1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam

155 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật ở Việt Nam
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nông nghiệp và Chăn nuôi
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Gép phần xây dựng bến vững các hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam ĐỐI TƯỢNG VA PHAM VI NGHIÊN CỬU CỦA ĐỀ TÀI - Đối tượng nghiêu cứu của dễ tài là các loài ong mật bản

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

Ý NGHĨA KHOA HOC VA THLE CỦA ĐỀ TÀI

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CÚU CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1 TỔNG QUAN TÂI L IỆU

1.1 Sơ lược tình hành nghiên cúu về ong mật trên thế

1.1.1 Nghiên cứu vẻ hình thái và phân loại ong mật

L.1.2 Nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của ong mật

1.1.3 Nghiên cứu về chọn giống ong mật

1.1.4 Nghiên cửu vẻ bệnh và các thiên dich hai ong mat

biện pháp phòng trừ 1.1.5 Các loài ong mật và vùng phản bổ

1.2 Tình hình nghiên cứu về ung mật ở Việt Namn

12.1 Laài ong nội

2.3 Đặc diểm tự nhiên và điều kiện nuôi ong của các vùng nghiên cứu 36

Trang 2

2.5.3 Phương pháp phân tích mẫu

2.5.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ liêu sinh học

2.5.5 Phương pháp phân tích enzym

2.5.6 Xử lý số liệu

Chương 3 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU VẢ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá các loài ong miật hiện có ở Việt Nam

3.1.1 Đặc điểm hình thái

3.1.2 Đặc điểm sinh học

3.1.3 Đặc điểm hệ cnzym Estcrase và Isocitric dehydrogenase

của một số nhóm ong nội ở miễn Bắc Việt nam 3.1.4 Vũng phân bố

3.1.5 Các loài ong mật sống đã sinh trong tự nhiên

43.2 Góp phản định hướng công tác bảo tôn và sử dụng

nguồn gen ong mật ở Việt Nam

3,.2.L Cơ sở để định hướng công lác bảo tổn và sử dụng

nguén gen ong mật ở Việt nan

3.2.2 Một số ý kiến để xuất về định hướng công tác

bảo tên nguồn gen của các loài ong mật ở Việt nam

3,2.3 Một số ý kiến dể xuất về định hướng công tắc giống ong

trong ngành ong Việt nam

AI 4I

106

106

108

Trang 3

KẾT LUẬN VÀ ĐỂ NGHỊ

ĐANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC DA CONG BO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 3 Giá trị ưung bình và thứ tự xếp hạng của các chỉ tiếu

hình thái ong ngoại Phụ lục 4 Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu hình thái onp ngoại

Phụ lục 5 Sức đẻ trứng của ong chúa ong nội tại

các vùng nghiên cứu

Phụ lục 6 Năng suất mật của dàn ong nội (kg/din/sain)

Phụ lục 7 Tỷ lệ (%) ong đục lưỡng bội của đàn ong nội

Phụ lục 8 Giá trị

nuôi ở miền Hắc Việt nam

một số chỉ tiêu sinh học của ong ngoại

Phụ lục 9, Giá trị trung bình và thứ lự xếp lạng của một số

chỉ tiêu hình thái ong thợ ong khoái Phụ lục 10 Giá trị tung bình và thứ tự xếp hạng của một số

chỉ tiếu hình thái ơng thợ ong ruồi đỏ

Thụ lục 11 Giá trị trung bình một số chỉ tiêu hình thái

của các loài ong mật

Trang 4

Ấu trùng túi

Ấu trùng tuổi lớn

Chiêu dài đoạn gân a của 0 cubital Chiêu đài đoạn gân b của 6 cubital Chiều đài đốt nhứ nhất ban chan sau

Chiều dọc tấm bụng đốt bụng 3 Chiêu đài cánh bước

Chiểu dài đốt dùi chân sau Giều dọc gương sáp

Chiếu dọc tấm lưng đốt bụng 3 Chiều dài đết ống chân sau Chiều dài vòi

Chiếu ngang tấm lưng đốt bụng 3

Chiều rộng đốt nhứ nhất bàn chân sau

Chiều rộng cánh trước Chiều rộng phần premenInm của vòi

Statistical Program for Social System

'Thối ấu trùng chân Mỹ

“Trưởng thành

Trang 5

DANH MỤC CÁC HẦNG

Trang Bang 3.1 Số chỉ liêu trong các bậc thứ tự xếp hạng của ong nội 54

Bằng 3.2 Sự tương quan giữa các chỉ tiêu hình thái của ong nội và ong ngmại — 59

Bang 3⁄4 Giá trị một số chỉ tiêu sinh học của đần ong nội 04

Bảng 3.5 Một số sinh vật gây hại cho các đần ong nội và ong ngoại ở Việt nam 70

Bảng 3.8 Tần số alen cha locut gen Idh ở các các nhóm ong nội 84

Bảng 3.9 Số lượng chỉ tiêu trong các thứ tự xếp hạng của ong khoái aI Bảng 3.10 So sánh một số đặc điểm hình thái của ong đá và ong khoái 96

Bảng 3.12 Giá trị một số cỉ

êu hình thai của ơng tuổi dò và

Bảng 3.13 Kích thước bánh tổ và độ cao nơi lầm tổ (kế từ mặt đất)

Trang 6

Hình 2.2 Khoảng cách đo các chỉ tiêu của vòi ong thợ

Hình 2.3 Khoảng cách đo các chỉ tiêu của cánh trước ong thợ

lình 2.4 Góc gân cánh của cánh trước ong thợ

Hình 2.5, Khoảng cách do các chỉ tiêu của chân sau ong thợ

Hình 2:6, Khoảng cách do các chỉ tiêu của tấm lưng 3 ong thợ

Hình 2.7 Khoảng cách đo các chỉ tiều của tăm bụng 3 ong thợ

tlình 28 Xác định sức đẻ trứng của ong chứa

Hinh 2.9 Xác định năng suất mal cia dan ong

Hình 3.10 Ong thự cũa các loài ong mật ở Việt Nam

Hình 3.1 I Kết quả phân tích phân biệt giữa các nhóm ong nội

Hình 3,12, Ong chúa và ong thợ của loài ong nội

Hình 3.13 Kết quả phân tích phân biệt giữa các nhóm ong ngoại

Hình 3.14, Sức dé trứng của ong chúa ong nội ở các vùng nghiên cúu

Hình 3 15 Năng suất mật của các đàn ong nội ở các vùng nghiên cứu

Hình 3 16 Tỷ lệ % ong dực lưỡng bội cũa đàn ong ở các vùng nghiên cứu

Hình 3 17 .Bệnh ấu trùng tuổi lớn ở các đần ong nội

Hình 3 18 Sức đẻ trứng của ong chúa ong ngoại

Hình 3 I9 Năng suất mật của các đầu ơng ngoại

Hình 3 20 Tỷ lệ % ong đực lưỡng bội của dàn ong ngoại

Hình 3.21 Câu nhộng của đàn ong ngoại bình thường

Hình 3.22 Câu nhộng của dầu ong ngoại bị cận huyết

Hình 3 23a Sơ đồ cấu tử điện dĩ esterase cửa ong Cát Bà và Lai Châu

Hình 3 23b Sơ đổ cấu tử điện di zsterase của ong Cao Bang

Hình 3 23c Sơ đồ cẩu tử điện di lđh của các nhóm eng nội nghiên cứn

Tinh 3.24, Ảnh chụp điện dĩ cslcrase của các nhóm ong nội

Hình 3.25 Ảnh chụp điện di izocitrie đehydrogenase của các nhồm øng nội

Hình 3.26 Đõ nuôi ong nội (kiểu đõ đứng)

Hình 3.27 Đàn ong nội được nuôi trong đỗ ong

Hình 3.28 Một trại nuôi ong ngoại

Hình 3.29 Mức độ phân biệt giữa các nhóm ong khoái

Hình 3.30 Các lổ ong khoái lrên một cây rừng

Trang 7

Mức độ phân biệt giữa nhóm ong đá và các nhóm ong khoái

Mức độ phân biệt giữa các nhóm ong ruổi đỏ

Té ung rudi dd Mức độ phân biệt giữa nhóm ong ruồi đen và nhóm ong rudi dd

Sơ đồ biểu thị sự phần bố của các loài ong mật ở Việt Nam

Sơ đồ hệ thống công tác giống ong ở Việt Nam

Trang 8

Nghề nuôi øng không cần đất đai canh tác, đòi hỏi đầu tư ít, có thể tận dung

nguần lao động nhàn rỗi, nhưng tạo ra nguồn sản phẩm có giá trị y học và đỉnh

đưỡng cao như mật ong, sốp ong, phẩu hoa, sữu ong chúa, nọc ong, keo ong

Ong mi còn là nhân tố quan trọng trong việc thụ phẩn cho cây trồng, góp phần

làm tăng sân lượng và phẩm chất các nông sản Vì vậy, phát triển nghề nuôi ong

g6p phẩu tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân, tham gia tích cực vào

chương trình xoá đếi giảm nghèo và phát triển kinh tế, xã hội ở vùng sâu vùng

xa Mặt khác, nuôi ong còn kích thích việc trồng cây ăn quà và trắng cây gay

rùng, hạn chế việc dùng hừa bãi các hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp,

tham gia vào việc bão vệ nguồn lài nguyên thiên nhiên và chống õ nhiễm môi trường

Nằm trung vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có thảm thực vật da dang

và phong phú, trong đó có rất nhiều loài cây cung cấp ngun mát, phần đổi dào cho ong mật Trong những nẽm gắn đây, chính sách đổi mới kinh tế của Nhà nước đang khuyến khích nông dân, đặc biệt nông đân vùng rừng núi phát uiển

trồng cây gây rừng, phủ xanh các vùng đãi trống đổi trọc Nhiễu vùng cây ăn

quả đang tược mở rộng diện tích và đẩy mạnh thâm canh Nhiều cánh rừng bị

khai phá lại dựoc phả xanh nhằm gốp phần phát triển một nến nông lâm nghiệp

bên vững Đây cũng là một trong những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi cho nghề

nuôi ong phát triển

Việt Nam là một nước không rộng lớn, nhưng lại khá phong phú vẻ nguồn gen

ong mật Loài ong nội (Ä cer¿nz) phân bố khắp hầu hết trên lãnh thổ Việt Nam

và được nhân dân thuần hoá thành vật nuới từ rãi sảm Từ những năm 6U đến

nay, các đần ong nội được nuôi theo kỹ thuật tiên tiến, vì Hiế năng suất và chất lượng sẵn phẩm làng lên rõ rệt Hiện nay, các đàn ong nội dược nuôi phổ biến ở các lĩnh phía Bắc và các tình miễn tây Nam bộ đã cung cấp phẩn lớn lượng mật

Trang 9

ong cho thị trường trong nước Leài ong ngoại (Á mellifera) duge nhap vào

Nam từ những năm 60 và dã thích nghỉ tốt với điều kiệu tự nhiên của nước tụ

Chúng phát triển tốt ở những vùng có nguồn hoa tập trung và thích hợp với nghề

nuôi ong chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn hoá cao Hiện nay, 2 loài ong này trở thành đối tượng chủ yếu trong sẵn suất của ngành ưng Việt Nam

Ngoài những nguồn lợi đo các loài ong nuôi đem lại, con người còn khai thác được khối lượng lớn mật ong, sắp ong từ các loi ong mật sống hoang dã trong

tự nhiên như ong khodi (Apis dorsata), ong rudi do (A florea) Vi du cic din ong khodi & ving rừng tràm ngập mặn Cả Mau có thể dem lại lợi nhuận cho

người làm nghề ong gác kèo cao hơn 7 - 8 lầu so với sẵn xuất nông nghiệp

“Trong thời gian qua, ngành ong Việt Nam đã có bước phát triển và đạt dược một

xuất khẩu Trong năm 2000, ngành ong đã sẵn xuất được trên 7000 tấn mật ong,

150 tấn sáp ong, 3 tấn sữa ong chứa, trong đó xuất khẩn 3000 lấn mật, 100 Iẩn sấp ong vũ gắn 2 Lấn sữa ong chúa, đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu hơn 4 triệu

do la My

Nhằm tạo tiền để chớ nghề nuôi ong phát triển bền vững để khai thác tốt hơn

tiểm năng nuôi ang cia nước ta, ngành ong đã bước dầu giải quyết mới số vấn

để cơ bản như điều tra vùng phâu bố và trữ lượng cây nguồn mật phẩn nuôi ung:

điển tra các bệnh vã thiên dịch hai ong; xây dựng các quy trình kỹ thuật nuôi

dưỡng dàn ong và khai thác sẵn phẩm øng; quy trình phòng ừ một số bệnh và

ký sinh hại ơng; tiến hành một số chương trình chọn giống ong Trong các lĩnh

vực nghiên cứu này đã có một số công trình được công bố trên các tạp chí trang

và ngoài nước, báo cáo trong các hội nghị khoa học chuyên ngành, hội nghị

quốc gia và quốc tế cũng như được trình bầy trong mol số lưận án thạc sĩ và tiến

sĩ Tuy nhiên cho đếu nay vẫn chưa có một nghiên cứu tổng thể dể đánh giá

Trang 10

hoá và hiện đại hoá đất nước hiện nay, Vì vậy, chúng tôi đã chọn để tài luận án

" Đánh giá điểm năng các loài ong mệt và để xuất cơ sử khoa hạc góp phẩm

chon tae gidng ong mật ở Việt ÑNaui"

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỂ TÀI

Để tài đã được thực hiện với các mục dích sau:

-_ Đánh giá bước đầu tiểm năng các loài ung mật hiện có ở Việt Nam và để xuất

cơ sở khoa học cho công tắc giống ong,

-_ Cung cấp dẫn liệu cơ bản phục vụ các lĩnh vực nghiên cứu có liên quan và thực

tế sản xuất

-_ Gáp phần vào việc nghiên cứu bảo tổn và sử dụng bêu vững đa dạng sinh học,

các hệ sinh thái ở Việt Nam

Ý NGHĨA KIIOA HỌC VÀ THỰC TIỀN CỦA ĐỂ TÀI

Ý nghĩa khoa học của để tai |

- Đồng góp vàu công tác điều tra eơ bản về thành phần loài, sinh học và sinh thái học của các loài ong mật ở Việt Nam

Đồng góp vào việc xây dựng cơ sở dẫn liệu vẽ các chỉ tiêu kỉnh tế, vai trò

và tiêm năng của các loài ong mal trong sy phat triển của nghề nuôi ong ở

nước la

Ý nghĩa thực tiễn của để tài là:

Những dẫn liệu nghiên cửu là cơ sở khoa học để:

- Định hướng chiến lược cho sự phát triển của ngành ơng và công tư giống ong ở nước ta

- Gép phân xây dựng các chương tình quy hoạch nuôi ong và các lình vực nghiên cứu khác như giống ong, bệnh ong, quy rảnh kỹ thuật nười ong

Trang 11

- Gép phần xây dựng bến vững các hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG VA PHAM VI NGHIÊN CỬU CỦA ĐỀ TÀI

- Đối tượng nghiêu cứu của dễ tài là các loài ong mật bản địa và ong ngoại

nhập nội dang tén tại ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của để tài là nghiên cứu một số chỉ tiêu hinh thái, dặc điểm sinh học của các loài ong mật ở các vùng sinh thái khác nhau và

một số nhân tố kỹ thuật, kinh tế, xã hội trong ngành ong ảnh hưởng đến công tác giống ong ở Việt Nam.

Trang 12

ẩm, Chỉ

ig trong thể giới động vật không xương sống, ong là đối tượng cua

nhiều công tình nghiên cứu và nhiều sách xuất bản hơu cả (Grasse, 1978)113]

Sau dây là một số nét cơ bản tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về

sinh học và sinh thái học ong mật, về phân loại và vùng phân bổ của một số loài ong mật chủ yếu, về công tác cãi tiến kỹ thuật nuôi ong phòng trị bệnh ong, chọn giống ong

1.1.1- Nghiên cứu vẻ hình thai va phan loại eng mật

Tương tự như ở cắc nhóm côn trùng khác, những khác nhau về hình thái và tập

tính của ong mật là một trong những cơ sở quan trọng để xác định sự da đạng sinh

bọc và chất lượng của các giống ong Vì thế, phân tích các chỉ tiêu hình tÌ

phương pháp đã được sử dụng đầu tiên để phân loại ong mật Liúc đầu, nguời ta

dựa vào các đặc điểm hình thải có tính chất định lính như hình đạng, mâu sắc, cách sắp xếp các lớp lông ở các bộ phận cơ thể con ong dé phân loại ong mật Đặc biệt hình dạng và cấu trúc cơ quan sinh dục đực là một trong những chỉ tiếu

đáng tin cậy để phâu biệt các loài ong mật (Koeniger eLal., 1991; Tingek eL.al

1996)(75]{126] Năm 1758, Linne là người đấu tiên đã nghiên cứu và đặt tên cho

lã thay đổi tên

loài ong mal chau Au Ia Apis mellifera Mic dit 3 nam sau dé dng đ

A mellifera thành A melljfica, nhưng tên A mellifera là phù hợp với nguyên tác

phân loại động vật và nó dược dùng rộng rãi đến ngây nay (Mayor, 19681211

Trang 13

Theo Ruttner (1988)| 106] thì về sau phương pháp đo kích thước các bộ phận có

thể con ong đã được một số nhà nghiên cứu ấp dụng để phân biệt các nhóm ong trong đó có Cochlov (1915), Alpratov (1929) và Skorikov (1929) Cochlov đã da chiều đãi vôi của ong Ajpix meilifera ở 6 vũng địa lý khác nhau, Tiếp theo, Alnatav

và Skorikuv đo chiêu dài vời của ong ở nhiều địa phương thuộc vùng Chân Âu của

Liên xô cũ và đã khám phá ra qny luật tăng đân giá trị của chỉ tiêu này ở các

nhóm ong lừ phía Bắc đến phía Nam và từ biển Ban tích Lới vùng Capcaza

Bảng phương pháp mô tả và đo đạc một số chỉ tiêu hình thái, Maa (19533479 cĩ

chia gidng ong mit Apis thành 2 phân giống là phân giống Apis có 7 loài và phân

gidng Sigmaiapis có 11 loài Tuy nhiên, về sau các nhà phân loại học cho rằng sự

phan chia cla Maa IA qué Ly my va không chính xác, Nhiều loài mà Man tách ra thực sự chỉ là các phân loài của cùng một loài mà thỏi (Ruttner, 1988)1 106)

Trên cơ sở phân tích 40 chỉ tiêu hình thái con ong va nhiều đạc điểm sinh học của dan ong, Ruttner ((988)[106] di phan chúa loài ong ngoai (A mellifera) thank 24

phân loài và loài ong nội (A eerana) thành 4 phân loài Cúc loài ong như A

dorseta va A flores cing da duge ông nghiên củn khá chỉ tiết Dây là công trinh

tổng kết khá toần diện và dầy đủ vẻ phân loại học của ong mật trên thế giới kể từ

trước đến nay

Áp dụng phương pháp nghiên cứu của Ruttner, các nhà nghiên cứu hình thái học (Chen ot al., 1993; Damus and Otis, 1997)(44] [50] đã xác định lại một số loài

ong mà trước đây Man cũng đã xếp ở bậc loài, nhưng sau đó một số nhà nghiền

p chúng ở bậc phân loài Ví dụ như loài A kenchevniker† trước đây

cứu khác

được coi là các phân loài của loài A cerana hay loài A andrenjfarnis đã được coi

là phân loài của loài A./lorea

Các công tình nghiên cứu về hình thái ở mức độ tế bào và phâu lử cũng đã được

sử dụng rong phân lọai ong xnật Quan sát dưới kính hiển vỉ điện lữ, Jaynsvusli và Wongsiri (199334671 đã thấy dược sự khác nhau rõ ràng về số lượng, hình đáng

kích thước của các móc ở bộ phận ngồi đốt của các loài ong mật khác nhau [lọ

Trang 14

Không cbỉ các chỉ tiêu hình thái mà hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu này có thể

là những đặc điểm đặc trưng che các loài và các quần thể ong khác nhau, Thông qua hệ

tượng quan (1) chúng ta xác định được mức độ mối tượng quan giữa các

chỉ tiêu hình thái Từ đó chỉ cẩu xác định giá trị của một số chỉ tiêu bình thái có mối tương quan chặt chế với các chỉ tiêu hình thái khác, chúng ta cũng có đánh

giá nhanh chóng rnẫu ong cần nghiên cứu với độ chính xác đáng tin cậy Điều này

sẽ góp phản làm gidm được nhiễu chỉ phí và thời gian chu việc phân lích, đánh giá chất lượng giống ong

Nhiều công trình nghiên cứu về bệ số tương quan giữa các chỉ tiêu cửa ong niật đã

được công bố RutIner (1988)[106] đã xác định hệ sở tương quan của 11 chỉ tiêu

hình thấi loài ong A mø!Hjfere và ông nhận thấy rằng nói chung chiều đài của các

bộ phận do đạc có mối tương quan chat ché hon so với mối tương quan giữa chiều

tộng của chúng, Giá trị các góc cánh không có mối tương quan rõ rằng nào với các chỉ tiêu hình thái klác Nghiên cúu loài ong 4 czrưne ở vùng tây bắc

Hymalaya, Matu và Verma (1984a, I984b){82]I§3] dã tìm thấy mối tương quan

đương chặt chẽ giữa chiền dài cánh và kích thước tấm lưng đốt bụng thứ 3 với vĩ

độ địa lý của vùng ong phân bố Vinogradova (197711134] đã thông báo rằng chiếu đài vòi và chiểu đài cánh của ong Capcsz có mối tương quan đương chặt chế với năng suất mật côa đàn ong, Chứng tôi cũng dã ghỉ nhận được mối tương quan dương khá chặt chế giữa trọng lượng ong chúa mới nở và số lượng ống trứng trong buồng trứng của các con ang chúa nội địa (Á cerama} nuôi ở Việt Nam

Ngày nay, bằng kỹ thuại hiện đại của sinh học tế bào và phân tit, di truyền học đã thủ được một số thành công trong lĩnh vực nghiên cứu các dặc điểm đĩ lruyền cửa ong mil, góp phân đáng kể vào việc xác dịnh thành phần loài và dánh giá chất

lới Một số phương pháp chủ yếu dược sử dung

lượng các giống ong mmẠi.trên t

là phương pháp phân tích nhiễm sắc thể, phương pháp phân tích hệ enzym và

phương pháp phân tích ADN

Trang 15

Yim và cộng sự (I993)[154J đã sử dụng tình hoần

lột xác cuối cùng để phân tích bộ nhiễm sắc (hể của loài ong Á ceranz và loài ong

ña nhộng ong dực ở giai đoạn

A mellifera, RE qua phan tích cho thấy bộ nhiễm sắc thể đon bội của cả hai loài ong nay lan = 16, nhưng kích thước nhiễm sắc thể của chúng thì không giống nhau, Chiều đài của các nhiễm sắc thể ở ong Á melfiferz dao động trong khoảng

12 - 6 pm và ở ong Á cerang là trong khoảng ljÊ - 4,5 jum Tuy nhién, phương pháp này chỉ dừng để nghiên cứu sự khác nhau về bộ nhiễm sắc thể ở mưức độ loài,

mà chưa cho phép phân hiệt vẻ cẩu trúc di tuyển của các nhồm ong ở mức độ phân loại dưới loài,

Bên cạnh các nghiên cứu vẻ nhiễm sắc thể, những công lrình nghiên cứu về các

enzym ong cũng mang lại những kết quả đáng tin cậy cho các nhà phản loại

chọn giống ong mat, Khi ughién ctu enzym esterase cia hemolymph ong chia vi ong thợ 8 ngày luổi bằng phương pháp điện di trên gel tinh bat, Tripathi va Dixon (19689){127] đã phát hiện thấy sự khác nhau của Mdh, LAh, Gpilh vi Gapdh thea ngày tuổi ngay trong mỗi nhóm ong và giữa các nhóm với nhau Sheppard và Berlocher (198931 11] đã phân tích 15 enzym của mỗi một trong bốn loài ong mat (A mellifera, A carune, A, florea va A.dorsata) Kết quả nhân tích cho thay su khác nhau giữa A mefffførn và A, cerane thể hiện mối quan hệ họ hàng của chúng

không giống với những kết luận của các nhà nghiên cứu về hình thái trước đây,

Trong khi đó Meixner và Sheppard (1994)i85] đã phân tích một số đặc điểm hình

thái và di truyền của ong mal & Kenia, Ket qua phan tích hình thái và phân tích

các hệ enzym của họ phù hợp với nhau và tương tự như các kết quả phân tích vẻ phân loại ong mật châu Phi của Ruttner (1988)4 1061

Trong vài thận kỹ gần dây, phương pháp phân tích ADN của ong mật cũng đã

dược ứng dụng để nghiên cứu sự đa dạng sinh học và chất lượng các giống ong

khác nhau Jordan và Eroserner (I974)69| đã sử dụng phương pháp phản ing

chuỗi trùng hợp (PCR) để nghiên cứu ADN của 3 loài ong mật (4 øteifera Á

cerana va A florea) Kết quả nghiên cứa của họ cho thấy tỷ lệ cập guanin -

cytoxin (G-C) theo Irình tự các loài trên là 37; 38% và 35% Arias và Sheppard

Trang 16

số chủng ong châu Âu mà Rutuer (1988) 106| đã xác định trước đó Tiong khi

đó, cũng bằng phương pháp phân tích ADN cửa ty thé, Smith (1999| 113] đủ xác định thành phẩn loài và sự tiếu hoá của loài ong A, melfferø lương tự nhưự công

trình của Ruttner (1988)| 106} Nhưng đối với loài ong châu Á {A ceranz), khác

với Rutter, ng cho ring ong A cerana & Thai lan thuộc nhóm ong Hymalaya,

mà không thuộc nhóm ong & Malaysia hay Indonesia

Cức nhém ong A corane & hai nước này có thể phân chia ra nhiều dạng sinh thái khác nhau Nghiên cứu của Sylvester va Wongsiri (1987)[120] chi ra ing ADN trong nhân tế bào của loài ong chau Au (A mellifera) có thể dược sử dụng như là đấu hiệu chuẩn để xác định

những biến đổi di uuyển đặc trưng của các loài ong mat & chau A

Ngày nay, nhờ các thiết bị hiện đại, phương pháp phân tích dĩ truyền cho phép xác định chính xác và nhanh chúng sự khác nhau về bản chất dì truyền của mỗi một nhóm ong miật Nhờ đó, nhiều vị trí phân loại của ơng mật ở mức độ dưới loài đã được xác dịnh lại Tuy nhiên, dây là những phương pháp đồi hồi , trình độ chuyên

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học ong mật là lĩnh vực rất rộng lớn

và dến may con người vẫn chưa khám phá hết những diễu bí ẩn về con ang và dàn

ong, Cúc cuốn sách “ Giải phâu và sinh lý ong mật" của 8nodgrass (1956) [1 15], các cuốn sách "Sinh học ong mật (Cuauvin, 1968; Winslon, 198734641136] tà các công trình tổng kết khá dầy dủ vé lĩnh vực này, Sau dây, chúng tôi chỉ tập? trung

để cập đến một số chỉ liêu có ý nghĩa quan trong hong khoa lọc và trong thực tiễn

sẵn xuất đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu như khả năng đẻ trứng của ong

chúa, kha nang sản xmãI mật của dan ong, ong đực lưỡng bội và tỷ lệ cận huyết

của đàn ong và một số nhân tổ ảnh lường đến các chỉ liêu này,

Trang 17

Sức dể trúng của ong chúa

Sức đẻ trúng của ong chúa là số lượng trứng do một con ong chúa đẻ dược trong

một ngày đêm và là chỉ tiêu sinh học rất quan trọng để đánh giá khả năng phát

triển của đàn ong cũng như chất lượng giống ong

Trong điều kiện tự nhiên, ơng chúa hắt đầu để trứng sau khi bay đi giao phối với

ong đực từ 3 đến 12 ngày Cũng có những can ơng chúa bắt đầu dễ trứng ngay sau khi bay dĩ giao phối một ngầy, nhưng số ong chúa như vậy rãi ít (Oerel 1940,

trích dẫn ở Crane, L990)47] Lúc đầu, các con ơng chúa còn đẻ ít trừng, nhưng, cầng về sau thi số lượng trửng dé cảng dược tăng lên Tuy nhiên sức đẻ trứng của

ong chúa phụ thuộc vào nhiều yếu tế như giống ong, tuổi cũa ong chúa thế lực

đàn ong, điều kiện khí hậu, nguồn hoa và mùa vụ nuôi ang

Các chẳng ong khác nhau của cùng một loài có sức đẻ Irúng không nhự nhau Ví

dụ như loài ong ngoại (4, meHfer¿), ong chúa giống ong Cacpat có khả năng đẻ

từ 1500 đến 1750 trứng/ngày đếm, ong chúa Capcazơ có sức đẻ khoảng 900 - 1500 trứng/ngầy đêm và ong Trung Nga có sức để 804 - I430 trứng jmgầy đêm (Vinogradova, J977)[13⁄] Trong loài ong nội (A, ceramid, ong chúa của phân loài 4 e eerana có khả năng để từ 450 đến 650 trứng/ngầy đêm, trong khi đồ ong chúa của phân loài A c indica chi dé 350 - 420 trứng/ngày đêm (Vetma,

199091301,

“Tuổi thọ của các con ong chúa thường là từ 3 « 5 nam, nhưng chỉ trong năm dầu

tiên, chúng có khả năng đẻ trúng cao nhất Càng về sau, sức cđlẻ trúng của chúng

cảng giảm và số lượng ứng để không được thụ tỉnh cũng lãng lên (Dutet,

19753411 Vì thế, rong thực tiễn, người nuôi ong thường chỉ sử dụng các con ong

chúa không quá 1 năm tuổi để đảm bảo sự sinh sẵn sà phát hiển của đàn ong

Chất lượng dan ong nuôi dưỡng cũng là một trang những nhân lố ảnh hưởng lớn

đến chất lượng ong chúa được lao ra và khả năng đẻ trứng về san củn chúng Các

ảng có nhiều ong thợ đi lấy thúc ãn về nuôi các

dàn ong đông quân, nhiều cầu thì

con ấu trùng và ong thợ trưởng thành Irung lổ ong, Các con ong thự Irang tổ dược

Trang 18

chẽ với khối lượng phấn hoa được mang về tổ, Mật hoa cũng có ảnh hưởng lón đến sức đẻ của ong chúa, nhưng ãnh hưởng này thể hiện rõ rằng nhất là trong giai

đoạn mà trước đó các đàn ong được duy trì trong tình trạng nguồn hơa khan hiểm

Ở các nước vùng khí hậu ôn đới, sức đẻ trứng của ong chúa thường biển động lần

theo chủ kỳ của khí hậu trong năm, Các con ơng chúa hoàn loàn ngững (lẻ trứng

Ở vùng nhiệt đới, với điều kiện khí hậu ấm án hơn so với các vùng ôn đới, nên

các dàn ong có khả năng hoại động quanh năm, Vì vậy, sức để Lrửng của ong chúa

thường phụ thuộc nhiều vào trữ lượng nguồn thứ

kỳ mùa (Shehala, et al., 1981)[1 10]

ăn ngoài thiên nhiên hơn là chủ

Năng suất niật của đàm ong

Năng suất mat cla din ong là số lượng mật ong mà người nuôi ông thủ được trên

bởi vì mạc tiêu đầu tiên của người nuởi ong là để lấy mật Tương tự như sức đẻ

trứng của ong chúa, năng xuất mật của dàn ong phụ thuộc vào nhiều yếu tố hẻn

Trang 19

trong và bên ngoài đần ong như giống ong, thế đàn ong, nguồn hoa cho mại, phấn

va diéu kiện thời tiết khí bậu trong giai doạn đầu ong thu mật

Dù được nuôi rong cùng vũng sinh thái, các chủng ong khác nhau vẫn có sự phát triển và cho năng suất sản phẩm không giống nhau, Khi nghiên cứu các chủng ong khác nhau được nudi Ở ving Lithuania cia née Nga, Bilash và cộng sự

(1977)138] chờ thấy nãng suất mật trung bình của các đần ong ở giống ong địa

phương là 26 kụ, của giống ðng Capcazờ là 47 kự và của giống ong den chau Au

là 3l kg Ngược lại, cùng chủng ong nhưng được nuôi ở các vùng địa lý khác nhau

thì năng suãi mật của chúng cũng không như nhau Ví đụ như nâng suất mật Irung

bình của chủng ong Ý nuôi ở Ấn Độ là 20 -30 kg/đăn/năm (Mishra and Kumar,

19973881, ở Thái Lan là 20 kg/đầnAưm, nhưng cố nhiều đần đại tối 100 kg/đần/năm (Sylvesler and Wongstri, 19873120] và ở Pakistan là 23 kg/dân/năm

(Khan, 1992)[71] Trong khi đó năng suất mật của các đần ong Ý ở Trung Quốc

là 50 - 70 kg/dầu/nâm (Zheng-Ming cLal., 199231153]

Một trong những khác nhau về khả nẵng sản xuất mật của từng giống ong là sự

không giống nhau về khã năng đi lấy mật hoa của các con ong thy Cac cong tinh

nghiên cứu của Milne (1977)|871, Rinderer va Sylvester (1978)[99], Rothenbuliler

và cộng sự (1979)| 103] đã chỉ ¡a rằng tập tính lấy mật hơa về tổ của các giống ong

mật có bản chất di truyền và năng suất mật của đàn ong cú liên quan chặt chế với

tập tính nay

Năng suất mật của đần ong còn phụ thuộc một phần vào sổ lượng ong thợ trong

rất chặt chẽ với số lượng phấn hoa đần ong mang vẻ tổ, sức để trứng của ong chún

và số lượng ơng thợ có trong đàn ong.

Trang 20

phong phú Trong điều kiện nguồn hoa rải rác thì các con ong chỉ lấy dưạc lượng

mật đủ làn thức ăn và người nuôi ong không thể thú được mật từ các dan ong như

chẽ giữa hoạt động bay đi lấy mật hoa của các cơn ong với dộ ẩm không khí, nhiệt

độ, tốc độ gió và cường dộ ánh sáng trong ngày (hệ số tương quan r là 0,7 - 0,98)

Ông đực đơn bội, ong đụ: lưỡng bại và vấn để cận huyệt của đân ong

Ở hấu hết các loài động vật sinh sẵn hữu tính, trong mỗi một thế hệ chủ tôn tại giới tính cái và giới tính dực Sự sinh sẵn mòi giống vẻ sau là kết quả kết hợis về mật di

truyền của 2 kiểu giới tính này Tuy nhiên, đối với ong mật, trong đầu ong vớ 2

Ong duc đơn bội (nói chính xấc là ong đực có nhiễm sắc thể giới tỉnh đơn bội) là

những can ong được ong chúa sinh ra từ các tế bào trứng không thụ tỉnh (trình sản

- parthenogenesis), vi thế, chúng chỉ mang các đặc điểm di truyền của mẹ Đây là

những con ong đực tồn lại bình thường trong dàn ong và tham gia vào quá tình

sinh sản để duy trì nồi giống, Còn _ơng đực lưỡng bội là những cơn ong dye sinh

1a từ ưứng dược thụ tình giống như ong chúa hay ong thợ, nhưng tật cả các alen ở

bộ nhiễm sắc thể giới tính của chúng đều là đồng hợp từ tRothenbohler,

1957141014 Trong điều kiện bình thường, các con ơng đực này bị các con ong thợ trưởng thành giết chết ở giai doạn ấu trừng không quá 2 ngày tồi Do đó, chứng,

ta không bao giờ thấy dược ong dực lưỡng bội trong đần ong.

Trang 21

‘rong khi các con ong dục đơn hội đã dược phát hiện tỉt nữa đản thể kỷ trước (Dziersem, 1845, trích dẫu ở Woyke, 1986)|149] thũ các cơn ong đực lưỡng hội mới dược phát biệu và nghiên cứu trong khoảng thời gian từ những năm 50 trở lại dây

Trang các công tình nghiên cứu riêng rẽ, Makensen (1951)|8O|, Laidlaw va Gomes (1936)[77], Hachinoc và Jimbu (1958)163| đã phát

én thấy ở những đàn ong có ong chứa dược giao phối với những con ong dực gần gũi về huyết thống

{ong chúa tợ và ong dực được tạo ra lừ một đàn rne hoặc từ các đàn chị em ruội)

thì các cầu nhộng có ấu trùng ong thợ ví! nắp không đêu Cúc tác giả trên giả thiết

rằng hiện tượng này là do các alen gây chết ở trong nhiễm sắc thể lùm cho trứng

không nỗ được và chúng bị các con ong thợ trưởng thành gấp bỏ di

Woyke (1967)143| đã thí nghiệm chuyến các con ong dực lưỡng bội vào Irung

các lễ tổ đã có sắn Ấn tring eng thợ bình thường thì cá 2 cơn ẩu trùng này dếu bị ong thợ ăn ngay khi vừa chuyển ấu trùng ong đục Nhưng nếu các ấu trùng

sinh ra chất feromon lôi cuốn các con ong thợ tưởng thành tiêu diệt chúng Tác

giả gọi chat ferumon dé 1a chat kich thich ăn thịt đồng loại (cannibalism

substance) Chất này chỉ kích thích các con ong thợ trưởng thành ãn thịt ấu trùng

ong đực lưỡng bội trong vòng 2 ngày tuổi, tuy nhiên đến ngày thí 2 thì tác dụng

của feromon đã giảm di nhiền

Tiếp Iục nghiên cứu trên, Woyke (1969 a b){144|{145] đã tạo và nuôi Ẩn trùng

ong đực lưỡng bội l - 2 ngày tuổi trong tủ ấm, Sau đồ ông chuyển những con ẩu trùng này trở lại cho đàn ong nơi đã tạo ra chúng, thì các cơn ấu tùng được tiếp

tực nuôi dưỡng đến khi nở ra ong đực lưỡng bội trưởng thành

Các con ong dục lưỡng bội lớn bơn và nặng hơn các cou ứng đực dơn bội, nhưng thể tích cơ quan sinh tính của chúng chỉ bằng 1/10, ống dẫn tỉnh thì bé và ngắn hơn nhiều sơ với các bộ phân này của ong đực bình thường Vì thế, sổ lượng tỉnh

Trang 22

lên (Woyke, 1986)(149], nhưng chơ đế

nghiên cứu nào được công bố vẻ vấn để nầy, Điều này, theo chúng tôi, có lẽ do

ay chứng tôi chưa thấy công tìuh

khó khăn trong việc tạo ong thợ tam bội thể hoặc những con ang tho như vậy

không có ý nghĩa trong nuôi ong

Mặc dù ong đực lưỡng ba

ïì không có ý nghĩa trong việc sinh sảu duy tì nồi giảng,

nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định số lượng alen giới tính và dánh

giá mức độ cận huyết của đàn ong Từ xác định tỷ lệ ấu uùng ơng dực lưỡng bội trong đần ong (số ấu trùng 2 ngày tuổi bị mất di sơ với 100 trứng đã được xác định trước), Woyke (19763{143] đã dưa ra công thức tính số alen giới tính của đàn ong nhu sau:

a1

"Trong đó: N là số alen giới tính S là số lượng ấu tring ong dực kưỡng bội

Bằng các phương pháp khác nhau, một số nhà nghiên cứu (Laúdiew and Goines

1956; Makensen, 1951; Woyke, 1076, 19853(77]I80](1471(148] sũng cả xác định

rằng trong điều kiện đàn ong phát triển bình thường thì Tocut gen giới tinh cia ong

tỷ lệ này càng tăng thi din ong edng bị cận huyết nhiều hơn (Woyke, 1972) 146|

Tuy nhiên trong tự nhiên, một con ong chúa cố thể giao phối vái 10 -20 cen nng

Trang 23

dyc có nguồn gốc khác nhau (Cale and Gowen, 1956; Taber, I958)|43J|I23] Ni: vậy mà ong chúa đã nhận được số lượng lớn alen giới tính, vì thé trong thực tẻ hiện tượng cận huyết của đàn ong diễn ra chậm chạp hơn nhiều so với tính toán lý

thuyết

1.1.3 Nghiên cứu về chọn giếng ong mật

Những người nuôi ong luôn luôn cố gắng sử dụng các đần ong của mình để thu

được càng nliểu san phẩm càng tốt, Để dại dược mục dich đó, họ không chỉ thường xuyên cải tiến kỹ thuật nuôi ong mà còn rất chú ý đến công tắc, cải tao chọn lọc và nhân thêm các giống ong mới có chất lượng và năng suất sản phẩm

giống ong Buckfast nổi tiếng ở châu Âu (Osteriul, 1999)493J Ở Mỹ, các

Capcuzơ và ong Camica để tạo ra giống ong chu năng suất mật cao hơn từ 60%

đến 70% so với giống địa phương (Velichkov, 1977)(129]

Trang 24

thời kỳ qua đông, tỷ lệ đàn ong trong nhóm chọn lọc bị chết do nhiễm bệnh khí

quản đã giảm xuống còn I0%, trong khi tỷ lệ chết của các đàn ong nhóm đối

chứng vẫn lớn hơn 50% Tuy nhiên cho đến nay chưa có tài liệu nào công bổ về sự

thành công của công tác chọn giống ong chống chịu tốt với bệnh ký sinh 1o,

là một trong những bệnh ký sinh nguy hiểm nhất cho các nhà nuôi ong trên thể giới

Đối với gidng ong A ceruna & Chiu A, cong tác chọn lọc giống chỉ mới được tiến hành từ giữa thế kỷ XX và các kết quả chọn lọc thành công cồn khiêm tổn Ở Quang Dong (Trung Quốc), trước đây người ta nuôi giống ong nội địa (A cerzm) với năng suất bình quân 15 - 20 kg/dàn/năm Sau một thời gian chon loc nang

suất mật trung bình của giống ong này đã nâng lên 50 kg/dàn/năm (Wongsiri et

quả là đã tạo ra được con lai có sức đẻ trứng của ong chúa cao hơn 22% so với sức

đẻ trứng của ong chuá Trung Quốc và 27% so với ong chúa Thái Lan

Ở Ấn Độ, từ năm 1955 đến năm 1964, người ta dã tiến hành chọn lọc với giống ong A cerana Két quả là năng suất mật của các đàn ong đã tăng từ 21,10% đến

94,43% (Deodika and Thakar, 1966){52]

1.1.4 Nghiên cúu về bệnh, các sinh vật hại ong mật và biện pháp phòng trừ

Từ hàng ngần năm về trước, con người đã có những hiểu biết nhất định về bệnh

của ong mật Theo Bailey (1981)[35] thi Aristotle (384-322 tude công nguyên)

đã mô tả triệu chứng không bình thường của ong trưởng thành mà ngày nay được

gọi là bệnh ký sinh Hiện nay, các bệnh và sinh vật hại ong mật đã gây nên những

Trang 25

tổn thấi to lớn cho ngành ơng thế giới Vì vậy, các công trình nghiên cứu vẻ lĩnh

vực này cũng khá phong phú

Ngày nay, người ta biết rằng cổ khoảng hon 70 loại bệnh và thiên địch hại ong

mat (Moise, 1982)[89} Trong đó những bệnh gây hại nghiêm trọng nhất là bệnh thổi ấu trùng châu Mỹ, bệnh ấu tùng tuổi lớn, bệnh ký sinh Varroa và

Tropilaelaps

Bệnh thối ấu trùng châu Mỹ (TATCM) 1A mot trong các bệnh rất nguy hiểm nhất cho các din ong A metljfera và A cerana ủ khắp thế giới, đặc biệt gây hại

nghiêm trọng cho các đần ong vùng ôn đới và cân nhiệt đới Bệnh này do vị khuẩn

Bacilins larvae gay nén (Bailey, 1981)(35| Trong những điển kiện môi trường bất

lợi, các vi khuẩn chuyển hoá sang nha bào Các nha bào có thể tồn tại hàng chục

năm trong đất hoặc các khe thùng ong (Akralanakul, I987)J1] Khi gặp diễu kiện

có thể phát sinh vào bất cứ thời gian

thuận lợi, nha hào trở lại gây lệnh và

nào trong năm

Trước đây, biện pháp hoá học đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi để phòng

tị bệnh này Các thuốc được dùng phổ biến nhất là sulphathiazon và oxyielraxylin

(Bailey,1981)35] Tuy nhiên, đùng hoá chất phòng trừ bệnh TATCM đã ao nén

được xử lý bằng tia phóng xạ Gamma hay luộc kỹ trong dung địch clorit

(Homiszky, 1999; Shimanuki, 1999; Smith, 1999)165]|112||E14| Brodsgaard vit Hansen (1999)|40] đã giới thiệu phương pháp trị bệnh TATCM bằng ch giữ liệt

các cầu ong trong đàn ong bị bệnh và cho khung cầu chỉ gắn một dãi nhỏ lẩng

chân nhân tạo cho ong xây cầu mới Ở New Zealand, người ta dốt hếi các dàn ong

bị bệnh TATCM, còn thủng ong và các dụng cự nuôi ong dược dun trong dung dịch parafil & 160C trong vòng 1U phút, Kết quả là trong vồng 7 năm áp dụng

Trang 26

Các phương pháp trị bệnh TATCM nêu trên đã góp phần khống chế đuợc sự phát triển của bệnh, nhưng vẫn chưa giải quyết dược vấn đẻ mội cách thoả đáng như người nuôi ong mơng muốn Hiện nay, phương pháp phòng trị bệnh có nhiều triển

vọng nhất là chọn lọc các dòng ong có lính chống chịu hệnh can Phường pháp

nay bước đấu ứng dụng có hiệu quả ở các nước nhu Mỹ, Đức, vã Canada (Ollen 1999; Smith, 1999; Westendorp, 19999192] [114 | 11351

Bệnh ấu trùng tuổi lớn (ATTL) hay bệnh nhộng bọc là một loại bệnh dơ virut gay

¡a, Theo Bailey (1981)135] bệnh này được phát hiện lắn đầu tiên ở Mỹ vào năm

1917 và ở châu Âu vào năm I963 Bệnh không gây hại lớn cho các đần ong A melljferu nhưng rất nguy hiểm đối với ong Á ceruna,

Trang khu vực Châu Á, bệnh ATTL được phát hiện lân đầu tiên ở Trung Quốc vào nằm i970 (Gong, 1983)|60, ở Thái lan vào năm 1976 (Bailey et.al., 1982)[36), &

Ấn Độ vào năm 1979 (Kshisagar va Phadke, 1984)176| va 6 Népal vào năm 1980 (Morse 1982)189]

Những người nuôi ong ở chân Á đã sử dụng các loại thuốc kháng sinh, thuốc thảo

dược để chữa bệnh ấu trùng tuổi lớn, nhưng bệnh chỉ giảm tạm thời sau đó lại tái

phái Năm 1986, Viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc đã sáng chế rà loại thuốc chống virut “862” có tác dụng phòng trị tối cho bệnh ATT & ci noi A cornet

và ong ngoại ahap A mellifera, m& khong giy hai cho dan ong (Chen et al,

19933144]

Bệnh ký sinh Varoz gây lại rất uầm trọng cho cae dan ong ngoại trên thể giới

Bệnh này do loài ve Varroe eobsoni gay ra Theo Bailey (198 1935] thì loài ký sinh này lần đầu tiên được Oudemans phát hiện ở đảo Java vào năm 1904 và ký

chủ ban đầu của nó là ong A cerzne Đến năm 1964, ký sinh Verrea đã dược phát

hiện ở các đần ong Á mmelliferư thuộc vùng miền đông nước Nga và Nhật bản

(Beetsma, I992)(37] Đến nay, loài ký sinh này đã lan tràn đến hầu hết các vip.

Trang 27

20

quổi ong A mellifera wen thé gidi (Matheson, 1993)[81] ‘Tuy nhiên, loài ong A

cerana khong bi ching gây hại nghiêm trọng như loài ơng Ả melljftru

Bệnh 7Tropifaelaips do loài côn trùng ký sinh Tropileelaps clarede gây ra Loài ký

sinh này gây hại cho cả ấu trùng ong đực và ong thợ, Ở châu Á, chúng gãy hại cho

cả loài ong ngoại (A mellfera) và loài ong khoái (Á dorze4) (Woyke,

199914150]

Theo Dietz va Hermann (1988)|53] ¢6 hon 140 loai hed chat dé duoc thứ nghiệm

để phòng trị ký sinh Vørroơ, trong dó các loại hoá chất được sử dụng lộng rãi và

có hiện quả nhất là Apistan ™, Bayvaral, Folhex TM, Bayer TM,, Axit formic

Apilife VAR TẾ (Clark, 1999)|46) Các hoá chất này được tẩm vào céc bang pỗ

bay băng nhựa và treo trong thùng ong Hiệu quả trị bệnh có thể đạt tới 65% 98% ‘Tuy nhiên các loại hoá chấL nêu trên thường dẫn đến hiện tượng kháng thuốc của các ký sinh gây bệnh và ít nhiều để lại dư lượng thuốc trong sân phẩm

ong (Ellis e1 al,, 1998; Feldlaufer et al., E997, iHfesheim el al., 1996; Emdorfƒ et al., 1995; Milani, 1998) [55] [57] [64] [66] [86] Một số thảo dược cfiug đã được

nghiên cứu và ứng dụng để phòng trị các bệnh ký sinh hại ong Ưu điểm của loại

Hiện nay, phòng trừ bệnh Verrow bằng các biện pháp hoa hee đang được thay thể

bằng các biện pháp sinh học và biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) Các biện

pháp này cho hiệu quả trị hệnh cao và không gây ô nhiễm sản phẩm ang cũng nhục

môi trường sống trang đần øng (Dclaplane and Hood, 1997)51 |,

Tương tự như ở các loại bệnh ong khắc, con đường có nhiễu triển vọng trong

phòng trị ký sinh Varroz là chọn giống ong có tính chống chịu tốt với ký sinh Đặc diểm này thể hiện khá rõ ở loài ong A cerana (Boeking, 1999; Spivak ard

Reuer, 1998)|39]{ 1 16 Thực tế nuôi ong ở Việt Nam cũng cho thấy ong khi các din ong A mellifera bi ky sinh Varroa gay hai rat nghiém trọng, tà trong các đồn

Trang 28

ong A cerana van cé ky sinh tổn tại, nhung khơng gây nên nguy hiểm gì, ngay cả khi chúng dược đại ở cùng nguồn họa

Ở Việt Nam, cho đến nay chưa cĩ thơng báo nào về sự xuất hiện bệnh 'FA'TCM Bệnh ấu trùng Inổi lần xuất hiện trên các đần ong nội ở Việt Nam vào năm 1974, sau khi chúng ta nhập một số đần ong A cerrne của Trung Quốc Trong thời gian

1974 - 1979, bệnh ATT đã gây hại rất nghiêm trọng đến các đần ong nội nuơi ở

như KaNamicin, Snlfatiazonnatri, erytromycim, Tetrracyclin, KMnQ4

hạn chế Hiện nay, biện pháp phịng trừ sinh học kết hợp với quần lý chăm sĩc tốt

các dàn ong mang lại hiệu quả phịng trị bệnh tốt hơn nhiều và khơng gây nhiễm

độc tố cho các sản phẩm ong (Phùng Hữu Chính, 1996349]

Tuy nhiên, các biện pháp nhịng trị bệnh nêu tiên chỉ cĩ tác dụng hạn chế bệnh

trong mội hười gian nhất định, San đĩ bệnh lại phát triển Cĩ lẽ bằng con đường,

chọn lạc các dàn ong kháng bệnh kết hợp với việc cải tiến kỹ thuật quản lý dàn

ong để luơn luơn giữ được các đàn ong mạnh là biện pháp cĩ nhiều triển vọng

hơn

Bệnh Varrò xuất hiện ở việt Nam cùng với việc nhập ong ngoại từ những năm 6Ú

và trong giai đoạn 1978 -1985, bệnh này đã gây hại rất nghiêm trọng cho các đàn

ong ngoại trên khắp cả nước

Các biện pháp hố học cũng đã được áp dụng để phịng trừ ký sinh Verro Các

hố chải thường dược dùng là lưu huỳnh bảng phiến, fenolthiazin, Polbex VA, Apistan, axit formic (Trấn Đức [là và Phạm Xuâu Dũng, LY9O) 17) Tuy nhiên

ý sinh cĩ một sổ nhược điểm

việc áp dụng các biện pháp hố học để phồng

Trang 29

22

như chỉ điệt được ký sinh trên ong trưởng thành Vì vậy, muốn trị ký sinh có hiệu quả cao thì phải tiến hành trị kỷ sinh nhiều đẹt liện tục, Điển này đẫn dến hiện

tượng kháng thuốc của ký sinh, gây độc cho người nuôi ong cũng như người tiêu

ding san phẩm ong (Trần Đức Hà, 1990315]

Nain 1990, Woyke (chuyên gia JEAO)I31] đã phổ biến phương pháp trị ký sinh hại

ong bằng cách nhốt ong chúa trong vòng 21 ngày để lầm gián đoạn môi trường

sống của ký sinh Phương pháp này có ưu điểm là khống chế được ký sinh ở dưới

ngưỡng gây hại, các sản phẩm không bị nhiễm hoá chát độc, nhưng đần ong lại bị

gián doan sinh sin va phat triển ong thời gian tương đối dài, nên thường sa sút

sau khi trị bệnh

Trong thực tiến sản xuất, người nuôi ong thường sử dụng các cầu có au tring ong

dực bẫy Varro, Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn nhộng thì họ rúi cầu ong đực

ra để diệt Varoa, Ngoài ra, người nuôi ong cũng kết hợp phòng hị ký sinh Varro với việc lạo chúa nhân đàn ong hay khai thác mật, nhằm tạo ra các đàn ong không

có ấu trùng trong một giai đoạn cần thiết để dễ phá vỡ môi trường sống củu ký sinh Các biện pháp này vữa sử dụng đàn ong để lạo ra sản phẩm, vừa tiêu diệt

được ký sinh, khống chế chúng luôn luôn ở dưới múc gây hại cho đần ong và dâm

bảo chất lượng sản phẩm không bị 6 nhiễm các boá chất (Pham Thanh Binh và Nguyễn Quang Tấn, 1992)|4]

1.1.5 Các loài ong mật và vùng phản bố của chúng

Bằng các phương pháp điều tra, nghiên cứu khác như, đến nay người ta đã xác

định được 7 loài ong mật dang tổn tại phổ biến ở nhiều vùng trên thế giới là:

- Loài ong châu Au (Apis meltifera Linnaeus, 1758)

Loài ong chau A (Apis cerana Fabricius, 1793)

Loài ong khoái (Apis dorsata Fabricius, 1793)

Loài øng đá (Apis laboriosd Smith, 1871) Loai ong rudi dé (A,florect Fabricius, 1787)

- Loai ong rudi den (A andreniformis Smith 1858)

Trang 30

~ Luài ong A kanchernikovi Buttel-Reepen, [906

Trong số các loài ong trên, chỉ có loài A mellifera c6 ngudn gốc ở châu Âu Các

loài còn lại đều có nguấn gốc từ châu Á (RutIner, 1988)| 1061

Loài ong châu Âu (Apis melliferu)

Ong châu Âu (hay cồn gọi ong ngoại) là loài ong mậi đã tổn tại lâu đời ở châu

Âu Đây là loài ong có ý ngiữa kinh tế lớn nhĩ Irong giống ong mật, và dược con

người sử dụng trong sản xuất từ rất sớm Vì vậy cho đến nay các công Hình

nghiên cứu về loài ong này vẫn nhiều hơn các loài ong khác (Crane, 19903147],

sinh Vurrow và 7ropilaeksps gây hại rất nghiêm trọng Năng suất mật của đần ơng

dao động lớn tùy thuộc vào vùng phân bố của các chủng ong và trình dộ quản lý

kỹ thuật của người nuôi ong Năng suất mật trung bình của mội dần ong là 40 - 50

Ouy A mellifera & chau Phi duge gọi là ong A melffera nhiệt đối Các dần ong

ặc diểm khác với ong A melifera chau Âu là khả năng sỉnh

chin Phi cd mot so

sản mạnh, phát triển đần nhanh, nhưng hung dữ hơn và khã năng cho mật thấp hơn (Kiliwele, I98W)(72] Tuy nhiên, việc lạp giao giữa một số phân loài ong

Av mellifera ð châu Âu với ong châu Phi ngoài sự kiểm soái của con người dã lậu

Trang 31

34

nên giống ong lai Phi rất hung dữ Giống ong này dã gây nên thảm hoa to lớn

không chỉ cho người nuôi ong mà còn cho các trang trại và dân thường ở châu Mỹ

(Fiakus, 1993)156|

Ở chân Au, Lodi ang A meflifera phan bố lừ bản đảo Seandinavia và miễn rừng

Xibia ở phía bắc tới Iran ở phía Nam, từ dãy núi Uran ở phía đông sang các nước

bên bờ biển đại Tây Dương ở phía tây, Ở châu Phi, ong Á meffiferu phân bố hấu

hết ở các nước, hừ vùng sa mạc Xahata (Ruttrea, 1988) 106| Với những đặc tính

kỷ XX (Vennu, 1993; Wongsiri, 19923ƒ 132)|138)

Ludi ong chan A (Apis cerana)

Ong chau A (hay còn gọi ong nội) là loài ong bản địa của châu Á Loài ong này

có nhiều điểm giống với ong châu Âu như tập tính làm tổ, cấu trúc tổ ong và một

xố đặc điểm sinh học khác, nhưng lầm vóc cơ thể con ong và tĩnh tụ dần của đàn

ong thì bế hơn Iheo Verna và cộng sự (1988)|133] tht kích thước một số hộ

phận cơ thể ong thợ như sau: Chiểu dat vai là 4,66 - 5,35 mm, chiếu dài cánh trước là 7,38 - 8,75 mn, , chi sé cubilal 13 3,328 - 3,588, chiếu ngang tẩm lưng của đối bụng 3 là 8,02 - 8,37 mm, chiều dọc tẩm lưng của đốt bụng 3 là 1, 6 9 - 2,10 mm, Ngoai mat ong va sp ong ong châu A không có khả năng sẵn xuấi khối lượng lớn các sản phẩm khác như sữa ong chúa, keo eng, phấn hoa, Tuy

nhiên loài ong châu Á cá khả năng thích nghĩ tốt với nguồn hoa rải rác ở vùng

Trang 32

nhiệt đới, Vì vậy, chúng cĩ thể nuơi được trong các vũng sinh thái khác nhau, và

cĩ thể thư được sản phẩm với chỉ phí đầu tư thấp hơn lồi ong châu Âu

Maa (1953)179] dã phân chia ơng châu Á thành hai lồi là Apis cerzn

& và Á indica Nhưng cơng tình nghiên cứu của Ruttner (1988)| 106] lai cho thấy ong châu Á chỉ là một lồi Ápis cerana với một số phân lồi là A e corane, A ¢ indica, A.e japonica vi A c hymatave Theo một số nhà khoa học khác (1in et al,, 1992: Đeng eL al., 1989) |68J|95] thì ong Ái cerune ở Trung quốc cĩ 5 phân

ki là A c.ccrưna, A c indica, A co hainanensis, A CƠ skovikovi va Á e

abcansis Trong, phan lodi A c cerana cĩ 5 nhắm sinh thái khác nhan là nhĩm ong Quảng đơng - Quảng lây, nhĩm ong [16 Nam, nhĩm ong Vân Nam, nhĩm ong Bắc Trung quốc và nhĩm ong núi Sơn bài Verma (1992)| 131] 48 cho ring

ong Apis cerana ở Ấn Độ cĩ thể phân chia thành 4 phân lồi (Á, c, cerene, A

indica, A c japonica va A c hymataya) Ở vùng núi Iimalaya, Ä 7 cerumo cĩ thể chia thành 3 dạng sinh thái là ong vùng đổi Naga và Mizo, ong vùng thung lăng Brah Maputra và ong vũng đổi thấp Khaưi

Ong Apis ceruna phan bé & hau hết các mide chau A, từ vàng Ussuri (Liên xơ cũ)

ở phía bắc tơi đảo Java (Indonesia) ở phía Nam, từ Nhật bản, Philippin ở phía

đơng sang tận lran, Pakistanl ở phía tây Tny nhiên, cổ thể vì ý nghĩa kinh lế của

ong A cerana kém hem ong Á, ørelfijfera, nền lồi ong này chua dược du nhập

sang các châu lục khác (Cnue, 1995)|48J

Lồi ang khối (Apis dorsati)

Ong khối (hay cịn gọi ong gúc kèo) là lồi ong sống đã sinh mà cho đến nay con

người vẫn chỉ khai thắc các sản phẩm từ các (6 ong trong tự nhiên mà chưa thuần

hố chúng thành vật nuơi như đối với lội ong châu Âu hay lồi nng châu Á, Tâm

vác cơ thể ong khối lớn hơn ong châu Âu và eng châu Á Kích thước một số bộ

nhận cơ thể của ong khối như sau: chiều đài vời là 6,56 mm, chiều dâu cánh ước

là 12,93 min, chi s6 cubital 14 5,278, chiều ngàng ấm lưng 3 làI0/25 nm, chiều

Trang 33

26

nigang (4m bung 3 là 5,34 mm (Lê Quang Trung và cộng sự, 1997)(28J Ong khoái

xây mội bánh tổ thẳng dứng, gắn vào cành cây bay bên dưới

ách đá nhô ru ở ngoài trời và bánh tổ của ong khoái lớn hơn nhiều so với bánh tổ eng Á melfifera

hay ong Apis cerana

Ong khoái là loài ong đi cư theo sự biến dối của nguồn hoa hay thời tết Hàng nam chúng có thể đi cư 2 - 3 lần Có những đợt di cư, chúng đi chuyển chổ ở gách nhau tới hàng ngàn kilâmết (Rutuxer, 1988)| 106]

Vé phan loai hoe, A dorate được coi là loài có ít thay đối theo vùng địa lý, Ngay

cả Maa (1953)(79J là người luôn luôn muốn tìm kiếm các bậc loài mới trong, giống ong mật (Apis), cũng không thể phân chía được loài nào mới ngoài loài A dorsate (Ruttner, 1988)| 106] Theo Rutner thì loài ong A doraơfe có 4 phần loài IAA dd dovseta, A.d hinghami, A.d brevilignla va A.d taboviosa

Cũng giống nhut ong Apis cerana, ong A dorsata chi phan bd ur nhign & ving rùng núi trên lãnh thể chân Á mà thôi Vi chưa thể thuần hoá thành vật nuôi như đối với loài ong A mellifera hay loài ong A cerana, nên việc đi nhập ong A dorseng tới các miễu đất mới hậu như không thực biện được Tuy vậy, theo Ciane (19901|47], vàn năm 1880, Frank Buton đã mang 4 tổ ong A dorsaia lit Dong Nam A sang Hoa kỳ bằng dường biển, nhưng chúng đã chết hết trên đường di

Ở các núi cao của đấy liimalaya, vùng Tây tạng, Trung quốc và vùng núi cao tây bắc Việt Nam tổn tại nhớm ong có tẩm vóc cơ thể tương lự như ong khoái, nhưng

cơ thể có mẫu xám đen, vì vậy chúng thường được gọi là ong khoái đen, Trước dây nhém ong nay vẫn được coi là một phân loài của ong khoái (Á dørsưfø) Nhưng những công trình nghiên cứu gắn đây (Roubik et al, 1985; Sakagami ct al., 1980; Trung và cộng sự, 1997; Underwood, 1992) (104]|109) [28JI1281 cho thấy

nhém ong khoái đen là một loài tách biệt rõ rằng về mat sinh hi

Trang 34

Ladi ong rudi dé (Apis florea)

Ông tuổi đỗ có tấm vóc cơ thể con ong và kích thước bảnh tổ nhỏ hơn nhiều so

với ong khoái và ong dá, Kích thước một sỡ chỉ tiêu hình thái eng ruồi đã như sau; Chiểu dài vời là 3,27 - 357mm, chiều dài cánh uước là 6,45 - 6,76 mm, chỉ sở cubital 13 2,80 - 2,86, chiển ngang tấm fung 3 14 1,36 - 1,41 mn, (Rindercr, ct al,

1995)| 100] Giống nhu ong 4 dorsate, ong A florea chi xây một bánh tổ thẳng

dứng bám vào cành cây bụi hay cây thấp, nhỏ Khả năng cho mái của loài ong may

không cao, năng suất mật thường Ö,5 lít đến L,5 lí/Ưần/nãmn, nhưng chúng có giá

trị lớn trong việc thụ phấn cho cây trồng (Chen et ai., 1993; Free, 1981; Wongsiri

et ai., 1990)(44||58][140]

Ong mỗi đỗ cũng chỉ phân bố tự phiên ở châu Á, chủ yếu ở các nước nhự

Pakistan, Srí Lanka, Ấn Độ, Tháilan, Indonesia, Malaysia, Việt Nam (Ruttnei

1988)|106] Nhung vie nim 985 người ta đã phát hiện 5 đàn ong ruồi đỏ ở

Sudang (châu Phi) Ba năm san, Irên vùng đất mới này đã cớ khoảng 1000 tàn

(Crane, 1990) |47)

Loài ong ruồi đen (Apis andreniformis)

Ong ruồi đen là một loài tương tự như ong ruồi đỏ và 2 loài ong này thường sống

trên cùng vùng sinh thái Theo Maa (1953){79| hai loài này gần giống nhau nên

một số nhà phân loại khác (Bingh, 1896: Butler-Recpen, 1897; Dover, 1929) cho tằng chúng chỉ là hai phân loài của loài Á fora Gần đây, một số nghiên cứu so

sánh về đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học như tập tính làm tổ, thời gian bay

đi giao phối của ong dục đã khẳng định lại ring ong rudi den (A andreniformis}

là một loài hoàn toàn khúc biệt với loài ong mudi dd (A florea) (Gong and Su,

1987 Rinderer cú al, 1995; Wongsiri eL al, 1996, Wu and Kuang, 1987)[61]J1001|142]{ 152 Nhưng vùng phan bố của ong A andrenifornris thudug

Trang 35

28

Loai ong Apis koschevaikavi

Ở vùng đông báo Boneo (Malaysia), có một loại øng bản địa Hương tự như ong Ä cerana vi ching cùng tốn tại trong một vùng sinh thái Do đó, trong thời gian dài

người ta uhơ rằng các dần ong này cũng thuộc loài 4 cerzme, Nhưng qứa phân tích đặc điểm hình thái của hộ phận sinh đục dực và thé điểm bay đi giao phối cña các von ong duc giữa hai nhóm ong này, các nhà nghiên cứu (Koeniger, 1992, Koeniger et al., 1991; Rinderer, 1956, 1989; Ruttner et al., 1989; Tingek el al., 1988)I74JI75)(97] [28]|105]l 126] đã chứng mình rằng nhóm ong bản địa nêu trên thuộc loài ong Apis kosclevnikovi hoàn toàn Khác với ong A ceruna cũng dang tổn tại trên vùng lãnh thổ này Tuy nhiên, cha đến nay người la cũng chỉ mới phát hiện được loài ong này & ving Boneo, Malaysia ma thai,

1.2- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ONG MAT 6 VIET NAM

C6 5 loai ong mal ban dia đang tổn tại ở Việt Nam JA ong noi (Apis eeraiea), ong khoái (A darsata), ong da (A faboviosa), ong radi dd (A florea), ong rudi den fA andreniformis) va mét lodi ong ngoại nhập nội (A mellifera) Trong 86 các loài

0g nêu trên, ong nội và ong ngoại là nhũng loài ang nuôi và được sử đụng rộng rãi trong sản xuất của ngành ong, Vì thế, chứng tời thấy các công tình nghiên cứu

về ong mật ở nước ta cũng lập trung chủ yếu vào 2 loài ong này Ngoài ra, trong

thời gian gần dây một số ít công trình tghiên cứu về các loài ong mật sống da sinh trong tự nhiên như ong khnải, ơng đá và ơng ruôi cũng đã dược công bố,

1.2.1- Loài ong núi

Tuy ong nội được nuôi từ lâu dời ở nước ta, nhưng các công trình nghiên cứu về

chúng chưa nhiều và còn chưa có tính hệ thống Trước đây, khi nghiền cứu một số

đạc điểm hình thái cửa ong nội ở nước la, chúng tỏi cũng đã có nhận xét là loài ong nội (A carana) ở Việt Nam có thể phân chia thành 2 phân leài: Phân loài A

e- ceram¿ ở miễn Bắc và A e indicơ ä miễn Nam Ruitner (1988)|106] cũng có

nhận xét rằng ong nội ở Việt Nam có thể phân chia thành 2 phân loài: A c, cerơnu

& mién Bac va A c indica ở miễu Nam, nhưng ông còn giả định ong nội vùng ay

Trang 36

bắc Hà nội có thể thuộc phản loài A c #tymalaya Ngoài những công trình nghiên

cứu về hình thái, một số công trỉmh khắc nghiên cứu về đặc diểm sinh học cũng

đóng góp thêm nhiều dẫn liệu khoa học quý báu vẻ loài ong nội ờ Việt Nam (Nguyễn Quang Tấn và cộng sự, 1993; Nguyen Van Dung et al 1993; Pham Van

Lap et al., 1993) (23J[81]|96J, Trong các công, trình nghiên cứu về thời gian các

pha phát triển của giống ong nội, Nguyễn Quang Tấn và cộng sự (1903) {23],

cũng như Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (1993) [9L| đã có nhận xét rằng tổng thời

gian nhát triển từ trứng đến khi nở ra ong trưởng thành đối với ong thợ là 18,6

ngày, đặc biết trong giai đoạn ấu trùng vít nắp là 11 ngày Diều này có ý nghĩa

quan trọng trong việc xác dịnh sức đễ trúng của ong chúa, xây dựng quy trình sản

(1993) [96] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh hợc của ong chúa giống ong nội

Š miễn Bắc và miền Nam nước (a vã cổ nhận xét rằng giá trị một số đặc điểm sinh học như khối lượng ong chúa tơ mới sở, số lượng ống trứng trong buông trúng của

ong chứa của ong chúa miễn Bắc đều lớn hơn so với ong chúa miền Nam

Bên cạnh các nghiên cứu cơ bản, một số nghiên cứu ứng dụng đối với ong nội cũng dã được tiến hành Trong giai đoạn 1964 - 1970, giống ong nội dược chuyển

từ nuôi trọng đỗ sang nuôi trong thing cai tiến với kỹ thuật nuỏi ong tiên tiến

Đây là điểu kiện tốt cho công tác chọn lọc các đồng ong có khả nâng phát triển

mạnh Nhờ vậy, năng suất trung bình của mật ong tăng từ 5 -Ú lên tới 10 - 12

kg/dãnäm, tuỳ theo từng vùng nuệi ong (Vũ Văn Luyện, I994)|20| Sau năm

1974, bệnh ấu trùng tuổi lớn đã gây hại rãi nghiêm trọng c;

r đần ong nội làm cho

nhiều đơn vị nhà nước và cá nhân nuôi øng bị thiệt hại nặng nề (Nguyễn Ngọc

“Tùng, 1993)I29] Từ năm 1989, các công Hình nghiên cứn phòng trị hệnh ẩu trùng

tuổi lớn bằng các biện pháp sinh họp như nhất ong chúa dẻ trong vòng 21 ngày:

giới thiệu các mã chứa sắp nở hoặc ong chúa lơ mới nở vào các din ong bi

để cất quảng sự tổn lại của ấu wimg trong din ong trong khoảng thời gian nhất

dịnh dẫn dến làm gián doạn môi trường sống của các sinh vật gây hai Nhờ áp dụng các biện pháp này, sự phát triển và gây bại của bệnh đã giảm dí rõ rệt (Phùng Hữu chính, 1996)19] Mặt khác, kết hợp áp đụng các biện pháp phòng uị

Trang 37

Tit nam 1989, phương phẩp chọn lọc theo quần thể khép kín da Page và Laidlaw

(198203ƒ94] dể xuất dã dược áp dụng vào công tác chọn giống ong mật ở Việt

Nam Sau 4 năm chọn lọc, đã tạo ra được một số dòng ong có tính tụ dàn lớn, tỷ

lệ bệnh ấu trùng luổi lớn giảm từ 45.4% uäm 1990 xuống cồn 17.2% Năng suất mật của nhóm đàn ong chọn lọc tăng 24,1% so với nhóm đối chứng (Phùng Hữu

Chính và Phạm Văn Lập 1994)[ I0] Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một dòng

ong nào dược đánh giá và công nhận là giống được chọn lọc tốt, đáp ứng dược yêu cầu của người nuôi ong

1.2.2 Loài ong nguại

Các công trình nghiên cứu về ong agoai cdn ít hơn sơ với ong nội, trong đó, chúng tôi đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của ong ngoại nuôi tại các tỉnh Thái Bình, Sơn La, Đắc Lắc và Lâm Đồng, Nghiên cứu một số đặc điểm hình thải của cdc din ong ngoại dược nuôi ở miễn bắc nước ta trong vòng 8 - I0 năm, Phạm

Xuân Dũng và Trần Xuân Ngân (1991)112] đã nhậu xét rằng giống ong ngoại dã

thích nghỉ với điều kiện miễn Bắc, vẫn tương đối thuần chủng và chất lượng giống vin dim bdo cho sẵn xuất

Nghiên cứu thời gian các pha phát triển của giống ong ngoại nuôi ở Việt Nam,

Nguyễn Quang Tân và cộng sự (1993)123] có nhậu xét rằng thời gian phát triển từ

trứng đến khi nở ra ong trưởng thành của ong thợ ngắn hơn (,Š ngày so với sự các

pha phát triển phát triển của giống ong này ở các nước khác Tác giả cho rằng, sự

thay đổi về thời gian các pha phát triển của ong mật phụ thuộc vào nhiều yếu tổ,

trong dó chủ yếu là đặc điểm di truyền của giống ong và những ảnh hưởng của

nh Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc

xác định sự phát triển và biện pháp phòng trừ Vazroơ jacobsoni, một loại ký sinh gây hại rất nghiêm trong cho cúc dầu öng ngoại ở Việt Nam cũng như trên khảp thế giới.

Trang 38

Trong vòng 6 năm (1983 -1989) Trung tâm nghiên cứu ong đã tiến hành nghiên

cứu khả năng thích nghỉ của một số chủng ong A mel1j/era nhập nội Các chủng ong đã nghiên cứu là ong ¥ (A at fignstica), ang Carpal (A in carpatica), ong Capcazo (A nt caucasied) va ong Cuba (A mellifera var.) Két qua nghien cit

cho thấy trong các chũng ong nhập nội, chủng ong Ý thích nghỉ tốt với điều kiện

tự nhiên, khí hậu và nguồn hoa ở Việt Nam, Chất lượng giống ong Ý vẫn đảm bảo cho phát triển nuôi ong có hiệu quả cao

Chương trình chọn lọc theo quần thể khép kín cũng đã được áp dụng dối vái giống ong ngoại Trong 6 năm thực hiện chương trình chọn lọc (1988 - 1994), các đạc điểm hình thái của giống ong ngoại vẫn giữ được ổn định Sức để trứng của ong chứa tăng 7,03, năng suất sản phẩm tăng 15.5% (Phạm Xuân Dũng, 1996)1 LI| Nhưng công tác chọn lọc giống ong nêu trên vẫn chỉ dừng lại ở mức dộ thí nại

có ý nghĩa khoa học và giá bả Ihực tiễn cho ngành ong Việt Nam

Mặt

" VÌ thể, chờ đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một giống ong mới nào

dù đã đạt dược một số kết quả bước đầu trong công tác nghiên cứu, bảo tổn

và chọn giống ong mật phục vụ cho sản xuất, nhưng những kết quả này chưa có

tỉnh hệ thống Vì thế, cho đến nay, chúng ta van chưa có dược các đẫn liệu khoa

học tổng thể để đánh giá thực trạng sự đa đạng và chất lượng các giống ong hiện

dang nuôi ở Viet Nam Hon nila, việc nhập nội một số chững ong ngoại trong giai

doạn 197U -I985, khi mà nguồn giống ong trong nước chưa được đánh giá hết

idm ning vA công tác chuẩn bị cho sự nhập giống chưa được chuẩn bị chu đáo,

đã gây ra không ít tốn kém cho ngành ong, và còn để lại hận quả đáng tiếc về sau (Trin Die Ha, 1989)[14] Vì thế, để góp phản giải quyết những tồn lại nêu trên,

thì vấn đẻ đánh giá thành phần loài và liểm năng giống ong mật ở nước ta là rất

cần thiết và cấp bách Đây là một trong những cơ sở khoa học cẩn thiết cho công

tác giỡng ong mậi cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác trong ngành ong nước

1a.

Trang 39

32

1-2.3- Các loài ong mật khác

Ngoài 2 loài ong nười như đã nêu trên, các loài ong mat song da sinh (rong ty

thiên cũng đã được nhân dâu là sử dụng và khai thác từ rất lâu nhưng các công

trình nghiêu cứu về chúng cồn rất ít và chỉ dược tiến hành chủ yếu vào 2 thập ký gần dây Trung số các loài ong rã sinh, ong khoái (Á ¿orszfa) được chú ý nghiền cứu nhiều hơn các loài khác Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về loài ong nầy

cũng chỉ tập trung chủ yếu ở vùng rùng từ U Mình Crane và cộng sự (1995)149] đã mô tã đặc điểm tồn tại của loài ong khoái ở v

so với việc sử dụng và khai thác loài øng này của người dân Indonesia, Ngoài ra,

fhm tổ ở các kèo ong đã được dặt sẵn Trong mùa khô, với đường kính kéo ang tit

9-17 cm, sở lượng đàn ong về làm tổ tỷ lệ thuận với đường kính củu kèo ong được

dat, nhưng trong mùa mưa thì mối quan hệ này thể hiện không rõ ràng Độ

nghiêng của kèo ong cũng có ảnh hưởng đến khả năng làm tổ của đàn øng Các

đàn ong thích làm tổ ở các kèo dại ở độ nghiêng 27 - 34” hơn là ở các kèo được

dặt ở độ nghiêng cao hon hay thấp hơn Một số đặc điểm sinh học khác của ong

Ngoài các công trình nghiên cứu vẻ ong khoái ở vùng rừng vam U minh, chúng

tối chỉ mới thấy một công uình nghiên cứu so sánh về số đặc điểm hình thái và

Trang 40

dặc điểm sinh học của ong khoái và ong đá (A lzboriosu} ở vùng Mộc Châu, Sơn

La vã Mai Châu, Hoà Bình (Lê Quang Trung và cộng sự, 1997)28| Trong khi dé,

Pham Héng 'Thái và cộng sự (1997)|25| đã có những nghiên cứu bước đầu về cẩu

nguồn gen ong mal ở nước ta Tuy nhiên, các công trình về các loài ong mật sống

dã sinh được tiến hành chữ yếu tại một vài địa điểm ở vùng rừng tràm U Minh và cũng chỉ mới chú trọng nghiên cứu một số ít đặc điểm hình Ihái và sinh học của

cũn ong và đầu ong, Những dẫo liệu thụ được từ các công trình nghiên cúu nêu trên chưa dâm bảo cơ sở khoa học để đánh giá một cách toần diện về đặc điểm

sinh học, sinh thái học, vòng phân bố của mỗi một loài ong mật dang tổn tại ở

Việt Nam, cũng như vẻ vị trí và vai trò cửa chúng đối với ngành ong và sự phát

triển bền vững của nền nông nghiệp nước ta Vì thế, việc nghiên cứu về các loài

ong mật này vẫn cẩn phải được tiến hành một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

Ngày đăng: 15/05/2025, 21:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.1.  Các  địa  điểm  nghiên  cứu  của  đề  tài - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 2.1. Các địa điểm nghiên cứu của đề tài (Trang 42)
Hình  2.9.  Xác  định  năng  suất  mát  của  đàn  ong  bằng  cách - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 2.9. Xác định năng suất mát của đàn ong bằng cách (Trang 55)
Hình  3.11,  Kết  quả  phản  tích  phân  biệt  củu  các  nhắm  ong  nội - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.11, Kết quả phản tích phân biệt củu các nhắm ong nội (Trang 63)
Hình  3.13.  Kết  quả  phân  tích  phán  biệt  của  các  nhắm  ong  ngoại - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.13. Kết quả phân tích phán biệt của các nhắm ong ngoại (Trang 69)
Hình  3.14.  Sức  để  trứng  của  ong  chúa  ong  nội  ở  các  vùng  nghiên  cứu - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.14. Sức để trứng của ong chúa ong nội ở các vùng nghiên cứu (Trang 72)
Hình  3.15.  Năng  suất  mật  của  các  đàn  ong  nội  ở  các  vùng  nghiên  cứu - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.15. Năng suất mật của các đàn ong nội ở các vùng nghiên cứu (Trang 73)
Hình  3.16.  Tỷ  lệ  ong  đực  lưỡng  bội  của  đàn  ong  ở  các  vùng  nghiên  cứu - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.16. Tỷ lệ ong đực lưỡng bội của đàn ong ở các vùng nghiên cứu (Trang 75)
Hình  3.17.  Bệnh  ẩu  trùng  tuổi  lớn  ỏ  các  đàn  ong  nội - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.17. Bệnh ẩu trùng tuổi lớn ỏ các đàn ong nội (Trang 78)
Hình  3.18.  Sức  để  trứng  của  ong  chúa  ong  ngoại  (1998  -  1999) - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.18. Sức để trứng của ong chúa ong ngoại (1998 - 1999) (Trang 81)
Hình  3.20.  Tỷ  lệ  ong  đực  lưỡng  bội  của  các  đàn  ong  ngoại. - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.20. Tỷ lệ ong đực lưỡng bội của các đàn ong ngoại (Trang 84)
Hình  3.28.  Một  trại  nuôi  ong  ngoại - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.28. Một trại nuôi ong ngoại (Trang 95)
Hình  3.32.  Két  quả  phân  tích  phân  lột  giữa  các  nhám  ong  ruồi  để. - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.32. Két quả phân tích phân lột giữa các nhám ong ruồi để (Trang 106)
Hình  3.33.  Tổ ong  ruồi  do  (A.  florea) - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.33. Tổ ong ruồi do (A. florea) (Trang 107)
Hình  3.34.  Mức  độ  phân  biét  gitta  nhấm  ang  ruồi  đen  (1  -  37) - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.34. Mức độ phân biét gitta nhấm ang ruồi đen (1 - 37) (Trang 110)
Hình  3.36.  Sơ  đồ  hệ  thông  tổ  chức  chọn  tạn  giống  ong  6  Viet  Nam - Luận văn Đánh giá tiềm năng các loài ong mật và Đề xuất cơ sở khoa học góp phần chọn tạo giống ong mật Ở việt nam
nh 3.36. Sơ đồ hệ thông tổ chức chọn tạn giống ong 6 Viet Nam (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm