1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt

120 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu
Tác giả Ủy ban chủ nhiệm đề tài
Người hướng dẫn GS. Hoang Bao Châu, PGS.PTS. Trinh Hau Hang
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sinh lý học động vật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1996
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.5 Về ngưỡng đau và ảnh hưởng của điện châm lên sự thay đổi ngưỡng dau Về sự thay đổi cường độ thông điện tại huyệt Về điện trở da tại các huyệt được sử dụng trong điều trị liệt th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUONG DAI HOC KHOA HOC TU NHIEN

or, ee

Uguyén Fhi Oan Thai

ANH HUONG CUA DIEN CHAM LEN

NGUONG CAM Gific DAU VA MOT SO

ĐẶC ĐIỂM CỦa HU#ỆT CHÂM cỨU

Chuyên ngành : Sinh lý học động vật

LUAN AN PHO TIEN SY KHOA HOC SINH HOC

WMgười hướng dẫn khoa hoc: GS Hoang Bao Chau

PGS.PTS Trinh Hau Hang

Trang 2

ND,

ND,

ND,

I,

BANG CHU VIET TAT

Ngưỡng đan (ngưỡng cảm giác đau) trước điện châm

Ngưỡng đau (ngưỡng cảm giác đau) sau diện châm

Ngưỡng đau (ngưỡng cẩm giác đau) sau khi ngừng điện

Điện trở da vùng huyệt trước điều trị

Điện trở da vùng huyệt sau điểu trị

Trang 3

1.1 Quan niệm của YHCT về hệ thống kinh lạc 2

1.2 Những nghiên cứu về ban chat

1.8 Cẩm giác đau và các cơ chế kiểm soát đau 15

1⁄4 Một số thuyết về cơ chế tác dụng của châm tê %1 1.5 "Tình hình nghiên cứu điện châm ở Việt nam 23

Chương 8 : Đổi tượng và phương pháp nghiên cứu 27

2.2 Phương nhấp nghiên cứu 28

81 Sự thay đối ngưỡng dau dưới Lác dụng của

8.2 Sự thay đổi ngưỡng đau đưới tác dụng của

3.8 Ảnh hưởng của điện châm lên độ dẫn điện tại

vùng huyệt châm cửu 61 8.4 Điện trở da tại vùng huyệt chân cứu dưới tác động

8.5 Ảnh hưởng của điện châm lên nhiệt độ tại

Chương 4 : Bàn luận 81

Trang 4

4.2

43

4.4

4.5

Về ngưỡng đau và ảnh hưởng của điện

châm lên sự thay đổi ngưỡng dau

Về sự thay đổi cường độ thông điện tại huyệt

Về điện trở da tại các huyệt được sử dụng trong

điều trị liệt thiếu máu não eụe bộ hệ cảnh trong

Về biến đổi nhiệt độ tại huyệt

Kết luận Tài liệu tham khảo

Trang 5

MỞ ĐẦU

“Từ lâu nghiên cứu về đau và chống đau đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học (Vogralik M.V, 1959 ; J.Bossy,

1978; Durinhian R.A., 1983; Portnov, 1987; Kaliuznyi 1984; Anton

J.1989 v.v ) Ở Việt nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu tác dụng

giảm đau của điện châm các huyệt châm cứu;Bủi Quang Hiền,

Trương Kim Du (1972); Nguyễn Tài Thu (1974, 1992); Hoang Bao

Châu và cộng sự (1972, 1994); Phạm Thị Xuân Vân (1980); Phạm Thị Xuân Vân, Nguyễn Thị Vân Thái (1985); Tạ Thuý Lan (1987); Đỗ

Công Huỳnh vả công sự (1991); Trương Việt Bình (1992); Nghiêm

Hữu Thanh (1995)

Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

cho thấy điện châm các huyệt châm cứu có tác dụng điều trị cũng

như có tác dụng giảm đau rõ trên các động vật thí nghiệm, trên người bình thường và trên bệnh nhân Những nghiên cứu về tác dụng của châm cứu trên người phần lớn là dựa trên cảm giác chủ

quan của người được châm và sự quan sát lâm sàng của các thầy

thuốc Việc lượng hoá các dau hiệu khách quan về tác dụng của châm

điện còn chưa được nghiên cứu đầy đủ Do đó để góp phần đánh giá

khách quan tác dụng điều trị, hiệu qủa giảm đau của điện châm trên

bệnh nhân vả động vật thí nghiệm chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự

thay đổi ngưỡng đau và sự thay đổi nhiệt độ, điện trở, cường độ thông

điện tại huyệt được châm cứu

Để đạt được mục đích nêu trên chúng tôi đề ra cho mình những nhiệm vụ như sau :

- Xác định ngưỡng đau trước và sau khi điện châm trên người

và động vật thí nghiệm

Trang 6

~ Nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm kết hợp thuốc hỗ trợ lên ngưỡng đau trên bệnh nhân phẫu thuật

- Nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm lên sự thay đổi cường

độ thông điện, điện trở, nhiệt độ của một số huyệt được châm trên

người bình thường, bệnh nhân điều trị bằng điện châm và bệnh nhân

phẫu thuật

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.QUAN NIỆM CỦA Y HOC CO TRUYEN VE HE THONG

KINH LAC

1.1.1 Khái niệm về các huyệt

"Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào ra” khí của tạng phủ,

kinh lạc muốn thấu ra ngoai co thể phải đi qua huyệt (15, 16, 36, 61,

62, 75] Huyệt được phân bồ khắp mặt ngoài cơ thể Nó có quan hệ

chặt chẽ với kinh mạch, tạng phủ và có liên quan với nhiều chức

năng sinh lý của cơ thể Huyệt cũng là cửa ngõ để tả khí luc dam

xâm nhập vào cơ thể, vì vậy nó phản ánh tình trạng bệnh lý của kinh

mạch, tạng phủ [15, 16, 36, 61, 62, 75] Có thể chẩn đoán bệnh tật, dựa trên những biểu hiện bệnh lý tại huyệt

“Trên cơ thể có 3 loại huyệt chính : Huyệt của kinh mạch, Huyệt ngoài kinh, Huyệt a thị ( nơi đau )

Huyệt của kinh có 9 loại nằm trên 12 đường kinh chính và 3

mạch nhâm đồc Trong đó được chia ra các loại khác nhau, gồm :

* Huyệt nguyên : có 12 huyệt thuộc 12 đường kinh chính

Huyệt nguyên thường nằm ở cỗ chân, cổ tay, có tác dụng chữa các

chứng hư hay thực của tạng phủ thuộc kinh mạch của nó, đồng thời còn có thể giúp vào việc chẩn đoán bệnh tật của tạng phủ.

Trang 7

* Huyệt lạc : có 15 huyệt lạc trong đó 14 huyệt nằm trên 12 kinh chính và 3 mạch Nhâm, Đốc, 1 huyệt đại lạc thuộc về kinh tỷ,

Huyệt lạc được sử dụng điều trị bệnh các cơ quan liên quan với

kinh chính vả liên quan biểu lý,

* Huyệt du ở lưng có 12 huyệt (Phé du, Đại trang du, Vi du, Ty

du, Tam du, Tiéu trường du, Bảng quang du, Thận du , Quyết âm du,

Tam âm du, Đởm du , Can du) [36, 77] Chúng nằm trên kinh VII

bằng quang dọc hai bên cột sóng Khi tạng phủ có bệnh thường xuất

hiện những phản ứng bất thường ở các huyệt du của ở lưng Dựa vào

phản ứng bất thường này có chẩn đoán tạng phủ nảo bị bệnh Trong

điều trị huyệt du được dùng để chữa bệnh âm dương quá vượng của

tạng phủ có liên quan

* Huyệt mộ có 13 huyệt (Trung phủ, Thiên khu, Trung quản, Chương môn, Cự khuyết, Quan nguyên, Trung cực, Kính môn, Đản

trung, Thạch môn, Nhật nguyệt, Kỳ môn) chúng nằm ở ngực, bụng

Khi tạng phủ mắc bệnh thường xuất hiện những phản ứng bất

thường ở vùng huyệt mộ Người ta dựa vào các phản ứng bắt thường

nay dé chan đoán bệnh và dùng huyệt mộ để điều chỉnh âm dương

quá vượng của tạng phủ

* Huyệt ngũ du có 60 huyệt nằm trên 16 đường kinh âm và 6

kinh dương õ huyệt ở tử khuỷu tay và đầu gối trở xuống đầu chỉ

Các huyệt ngũ du được phân bố tử đầu ngón tay, ngón chân lên

đến khuyu tay, đầu gối theo thứ tự : Tỉnh - Huỳnh - Du - Kinh - Hợp

Người ta sử dụng các huyệt Ngũ du đề chữa những chứng bệnh

của bản kinh

Người xưa thường phân loại ngũ du theo ngũ hành để chọn huyệt điều trị theo qui luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành.

Trang 8

* Huyệt khích có 12 huyệt nằm trên 12 đường kính chính và 4

huyệt trên các mạch âm duy, dương duy, âm kiểu, dương kiểu

* Huyệt hội có 8 huyệt (Trung quản, Chương môn, Đần trung,

Cách du, Đại trữ, Huyền chung, Dương lãng tuyền, Thái uyên) Huyệt h

8 loại tổ chức trong cơ thể : tạng, phủ, khí, huyết, xương, tuỷ, gân,

ội là tên dùng để gọi những huyệt có tác dung chữa bệnh cho

mạch Tám huyệt hội này nằm trên các kinh chính và mạch ni

* Huyệt giao hội của tám mạch : có 8 huyệt giao hội để thông

thương với 8 mạch khác (Công tôn, Nội quan, Hậu khê, Thân mạch,

Lâm khấp, Ngoại quan, Liệt khuyết, Chiểu hải) Chúng nằm ở tay, chân và được dùng để chữa bệnh của 8 mạch

* Huyệt hợp nằm ở nơi các đường kinh (từ hai trở lên) gặp

nhau Có khoảng 90 huyệt hợp nằm trên 12 đường kinh chính và 3

mạch Nhâm, Đốc Huyệt hợp có thể dùng để chữa bệnh của các

bệnh có liên quan với các kinh mạch và có liên quan với nó

* Huyệt ngoài kinh là huyệt ở ngoài các đường kinh Có một số huyệt nằm trên đường tuần hoàn của kinh mạch chính, song không phải là huyệt của kinh mạch đó Ví dụ huyệt số Ấn đường nằm trên mạch Đốc, mà không phải là huyệt của mạch này Tổ chức y tế thế giới công nhận 48 huyệt ngoài kinh đó là những huyệt do các nhà

châm cứu đời sau quan sát và phát hiện

* Huyệt A thị là huyệt không có vị trí cố định và chỉ tần tại khi

có bệnh cấp, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ đau, Người ta châm vào

huyệt A thị để chữa chứng đau nhức tại chỗ

2.1.2 Về các đường kinh

Trang 9

Người xưa qua thực tế chữa bệnh, quan sát tì mỉ những biểu

hiện sinh lý, bệnh lý đã quy nạp được một hệ thống các đường dọc,

ngang, khác nhau gọi là hệ kinh lạc

Kinh lac là nơi tuần hoàn của khí huyết đi nuôi dưỡng toàn

thân để duy trì hoạt động bình thường của cơ thể Đó cũng lả nơi

nhân tố gây bệnh xâm nhập vào cơ thể là nơi phản ánh tình trạng

bệnh tật của cơ thể, nơi tiếp thu kích thích của ngoại cảnh có tác

dụng lớn đối với sự sống còn của con người [36, 61, 69, 75]

Kinh lạc là đường dẫn truyền kích thích vào các tạng phủ để

chữa bệnh Nhờ biết tác dụng này của kinh lạc, nên việc chữa bệnh

ngày càng có hiệu quả

Trong học thuyết kinh lạc có 12 kinh chính, gồm :

- 3 kinh âm và 3 kinh dương ở tay (Thái âm phế, Thiếu âm

tâm, Quyết âm tâm bào, Thái dương tiểu trường, Thiếu dương tam

tiêu, Dương mỉnh đại trường)

- 3 Kinh dương và 3 kinh âm ở chân (Thái dương bảng quang, Thiếu dương đởm, Dương minh vị, Thái âm tỳ, Thiếu âm thận, Quyết

âm can)

Mỗi kinh chính đều có một vùng phan bé nhất định ở mặt

ngoài của thân thể liên quan với một tạng hay một phủ nhất định,

có quan hệ biểu lý với phủ hoặc tạng tương ứng

Đường tuần hoàn của 12 kinh chính và hai mạch Đốc, Nhâm

diễn ra như sau :

- Ba kinh âm ở tay đi từ tạng ra bản tay

- Ba kinh dương ở tay đi từ bàn tay lên đầu,

- Ba kinh dương ở chân đi tử đầu xuống bàn chân

- Ba kinh âm ở chân đi từ bàn chân lên bung chan , ngực.

Trang 10

Kinh nọ tiếp kinh kia thành một đường tuần hoản kín đi khắp

cơ thể ( Xem sơ đồ 1)

Sự tuân hoàn của 12 kinh chính tạo thành mồi liên quan biểu

ly, âm đương, ngũ hành, trên dưới, bao trủm toàn bộ cơ thể và tuần hoàn theo qui l'

Trang 11

12 NHŨNG NGHIÊN CỨU VỀ BẢN CHẤT CỦA HUYỆT

CHAM CUU

1.2.1, Va gidi phẫu vã tổ chức ở vũng huyệt

Nghiên cứu về cầu tạo giải phẫu vả tổ chức của vũng huyệt là việc làm nhằm tìm ra cơ sở vật chất của kinh huyệt Đẳng thời cũng

nhằm giải thích các cơ chế tác dụng của hệ kinh lạc Tuy cố nhiều nhà châm cứu ở nhiều nước đã nghiên sứu công phu, song có thẻ nói, tới nay nhiều vấn đề còn chưa sáng tỏ

Bằng phương pháp đổi chiểu các đường đi của các kinh mạch

với giải phẫu thân kinh và mạch máu, một số tác giả cho rằng đường

đi của các kinh mạch có thé trùng hợp với các đường đi của các dây

than kinh và mạch máu lớn Vị trí của nhiều huyệt chính là điểm xuất chiếu lên da của thần kinh vã mạch máu nằm ở sâu dưới da

[75, 104, 105, 143]

Tién hành cắt lớp trên 309 huyệt người ta nhận thấy 152 huyệt

châm trực tiếp vào đây thần kinh, 73 huyệt mũi kim châm cách dãy

thần kinh khoảng 0,5 em, còn lại 84 huyệt mũi kim châm cách dây

thần kinh trên 0,öem Đối chiếu đường đi của 3 kinh âm ở tay với sự

phân bố của các dây thần kinh ở mặt trước cánh tay người ta thấy

đường đi của kinh phế tử huyệt Vân môn trở xuống gần giống sự

phân bố của dây thần kinh cơ da Đường đi của kinh Tâm bào tử

huyệt Thiên tuyển trở xuống gần như do thần kinh giữa phân bổ

Đường đi của kinh tâm gần giống sự phân bố của nhánh trước vai

của đám rối thần kinh nách và dây thần kinh da cánh tay trong

Huyệt Liệt khuyết tương ứng với nơi phân nhánh ở nông của dây

thân kinh quay [75, 104, 105, 148].

Trang 12

Nghiên cứu về giải phẫu trên 324 huyệt các tác giả thấy 323

huyệt có thần kinh phân bố, trong đó 304 huyệt có quan hệ với thần

kinh nông ở ngoài da, 155 huyệt có quan hệ với thần kinh ở sâu, 137

huyệt có quan hệ với cả thần kinh nông vả than kinh sâu Quan sát

trên kính hiển vi tại vùng huyệt thấy từ biểu bì tới trung bì, hạ bì, tổ chức dưới da, cơ và cân, có tổ chức thân kinh rất phong phú, có nhiều

loại tận củng thần kinh, cũng như các nhóm và bó thần kinh [75]

Làm giải phẫu nhiều lớp trên 309 huyệt, và quan sát ảnh

hưởng của châm đối với mạch máu thấy có 24 huyệt trực tiếp châm

vào mạch máu, 362 huyệt châm vào cạnh động tĩnh mạch và cách động tĩnh mạch khoảng 0,ð em [7ð]

Darras dùng chat phóng xạ đánh dấu để tiêm vào huyệt rồi quan sát bằng các chụp nhấp nháy nhận thấy ở đường kinh có độ tập trung chất phóng xa cao hơn ở bên cạnh (báo cáo tại Viện y học dân tộc Hà nội)

Bossy.J (1973) dùng đồng vị phóng xạ tiêm vào huyệt của thỏ,

thấy có hiện tượng các huyệt củng kinh có độ phóng xạ tập trung cao hơn các huyệt ở kinh khác [143, 144]

1.2.2 Hoạt tính điện ở da vùng huyệt

Những biểu hiện về điện ở da vùng huyệt là vấn đề được nhiều

nhà châm cứu trên thế giới quan tâm

Những nghiên cứu về biểu hiện đặc tính điện học ở da vùng

huyệt được thực hiện trên ba mật :

Trang 13

Điện thế sinh vật ở da vùng huyệt ảnh hưởng của đồng điện

cao tan lên đặc tính của huyệt và hiệu ứng Kirlian điện trở cúa da, cường độ thông điện qua đa vàng huyệt

Điện thế, hiệu ứng Kirlian đồi hỏi phương tiện, máy móe và kỹ

thuật phức tạp, nên chỉ mới được một số nơi có điều kiện nghiên cứu,

Van dé đo điện trở da và cường độ thông điện qua da, không đòi hỏi

may méc phức tạp nên được nhiền nhà châm cứu dùng làm phương

tiện quan sắt Nó cững là phương tiện đầu tiên để phát hiện đặc tính

điện học của ở da rùng huyệt

Điện thé sinh vật da ở vùng huyệt

“Trên bề mặt của da cơ thé người cũ nhiều điểm có điện thé cao

hơn những điểm xung quanh chúng Trong đồ có nhiều điểm điện thé

trùng với vùng huyệt châm cứu [?5, 77, 9ð, 143]

Người ta cũng nhận thấy trên mặt da của trâu, ngựa, chó, thổ,

chuột, khi cũng có những điểm mà điện thể sinh vật cao hơn hẳn

vùng xung quanh Số lượng và sự phân bố các điểm có điện thé cao

này ở các động vật đều tương tự như nhau Riêng trên khi, số lượng

các điểm, sự phân bố vả vị trí của các điểm có điện thế cao gần giống

với kinh, huyệt của người

Nhiều nhà khoa học tiến hành đo điện thế sinh vật ở huyệt và

nhận thấy điện thế ở huyệt rất dễ biển động, phụ thuộc vàn nhiều yếu tố khác nhau Ví dụ, khí chức năng của các nội tạng ở những

trạng thái khác nhan, thì điện thế sinh vật của huyệt cõ liên quan cũng có những biển đổi Vĩ dụ, điện thế của huyệt Vị du có trị số kháo

nhau phụ thuộc vào trạng thái sinh lý của da day Luc no khác lúc

đối, khi tiết dịch nhiều khác khi tiết dịch ít và khi không tiết dịch.

Trang 14

Điện thể của huyệt Bàng quang du củng biển đổi song song với trạng

thái của bảng quang [77, 95]

Do điện thé ở các huyệt của 2 kinh Tỳ, Vị và các huyệt Tỳ du,

Vị du người ta cũng thấy điện thê khi ăn no cao hơn khi đói

Theo doi điện thé của huyệt trong những trạng thái tâm lý và

tình cảm khác nhau cũng thấy có những biến đổi khác nhau Khi bị

kích động điện thế cao hơn khi không bị kích động [7]

Adamenko [75] theo dõi điện thế ở các huyệt khi thức và khi

ngủ nhận thấy;khi thức điện thế ở huyệt cao hơn xung quanh còn khi ngủ điện thế ở huyệt và các vủng chung quanh huyệt không khác nhau

Adamenko [7ð] nghiên cứu điện thế của huyệt theo điện

trường và tử trường của trái đất thấy điện trường vả tử trường của trái đất có ảnh hưởng tới điện thế của huyệt Tác giả cho rằng có thé thông qua huyệt mà tử trường, điện trường của trái đất ảnh hưởng

tới con người

Điện thế của huyệt lúc cơ thể mắc bệnh và khi khỏi bệnh có

sự khác biệt rõ rệt [7ð, 95]

Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh phong bề huyệt bằng

Novocain hoặc cất đứt dây thần kinh đi tới các huyệt Vị du và Bàng

quang du thì điện thế của các huyệt này không biên đổi theo với các

biến đổi sinh lý ở dạ dày và bàng quang [75] Nếu tiêm Adrenalin cho khỉ để gây tăng huyết áp thì điện thế của các huyệt ở kinh Tâm

và kinh Tâm bào tăng lên Điều này chứng minh có mối liên quan chức năng giữa các huyệt với các cơ quan trong cơ thể

Trang 15

Ảnh hưởng của dòng điện cao tần lên đặc tính của huyệt

Dùng dòng điện cao tần có điện áp cao cho qua cơ thể sinh vật người ta có thể kiểm tra được đặc tính dân điện cao tân của cơ thể

bằng kỹ thuật quang phổ hay kỹ thuật chụp ảnh của Rirlian

Những ảnh chụp theo kỹ thuật Kirlian có những đặc tính rất

đặc trưng ấy là do sự quyết định của một hiệu ứng mang tên

Rirlian Cơ chế của hiệu ứng này do trạng thái Platma sinh vật

(những điện tử và ion tự do trong sinh vật).Đặc thủ ở lúc chụp ảnh (Tniusin ) và bản chất hoá học của các sản vật của da cũng như các

khí có trong điện trường (Arthur-Kantrovitz) dưới tác dụng của một điện trường mạnh do dòng cao tan đã gây nên sự phát

xạ điện tử [77] làm xuất hiện một dạng đặc biệt của sự phóng điện cao tần qua sinh vật,

Người ta nhận thấy trong ảnh chụp theo kỹ thuật Kirlian có

nhiều điểm phát quang khác hẳn vùng chung quanh phù hợp với vị trí của huyệt châm cứu và đã chế tạo những máy chuyên dụng để nghiên cứu hiệu ứng Kirlian trên vùng huyệt châm cứu

Người tadùng phương pháp kiểm tra sự phóng điện cao tần bằng quang phố ở mặt trong cẳng chân và mặt trước cẳng tay trên

những người bị bệnh viêm thận, viêm gan, viêm phổi khối và lao phổi

thấy có những đường dẫn điện tốt trùng với kinh thận, kinh can và

kinh phế [95]

Ở vùng huyệt của người và những điểm có điện thế sinh vật

cao của tất cả mọi vật sống đều thấy trong quang phổ phát sinh

những bó song song sáng rực [75, 95].

Trang 16

Iniusin [7B] cho biết các huyệt châm cứu và các điểm có điện

thế cao phát quang khác hẳn so với các vùng xung quanh Ảnh chụp

của mỗi người có một đặc trưng riêng, nó biến đổi tuy theo các nhân

tố làm biến đổi đặc tính điện học của bề mặt cơ thẻ

Các công trình nghiên cứu hiệu ứng Kirlian trước và sau điều

trị châm cứu thấy có sự khác nhau rõ rệt trên ảnh chụp khi bệnh và

khi lành

Điện trở da và cường độ dong điện qua da vùng huyệt

Việc nghiên cứu điện trở da và lượng thông điện qua da được

dựa trên cơ sở đặt lên da một điện áp rồi đo cường độ dòng điện

phóng qua cơ thể hoặc đo điện trở của da

Điện trở da và cường độ dòng điện qua da của huyệt là hai yêu

tố đã được sử dụng để phát hiện ra đặc tính điện học của huyệt sớm

nhất Vấn đề này đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu trên nhiều

khía cạnh khác nhau

Người ta nhận thấy điện trở và cường độ dòng điện qua da

vùng huyệt so với vùng quanh huyệt có sự khác biệt rõ Da vủng

huyệt châm cứu có điện trở thấp và cường độ đòng: điện cao hơn da

vủng xung quanh huyệt Nối các huyệt của củng một kinh lại với

nhau ta cô một đường dẫn điện tốt [119, 120, 150]

Các tác giả trên cho biết trên da có những đường dẫn điện cao

và sự phân bồ của nó trùng với phân bố của hệ kinh lạc

Các nghiên cứu cường độ :dòng; điện trên tử thi cho thấy trên

mặt da cường độ dòng điện qua vùng huyệt và vùng lan can khong

có sự chênh lệch như ở cơ thể sống [77]

12

Trang 17

Nyboyet và cộng sự (1973, 1975) cho biết cường độ tòng' điện qua da của động vật thí nghiệm cũng có những vủng điện trở thấp và

lượng thông điện sao như ở người [1ð0, 151]

Sự cảm ứng với nhiệt độ của huyệt tỉnh

Akabane Nhật bản (25, 96] ngẫu nhiền nhận thầy huyệt Tỉnh

ở ngôn tay cú đường kinh bị bệnh của mình có sự chênh lệnh rõ rệt

so với bên lảnh khi tiếp xúc với nhiệt độ cao Sau khi được chữa lảnh

bằng cách châm vào huyệt Du của kinh đó ở lưng thì sự chênh lậch

về cảm ứng với nhiệt độ của huyệt Tỉnh ở hai bên không còn nữa

Qua quá trình theo dối và điều trị trên 100 người bệnh tác giả

đi đến kết luận rằng khi một đường kinh bị bệnh thì cảm giác về

nhiệt ủ huyệt của kinh đá sẽ thay đổi khác với bên lảnh Bự chênh

lệch nay thể hiện rõ nhất ở huyệt Tỉnh (huyệt ở các đầu ngón tay,

ngón chân) và có thể sử dụng phương pháp đo cảm giác về nhiệt độ giữa hai bên phải trái để tìm ra đường kinh có bệnh

Tác giả cũng thấy nếu châm váo các huyệt trên đường kinh có

bệnh nhất là châm vào huyệt Du của kinh bị bệnh nằm trên kinh

chênh lệch về nhiệt độ giữa hai bên có thể thu nhỏ

lai hode mat đi vả bệnh sẽ giảm

Bảng quang thì

Phương pháp nảy của Akabane được đặc tên là phương pháp đo

độ cắm giác về nhiệt

Đông Thừa Thống ở Trung quốc [7ð] cũng sử đụng phương

pháp đo thời gian cảm ứng với nhiệt độ để so sánh sự chênh lệch giữa

hai bên phải và bên trái, rồi chọn huyệt châm để điều trị cũng thấy

có tác dụng điều chỉnh sự chênh lệch của cảm giác đối với nhiệt độ

13

Trang 18

1.8 CẮM GIÁO ĐAU VÀ CÁC CƠ CHẾ KIỂM SOÁT ĐAU

1.3.1 Khái niệm về cảm giác đau

Đau là một cảm giác đặc biệt, lä thuộc tính chung cho tất cả

các cơ thể động vật Đau bảo hiệu sự tổn thương và sự rối loạn tại chế

6 tinh chat de dụa toàn bộ cơ thể và gây ra trạng thái lo lắng, sợ hãi

Đau gây ra phản ứng tự vệ (chạy trốn, tấn công) và các phản

ứng thuộc chức nãng thực vật như thay đổi nhịp tim, hô hấp, huyết

Ap, eo mạch, tiết mỗ hôi v.x

Ở người cảm giác đau là một trạng thái ý thức dược (Head,

1910), nén ngoài những biểu hiện trên còn quan sát được những biểu

hiện thuộc hành vỉ tập tỉnh khí bị đau Do đó đau được xem là yếu tổ

quan trọng trong hành ví của can người [#1],

Baroroft (1837) coi đau như một tính chất tâm lý kèm theo của phản ứng tự vệ [22]

Sherrington (1938) cũng cho rằng đau là trợ thủ tính thần của

phản xạ tự vệ cấp bách [22]

Theo quan niệm nảy thì phản xa tự vệ được xem là phần ứng

sơ cấp trả lời lại kích thích gây hại đổi với cơ thể, sòn đau là tín hiệu

được kèm theo hay còn gọi là tín hiệu bổ sung, là phân ứng thứ cấp

Dau và lâm cho hết đau đã lõi cuỗn sự chủ ý của y học thực

hành từ thời xa xưa Song mãi đến năm 1894 Frey và Goidscheider

cùng một lúc đã đưa ra những công trình nghiên cứu đặt nễn móng

cho cơn đường lchoa học nghiên cứu về đau Frey cho rằng đau là cảm

giác đặc hiệu có bộ máy trung ương và ngoại vi riêng, Ngược lại

Goldscheider cho rằng không có thụ cảm thể đau đặc hiệu Đan là

14

Trang 19

kết quả của quá trình cộng hưởng trung ương nó xuất hiện khi kích

thích mạnh vào các thụ cảm thể có ở đa, Mỗi giả thiết trên đều có

mặt đúng đắn và thiều sót của nó Do đó Melzack và Wall [127, 128,

129] khi đề xuất giả thuyết mới vé đau đã chọn lọc một số điểm cơ

bản của các học thuyết nói trên

Anokhin P.K (1968) và cộng sự cho rằng đau là chức năng tích

hợp của cơ thể nhằm động viên các hệ thống chức năng khác nhau để

bảo vệ cơ thế khỏi tác dụng của các yếu tố gây hại và bao gồm nhiều

thành phần khác nhau như ý thức, cảm giác, trí nhớ, động lực

(motivation) các phản ứng thực vật phản ứng soma và tập tính cảm

xúc (Emotion) [78] Tử quan niệm này có thé thấy rõ tính chất võ

củng phức tạp của cơ chế gây đau va giảm đau

ĐỀ hình dung tính chất phức tạp, nhiều thành phần của cảm

giác đau Charpentier (1872) đã nêu :hành công thức :

P.= Che + Veg + Mot + Psy [ 22]

ở đây P- đau, Che - yếu tô hoá học, Veg - phản xạ thực vật,

Mot - động lực cảm xúc , Psy - yêu tô tâm lý

"Theo công thức này có thê thấy trong cảm giác đau có sự tham

gia của các chất hoá học có trong cơ thể, ví dụ bradykinin, chất P, có

sự thay đổi chức năng của nhiều cơ quan, ví dụ hô hấp, tuần hoàn có

thể nhanh hay chậm, có sự biến động về cảm xúc và tâm lý.

Trang 20

1.3.2 Các cơ chế trung ương kiểm tra cảm giác đau

Hệ thắng Opiat

Hệ thắng này bao gồm nhiều cấu trúc khác nhau trong đó có

tuyến yên, dưới đổi thị chất xám trung tâm cạnh thất, liềm đen,

nhân đuôi, bèo nhạt và các cấu trúc có các thu thể opiat

Tử lâu người ta đã biết tác dụng giảm dau của các chất loại opium, song mãi đến năm 1973 mới phát hiện được các thụ thể

opiat trong hệ thần kinh trung ương Chúng có ở tận củng các rễ sau

và các nơron trung gian trong tuỷ sống, trong nhân tế bảo khổng là

(nucleus gigantocellularis) và các nhân của đồi thị Chúng cũng có

trong chất xám trung tâm cạnh thất, trong dưới đồi thi, trong thé

lưới thân não và trong nhân raphê với số lượng ít hơn Trên cơ sở

phát hiện các thụ thê này người ta mới hiểu được tác dụng ngăn chặn

cảm giác đau của các chất loại morphin và đi sâu nghiên cứu các chất

do não tiết ra có tác dụng tương tự morphin Vào những năm đầu

thập kỷ 70 người ta đã phát hiện được các chất do não tiết ra và gọi

là các morphin nội sinh, trong đó có endorphin và eneephalin

Endorphin có nhiều trong tuyến yên, dưới đôi thị chất xám trung tâm cạnh thất và thể vú Endorphin có ba loại : anpha, beta và

gamma Trong đó Beta - endorphin có tác dụng giảm đau mạnh nhất, gấp morphin 200 lần Gần đây còn tìm thấy dinorphin - chất có tác dụng chồng đau mạnh gấp 2000 lần morphin

Encephalin só hai loại : Methionin-và leuein-encephalin Chúng đều là dẫn xuất của beta - lipotropin Các chất này dễ bị phân

huỷ bởi carboxydaza và các enzym khácEncephalin có nhiều trong

liềm đen, nhân đuôi, bèo nhạt

16

Trang 21

Hệ thống gồm các cấu trúc kể trên được xem là hệ thống Opiat

kiểm tra cảm giác đau vì chúng tiết ra Endorphine: Encephalin Hai

chất này khi tác động lên các thụ thể opiat có tác dụng làm giảm điện thế đáp ứng của các nơron trong sửng sau tuỷ sống, trong thể

lưới thân não, chất xám trung tâm cạnh thất, thẻ vân, đồi thị, vỏ

não, ngăn chặn thông tỉn về cảm giác đau, do đó có tác dụng giảm đau [97, 98, 99]

Hệ thống chất xám trung tâm cạnh thất-nhân ra phê

Reynolds (1969) lan dau tién cho thấy kích thích đòng điện vào

chất xám trung tâm cạnh thất đã làm mất phản ứng tự vệ ở chuột

cống khi tiến hành mé khoang bụng của nó, cũng như khi kích thích

cơ học vào phúc mạc, vào các cơ quan nội tạng và kích thích nhiệt gây đau Hiệu ứng giảm đau khi kích thích chất xám trung tâm cạnh

thất cũng nhận thấy ở mèo, khi và người [3]

Tác dụng giảm đau của hệ chất xám trung tâm cạnh thất và

(n.gigantocellularis) và nhân intralaminaris của đồi thị, các nơron

nằm trong lớp V sừng sau tuỷ sống Người ta còn nhận thấy rằng từ

nhân raphê - nhân của hệ thống serotoninergic có đường ức chế đi

xuống ngăn chặn cảm giác đau truyền tử ngoại vi vào tuỷ sống theo

cơ chế serotoninergic

ROT Tome We AIH

SOMME TAN Oe! FREY

Trang 22

Hé thing dưới đôi thị

Hypothalamus duge xem là hệ thống kiểm tra cảm giác dau vi

nó tiết ra các chất nội tiết và hình thành cảm xúc động lực Kích thích đồng điện vàn nhãn quanh thất (n.paraventricularis) và nhân

giữa lưng (n.dorsomedialis), cũng như vùng trước dưới đổi thị gây ức

chế các phân ứng trả lời lại kích thích gây đau ở các nøron lớp IV - Vĩ thuậc sững sau tuỷ sống Hiệu qúa nảy được thông qua đường liên hệ

tử dưới đồi thị qua thể lưới thân não xuống tuỷ sống [84, 133, 134,

188, 186]

Hệ thắng các cầu trúc kháu của não hộ

Các cấu trúc thuộc hệ thống này gồm nhân đuôi, nhân đô, chất

đen, vách não và một số điểm của não giữa, não trung gian, tiểu não

[80, 91, 94, 98, 99, 100] Người ta cho rằng ngoài đường

serotorinergie từ não xuống tuỷ sống còn có một đường nữa xuất

phát tử phần bền của nhân trước thân não (n.reticularis) đi theo các

bé bụng và bó bên (tr.ventralis et lateralis) dén các ndron sừng sau tuỷ sông Đây là con đường adrenergic (Hokfelt, 1974) củng có tác dụng ngăn chặn các xung động thần kinh truyền cảm giác đau ở mức

tuỷ sống [80, 85, 87, 88]

Hệ thắng kiểm tra cắm giác đan đ mức vỏ não

Nhiều sự kiện quan sát trên lâm sảng và nhiều công trình

nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy các vùng vỏ não, đặc

biệt là vùng Š1J, vùng đỉnh và vùng trán tham gia tích cực vào việc tiếp nhận, đánh giá và kiểm tra cảm giác đau ích thích vũng cảm

giác soma ở người trong thời gian phầu thuật não gây ra đị cảm, đôi

khi còn lâm xuất hiện cảm giác đau nhẹ Sự tổn thương vùng SỊ[ ở

18

Trang 23

người làm tăng cảm giác đau và gây đau khi da chạm vào quân áo,

vải trải giường (Denny-Brown, 1958) là những sự kiện chúng tỏ rằng

vùng Sy cé quan hệ với cảm giác đau có ý thức Đồng thời những sự

kiện khác cũng chứng tả rằng các vủng vỏ não có thể ức chế cảm giác

đau Vì dụ, khi con người ở trạng thái thôi miên, ở trang thái hưng phấn cảm xúc mạnh, hoàn toàn không có cảm giác dau, mac di vết

thương ở cơ thể khá lớn Trong những trạng thái nảy các thụ thễ

opiat trên mảng các nơron vùng trán được kết hợp với các chất opiat

nội sinh được tiết ra với hàm lượng khá cao [22, 81, 86, 87]

Việc kích thích trực tiếp vào các cấu trúc vỏ não, ví dụ vào nơi

xuất phát bé thán có thể ức chế điện thế đáp ứng của các ngron lap

TV và V tại sùng sau tuỷ sống và thu hẹp kích thước trường thụ cảm của chúng đối với các kích thích gây đau, cũng nói lên vai trò điều tiết cảm giác đau tử phía vỏ não Hiệu qủa tương bự cũng quan sát

duge Ichi kích thích vùng vận động vỏ não và hồ mắt

Như vậy, các vùng vô não chỉnh 14 nai điều biến hồi cam giác

đau Chúng thực hiện chức năng phân tích sơ bộ théng tin truyền

vào và hoạt hoá các cấu trúc khác của não bộ tham gia vào cơ chế

chống đau Những cấu trúc não liên quan và được hoạt hoá bởi vùng

ST là các cầu trúe thuộc hệ limbic, đặc biệt lả phức hợp hạnh nhân,

các nhân đặc hiệu vả không đặc hiệu trong đồi thị, chất xám trung

tâm cạnh thất, thả lưới thân não, sửng sau tuỷ sống

Ngoài các hệ thống chống đau kể trên, gẫn đây người ta tìm

thấy một hệ thống khác cũng có tác dụng giảm đau, đó là hệ

Gabaergie Nơi diễn ra cơ chế chống đau của hệ Gabaergic là tuỷ sống, do gãy ức chế trước xinap và một số nơi ở não bộ do ức chế sau xinap tăng phân cực (hyperpolarization) mảng sau xinap

18

Trang 24

(| Một số thuyết về cơ chế tác dụng của châm tê

Từ nhiều năm nay các nhà khoa học cả đông và tây y đã đi sâu

tìm hiểu vì sao châm tê lại có tác dụng giảm đau

Nhiều giả thuyết cho rằng tác dụng giảm đau của châm tê được

thực hiện bằng con đường thần kinh và thể dịch

'Về cơ chế tác dụng của châm tê qua con đường thần kinh Chứng minh cơ chế tác dụng của châm tê qua con đường thần

kinh có các tác giả như Melzack R; Wall P.D [126, 127, 128], Niboyet

J.E.H [150]; Man P.L va Chen C.H [115, 124, 125], Pomeranz B

(131]; Cheng G:S [116], Chang Hsiang Tung [146] v.v

Đa số các tác giả nghiên cứu cơ chế giảm đau của cham tê đều ủng hộ giả thuyết "Công kiểm soát" của Melzack R và Wall P.D hoặc thuyết "hai cửa" của Chang Hsiang Tung

Bên cạnh đó còn có thuyết "Phản xạ tuỷ" của Man P.L và

thuyết "Hai cửa có điều khiển" của Man P.L va Chen C.H [124, 125]

Về cơ chế tác dụng của châm tê qua con đường thể dich

Cơ chế tác dụng của châm tê qua con đường thể dịch đã được

thông báo trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như: Pomeranz B [131]; Mayer D.J [126]; Takeshige C.H [133]; v.v Các

tác giả này cho rằng yếu tố thể dịch giữ vai trò quan trọng trong cơ

chế giảm đau của châm tê Các yếu tố thể dịch xuất hiện do các xung

đau ảnh hưởng tới các vùng khác nhau của hệ thân kinh, nhất là các trung tâm tương ứng của não trung gian [101 , 103]

Nghiên cứu thực nghiệm tuần hoàn chéo trên chó, thỏ của

nhiều tác giả Trung quốc, Canada, Việt nam cho thấy các con vật

20

Trang 25

được nhận máu truyền của các con vật bị mất cảm giác đau do châm

tê cũng xuất hiện trạng thái mất cảm giác đau [50, 73, 74, 131]

Các tác giả đề ra thuyết thần kinh - thể dịch cho rằng dưới tác dụng của điện châm, nhiều cấu trúc trong hệ thần kinh đã tiết ra các

chất có tác dụng giảm đau [124, 125, 127, 128, 129, 131] Năm 1977

Pomeranz B [131] cho rằng hai loại neuropeptit là endorphin và encephalin gây giảm đau trong châm tê

Các xung phát sinh trong châm tê sẽ truyền theo các sợi thần

kinh đến vùng dưới đồi làm giải phóng endorphin Người ta da thay endorphin nhiều được giải phóng khoảng 20 phút sau khi châm Điều nảy cũng phủ hợp với lâm sàng là thời gian châm tê phải kéo dài

khoảng 20 phút mới đạt được mức giảm đau cần thiết để mô [7, 8, 9,

51, 61, 107, 108, 120, 154]

Nhiều tác giả như Mayer D.J [126], Pomeranz [131], Phạm Thị Xuân Vân [73] cho biết chất đối lập đặc hiệu của morphin là

naloxon làm mất tác dụng giảm đau của châm tê

Gần đây người ta còn thấy rằng châm tê không chỉ làm giảm dau do tang lugng endorphin trong dịch não tuy, ma con lam tang ca

nong d6 serotonin Mayer D.J [121], Takeshige C.H [41, 117, 121,

122, 133, 138, 139] đã tìm thấy một lượng lớn chất giống morphin trong dịch não tuỷ của chuột cống Chất này gây được trạng thái giảm đau giống như do điện cham Dem dich não tuỷ của chuột đã

được giảm đau do điện châm truyền cho chuột bình thường cũng gây được trạng thái giảm đau ở con vật này Tử các nghiên cứu và giả

thuyết nêu trên có thể thấy trong cơ chế giảm đau của châm tê có sự

Trang 26

tham gia của hệ thống opiat và serotoninergic theo con đường thần

kinh - thể dịch

| Z bé TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚU ĐIỆN CHÂM Ở VIỆT NAM

Châm tê

Ở Việt nam lần đầu tiên thực hiện châm tê để mổ cắt phổi và

cắt sẹp sườn tại Viện chống lao trung ương (Hoàng Đình Cầu, Trương

Kim Du, Bủi Quang Hiền, 1969) Mỗ cắt 2/3 dạ dày tại Viện Đông y

(Bùi Quang Hiền và cộng sự, 1970) [9, 14] Tại bệnh viện Việt Đức

(1979) mỗ bướu cổ, tụ máu dưới màng cứng sọ não Tại Quân y Viện

9 (1972) mỗ chấn thương Từ đó tới nay châm tê được ứng dụng trong

nhiều phẫu thuật khác nhau

Năm 1980 bắt đầu nghiên cứu thực nghiệm tác dụng kháng

endorphin của Naloxone [50] và châm tê trên gia súc (Phạm Thị

Xuân Vân) [73, 74] Điện châm gây tê mổ chỉ dưới ( Hoàng Bảo Châu,

Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Văn Phan và cộng sự, 1981) Mấu chốt

thành công của châm tê về mặt kỹ thuật là lượng kích thích Châm

tê có tác dụng nâng cao ngưỡng đau cả khi châm vào huyệt và khi châm vào nơi không huyệt Mức độ tê của châm so với tê do

Novocanin bằng 70% - 80% (Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Thường Xuân, 1972) [ 5, 7, 9, 13, 14]

Trong những năm gần đây đã tiến hành châm tê phối hợp với gây tê tại chỗ để cất dạ dày (Lã Quang Nhiếp, Nguyễn Văn Tuyến,

Vuong Hung và cộng sự, 1987) [37], châm tê phối hợp thuốc trong

phẫu thuật phụ sản (Trần Thuý, Nguyễn Thụ, Trương Việt Bình,

1992) [64], châm tê mổ mắt (Nguyễn Tài “Thu, Nghiêm Hữu Thành,

1993) [55, 56], kết hợp thời châm tê trong mổ bướu (Phạm Quang

vy 8

Trang 27

Minh, Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Thị Vân Thái, 1995), nghiên cứu

châm tê trong phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức để điều trị bệnh nhược cơ (Nguyễn Đức Thiêng và cộng sự, 1995) [57], nghiên cứu co che cham

tê [5, 6, 27, 50, 56, 64, 71, 74], nghiên cứu biến đổi hàm lượng

Catecholamin trong máu trước và sau điện châm trên người và thỏ (Đỗ Công Huỳnh, Trương Việt Bình, 1992; Đỗ Công Huỳnh, Nghiêm

Hữu Thành, Nguyễn Đức Thiềng, 1995)

Điện châm điều trị bệnh

Viện Nghiên cứu đông y (Viện y học cỗ truyền Việt nam ngày nay) là cơ sở đầu tiên ứng dụng phương pháp điện châm Hiệu quả

chữa bệnh được chứng minh bằng sự phổ cập của phương pháp điều trị này tới các trung tâm y tế tuyến huyện, xã,

Một số công trình nghiên cứu thực nghiệm đã được tiễn

hành tại phòng Đông y thực nghiệm, Viện y học cỗ truyền Việt

nam

Châm cứu thực nghiệm điều trị choáng chảy máu trên thỏ (Lã

Quang Nhiếp, Trần Lệ Dung, 1966, 1967) [76]

Ảnh hưởng của châm sâu vửa và sâu nhiều trên thỏ (Lê Hồng Sơn, và cộng sự, 1971) [76]

Châm cứu chống co that phê quản do khí dung Histamin trên

chuột lang (Lê Khánh Trai, Lã Quang Nhiếp, Nguyễn Thị Vân Thái, 1979) [76]

Châm chống viêm thực nghiệm (Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Thị

Vân Thái , 1980) [76].

Trang 28

8a sánh tác dụng ching dau của điện châm vả vẽ tay ở huyệt

'Túc tam lý (Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Thị Vân Thái, 1982) [76]

Đánh giá tính an toàn của máy điện châm Phong lan (Hoàng Bảo

Châu, Nguyễn Như Oanh, Nguyễn Thị Vân Thái, 1992) [10] So sánh

tác dụng nâng ngưỡng đau của điện châm và Laser châm trên thủ

(Nguyễn Thị Vân Thái, Lê Thị Hiền, 1996) [54] Những kết quả của các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên đã góp phần đánh giá khách quan hiệu quả điều trị, tác dụng nâng cao ngưỡng đau của

điện châm nhằm hướng tới tiêu chuẩn hoá phương pháp này,

.Một số công trình nghiên cứu trên lâm sảng

Báo cáo hồi cứu diéu trị đau lưng cầu tại khoa Châm ein

dưỡng sinh (Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Châu Quỳnh, 1998) [77]

Bước đầu ứng dụng điện châm và Laser châm trên huyệt để

giảm đau của bệnh ung thư (Trần Thuý và cộng sự, 1995) [77]

So sánh điều trị hội chứng thất lưng hông bằng điện cham

một huyệt và châm nhiều huyệt (Nguyễn Văn Hồng, 1995) [77]

Góp phần nghiên cứu điện châm phục hải liệt vận động trên

bệnh nhân thiếu máu não cục bộ hệ cảnh trong (Vũ Thưởng Sơn,

Nguyễn Tài Thu , 1995) [46] v.v

Qua tham khảo tài liệu chúng tôi nhận thấy một số chỉ tiêu

quan sát định lượng thuộc phạm vỉ sinh lý như : Điện não, điện tim,

điện cơ v.v đã được sử dụng để góp phần đánh giá khách quan hiệu

qủa điểu trị của điện châm Song tại huyệt châm cứu nơi trực tiếp bị kích thích đã xây ra những biến đổi gì, chưa được nghiên cứu đẩy đủ

24

Trang 29

Như vậy đau lả một triệu chứng phổ biến, xuất hiện ở hầu hết

các loại bệnh tật Người ta đã nghiên cửu về bản chất, nguyên nhân,

cơ chế kiểm soát đau v.v với mục đích tìm ra phương pháp tối ưu lâm giảm hoặc cắt hẳn cơn đau Những thuốc giảm đau thường làm

cho người bệnh phải lệ thuậc vàn thuốc ( gây nghiện )

Da vậy một trong những phương pháp tối uu để giảm đau mà không cẫn đảng thuấc lả điện châm Điện châm kết hợp hài hoả giữa

Y học cỗ truyền và y học hiện đại Trong châm tê, điện châm giúp

người bệnh nâng ngưỡng đau và vượt qua được phẫu thuật Trong

điều trị điện châm có tác dụng điều hoà khí huyết lập lại cân bằng

âm dương Phần lớn các công trình nghiên cứu thiên về đánh giá kết

qua điều trị VỀ sự thay đối ngưỡng đau vả một số đặc điểm tại huyệt

(điện tra, nhiệt độ , cường độ thông điện) chưa được nghiên cứu

Trang 30

CHUONG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CUU

2.1.1 Động vật thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành trên 347 chuột nhất trắng trưởng

thành, có trọng lượng 18 - 20 gam được chia thành các nhóm thí

nghiệm theo vị trí huyệt, chế độ kích thích và ngưỡng cảm giác đau ban đầu

* Điện châm bách hội - Vĩ căn với tần số 6 Hz, cường độ 30A

(n = 30) va với tần số 12 Hz, 32yA (n = 45),

* Điện châm các huyệt Túc tam lý với tần số 6 Hz„ cường độ

30A (n = 50) và với tần sé 12 Hz, 32pA (n = 68)

* Điện châm cơ giữa bàn chân trước với tần số 12 Hz, cường độ

Điện châm Hợp cốc - Nội quan (n = 21)

Điện châm Hợp cốc - Ngoại quan (n = 29)

Điện châm Túc tam lý - Thiên khu (n = 24)

26

Trang 31

Điện châm Bát tà - Uyễn cốt (n = 24)

Bệnh nhân -

Bệnh nhân bị phẫu thuật

Điện châm kết hợp thuấc hỗ trợ (n = 6Ô)

Bệnh nhãn được điều trị bằng điện châm

Viêm quanh khớp vai mạn tính (n = 32)

Đau vai gầy hội chứng thần kinh hông cấp (n = 15)

Liệt ảo thiểu máu não cục bộ hệ cảnh trong (n = 30)

9.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sự thay đổi ngưỡng đau (g/s) và một số đặc điểm tại

huyệt như : điện trở (kQ), cường độ thông điện (Ä) và nhiệt độ (9Ú)

đa dưới tác động của điện châm

3.3.2 Kỹ thuật xác định các chỉ tiêu nghiên cứu

Xác định ngưỡng đau,

Ngưỡng dau (g/s) được xác định bằng Analgesymeter của

Ttalia (ảnh 1)

Nguyên lý hoạt động của Ánalsegymeter như sau : Cho một lực

tác động tăng dẫn theo một tỷ lệ hằng định (g/s) Lực này được huy động liên tục bởi một "con chạy" di động theo một thước thẳng gắn

với một trục ấn hinh nón, đầu nhọn hướng xuống dưới đè lên trên

một điểm của cø thả dũng để xác định mức cảm giác đau

Dưới trục ấn la đế được làm bằng TEELON, trơ về mặt sinh

học và có hệ số ma sát rất thấp

Trang 32

Để xác định ngưỡng cảm giác đau, người thao tác ấn bàn đạp

“ đồng - mở " cho lực tác động lên đôi tượng

Trên động vật thí nghiệm, ngưỡng đau được xác định tại điểm

giữa đuôi chuột nhất trắng theo phản xạ giật đuôi

Khi lực đè lên đuôi chuột đạt đên mức nào đó sẽ gây đau và

chuột giật đuôi khỏi vật đè lên nó Lúc này người thao tác buông

chân khỏi bản đạp, con chạy dửng lại và đọc số ghỉ trên thước đo

Đối với người, điểm được sử dụng đề xác định mức ngưỡng đau

là gốc móng ngón tay út Khi con chạy gây đau, đối tượng tự rút ngón

tay khỏi mảy, người nghiên cứu thả chân khỏi bàn đạp "đồng mở” con

chạy dừng lại và ghi chỉ số trên thước đo

Trang 33

Xác định điện trở da vùng huyệt được châm cứu

Điện trở da được xác định bằng đồng hồ điện trở

ELECTRODERMOMETER (anh 2)

Cách xác định điện trở da được tiền hành như sau :

Đặt điện cực trung tính vào lòng bàn tay người Sau đó đưa

điện cực đỏ vào huyệt Đọc chỉ số trên đồng hồ đo khi kim ngừng dao

động

Ảnh 2 Xác định điện trở da tại huyệt Hợp cốc trên người bằng

ELECTRODERMOMETER - PD1ctia Nhat

Trang 34

Cường độ thông điện của huyệt được xác định bằng máy dò

huyệt NEUROMETER của Nhật (Ảnh 3)

Cách xác định cường độ thông điện định như sau :

+ Điện cực trung tính được đặt vào lòng bàn tay và giữ cô định

trong thời gian đo Điện cực dò đặt vuông góc với mặt da vùng huyệt

châm cứu

+ Đọc kết qủa cường độ thông điện của huyệt khi kim trên

đồng hồ đo không còn dao động

Ảnh 3 Máy dò huyệt NEUROMETER (Nhật )

1 Điện cực trung tính

3 Điện cực dò

Trang 35

Xác định nhiệt độ tại huyệt bằng nhiệt kế điện (ảnh 4)

Đầu đò được đặt trực tiếp lên mặt da và đọc nhiệt độ trên đồng

hồ khi kim ngừng giao động

Ảnh 4 Xác định nhiệt độ tại huyệt hợp cốc trên người bằng nhiệt kế điện của Nhật.

Trang 36

2.2.3 May điện châm được dùng trong nghiên cứu là máy điện châm Phong lan do xí nghiệp điện tử Giảng võ chế tạo vã nghiên

cứu thực nghiệm đánh giá tính an toàn đã được nghiệm thu tại Viện

y học cổ truyền Việt nam, Máy đã được sử dụng phổ biến nhiều năm

ở nhiều cơ sở y học dân tộc

Tan so và cường độ của xung điện kích thích thay đổi tuỳ theo

điều kiện thí nghiệm (sẽ được trình bày trong phần kết qủa nghiên

cứu )

2.2.4 Cac nhóm huyệt được sử dụng trong nghiên cứu

Các huyệt trên người được sử dụng phụ thuộc vào nhóm nghiên cứu (Xem các sơ đồ 3 9 )

Nhóm 1 : Nghiên cứu trên người bình thường Điện châm

không kết hợp thuốc hỗ trợ các huyệt : Hợp cốc - Nội quan (n = 21) Hợp cốc - Ngoại quan (n = 39), Uyển cốt - Bát tả (n = 24), Túc tam lý -

Thiên khu (n = 24)

Nhóm 2: Các nhóm huyệt nghiên cứu ảnh hưởng của điện

châm kết hợp thuốc hỗ trợ trên bệnh nhân được phẫu thuật

Hợp cốc, Ngoại quan (điện châm kết hợp Morphine, Seduxen,

Atropin theo tỷ lệ 1:1:1)

Hợp cốc - Nội quan (điện châm kết hợp Fentanyl, Droperidol

theo tỉ lệ 1 : 1)

Nhóm 3: Các huyệt được sử dụng điều trị di chứng liệt sau tai

biến mạch máu não _ : Hợp cốc, Khúc trì , Bách hội, Phong trì, Giáp

tích C4, Giáp tích L2, Dương lăng tuyên, Túc tam lý, Huyết hải,

Tam am giao,

Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu (cường độ thông điện, nhiệt

độ, điện trở ) ở các huyệt tại các thời điểm :

~ Trước và sau 30 phút điện châm (trước khi điều trị )

~ Trước và sau 30 phút điện châm (trước khi ra viện 1 ngày)

32

Trang 37

Nhóm 4 : Các huyệt được nghiên cứu trên bệnh nhân bị bệnh

cấp tính (đau vai gáy cấp và giai đoạn chớm phát của hội chứng thần

kinh hông) Hợp cốc, Khúc trì, Chỉ câu, Kiên trung, Kiên trinh,

Trung phủ, Bách hội, Thận du, Đại trường du, Hoàn khiêu, Thửa

phù, Trật biên, Dương lãng tuyển, Túc tam lí, Thái xung

Nhóm 5 : Các huyệt được sử dụng trong điều trị viêm quanh

khớp vai mạn gồm : Hợp cốc, Khúc trì, Chỉ câu, Kiên ngung, Kiên

tỉnh, Kiên trinh, Thiên tông, Kiên liêu

Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu (cường độ thông điện, nhiệt

độ) tại nhóm huyệt này vào các thời điểm :

Trước, trong thời gian điện châm (15 và 30 phút kẻ tử lúc bắt

đầu châm ) và sau khi ngừng kích thích 20 phút

Tương tự như vậy sau một đợt điều trị (10 lần điện châm) và

sau 7 ngày ngửng điện châm „

Các huyệt châm cứu trên động vật thí nghiệm được xác định theo M.V.Plakhotin (1966), và M.Rubin (1976) Các huyệt được sử

dụng để châm trên các động vật thực nghiệm là các huyệt tương

đương trên người, trừ huyệt Bách hội nằm giữa khe đốt sóng L4 - L5

và huyệt Vĩ căn - khe đốt sống cuối cùng gốc đuôi

Các số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê

sinh học„ (Lê Khánh Trai, Hoảng Hữu Như, 1979; Nguyên Xuân Phách, Nguyễn Thế Minh, Trịnh Thanh Lâm, 1995)

Theo công thức t (student) so sánh từng cặp số liệu (trong,

ngay sau khi ngừng và sau 20 phút ngừng điện châm so với trước

điện châm)

33

Trang 38

“Trong đó Ÿ,, Y; Y, được sắp xếp theo gia tri tang dan

“Tiêu chuẩn 5' kiểm tra đức tính tốt của kết quả tối đa Y„

“Tiêu chuẩn 5" kiểm tra đức tính tốt của kết quả tối thiểu Y,

Néu gia tri 3' va 3" thu được kết qua từ công thức nói trên vượt

số lượng số liệu gồc

quá giá trị giới hạn ghi trong bảng ứng với mộ

cho trước thì sác xuất để cho Ý, hay Y; có thể biểu hiện với mộc sự

biến thiên của kết quả không vượt quá ngưỡng 0,05 Do vậy người ta

có thể loại bồ trị số này và coi đó là một số liệu lạc,

Trong trưởng hợp ngược lại thì kết quả vẫn được bảo tấn,

Như vậy phương pháp nghiên sứu đã lượng hoá cảm giác đau

Ngưỡng đau trên đuôi chuột nhắt trắng theo phản xa giât đuôi (Tail -

flick - test) và tại điểm giữa gốc móng tay út trên người theo nguyên

lý cơ học bằng thống kế Analgesymeter Ngoài ngưỡng đau trung

công trình nảy còn nghiên cứu một số thay đổi sinh lý tại huyệt như :

Điện trở da, cường độ thông điện qua huyệt và nhiệt độ tại huyệt nhằm mục đích góp phần đánh giá khách quan tác đụng điều trị va gây tê của điện châm

34

Ngày đăng: 15/05/2025, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.  Sự  thay  đổi  ngưỡng  đau  trước,  ngay  sau  30  phút  điện  châm  và  20  phút  sau  khi  ngừng  điện  châm  các  cơ  dép  chân  sau  (1a,  1h)  và  cơ  giữa  bản  chân  trước  (3a,  2b) - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 3. Sự thay đổi ngưỡng đau trước, ngay sau 30 phút điện châm và 20 phút sau khi ngừng điện châm các cơ dép chân sau (1a, 1h) và cơ giữa bản chân trước (3a, 2b) (Trang 52)
Bảng  4.  Sự  thay  đổi  ngưỡng  đau  dưới  ảnh  hưởng  của  điện - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 4. Sự thay đổi ngưỡng đau dưới ảnh hưởng của điện (Trang 54)
Bảng  6.  Biến  động  ngưỡng  đau  trước  và  sau  điện  châm  các - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 6. Biến động ngưỡng đau trước và sau điện châm các (Trang 57)
Bảng  7.  Ngưỡng  đau  trước  và  sau  30  phút  điện  châm  (Lần  số - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 7. Ngưỡng đau trước và sau 30 phút điện châm (Lần số (Trang 58)
Bảng  8.  Ảnh  hưởng  của  điện  châm  các  huyệt  Hợp  cốc,  Ngoại - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 8. Ảnh hưởng của điện châm các huyệt Hợp cốc, Ngoại (Trang 60)
Bảng  9.  Ngưỡng  đau  trước  và  sau  điện  châm  các  huyệt  Hợp - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 9. Ngưỡng đau trước và sau điện châm các huyệt Hợp (Trang 62)
Bảng  13.  Cường  độ  dàng  điện  trước  (1#  và  sau. - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 13. Cường độ dàng điện trước (1# và sau (Trang 65)
Bảng  14  .  Cường  độ  đồng  điện  tại  các  huyệt  trước  và  sau  30 - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 14 . Cường độ đồng điện tại các huyệt trước và sau 30 (Trang 68)
Bảng  1õ  .  Cường  độ  dòng  điện  tại  các  huyệt  (trước  khi  xuất  viện). - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 1õ . Cường độ dòng điện tại các huyệt (trước khi xuất viện) (Trang 69)
Bảng  19.  Cường  độ  dòng  điện  tại  huyệt  khi  mới  điểu  trị - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 19. Cường độ dòng điện tại huyệt khi mới điểu trị (Trang 74)
Bảng  21  -  Cường  độ  dòng:  điện  qua  các  huyệt  được  sử  dụng  đề  châm - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 21 - Cường độ dòng: điện qua các huyệt được sử dụng đề châm (Trang 76)
Bảng  32.  Điện  trỏ  da  vùng  huyệt  được  xác  định - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 32. Điện trỏ da vùng huyệt được xác định (Trang 78)
Bảng  33.  Điện  trở  da  các  huyệt  được  xác  định - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 33. Điện trở da các huyệt được xác định (Trang 79)
Bảng  25.  Nhiệt  độ  của  các  huyệt  được  sử  dụng - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 25. Nhiệt độ của các huyệt được sử dụng (Trang 81)
Bảng  36  .  Nhiệt  độ  tại  các  huyệt  được  sử  dụng  trong  điều  trị  viêm  quanh  khớp  vai  (sau  7  ngày  ngừng  điểu  trị) - Luận văn Ảnh hưởng của Điện châm lên ngưỡng cảm giác Đau và một số Đặc Điểm của huyệt châm cứu tóm tắt
ng 36 . Nhiệt độ tại các huyệt được sử dụng trong điều trị viêm quanh khớp vai (sau 7 ngày ngừng điểu trị) (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm