về mủa mưa, chứng rất bẫn
thiu va về mùa khô, vẫn còn những vũng nước đọng và một sé mương rinh
đây những bủn den bốc mùi hôi thối ứ trong và chung quanh thành phổ Điều
Trang 19đó làm cho nơi đây trớ nên không được ưa thích và có người cho răng chúng
cũng rất mắt vệ sinh Tuy nhiên theo những diều tôi sắm thấy và từng biết, thì
nơi đây vẫn khá trong lành” [3I, tr.227]
Không chỉ miễu tã điện mạo dường sả ma quang cảnh phố phường mỗi
khi có phiên chợ cũng được đề cập đến thật chỉ tiết Chợ tràn ra cả lòng đường,
bàng hóa bày la liệt cùng với người đi lại mua bán đổi chác làm cho đường sá
của kinh thành gần như tắc nghẽn: * đân số của Kế Chợ lớn hơn nhiều, nhất
là vào phiên chợ ngảy I vả ngày 1S âm lịch hàng tháng khi người dân củng với
hàng hóa từ các làng ven đô đỗ về đây nhiều không đếm xuế Những con phố
ngày thưởng vốn rộng rãi và quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nổi chỉ
nhich được 100 bước trong vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi” [31, tr.141]
Nhà sửa ở hai bên mặt phổ liền sát nhau, thường được dựng bằng trợ và
lợp bằng rơm rạ Chiều cao của các ngôi nhà ở Thăng Lơng lúc bẫy giờ tuân
thủ nghiêm ngặt những quy định mà chính quyền phong kiến đã để ra: “Vua chúa không cho phép những thần dân cua minh xây nhà cao, vì sợ rằng họ có
thể gây mưu hại Tất cả các nhà cửa đều phải xây thấp, ngoại trừ các cung
điện, và nếu ai muốn sống thì đều phải lánh trốn khỏi đường phố mà đức vua
cưỡi voi hoặc ngổi kiệu di qua” |3], tr.234]
Chúng ta thấy nhận xét đỏ cũng phủ hợp với điều quy định về đẳng cấp
đã được san định thành văn vần lưu truyền trong dan gian
Dân phường nhà giáp đường quan Không được làm gác trông ngang ra đường
Có cần lâm chỗ chứa hàng
Chiêu cao không được cao bằng kiệu quan [30, tr.48]
Tiên cạnh những ngôi nhà được làm bằng gỗ hoặc bằng Ire nửa, trong
thời kỳ nảy cũng đã xuất hiện một số nhà làm bằng sạch 'Iuy nhiên số lượng
những ngôi nha nay rat it Mét vai nha gạch trong số này chính là các thương
điểm của người nước ngoài Sự tổn tại phổ biến của những ngôi nhà tranh
Trang 20vách đất đã đưa Lới một nguy cơ thường trực giữa kinh thành náo nhiệt, đó là
hỗa hoạn Cha Baldinotli khi đến Đảng ngoài vào thế ky XVI, di đề cập đến
những vụ hỏa hoạn nảy trong những ghi chép của mình: “ nhà cửa được
dựng bằng những cây sây ở trong xử, to như những cây gỗ mà người ta gọi là
tre Những ngôi nhà đẻ lợp rơm ra và không có cửa số rong thành phổ cá
những ao vũng nước lớn cho phép dập tắt nhanh chóng ngọn lửa khi bén cháy
vào nhà Có những vụ hỗa hoạn thiêu cháy đến 5,6 nghìn nóc nhà, nhưng sau
đỏ người ta đựng lại nhà cửa sau độ +, 5 ngảy” [31, tr.67]
Chính điều này đã dẫn đến khi xây dựng những ngôi nhà tranh, cư dân
không quên sáng tạo thêm những công cụ để phòng chống hỏa hoạn: *Phần lớn
những nhà đều có một cái sản hoặc khu sau nhà Trong mỗi sân người ta trồng
thấy một kiến trúc nhớ xây vòm giống như một cải lễ cao chứng sáu bộ
(1,8m), cửa mở sát mặt đất Cái khám đó xây bằng gạch từ đỉnh tới đáy, bên ngoài lại trát đầy mốt lớp bùn đất Nếu nhà nào thiếu sân, thì họ xây loại khám
lò đó ngay 6 trong piữa nhà nhưng nhỏ hơn và hầu như chẳng có nhà nào trong
thành phế lại không có một cái khám lò như vậy Công dụng của chiếc khám xây này là đưa vào đỏ những đỗ hàng trọng yếu nhất mỗi khi xây ra đám cháy,
vì những ngôi nhà tranh này rất đễ bị bén lửa, dặc biệt trong những mùa hanh
khô IIêa hoạn đã thiêu hủy nhiều ngồi nhà trong chốc lát, đến nỗi họ thường
chỉ đủ thời gian để bảo quán những hàng hóa của họ trong những khám lỏ nóc
vòm đỗ, mặc đủ họ cũng ở ngay sat gan dé Vi moi người đều có sáng kiên đó, nên chính quyền đã nghiêm cẵn ra lệnh cho mọi nhà phải có những phương tiện
phòng cháy chữa cháy, không để ngọn lửa lan rộng ra chưng quanh Cử mỗi
khi đến mủa khé, moi nha đều phải đặt một vại nước lớn bên trên nóc nha, sin
sảng kéo đỗ xuống mỗi khi cần thiết Ngoài ra, mọi người phải có sẵn một vây sảo đài, ở đầu buộc một chiếc thúng hay một cải gầu để múc nước từ những
ngòi rãnh tưới lên những ngôi nhà Nhưng khi ngọn lửa đã bốc cháy quá to, thi
cả hai cách thức trên đều trỡ thành vô hiệu, lúc đó họ bẻn cắt những mỗi buộc
Trang 21của lớp mái tranh, để chứng rơi tử những rui kẻo xuống đất một cách tương đối
ít khó khăn Vi mái nhà được lợp bởi nhiều máng tranh kết với nhau ứ một vải
chỗ buộc nên việc tháo dỡ cũng dễ Nếu có mảng mái cháy nào rơi lên trên
hoặc gần cái khám lò trong chửa đựng hàng hỏa, thì họ cũng để kéo ra chỗ
khác Bằng cách đó những nhà bên cạnh có thể nhanh chóng tháo dỡ mái nha
trước khi ngọn lửa lan bén tới và những tắm mái tranh có thể mang đi xa hoặc
ít nhất cũng dễ nó tự cháy một mình ở một chỗ riêng Để dùng cho mục dich
đó, ngôi nhà được lệnh phải để một cây sào tre dài trước cửa có móc câu liêm ở
đầu để dỡ mái tranh nhà Nếu người nảo bị phát hiện không có vai nướ trên
nóc nhà, cái cần gầu và chiếc sảo có câu êm ở trước cửa họ sẽ bị trừng phạt
nặng nễ vì tội chỗnh mâng” [31, tr.226-227]
Như vậy, trong các thế ký XVI — XVIIL, quang cảnh phố phường Hà Nội đặc biệt là khu buôn bán phía đông rất nhộn nhịp đông vui, đóng vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế của kinh thành Bước sang thể kỷ XIX, từ
dia vi trước dây là kinh đô của cã nước, nay rút lại vỀ mặt hành chính còn là
hai huyện của một tỉnh nên Hà Nội không côn được coi như một biệt khu độc
lập nữa Do đó, tính chất thành thị trước kia nay cũng bị pha loãng đi rất
nhiều Ảnh hướng của nông thôn, nếu trước dây dã có ở một mức độ nhất
định thi nay càng có điều kiện xâm nhập Š ạt vào phế phường IIà Nội, tạo nên
một sự hỏa dồng đảng kể giữa phương thức sinh hoạt và quang cảnh của các
phá phường Thăng Long cũ với các vùng phụ cận chung quanh [30, tr.55-56] Điều này có thể thấy rõ khi chúng ta tìm hiểu cảnh quan tự nhiên của phố
phường Hà Nội giai đoạn này
Vào đầu thế ky XIX, cdc con phé cua Ia Ndi lúc bấy giờ đều thuộc về
1 hoặc 2-3 đơn vị hành chính thôn/phường Ví như phố hàng Gai nằm trọn
vẹn trong phường liên Hưng thuộc tống Đông Thọ, hoặc phố hàng Khoai
mét phan thuộc thôn Tuyén Thiên, một phần thuộc thén Vinh Tri của tổng
Trang 22Đằng Xuân Chính vì thé nếu khai thác nguồn tư liệu địa ba chúng la hoàn toàn có thể phác họa cảnh quan tự nhiên của phố phường Hà Nội
khảo sát tư liệu địa bạ, có thể thấy một nét nổi bặi trong cảnh quan tự
nhiên khu phê cổ Hà Nội chính là mật độ day đặc của những ao, hồ, sông, ngôi Có thể kể tên các hồ ao trong khu vực này là: hỗ Hàng Cân, Hang Bd,
hỗ ở sau Tlang Thiếc, Tlang Quạt, hỗ ở sau Tlang Béng, [lang I]ém, hé Tang
Than, hồ vây quanh dén Huyén Thiên ở Hàng Khoai Các hé ao trong khu
vực phần lớn đều có điện tích nhỏ Điều này hoàn toàn đúng với những nhận
định về [Tả Nội là một thành phế sông hỗ [68, tr.132]
Khai thác tư liệu địa bạ, một điều không thể không chú ý tới là những
cột mốc, những vật làm giới hạn địa giới của các đơn vị hành chính Dởi lễ
đây chính là một kênh thông tin phần ánh phần nào quang cảnh tự nhiên của
phố phường Hà Nội thời kỳ này Các vật ding làm ranh giới nhiễu nhất là:
thành Đại La, quan lộ, đường lớn, đường nhỏ, ao hỗ, sông ngòi, nhà cửa dân cư Thậm chí những hàng rào tre, bờ tre, tre xanh vẫn cỏn là giới hạn của
không ít thôn, phường Ví dụ: giấp giới của thôn Cựu Lâu tông Dông Thọ, huyện Thọ Xương như sau
Đông pián quan tang thổ củng chân thanh Dai La va quan hd Hữu Vọng,
củng quan lộ, đối điện với xưởng đúc tiên, lay quan lộ lam gidi, lại một đoạn
giáp quan lộ, dối điện với địa phận thôn Hỗi Mỹ tổng Kim Hoa, cùng lẫy nửa
đường lảm giới
Tây giáp địa phận thôn Vũ Thạch tổng Kim Iloa củng quan lộ, đối điện
với dân cư thôn ấy, cùng lấy nửa đường làm giới, lại giáp xưởng đúc tiền
cùng địa phận thôn Vọng I1Iả và ruộng tịch điền, ruộng mạ, công thé thôn I1ồ¡
Mỹ tống Kim IIoa cùng công thổ thôn Yên Trung Thượng tổng Vĩnh Xương, cùng lấy cây gao làm giới
Nam giáp hề Iiữu Vì ‘ong và địa phận thôn Vọng Đức tổng Thanh Nhàn
củng quan lộ, đối diện với thôn ấy và địa phận thôn Hồi Mỹ, cùng lấy nứa
Trang 23đường làm giới, lại giáp quan lộ và địa phận thôn Vũ Thạch, lấy bờ rào của
dan cw ban thôn lảm giới, lại giáp quan hồ phường Phục Cổ cùng quan tang,
thổ và ruộng tịch điền, ruộng mạ, củng, lấy cây gạo làm giới
ắc piáp chân thành Đại La và địa phận thôn Vũ Thạch tổng Kim Hoa, lấy ba rao cia dân cư bản thôn làm giới, lại giáp céng thd than Vong HA ban
tổng, lay cây gạo làm giới, lại giáp dân cư thôn Yên Trung Thượng tổng Vĩnh
Xương và quan lộ, đối diện với địa phận công thé thôn ấy và ruộng tịch diễn,
ruộng mạ, cùng lấy quan lộ làm giới [41, tr.57]
Sự tồn tại của những vật làm giáp giới đó như là chứng chỉ cảnh quan
“làng trong phố” ở hăng luong đầu thé ky XIX [68, tr.135]
Không chỉ được phác họa thông qua những nghiên cứu trên cơ sở
nguồn tư liệu địa ba, điện mạo phố phường Há Nội thể kỷ XIX lừng bước
được hiển hiện thông qua những ghỉ chép của những người châu Âu từng có
thời gian sống và làm việc tại đây
Những người Hoa ở ving ven biển phía nam Trung Hoa, rất thạo nghề
°buên bán và đi biển, đã tràn sang nhiều đô thị ở Dông Nam Á từ thế kỷ XVI,
trong đó cỏ Thăng Long - Ké Cho Thể ký XTX, triều đình Huẻ thi hành chính
sách ngoại piao lẫy lỏng nhà Thanh, ưu ái Hoa kiểu, nhiều dot nhập cư mới
của người Iloa lại tràn vào [14 Nội Tuy số dân không nhiều nhưng hầu như
họ nắm tất cA các hoạt dộng kinh tế chủ yếu cúa thành phổ Họ sống trong
những căn nhà gạch đẹp nhất, ở phố khang trang nhất Trong giai đoạn nảy, quang cảnh phố phường IIà Nội có một sự đối lập rất lớn giữa những khu phố
của người An Nam và khu phố Hoa kiều: *Irên khu phố dược những Hoa
kiều lát đá thì những phế phường của người An Nam như thể một đám rong
rêu mọc ký sinh” [31, 1.493] Sở dĩ cá thể khẳng định như vậy là vi, trong
khi: “Phân lớn những phố Hoa kiều được lát ở khoảng đường bằng những
tảng đá cẩm thạch lớn, nguyên thô Như vậy đường phế có thể đi lại được
trong những ngày mưa” |3], tr.494| thì những đường phố người An Nam ở
Trang 24không hễ được lát đá “Chỉ cần một cơn mưa nhỏ lá bùn lầy ngập ngụa, trong
đó lẫn lồn cả đũ mọi thứ rác rưới mả dân chúng đã dỗ vứt ra ngay giữa dường
phẩ”[31, tr.497]
Các phố khác nhau của Hả Nội lúc bẩy giờ dược phân cách với nhau bởi những cánh cổng lớn chắn ngang các con phố và được đóng lại khi trời
tối Các cổng nảy cực kỳ vững chắc và người ta bố trí ở phía trên một hành
lang nhỏ cho người canh gác Một khi các công này đóng lại thì không thể
nảo vào được các phố bởi lẽ: “Các cổng phân giới các phường phế cỗ có một
cách thức đóng cửa rất độc đáo: một bức lường đá được xây ngang từ đầu này
tới đầu kia của con phổ, trong bức tường này trổ một cửa lớn hình chữ nhật
được đóng khung vững chải và được đóng bằng bến cây đã gỗ tạo thành
khung vuông Những cây đà cã phía trên và dưới của khung nảy được khoan
lỗ theo khoảng cách đêu nhau để tra vào từ hai đầu một loạt những thanh gỗ
tròn dựng song song với nhau Những lỗ phía trên được khoan rất sâu, đến mức người ta có thể nâng từng thanh gỗ tử dưới lên cao, đủ để nhắc dầu phia
đưới của nó và từ đó mớ ra một lỗi đi Hệ thông nảy cho phép mở cửa hết cỡ, bằng cách nâng hết các thanh gỗ, hoặc chỉ hé ra một lỗi đi nhỏ bằng cách đơn gián chí nâng lên một hoặc bai thanh gỗ”|31, tr616|
Những cêng phố ở Ilà Nội lúc bấy giờ như lä một hình ảnh thu nhỏ của
cổng lảng - một công trình tự vệ mang phong vị của làng quê ở piữa chến đô
thành Công phố mang tính chất khép kin, riêng tư, ôm ấp ở trong nó một không gian đặc thù [68, tr.140]
Kiến trúc nhà cửa của phố phường Hà Nội thời kỷ này cũng rất dặc thù
“Những căn nhà được xây dựng không đều, mỗi một nhà theo một đường chỉ
giới khác nhau, đã tạo nên con phổ một dãy nối tiếp những góc lồi lãm” [31,
tr.497] Những ngôi nhà được xây dựng theo kiểu nhà ở - cửa hàng với mái nhà
được lợp ngói hay rơm Tạ Loại nhà này chia thành hai phần có hai chức năng
khác nhau: Gian ngoài, giáp mặt phổ dùng lam cứa hàng còn những gian bên
Trang 25trong là nhà ở có một đặc điểm là mặt tiên hẹp và chạy dai vao trong Loai nha nảy được chia thành nhiều phòng, thường có một lối đi hẹp và dải, giữa các phần
thường có một hay nhiều khoảng sân nhỏ để hút gió trời vả ảnh sáng cho các
phỏng chỉnh, tuy nhiên các phỏng này thường vẫn rất tôi
Vì tận dụng ngôi nhà vừa để ở, vừa làm cửa hàng nên những cửa hiệu ở
TIà Nội lúc bây giờ không có gian trưng bày hàng rực rỡ như những cửa hàng
ở châu Âu Cửa hiệu chỉ là “Những mái tranh sà xuống dất thấp Mặt trên căn
nhà trông ra đường phố thường chỉ là một tắm khung liếp cơ động, buậc ở
bên trên và người ta nắng nó lên vào ban ngày, giữ nó nằm nghiêng nhờ vào 2
cái gây chẳng Chính ở dưới túp lễu ngẫu hứng đó, vừa để trú mưa đồng thời
tránh nắng, mà người bán hàng bày biện đồ hàng của mình” [31, tr.497 - 498]
Đây là hình ánh phố biến trên các con phố ờ Hà Nội thời kỹ này
Thông qua những nét phác họa trên, có thể thây trước khi người Pháp
đặt chân tới Hä Nội, thành phố vẫn chưa có bước chuyển mình theo hướng đô
thị hiện đại Phố phường Hà Nội vẫn mang những nét đặc trưng của người
Hoa và người Việt được quy hoạch một cách tự phát mà không có sự định
hướng của nhà nước
1.2.Tuyến nhấ Trảng Tiền — Hàng Khay — Tràng Thí trước thời
Tháp thuộc
1.2.1 Vài nét sơ lược về tuyển phố
Trảng Tiền Hàng Khay Trảng Thi ngày nay là một tuyến phố đẹp
và náo nhiệt thuộc quận IIoàn Kiếm, thành phố IIà Nội Theo trục đông - tây, bắt dầu từ đường 'Iyần Quang Khai dén phố Hàng Khay là phố
708m Tiếp đó là phố 1làng Khay - con phố nối liền phố Trảng Tiền với phố Trang Thi, dai 160m Bat đầu từ phổ Ilàng Khay đến đầu phố Nguyễn Thái Học — đường Điện Hiên Phủ (cuối) là phố ràng ‘Thi dai 860m
Trước thời Pháp thuộc, tuyến phế chỉ là sự ghép nối của những đoạn
đường mòn thuộc đất các thôn lang ở huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức
Trang 26Tên gọi mỗi phố do dân chúng tự đặt ra và đã quen gọi từ lâu gắn với
những đặc điểm nỗi bật trên con phổ: gọi la phố ‘Trang ‘Thi vi phé di qua
khu vực Trường Thi Ha Ndi thé ky XTX; goi la Hang Khay vì có lễ lúc dầu
việc khäm trai — nghé chinh oủa cư dân sống trên phố chủ yếu làm trên
khay; gọi là lrảng Liên vì có một xưởng đúc tiễn lớn được mé tai day vao
năm 1803 và hoạt động cho dén khi bị bắt bó vào năm 1887
Sau khi Ha Nội trở thành nhượng địa của Pháp (1888), tuyến phổ bắt
đầu có tên chính thức Thời kỳ đầu thuộc Pháp, phố Tràng Thi được gọi là
Rue Camp des Lettrés, phd Hang Khay và 'Iràng Tiền (đoạn từ quảng trường
Thả hát lớn đến hết phố Hàng Khay ngày nay) được gọi Rue Incrusteurs`;
một đoạn phố Tràng Tiên (đoạn từ quãng trường Nhà hát lớn đến đường Trần
Quang Khải) được gọi là Rue de France Sau đó, phố Camp des Lettrés được
đổi lai 1A Rue Borgnis Desbordes con phố Incrusteurs được đặt tên JA Rue
Paul BerÉ Cách mạng tháng Tám thành công, Hà Nội Ltr trung tầm dầu não
của thực dân Pháp đã trở thảnh trung tâm cách mạng của cả nước, thủ đô của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Ngày 1-12-1945, Chú tịch Uý ban nhân
dân thành phố Trần Duy Hưng dã ký duyệt tờ trình về việc đặt tên cho các
phd ở Iã Nội Lần đầu tiên, việc đặt tên phố được quy định theo những
nguyễn tắc thống nhất của Nhà nước Việt Nam mới, trong dé nguyén tắc dau
tiên là phải giữ nguyên tên cũ của Hả Nội 36 phố phường Chính vi vậy, một
loạt tên phố gần gũi, thân thương với người dân thủ đô như llàng Đảo, Ilàng
di ồn lử nghẻ truyền hông của các cư dân sinh
đẻ là nghề ham xà cử Côi im trai dược dưa vàn Bắc Kỷ khoảng năm
1820, íL lâu sau thì vào Hà Nội và có những Liên bộ rất nhanh Các thợ thủ công Hả Nội, đặc biệt khóo lay, tranh với the Nam Dinh ur thé trong nghệ thuật khẩm xã củ Cho tối năm 1878, việc sản xuất mặt hàng này com rit nhớ bé nhưng chất lượng rất tink
poi như vậy
Trang 27ngắn xưa, gắn liền với lịch sứ hình thành và phát triển của Hà Nội Cũng theo vin ban nay, phố Borgnis Desbordes dược đổi là phố Trang Thi, phố Paul
Bert duge tach ra làm hai phé gọi là phế Trang Tiền và Tlang Khay, đoạn phổ
Ruc de France dược dỗi là phố Đền Thủy
Thời tạm chiếm, theo Nghị định ngày 28-2-1951 của Thị trưởng
thành phố Hà Nội Thẩm Hoàng Tín về việc dat tén mdi cho các phố, phố
Trảng Thi được đối là phế Mỹ quốc; một đoạn phế Paul Bert và phổ Dần Thủy được đổi lả phố Pháp quốc; một đoạn phé Paul Bert (doan từ ngã tư
Đng Khánh — phố Hàng Hải đến Ty Cảnh bình — Công an quận Hoàn
Kiếm, tức phô Ilàng Khay cũ) được đổi là phố Anh quốc Từ ngày giải
phóng thủ đồ, ta xóa bổ các tên này, khôi phục lại các tên cũ Phố Mỹ quốc
được đổi là phố Irảng Thị, phố Anh quốc được gọi là phố Hàng Khay, phố Pháp quốc đổi là phố Tràng Tiền Các tên gọi nảy được giữ nguyên cha đến
ngây nay
1.3.2 Cảnh quan chung của tuyễn phố
Ở phần trên chúng ta đã pháo họa một số nét co ban về điện mạo phố
phường Hà Nội trước thời kỳ Pháp thuộc Vậy trong bối cảnh chung đó, tuyến
đường Tràng Tiển Hảng Khay Tràng Thị hiện lên như thế nảo?
Đường Hàng Khay — Tràng Tiền vốn có sẵn từ thế ký XVI khi Chúa
Trịnh cho đắp một con đường từ cửa Tuyên Võ trước Phủ Chúa ra đến bờ sông Iléng, ngăn đôi hô IIoàn Kiếm thành hỗ Tả Vong và hề IIữu Vọng Con đường
Chúa ngự được lát đá tảng để voi ngựa có thể đi lại dược mỗi khi nhà Chúa ra
lầu Ngũ Long ở cạnh cửa ô Tây Long Thế nhung đến năm 1788, khi Phủ Chúa cũng như lâu Ngũ Long không cỏn, thì con đường lát đá tang bị người ta cậy ra
để làm việc khác, cỏ mọc làm che lấp dần, lỗi di chỉ còn là con dưỡng môn
bình thường lẫy lội về mùa mưa
Được hình thành muộn hơn đường làng Khay - Trảng Tiền, đường
‘Trang ‘Thi la mét con đường cũ có từ đầu thế kỷ XIX khi lập ra lrường thi
21
Trang 28Hương Hà Nội ở phía đồng nam thành Thăng Long trên địa điểm lại giữa
con dường nảy Tà những con phố từng tổn tại thời xưa cũ nên quang cảnh
tuyến phố cũng giống như quang cảnh chung của đường phổ TIả Nội lúc bây
giờ Wilham S.Logan d& miéu tả trục tuyển nảy vào thởi điểm dầu những năm tắm mươi của thể kỷ XIX lả: “Một con đường ngoằn nghèo dải 1,Skm,
dung lién sát với cổng thành nhưng chỉ với một cụm rải rác các ngôi nhà
giữa những ruộng lủa về phía ‘Irang ‘Thi Ở phía hd Hoàn Kiểm, sự phát
triển của khu nhà ở liên tục hơn, nhưng ruộng lúa vẫn có đây ở bên trong các
khấi phế” [87, tr.121-122]
Hãi ký của Honnal — trủ sử đầu tiên ở Hà Nội — cảng khẳng định tính
chính xác của những mô tả trên khi ông đưa ra những nhận xét về phổ Thợ
Khám lúc bấy giờ: “Đường ph đó hợp và lầy lội, hai bên có những túp lễu
tranh, là nơi ở của đám dân chúng khốn khế bao gồm những cửa hiệu nhỏ của người dân bản xứ và những phu phen” [31, tr.539]
Xung quanh tuyến phố tồn tại rất nhiều các nhà tranh vách dất “thắn
thỏi và ban thỉu” [15, tr.42] che lấp tâm nhìn trông ra hỗ Hoàn Kiếm Kiến
trúc những ngôi nhả này vẫn là kiểu nhà ống truyền thống “ có nhiều những
gian hàng nhỏ Những gian tầng trệt, khá bẵn, trần trụi và xấu xi Một đấy
những căn phòng hẹp, bị cắt quãng bởi những mảnh sân, ở đỏ nước mưa
cháy xuống đã làm mốc rêu những phiển gạch, kéo dải từ mặt tiền nhả đến
trong vườn, hoặc đến bờ hỗ, xa, rất xa Thững gian buồng và những kho hàng ở bên trong nhà, những xưởng thợ ở phía bên ngoài, người qua lại đều
nhìn thấy rõ” [31, tr 536]
Như
, trước khi có những hoạt động xây dựng của người Pháp,
tuyển phố Tràng Tiền — Ilàng Khay - Tràng Thi vẫn mang đặc điểm truyền
thống Việt Nam Đường phố hẹp, hai bên là những ngôi nhà vừa ở vừa sẵn
xuất và buôn bán với các mặt hàng gỗ khảm xả cử độc đáo Đó là kiểu nhà ở
đỗ thị Hà Nồi thế ký XTX, nhả một tầng lợp tranh xen lẫn nhà gạch phát triển
2
Trang 29liên tiếp theo chiễu sâu với các sẵn trong Điều nảy hoàn toán Lương đồng với cảnh quan chung của nhố phường Hà Nội lúc bấy giờ
Tiểu kết chương 1
Trước khi người Pháp đặt chân tới Việt Nam, Hà Nội là một dỗ thị
phong kiến Cấu trúc đô thị Hà Nội mang những đặc trưng điển hình của
một thảnh phố nông nghiệp truyền thống Đông Nam A Bé là sự hòa trộn
giữa lảng xã trong không gian đồ thị, tính pắn kết công đồng trong đời sống,
sinh hoạt và hoạt động kinh tế nông nghiệp tiểu thủ công nghiệp [5,
tr.12] Hai thành phần chỉnh tạo nên cấu trúc không gian đô thị, chỉ phối sự
phát triển của đô thị Hà Nội trong lịch sử chính lả khu thành nội và khu thị
đân buôn bán - thường được gọi là “36 phố phường"
Toản bộ khu vực 36 phố phường lập trung nhiều phường hội thủ công,
mỗi phường sản xuất một mặt hàng riêng, chiếm một hoặc vai phô Cách tổ
chức phường đô thị hoàn toàn khép kín, các phố được ngăn cách với nhau bởi
những chiếu công lớn, mang phong vị của một ngôi làng truyễn thông Mang
lưới đường sả trong khu vực nhỏ hẹp, đa phân các phố là đường đất, không có
vi» hẻ, thường lẫy lội lúc trời mưa và bụi bặm khi trời nắng Ổ các phổ Hoa
kiều, dường sá có khá hơn nhưng nhỉn chung vẫn chưa dược cải thiện:
“Những con phố thường là khá hẹp, được lát gạch theo kiểu Trung Quốc,
nghĩa là chỉ được lát ở mặt lòng dường trên một bẻ rộng khoảng chừng Im va
những viên gạch vuông thì phần lớn đã bị vỡ nút hoặc xô lệch Dọc theo hai bên đường, thực sự lả những vũng nước đọng hôi thếi hoặc không có lỗi
thoát” [32, tr.62] Hai bên đường những mái tranh lụp xup xuất hiên dày đặc
không tuân theo bất kỳ một hàng lối và quy định nào đan xen với những ngôi
nhả ống xây gạch có mặt tiền hẹp, lòng nhà sầu Sự phát triển theo dang tự nhiên trong hướng của các tuyến phố củng các ngôi nhà bên đường khiến cho
hình thái cấu trúc đô thị của khu vực có đặc điểm tự do, không đằng đều Đây
là yếu tổ tạo nên nót đặc trưng đậm đả và riêng biệt cho phố phường Hả Nội
23
Trang 30nói chung vả tuyển phố Trang Tiền — Hang Khay — Trảng Thị nói riêng, Đúng
như học giá Nguyễn Quốc Thông từng nhận xét: “Chính cầu trúc đô thị không
đồng đều, những dãy phế ngắn vả hẹp, những ngôi nhà thấp nhộn nhịp dân cư
dến từ ngoại ô và những vùng quê xa xôi dã mang lại cho Hà Nội một đáng về
đặc biệt về diện mạo đồ thị" [71, tr.21-22]
24
Trang 31Chirong 2:
PIÓ PHƯỜNG HÀ NỘI GIAI DOẠN 1873-1920
(luyến phố Tràng Tiền - Hàng Khay — Tràng Thì)
2.1.Hệ thống chính quyền thành nhề Hà Nội thời Pháp thuộc
Năm 1867, sau khi đánh chiếm được toàn bộ Nam Kỷ lục tỉnh, cùng
với việu thiết lập hệ thống chỉnh quyền oai trị ở Nam Kỳ, thực dan Phap bat
đầu nhỏm ngó ra Bắc Kỳ Những phat dai bac đầu tiên bắn vào Cửa Bắc thành
TIA Nội ngày 20 tháng 11 năm 1873 đã mở đầu cho kế hoạch xâm chiếm Hà Nội Trong lần đúng độ này, mặc dủ quân dân ta đã chiến đấu rất dũng câm
nhưng do chênh lệch lực lượng, thành Hà Nội đã rơi vào tay Pháp Nhăm vin
hải tình thổ, nha Nguyễn đã kỷ với Pháp hiệp ước 1874 nhượng chu Pháp một
khu đất rộng 2,5ha ở Hà Nội để xây dụng chỗ ở cho Lãnh sự Pháp với một lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người Sự lắn dần của Pháp cộng với sự
bal lực của triều đỉnh Huế đã dẫn đến diện tích khu nhượng địa dược mỡ rộng
tới 18,Sha Ngày 28-8-1875, Pháp bắt đầu đặt lãnh sự quán tại Hà Nội Như
vậy, về mặt pháp lý, mặc dù Bắc Kỳ chưa chính thức trở thành đất “bảo hộ”
của Pháp, nhưng trên thực tế, Pháp đã dặt dược chân vào Hả Nội, quá trình
ảnh hưởng của Pháp ở I1ả Nội chỉnh thức bắt đầu
Mặc đủ buộc phải trao trả thành 1à Nội cho triều đình Huế sau khỉ
đạt được những thỏa thuận có lợi, nhưng tham vọng của Pháp không dừng
lại ở đó Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, chờ thời cơ, Pháp lại xúc
tiễn kế hoạch xâm lược Bắc Kỳ lần 2 Ngày 25 tháng 3 năm 182, quân
Pháp do Henri Riviere chi huy dem theo 2 chién ham cung 300 quan ra Bắc
Kỳ và ngày 3 tháng 4 năm 1882 bất ngờ đồ bộ lên IIà Nội Đến trưa ngày
25 thang 4 nim 1882, quân Pháp đã chiếm được thành Hà Nội Sau đó, với
các hiệp ước Harmand và Patenôtre, Pháp thực sự chiếm lĩnh Hà Nội đẳng
thời làm chủ hoản toàn Việt Nam và Đông Duong.
Trang 32Ngay sau khi làm chủ được Hà Nội, thực dân Pháp rất chú trọng đến việc xây dựng cho Hà Nội một bộ máy cai trị về mặt hành chỉnh Ở cấp thành phố, bộ máy đó bao gdm lIội đồng thánh phố và Tòa Đốc lý thành phổ Ở cấp cơ sở là hộ và phố
Hội đẳng Thành ph
Ngay 19-7-1888 Toản quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập tại
Hà Nội một Hội dễng thành phố, dứng dẫu là một Đắc lý kiêm Chủ tịch Hội
đồng Thanh phố vả và 16 ủy viên (lúc đầu là 12 người Pháp, 2 người Việt, 2
người Hoa, sau là 4 người Việt, không còn người Iloa tham gia nữa) Cáo uỷ
viên của Hội đồng Thành phố đều đo 'Lỗng 'Trủ sử bố nhiệm với nhiệm kỹ là 3
năm Giúp việc cho Đốc lý còn có hai phó Đốc lý và Toà Đốc lý
Cách tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thành phá được Nghị định
ngày 19-7-1888 quy định: Hội đồng Thành phổ họp thường kỳ mỗi năm bến
lần, vào đầu các tháng hai, năm, Lám và mười một, mỗi phiên họp kéo dai 10
ác phiên hop bất thường sẽ dược tổ chức nếu có để nghị của từ 3 uỷ
Hội dồng Thành phố Hà Nội đã được hoàn thiên thêm về tổ chức bing
một loạt các Nghị định của Toàn quyền Dông Dương và các Sắc lệnh của
Tổng thống Pháp trong những năm tiếp theo Tổ chức nảy ngừng hoạt động
sau sự kiện Nhật dảo chỉnh Pháp ngày 9-3-1945
Trang 3331-12-1888 của Công sứ - Đốc lý Thanh phố với chức năng tương đương với
các Toả Công sử các tính Thời gian đầu, tổ chức của Toà Đốc lý chỉ bao gầm
một số phỏng, ban sau: Văn phòng, Phỏng Kế toán, Phòng Cảnh sát, Phòng
Quan lý giao thông dường bô, Phỏng Địa chính VỀ sau, tổ chức vả chức năng của các phỏng, ban thuộc 'Toà Đốc lý Thành phố mới được bổ sung vả
sửa đổi lại cho phủ hợp với sự phát triển về địa giới hành chính và đô thị hoá
của Thành phổ [20, tr.34-41 ]
Hộ trưởng và Phô trưởng
CẤp cơ sở thành phế TIà Nội là các khu — hộ vả phố, cùng với đá là
hệ thống các hộ trưởng (trưởng khu phế) và phổ trưởng người Việt, do chính
quyền Pháp sắp đặt Trong con mắt của người Pháp, hệ thông này, đặc biệt là
các Phố trưởng được đánh giá lá có vai trò hữu hiệu Một Nghị định năm
1897 quy định chung chung, mập mờ về nhiệm vụ các Irưởng phố la: dan xếp, hòa giải những xích mích, tranh chấp giữa những người Việt, để chỉnh
quyền thuộc dịa bớt dị một nhiệm vụ mà họ không thể nào làm dược Các
Nghị định những năm sau đỏ quy định cụ thé hon, theo đó, những viên chức
này có nhiệm vụ theo dõi và bảo cáa Đốc lý những sự vu hén quan đến việc giữ pìn trật tự chưng, lập đanh sách những đối tượng dòng thuế, theo dõi tỉnh
thỉnh đóng thuế của những người đã thay đỗi nơi cư trủ; phối hợp với các viên
chức chuyên môn của thành phố trong thực thi các quy dịnh về vệ sinh thành
phố; có quyền nhận và chứng thực một số giấy tờ Ngoài ra, khi được cấp trên
yêu cầu, họ cỏn phải tiến hành điều tra, xác minh những sự việc đối tượng
thuộc phạm vi khu vực mỉnh quản lý [61, tr.170-171]
Với việc thiết lập bệ máy hảnh chính mới, thực dân Pháp có được một
công cụ đắc lực để triển khai những dự án quy hoạch, chỉnh trang lai [Id Noi
trong những năm tiếp theo Trong bối cảnh ấy, đô thị Hả Nội nói chung va
tuyến phố Trảng Tiên — TIảng Khay — Tràng Thỉ nói riêng có những chuyển
biến quan trọng về quy hoạch và điện mạo
27
Trang 342.2 Tuyén phố Tràng Tiển — Tầng Khay — Tràng Thi trong những
năm 1873-1888
Mỡ tuyển đường chiến lược nỗi khu Nhượng địa và thành Hà Nội
Khi mới chiếm đóng Hà Nồi, thực dân Pháp đã tiến hành công việc quy hoạch, xây dựng một số tuyển phố 'Irước hết, nhà cầm quyển cho mở một
trục phố mới từ công khu nhượng địa giáp bờ sông tới cửa Nam thánh IIà Nội
trong đó có quân dội Pháp dồn trú Irục phố dó chính là tuyển đường, Trảng
Tiền Ilàng Khay Trang Thi ngày nay Có hai lý do khiến chính quyền
thực đân lựa chọn mở tuyển đường này
“thứ nhất, dựa trên những nhận định về vị trí mang tính chiến lược của
tuyến phố Đầu năm 1883, đội quân viễn chỉnh của IIlenri Riviere ở IIà Nội
chỉ đóng ớ hai địa điểm: ở phia Đồng lả khu nhượng địa và ở phía Tây là
trong thành Hà Nội Mọi liên lạc thường xuyên giữa hai dia điểm bị cắt đứt từ
ngày 19-5-1883, ngày Riviere tử trận tới ngày 3-6-1883, ngày lực lượng trong thành Hà Nội dược tăng viện lên tới 500 người Ngày 4-6-1883, chỉ huy
trưởng Morel Beaulieu gửi thư cho Thống đốc Nam Kỳ cho biết: “Khu
nhượng dia ngỗn ngang đủ thứ, hiện nay rất khó xây dựng Toàn bộ phần
phía Tây ngập bùn sau mỗi trận mưa, những chỗ giữa các công trình vả taluy cọc thực sự biến thành đầm lầy Khu thành 1Ià Nội sẽ là tâm điểm chúng ta,
trong đỏ khu nhượng dịa sẽ chỉ là lếi ra sông để nhận tiếp tế” |81, tr E| Trong
những điều kiện đó, người Pháp đã nhận ra tầm quan trọng của tuyến phố Tràng Tiền — Ilàng Khay — Tràng Thỉ - con đường trực tiếp nối nhượng dia
với thành Ha Nổi và khu phố buôn bán Chính vì thể, người Pháp đã ra sức
cải tạo, quy hoạch tuyến phổ này và biến nỏ trở thành trục chỉnh của một khu
phổ Pháp sẽ nảy sinh sau đó
Vị trí địa lý mang tính chiến lược của tuyến phố càng được Andrẻ
Massen khẳng định trong Hà Nội giai đoạn 1873-1888: “Không gì có thể
bảo trước mat phé nim ở ngoại õ toàn đầm lầy như phố Hàng Khám có ngày
28
Trang 35lại trở thành một trưng tâm náo nhiệt của Hả Nội Khu phổ kiểu Pháp chi
này sinh từ con đường đỏ mả không ở nơi nào khác đơn giãn vì con dường
nảy trực tiếp nối khu nhượng địa với thành HIả Nội và với khu phế buôn
bắn” [1, tr.69-70]
'Thứ hai, từ việc quy hoạch và cải tạo tuyến đường 'Iràng Tiền — Hàng
Khay — Tràng Thị, chính quyền thực dân có thể phát triển vả mở rộng khu
nhượng dịa ra bên ngoài thành phố mới chỉnh phục dỗng thởi có điều kiện dễ
phô trương về cái gọi là “sứ mạng khai hóa” của nền văn minh Pháp quốc đối với những người bản xử
Năm 1883, người Pháp cho mở con đường đầu tiên là đường Paul BerL
Những quy hoạch của chính quyền thực đân đã làm bộ mặt tuyến phô có
những thay đổi mạnh mỡ Từ một “con đường rộng chưa tới 3m đầy những hồ
nước hôi thổi” (ném 1883), nim sau phố đã được “mở rộng như một đại lộ”
T31, tr.515] và đến năm 1885 nó đã trở thành “một phố được trải đá đấm khá tốt, rộng từ 16 dến 18m” |32, tr66J Không chỉ quan tâm đến việc lát đá ở
lòng đường, chính quyển thuộc địa còn cho lát vỉa hẻ và quy hoạch không
gian hai hên đường phố Ngày 15-1-1887, mật khoản tín dụng 600 lrane được
chấp thuận cho phó công sử Hả Nội dễ lát vĩa hè phố Paul Bert với mép bằng
gach [1, tr.137] Và sau đó ở hai bên đường, người ta cho trồng những cây
phượng vĩ hoa dé rac Quang cảnh này dã dizgc Dr Hocquard ghi lại rất rõ
nét: “Khi vượt qua công, chủng tôi thấy ngay một đại lộ lớn trồng nhiều cây
và hai bên đường là những cái nhà lợp tranh: Đó là phế Llàng Khẩm (Thợ
Kham)” [31, #598] Nhung sau đó các chủ hiệu dễ nghị dẫn bỏ đi dễ lấy anh
sảng, không khi đỡ 4m thấp và bớt muỗi về mùa mưa và cũng là để làm mất cái nạn ve sầu kêu làm bọn Tây khó ngủ [82, tr.663]
Sau đường Paul Bert, chính quyển thuộc địa tiếp tục cho cải tạo và quy
hoạch đường Tràng Thi Vào năm 1884, nếu như Tràng Tiên — [làng Khay đã
là một con đường được mớ rộng thì đường Tràng Thị chưa phải là một đường
29
Trang 36phổ Chúng ta có thể thấy rõ điều nây khi đọc những dòng hỗi ký của một sĩ quan Pháp: “Ra khỏi thành phổ (tức là di hết phố Hàng Khay) thi dén con đường đẩy bóng râm mát, bên trái là đồng ruộng, bên phải là lãy tre dày trong
có tiếng sé chiép chiếp I.Ẻ đường cảnh tre ram va cao ngã xuống tận dầu
người qua đường, bên trong lũy tre những cô gái nhìn khách nước ngoài vẻ tỏ
mmò Phía trái con đường, giữa đám ruộng thấp có một khu nền đất chung
quanh có tường xây bao bọc khá cao Đó là trường thi Hương lúc này thì cả
khu bỏ hoang tàn và đỗ nát, tường nhà vỡ, mái sụt, cổ mọc khắp nơi ” [82,
tr783] Tuy nhiên, sau năm 1890, diện mạo nảy đã hoản toản biến mất
Đường Tràng Thị đã là một đường phổ 'Lây với cái tên Borgnis I3esbordes:
“Đường phố thắng tắp, mặt đường rộng, trải đá và có vỉa hè, hai bên đường
trồng những cây bảng lớn soi bỏng mát, tối có đến thắp sáng” |§2, tr.784]
Sau khi được cải tạo theo hướng giao thông hiện đại, trục phố Irảng
Tiền — làng Khay — Trang Thi thực sự trở thành trung tâm, xuất phát điểm
của hệ thống giao thông kiểu phương Tây ử Hà Nội Sở dĩ có thể khẳng định
-Đỡ bổ tà nghiêm cắm việc làm nhà tranh, xây dung nhà gạch
Mặc dù dã tiến hành đầu tư cải tạo nhưng tuyến phó có vị trí chiến lược
nảy vẫn làm chính quyền thuộc địa cảm thầy đau đầu vì quang cảnh hai bên
đường vẫn đầy ắp những ngôi nhà lá và thiếu hụt những ngôi nhà kiểu châu
Âu Rự tổn tại các khu nhả tranh là một vẫn để rất lớn không chỉ trong quy hoạch tuyến phố nói riêng, đô thị thành phố nói chung mà còn liên quan đến
an toàn trong khu vực Do nhà được làm bằng các vật liệu dễ
30
Trang 37chen chúc và san sát nhau nên thường xuyên xãy ra hóa hoạn, có khi thiểu Irụi
cá một đấy phố hang mấy trăm nóc nhả Trước tỉnh hình đỏ Phó Công sử HÀ
Nội ký Nghị định ngảy 17-9-1886 nghiêm cấm xây dựng cũng như sửa chữa
các công trình bằng tranh ở khu vực có mặt tiền trên các phố Hảng Khay, Hảng 'Iyống, Hàng Chiếu [16, tr.222] tiến ngày 26/12/1886, 'Tẳng trú sử Paul
Bert lại ký một Nghị định gia hạn đến ngày 1/1/1888, phải đỡ bổ tất cả các
nhả làm bằng tranh ở phé Paul Bert’ ‘liép do, ngày 16/3/1888 Công sứ Pháp
& IIA Nội lại ra một Nghị định cấm xây cất những nhà bằng lá cách dưới 15
mét những nhà xây bằng gạch và lợp ngói trên đại lộ Hoàn Kiểm, các bến
sông, các phố 'lrảng Tiền, Hàng Thêu, Ngô Quyển, Nhà Chung, Hàng Bông,
llàng Chiểu, Đường Thành, làng Bai, [ang Ca, M3 May, [lang Buém va
đoán đầu phố Trảng Thị |72, tr.27|
Chính sự đầu tư cải tạo và tác dụng của những Nghị định được ban
hành đã làm quang cảnh nhà cửa xung quanh khu phố cũng có sự thay đổi rõ
rét Méu như vào năm 1884 hai bên phố Trảng Tiền — Hang Khay: “là những
ngôi nhà tranh, hai hay ba cửa hiệu của người Trung Quốc, TẤt sạch sẽ và hầu
như sang trọng, bắt đầu cho mat day những gian hàng nhỏ” [31, tr.533| thì sau khi những ngôi nhà tranh trên tuyến phổ bị dỡ bỏ, lần lượt thay thé là
những nhà gỗ tre lợp tranh lá xen kế với một sé it nha xây gạch binh thường
được dựng lên Dần dẫn đọc dường phổ, những nhà hảng của người Pháp mọc
lên và họ bắt đầu xây cất nhà gạch có gác thay thế cho nhà gỗ lụp xụp Sự thay đổi nảy cảng được khăng định khi tờ Tương lai Bắc Kỳ miễu tả về những
ngôi nhà trên phố Hàng Khay vào năm 1WB8: “Chúng ta dang chứng kiến sự đổi thay của khu phố này Khắp nơi, những ngôi nhà gạch lịch sự và những
cửa hàng đẹp đế đã đang mọc lên trên những mảnh đất mà xưa kia là nơi cư
# Trong thực tế, Nghị định này đuổi dân nghèo ra khỏi nơi sinh sông của họ, tạo điền kiện cho chính quyền thuộc địa cướp không đuọc mật điện tích đắt dai đáng kê,
31
Trang 38trú tập trung của những người An Nam, những ngôi nhà làm mỗi cho hỏa
hoạn và dịch bệnh” |87, tr 142]
Lúc đầu, chỉ có những cửa hiệu nhỏ như cửa hiệu sản xuất nước có ga,
tiệm bánh, tiệm tạp hóa Sau đó, có thêm cdc quan cả phê (quản cả phê của
ba Beire được mở đầu tiên ở khu phố nây vào năm 1883), quán rượu (năm
1885 đã có tới sáu quán rượu ở phố nảy), một hiện thợ cạo có bán nước hoa,
một cửa hàng được phẩm (nhà Julien Hlane ở chỗ góc bờ hồ), một phỏng doc
sách và cho thuê truyện Tất cả đều là những vật phẩm phục vụ cho đám quan chức Pháp và gia đình, các nhà thực đần tư bản củng các sĩ quan, binh
lính Pháp J.Boissiere mô tả phế Iràng Tiền vào cuối thể ky XIX: “Doe thea
phổ Paul Bert có những cửa hàng bóng lôn như tiệm cà phê, nhà hàng ăn, như
đổ cho người du khách mới cặp bến biết được rằng muốn nói gì thì nói, Hà Nội vẫn là một thành phố Pháp Hãy đi qua để phát hiện ra những biễn hiệu
“Bazar de Paris” (Chợ phiên Paris) “Aux fabriques de France” (ở các xưởng
chế tạo Pháp quốc) Hiệu tạp hóa, cửa hàng thám, cửa hàng để sắt, hiệu
thuốc tây, hãng buôn bán hàng thuộc địa, thôi thì đủ thứ” [32, tr.67]
Xây dựng một sé công tình công cộng
Mặc dù chưa “bình định” được Bắc Kỳ nhưng ngay tử tháng 10-1875,
người Pháp đã chú trọng xây dựng IIà Nội nhằm biến 1Ià Nội thành một trung
tâm chính trị, quân sự ở Đắc Kỷ dễ nhanh chóng thực hiện kế hoạch khai thác
thuộc địa, bắt đầu bằng việc khởi công xây đụng các công trình kiên cỗ trên
khu nhượng địa Các công trình ở khu nhượng địa bao gom tỏa Lãnh sự, sở
chỉ huy quân dội, nhà ở cho sĩ quan, trại lỉnh 'Lất cả các công trình nay déu
được bao quanh bằng các ụ đất và các hàng rào cọc gỗ Tuy nhiên, một thời
gian sau đó, vì cho rằng chủng gây nên những điều bất lợi, làm cách biệt khu
nhượng địa với thánh phố nên tẤt cả gác cọc gỗ và các ụ đất bao quanh khu
nhượng địa đã được dỡ bỏ trong năm 1886 Ngoại trừ Tòa lãnh sự, toàn bộ
các ngôi nhà ớ đây đểu được xây dựng một cách đơn giản theo chủ nụ
32
Trang 39công năng duy lý Đặc điểm chung của các công trình là mặt bằng hình chữ nhật dơn gián với hành lang rộng bao quanh Vật liệu chủ yếu sử dụng là vật
liệu địa phương kết hợp với kết cấu thép nhẹ mang từ Pháp sang
Sau khi làm chủ được Hà Nội và tiến hành chỉnh trang vỀ mặt dường
sả, chỉnh quyền thuộc địa rất quan tâm đến việc quy hoạch không pian xung,
quanh hd Iloan Kiém, đặc biệt chủ trọng xây đựng khu phố Tây mà trục phố
Tràng Tiền — Hàng Khay — Tràng ‘Thi 1a trung tâm
Để có đất làm đường và xây dựng khu phố Pháp, vào năm 1886, chính
quyền thude địa đã phá hủy nhiều ngôi chùa cổ ở khu vực xưng quanh hồ
Hoàn Kiếm bất chấp những lá đơn khiếu nại của dân chứng trong khu vực
Trong đó điển hình là việc phá hủy chùa Phổ Giác Chùa Phổ Giác tục gọi là
chia Tau (người Pháp viết Cua Tao) vì ngôi chùa cỗ này xưa kia có một Tâu
tượng (chuồng xol) do các tủ binh người Chăm tréng nom Sau năm 1882,
thực dân Pháp chiêm đóng nơi này làm cơ quan tình báo quân sự Năm 1886 -
còn đến 15 cửa ô (trước là 16, sau cửa 6 Nhân IIòa quãng bệnh viện Quân đột
108 ngày nay dã bị mất, có thể đo bị sụp lớ xuống sông Hằng) Nhưng sau khi
khi Pháp hạ Thánh Hã Nội lần thử 2, các của ô đều bị đỡ bó (chỉ đế lại ô
Quan Chưởng do có ý kiến bảo tồn của trường Viễn Đông Bác Cổ), trong đó
có cửa ô lây Luông ở Irảng Tiển Mếu như trước dây cửa ổ này có thể là
“một vỏm cuốn uến cong rộng lớn xây gạch chắc chắn vuông vin” thi dén
năm 1886 nó đã bị phá hủy và được thay bằng một cửa ô mới đơn giản hơn
rất nhiều Cửa ô mới nay được gọi là cửa Pháp Quốc, ở lối đi vào khu nhượng
địa, với 2 cột trụ xây thẳng đứng, trên có đấp hình 2 con lân [32, tr.63]
33
Trang 40Từ phần đất chiếm dụng được, chính quyền thực dân đã xây dựng một
cụm công trình công sở hành chính - chính trị, thường được gọi là “Bốn Tủa”
ở phía đông nam hỗ Iloàn Kiểm Cụm công trình kiến trúc nảy được xây dựng
trong những năm 1886-1887, pềm tòa Đốc lý, Kho bạc, Pưu diễn và Phủ
"Thống sử, ở 4 póc đối xứng nhau, giữa lả vườn hoa Paul Bert với bức tượng
của viên quan cai trị này Tiếp đó, chính quyền thuộc địa còn xây đựng một số
công trình phục vụ hoạt động quản lý hành chính trên trục phố lrảng Tiền —
Ilang Khay Trảng Thi Điển hình là công trình Nha Kinh lược Bắc Kỳ Nha Kinh lược Bắc Kỳ bắt đầu được thiết lập trong năm đầu niên hiệu Ilàm Nghĩ (1885) Sự tồn tại của tổ chức nảy là kết quả của một sự thóa hiệp nửa vời của hai thế lực trước là đối địch sau thành cấu kết Triều đỉnh Iluế muén théng
qua cơ quan nay dé vot vat chal quyền lực còn lại của mình ở Bắc Kỳ, còn
Pháp thì coi Kinh lược như một công cụ để nắm lay trong việc bình định và
gai trị Bắo Kỷ, qua đó thực hiện âm mưu tách Bắc Kỷ ra khỏi triều đình Huế
Sự thỏa hiệp này dược thê hiện rõ nét trong những quy định về quyền hạn của
người đứng đầu Nha Kinh lược: Kinh lược Bắc Kỳ có toàn quyền thay mặt
triều đình để cai quản Bắc Kỷ, mọi hoạt dộng của Kinh lược Bắc Kỷ đều phải
đặt dưới sự chỉ đạo và giảm sát của Thống sử Bắc Kỳ
Nha Kinh lược Bắc Kỳ bắt đầu được xây đựng từ thing 7-1886, đến
tháng 2-1887 thì hoản thành Địa điểm dược chọn để xây dựng cơ quan này là
tại khu đất vẫn trước đây là Trường Thi Hà Nội Công trinh nằm trên một mảnh đất vuông văn quay mặt ra ba phố Borgnis Desbordes (Trang Thi), dai lệ
Jaurépuiberry (Quang Trung) và đại lộ Rollandes (Hai Bà Trưng) Kiến trúc
của đh Kinh lược được mô tả: “là một tòa nhà lớn, khiếm nhường nhưng
được trang trí sang trọng, bên trong có một khoảng sân rộng với một bể cá
vâng, hòn non bộ và nhiều chậu hoa Tòa nhà đã được trang trí lồng lẫy nhiều
ức màn trướng gim thêu, hoành phí câu đối và những bản văn khắc thiếp
vàng trên những bài vị sơn sơn đó của xứ Đắc Kỳ, những đề gỗ đẹp, những
34