ục đích của Nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008 là đo lường gánh nặng của bệnh và chấn thương ở Việt Nam. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp của nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD). Báo cáo này cung cấp các thông tin dịch tễ học nhất quán cho một danh sách bệnh và chấn thương ở Việt Nam năm 2008
Trang 2Tác giả
ThS Nguyễn Thị Trang Nhung, Trường Đại học Y tế Công cộng, Việt Nam
CN Trần Khánh Long, Trường Đại học Y tế Công cộng, Việt Nam
CN Bùi Ngọc Linh, Trường Đại học Y tế Công cộng, Việt Nam
GS TS Theo Vos, Trường Sức khỏe dân số, Đại học Queensland, Úc
TS Ngô Đức Anh, Trường Sức khỏe dân số, Đại học Queensland, Úc
TS Nguyễn Thanh Hương, Trường Đại học Y tế Công cộng, Việt Nam
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tổ chức Atlantic Philanthropies đã tài trợ cho dự án
“Cung cấp các bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử vong cho quá trình hoạch định chính sách y tế ở Việt Nam” (dự án VINE) Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” là một cấu phần của dự án VINE
Trang 3MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT 1
1 GIỚI THIỆU 3
2 MỤC TIÊU 4
2.1 MỤC TIÊU CHUNG 4
2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 4
3 PHƯƠNG PHÁP 5
3.1 ƯỚC TÍNH TỬ VONG 5
3.2 SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TỬ VONG SỚM (YLL) 8
3.3 SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TÀN TẬT (YLD) 9
3.4 CÁC NHÓM BỆNH HOẶC CHẤN THƯƠNG 9
3.5 DÂN SỐ 11
3.6 CHIẾT KHẤU 11
3.7 TRỌNG SỐ BỆNH TẬT 12
3.8 TRỌNG SỐ TUỔI 14
3.9 TỶ LỆ MỚI MẮC VÀ THỜI GIAN MẮC 15
4 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BỆNH VÀ CHẤN THƯƠNG 17
4.1 LAO 17
4.2 HIV/AIDS 17
4.3 TIÊU CHẢY 18
4.4 NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP 18
4.5 UNG THƯ 19
4.6 ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 20
4.7 CÁC BỆNH TÂM THẦN KINH 21
Rối loạn do lạm dụng rượu 21
Rối loạn lo âu 21
Mất trí nhớ 21
Trầm cảm 22
Lạm dụng ma túy 22
Động kinh 22
Tâm thần phân liệt 23
Trang 44.8 CÁC KHUYẾT TẬT VỀ GIÁC QUAN 23
Khiếm thị 23
Khiếm thính 24
4.9 BỆNH MẠCH VÀNH (ISCHEMIC HEART DISEASE) 24
4.10 ĐỘT QỤY 25
4.11 BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH (COPD) 26
4.12 BỆNH THOÁI HÓA KHỚP (OSTEOARTHRITIS) 26
4.13 CHẤN THƯƠNG 27
5 KẾT QUẢ 29
5.1 TỬ VONG VÀ KỲ VỌNG SỐNG 29
5.2 GÁNH NẶNG DO TỬ VONG Ở VIỆT NAM (YLL) 30
5.3 SỐ NĂM SỐNG TÀN TẬT (YLD) 34
5.4 SỐ NĂM SỐNG TÀN TẬT HIỆU CHỈNH (DALYs) 39
5.5 MÔ HÌNH GÁNH NẶNG BỆNH TẬT THEO TUỔI VÀ GIỚI 46
5.6 CÁC BỆNH VÀ CHẤN THƯƠNG CỤ THỂ 53
Các bệnh truyền nhiễm 54
Ung thư 56
Đái tháo đường 59
Các bệnh tâm thần kinh 60
Các khuyết tật về giác quan 62
Bệnh tim mạch 64
Bệnh cơ xương khớp 67
Chấn thương 69
BÀN LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Các cụm điều tra nguyên nhân tử vong theo các trường Đại học Y 7
Bảng 2 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong theo giới 29
Bảng 3 10 nguyên nhân hàng đầu của YLL theo giới 34
Bảng 4 10 nguyên nhân hàng đầu của YLD theo giới 39
Bảng 5 10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs theo giới 46
Bảng 6 10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs ở lứa tuổi 0-14 ở cả hai giới 47
Bảng 7 10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs ở lứa tuổi 15-44 theo giới 49
Bảng 8 10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs ở lứa tuổi 45-69 theo giới 51
Bảng 9 10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs ở lứa tuổi 70+ theo giới 53
Bảng 10 Các nguồn số liệu hiện mắc, mới mắc và vấn đề về chất lượng số liệu của các bệnh/chấn thương chính 77
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Hình 1 Mô hình cơ bản của bệnh sử dụng trong DISMOD2 16
Hình 2 Mô hình chung của ung thư sử dụng trong tính toán YLD (bao gồm khoảng trọng số bệnh tật và thời gian mắc) 20
Hình 3 YLL của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008 30
Hình 4 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008 30
Hình 5 YLL của các phân nhóm bệnh ở nam giới, Việt Nam 2008 31
Hình 6 YLL của các phân nhóm bệnh ở nữ giới, Việt Nam 2008 31
Hình 7 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 32
Hình 8 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 32
Hình 9 YLL của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 33
Hình 10 YLL của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 33
Hình 11 YLD của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008 34
Hình 12 YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008 35
Hình 13 YLD của các phân nhóm bệnh ở nam, Việt Nam 2008 35
Hình 14 YLD của các phân nhóm bệnh ở nữ, Việt Nam 2008 36
Hình 15 YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 36
Hình 16 YLD của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 37
Hình 17 YLD của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 37
Hình 18 YLD của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 38
Hình 19 DALYs của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008 40
Hình 20 Tỷ lệ YLL và YLD trong tổng gánh nặng bệnh tật theo giới, Việt Nam 2008 40
Hình 21 DALYs của các phân nhóm bệnh, Việt Nam 2008 41
Hình 22 DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008 41
Hình 23 DALYs của các phân nhóm bệnh ở nam, Việt Nam 2008 42
Hình 24 DALYs của các phân nhóm bệnh ở nữ, Việt Nam 2008 42
Hình 25 DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 43
Hình 26 DALYs của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 44
Hình 27 DALYs của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 44
Hình 28 DALYs của các phân nhóm bệnh theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 45
Trang 6Hình 29 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 0-14, Việt Nam 2008 47
Hình 30 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 15-44 ở nam, Việt Nam 2008 48
Hình 31 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 15-44 ở nữ, Việt Nam 2008 48
Hình 32 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 45-69 ở nam, Việt Nam 2008 50
Hình 33 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 45-69 ở nữ, Việt Nam 2008 50
Hình 34 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 70+ ở nam, Việt Nam 2008 52
Hình 35 DALYs của các phân nhóm bệnh ở lứa tuổi 70+ ở nữ, Việt Nam 2008 52
Hình 36 YLL và YLD của các bệnh chính, Việt Nam 2008 54
Hình 37 Gánh nặng bệnh tật của các bệnh truyền nhiễm theo giới, Việt Nam 2008 54
Hình 38 Bình quân DALYs (trên 100.000 dân) của các bệnh truyền nhiễm theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008 55
Hình 39 Bình quân DALYs (trên 100.000 dân) của các bệnh truyền nhiễm 56
theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008 56
Hình 40 DALYs của các loại ung thư theo giới, Việt Nam 2008 57
Hình 41 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các loại ung thư 58
ở nam giới, Việt Nam 2008 58
Hình 42 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các loại ung thư 58
ở nữ giới, Việt Nam 2008 58
Hình 43 DALYs của bệnh đái tháo đường theo giới, Việt Nam 2008 59
Hình 44 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của bệnh đái tháo đường theo tuổi ở nam giới, Việt Nam 2008 59
Hình 45 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của bệnh đái tháo đường theo tuổi ở nữ giới, Việt Nam 2008 60
Hình 46 DALYs của các bệnh tâm thần kinh theo giới, Việt Nam 2008 60
Hình 47 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tâm thần kinh 61
ở nam giới, Việt Nam 2008 61
Hình 48 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tâm thần kinh 62
ở nữ giới, Việt Nam 2008 62
Hình 49 DALYs của các khuyết tật về giác quan theo giới, Việt Nam 2008 62
Hình 50 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các khuyết tật về giác quan ở nam giới, Việt Nam 2008 63
Hình 51 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các khuyết về giác quan 63
ở nữ giới, Việt Nam 2008 63
Hình 52 DALYs của các bệnh tim mạch theo giới, Việt Nam 2008 64
Hình 53 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tim mạch 65
ở nam giới, Việt Nam 2008 65
Hình 54 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh tim mạch 65
ở nữ giới, Việt Nam 2008 65
Hình 55 Gánh nặng của các bệnh đường hô hấp theo giới, Việt Nam 2008 66
Hình 56 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh đường hô hấp 66
ở nam giới, Việt Nam 2008 66
Hình 57 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh đường hô hấp 67
ở nữ giới, Việt Nam 2008 67
Hình 58 Gánh nặng bệnh tật của các bệnh cơ xương khớp theo giới, Việt Nam 2008 67
Hình 59 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh cơ xương khớp 68
ở nam giới, Việt Nam 2008 68
Trang 7Hình 60 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các bệnh cơ xương khớp 68
ở nữ giới, Việt Nam 2008 68
Hình 61 DALYs của các chấn thương không chủ định theo giới, Việt Nam 2008 69
Hình 62 Gánh nặng do tử vong sớm và gánh nặng do tàn tật của các chấn thương không chủ định, Việt Nam 2008 70
Hình 63 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các các chấn thương không chủ định ở nam giới, Việt Nam 2008 71
Hình 64 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các các chấn thương không chủ định ở nữ giới, Việt Nam 2008 71
Hình 65 DALYs của chấn thương có chủ định theo giới, Việt Nam 2008 72
Hình 66 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các các chấn thương có chủ định ở nam giới, Việt Nam 2008 73
Hình 67 Bình quân DALYs trên 100.000 dân của các các chấn thương có chủ định ở nữ giới, Việt Nam 2008 73
DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1 Phân nhóm bệnh tương ứng với mã ICD-10 83
Phụ lục 2 Trọng số bệnh tật 85
Phụ lục 3 Tử vong theo giới tính, tuổi và nguyên nhân 93
Phụ lục 4 YLL theo giới tính, tuổi và nguyên nhân 95
Phụ lục 5 YLD theo giới tính, tuổi và nguyên nhân 97
Phụ lục 6 DALY theo giới tính, tuổi và nguyên nhân 99
Phụ lục 7 Tỷ lệ hiện mắc YLD theo giới tính, tuổi và nguyên nhân 101
Trang 8CHỮ VIẾT TẮT
BoD Gánh nặng bệnh tật (Burden of Disease)
COPCORD Chương trình định hướng cộng đồng kiểm soát bệnh thấp
khớp (Community-Oriented Program for the Control of Rheumatic Disease)
ICD Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế
PTO method Phương pháp Hoán đổi về con người (Person Trade-Off
method)
VA Điều tra nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp
phỏng vấn (Verbal autopsy) VINE Project Dự án “Cung cấp bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử
vong cho quá trình hoạch định chính sách y tế ở Việt Nam”
VMIS Điều tra Chấn thương Liên trường ở Việt Nam (Vietnam
Multi-center Injury Survey)
YLD Số năm sống tàn tật (Years lived with disability)
YLL Số năm sống mất đi do tử vong sớm (Years of life lost)
Trang 9 Gánh nặng bệnh tật do tàn tật của cả hai giới của Việt nam năm 2008 đều là 2,7 triệu YLD
Các bệnh tâm thần kinh (33%), chấn thương không chủ định (20%) và các khuyết tật
về giác quan (8%) là ba nhóm nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng do tàn tật cho nam giới
Bệnh tâm thần kinh (41%), các khuyết tật giác quan (11%) and bệnh cơ xương khớp (10%) là 3 nguyên nhân chính gây nên gánh nặng bệnh tật cho nữ
Lạm dụng rượu (14%), trầm cảm (11%) và tai nạn giao thông (8%) là ba nguyên hàng đâu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong của nam giới trong khi 3 nguyên nhân này ở nhóm nữ giới là trầm cảm (29%), khuyết tật về mắt (10%), thoái hóa khớp (9%)
Mười nguyên nhân hàng đầu của YLD đóng góp 71% trong tổng gánh nặng do tàn tật
ở nam và 81% trong tổng gánh nặng do tàn tật ở nữ
Trang 10 Ở nam giới, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật (10%), tiếp đến là tai nạn giao thông (8%) và các rối loạn do lạm dụng rượu (5%)
Ở nữ giới, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật (12%), tiếp đến là đột quỵ (10%) và khiếm thị (4%)
Nhiễm khuẩn hô hấp dưới (viêm phổi) là nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật
ở trẻ em, chiếm 11% tổng gánh nặng bệnh tật
Tai nạn giao thông và HIV/AIDS chiếm một phần tư tổng gánh nặng bệnh tật ở nam giới độ tuổi 15-44 Trầm cảm và tai nạn giao thông chiếm 32% tổng gánh nặng bệnh tật ở nữ giới độ tuổi này
Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở nam (14%) và nữ (9%)
độ tuổi 45-69 Ở độ tuổi trên 70, đột quỵ gây ra 22% tổng DALYs ở nam và 24% tổng DALYs ở nữ
CHẤT LƯỢNG SỐ LIỆU
Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều số liệu dịch tễ học có chất lượng cao có thể
sử dụng để tính toán gánh nặng bệnh tật
Trang 11 Thiếu sự nhất quán giữa kết quả của các nghiên cứu/điều tra khác nhau về một bệnh
Nên có một trung tâm lưu trữ số liệu chi tiết của các nghiên cứu/điều tra để từ đó các nhà nghiên cứu có thể phân tích sâu và giám sát chất lượng số liệu
Cần đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống ghi nhận tử vong và số liệu trong bệnh viện
1 GIỚI THIỆU
Nhu cầu về sử dụng dịch vụ y tế ngày càng tăng do sự tăng lên về dân số đặt ra một thách thức cho tất cả các quốc gia trên toàn cầu Nguồn lực hạn chế đòi hỏi chính phủ các nước phải cân nhắc kỹ trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Thiếu các bằng chứng khoa học định hướng cho việc ra quyết định và phân bổ nguồn lực là rào cản chính đối với việc xây dựng chính sách y tế Việc ra quyết định đúng đắn trong phân bổ nguồn lực (dựa trên các tác động về sức khỏe) phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn có các thông tin chính xác và có thể dùng để so sánh Các nhà nghiên cứu của trường Đại học Harvard và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng một phương pháp tổng quát để đo lường những mất mát về mặt sức khỏe của quần thể cho Báo cáo Phát triển Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 1993 Mất mát về sức khỏe được đo
lường bằng chỉ số DALY - năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật (sau đây chúng tôi
sẽ gọi là Năm sống tàn tật hiệu chỉnh) cho phép đo lường kết hợp gánh nặng do tử vong
và tàn tật
Về phương diện chính sách, chỉ số DALY có ưu điểm là cho phép đo lường tình trạng sức khỏe của quần thể bằng một chỉ số tổng hợp cả tác động của tử vong và tàn tật lên sức khỏe Điều này cho phép so sánh quy mô của các vấn đề sức khỏe khác nhau và so sánh chi phí-hiệu quả của các can thiệp cho một vấn đề sức khỏe hay cho một số bệnh Thông tin về quy mô của các vấn đề sức khỏe hiện tại và trong tương lai, cùng với thông tin về khả năng đáp ứng dịch vụ y tế bằng các can thiệp có tính chi phí - hiệu quả là những thông tin rất hiệu quả dành cho các nhà hoạch định chính sách
Trang 12Mục đích của Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” là
đo lường gánh nặng của bệnh và chấn thương ở Việt Nam Nghiên cứu này áp dụng phương pháp của nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu” (GBD) Báo cáo này cung cấp các thông tin dịch tễ học nhất quán cho một danh sách bệnh và chấn thương
ở Việt Nam năm 2008
Theo sau báo cáo này sẽ là báo cáo về gánh nặng bệnh tật của một số yếu tố nguy cơ Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” là một cấu phần của
dự án “Cung cấp các bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử vong cho quá trình hoạch định chính sách y tế ở Việt Nam” (VINE) trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Y tế, trường Đại học Y Hà Nội, trường Đại học Y tế công cộng và Đại học Queensland-Úc Các nghiên cứu viên của trường Đại học Y tế công cộng và Đại học Queensland chịu trách nhiệm thực hiện nghiên cứu này trên cơ sở sử dụng thông tin về nguyên nhân tử vong của nghiên cứu Điều tra nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn (VA) và các thông tin thu thập từ các nghiên cứu dịch tễ học hoặc các nguồn số liệu khác Kết quả của hai nghiên cứu này được sử dụng cho các đánh giá chi phí – hiệu quả thuộc cấu phần thứ ba của dự án VINE
Ước lượng tỷ lệ tử vong của Việt Nam năm 2008 theo tuổi và giới
Cung cấp các số liệu mới mắc, hiện mắc, tử vong và thời gian mắc theo tuổi và giới của từng bệnh và loại chấn thương một cách đồng nhất
Đo lường gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm, do tàn tật và do cả hai phần này (chỉ
số DALY)
Trang 133 PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” chủ yếu sử dụng phương pháp của nghiên cứu GBD Nghiên cứu GBD lần đầu tiên được thực hiện vào đầu những năm 1990 với mục tiêu đo lường gánh nặng của bệnh và chấn thương của các quần thể khác nhau và xác định các vấn đề sức khỏe chính trên toàn cầu [1] Phương pháp của nghiên cứu cho phép lượng hóa tất cả các tình trạng bệnh/chấn thương bằng một chỉ số tổng hợp gọi là chỉ số DALY
DALYs của một bệnh hay tình trạng sức khỏe được tính bằng tổng số năm sống mất đi
do tử vong sớm (YLL) trong quần thể và số năm sống “khỏe mạnh” mất đi do tàn tật (hoặc số năm phải sống với bệnh hay tình trạng sức khỏe đó) (YLD) của các trường hợp mới mắc bệnh hay tình trạng sức khỏe đó:
DALY = YLL + YLD
DALYs trong nghiên cứu GBD được chiết khấu ở mức 3% và áp dụng trọng số tuổi trong khi DALYs của nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam 2008” cũng được chiết khấu nhưng không áp dụng trọng số tuổi Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh việc áp dụng trọng số tuổi với ý nghĩa gán cho những người ở độ tuổi lao động có trách nhiệm xã hội cao hơn trẻ em và người già [2]
Nghiên cứu này sử dụng kết hợp trọng số bệnh tật (DW) của nghiên cứu GBD và nghiên cứu của Hà Lan [3], trong đó nghiên cứu của Hà Lan tính toán DW chi tiết hơn cho các mức độ trầm trọng của bệnh
3.1 ƯỚC TÍNH TỬ VONG
Số liệu tử vong theo nguyên nhân được tính dựa trên điều tra đại diện quốc gia về nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp xác định nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn (VA) thực hiện tại 192 xã của 16 tỉnh thành đại diện cho 5 vùng kinh tế - xã hội của Việt Nam là Thái Nguyên, Hòa Bình, Sơn La, Hà Nội, Quảng Ninh,
Trang 14Hải Dương, Thanh Hóa, Bình Định, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Kiên Giang Điều tra sử dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn với đơn vị mẫu đầu tiên là tỉnh thành và hộ gia đình là đơn vị lên danh sách (listing units) Mẫu nghiên cứu gồm có 668.142 hộ gia đình với 2.616.056 người, đại diện cho khoảng 3% dân số Việt Nam
Ghi nhận tử vong
Danh sách những trường hợp tử vong trong khoảng thời gian 01/01/2008 đến 31/12/2008 được lấy từ 3 hệ thống sổ sách ghi nhận tại tuyến xã: ghi nhận của trạm y tế xã, ghi nhận của Ủy ban nhân dân xã và ghi nhận của cơ quan dân số Với mỗi trường hơp tử vong, các thông tin về người chết (tuổi, giới, ngày mất) và địa chỉ hộ gia đình được ghi lại nhằm thuận tiện cho việc tìm hộ gia đình để phỏng vấn về nguyên nhân tử vong
Xác định nguyên nhân tử vong
Giai đoạn 2 của quá trình thu thập số liệu về tử vong là phỏng vấn người chăm sóc chính của người đã mất Ở Việt Nam, điều tra nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp phỏng vấn lần đầu tiên được áp dụng để ước tính tử vong mẹ và tử vong sơ sinh [4] và sau đó là xác định nguyên nhân tử vong ở người trưởng thành tại Fila Bavi, một hệ thống giám sát dân số cách Hà Nội khoảng 1 giờ đi bằng ô tô [5, 6] Để điều tra nguyên nhân
tử vong sử dụng phương pháp phỏng vấn cho toàn quốc, bộ câu hỏi chuẩn của WHO đã được chỉnh sửa cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam dựa trên những kinh nghiệm thu được qua nghiên cứu tại Fila Bavi Bộ câu hỏi bao gồm 2 phiếu: một phiếu phỏng vấn cho các trường hợp tử vong chu sinh và trẻ dưới 12 tuổi và phiếu thứ 2 cho các trường hợp tử vong vị thành niên và người trưởng thành Bộ câu hỏi thu thập các thông tin về (i) gia đình và các đặc điểm dân số học; (ii) các dấu hiệu và triệu chứng thông qua bảng kiểm; (iii) các câu hỏi mở để tìm ra các thông tin về tình trạng ốm đau/bệnh tật dẫn đến tử vong; và (iv) thông tin về việc tiếp cận dịch vụ y tế trong khoảng thời gian ốm đau trước khi chết Bản tiếng Anh của bộ câu hỏi đã được dịch ra tiếng Việt và thử nghiệm trước khi sử dụng chính thức cho nghiên cứu
Trang 15Ở mỗi xã được chọn, 2 điều tra viên được tuyển là nhân viên trạm y tế (y tá hoặc nữ hộ sinh) và cán bộ dân số Điều tra viên được tập huấn trong 3 ngày về các kỹ năng phỏng vấn điều tra nguyên nhân tử vong Quá trình tập huấn tập trung vào kỹ thuật làm dịu nỗi đau và các kỹ năng truyền thông để động viên người chăm sóc chính của người đã mất tham gia vào cuộc phỏng vấn và đưa ra các câu trả lời chính xác, đầy đủ Ngoài ra, điều tra viên cũng được tập huấn đầy đủ các nội dung của bộ câu hỏi, mục đích chính của từng câu hỏi và hướng dẫn cụ thể cách ghi lại các câu trả lời Phương pháp tập huấn gồm có thuyết trình, thảo luận nhóm, đóng vai và thực hành Trong quá trình tập huấn cũng đề cập đến việc các kiến thức về y khoa của điều tra viên có thể gây nhiễu/sai lệch kết quả phỏng vấn và hướng dẫn cụ thể cách hỏi và ghi lại câu trả lời cho từng câu hỏi là phương pháp để hạn chế yếu tố nhiễu này
Quá trình điều tra nguyên nhân tử vong được điều phối bởi 5 trường đại học Y Dược là Đại học Y Dược Thái Nguyên và Đại học Y Hà Nội ở miền Bắc, Đại học Y Dược Huế ở miền Trung, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Y Dược Cần Thơ ở miền Nam Để thuận tiện cho việc chuẩn bị và điều phối, 16 tỉnh thành được chia thành 5 cụm (Bảng 1) tương ứng với vị trí địa lý của mỗi trường Mỗi trường chịu trách nhiệm thu thập thông tin về nguyên nhân tử vong, thẩm định lại phiếu điều tra để xác định nguyên nhân tử vong và mã hóa nguyên nhân tử vong vào các nhóm Điều tra hoàn thành trong
6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2009
Bảng 1 Các cụm điều tra nguyên nhân tử vong theo các trường Đại học Y
2 Thái Nguyên Thái Nguyên, Hòa Bình, Sơn La
Trang 16Tổng số 9.293 phiếu điều tra đã được thẩm định bởi một nhóm các bác sỹ y khoa có kinh nghiệm tại mỗi trường Đại học Y Dược và nhóm này xác định nguyên nhân tử vong vào phiếu xác định nguyên nhân tử vong chuẩn [7] Nguyên nhân chính gây tử vong được xác định và mã hóa theo Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế phiên bản 10 (ICD-10) bởi các bác
sỹ y khoa đã được học về mã hóa ICD và có khả năng tiếng Anh tốt (có thể sử dụng phiên bản tiếng Anh của ICD-10)
Phân tích thống kê
Có nhiều phương pháp gián tiếp như phương pháp Preston-Coale [8] nhằm đánh giá tính chưa đầy đủ của hệ thống ghi nhận tử vong Khi sử dụng phương pháp này đối với các trường hợp tử vong được ghi nhận trong Điều tra biến động dân số năm 2006 của Tổng Cục thống kê, kết quả về tính đầy đủ rất thấp của hệ thống ghi nhận tử vong (54% đối với tử vong ở nam và 69% đối với tử vong ở nữ) có vẻ không hợp lý Vì vậy, chúng tôi sử dụng ước lượng tử vong trẻ em và khả năng tử vong ở độ tuổi 15-59 của nghiên cứu GBD mới [9, 10] Ước lượng tử vong của Việt Nam năm 2008 được tính theo phương pháp hồi quy các số liệu tử vong hiện có trên toàn cầu từ năm 1950 Chúng tôi cho rằng những ước lượng này là đáng tin cậy nhất trong các số liệu hiện
có Chúng tôi sử dụng chương trình phần mềm ModMatch của nghiên cứu GBD để đưa các số liệu về tử vong trẻ em và người trưởng thành vào bảng sống Sau đó mô hình nguyên nhân tử vong theo tuổi và giới của nghiên cứu VA được áp dụng đối với ước lượng tử vong của tất cả các nguyên nhân trong bảng sống để có được số liệu tử vong theo nguyên nhân của toàn quốc
3.2 SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TỬ VONG SỚM (YLL)
YLL là cấu phần tử vong của DALYs và được tính theo kỳ vọng sống chuẩn của mỗi tuổi YLL ở các trường hợp tử vong tại mỗi nhóm tuổi theo giới được ước tính từ tuổi trung bình khi tử vong và kỳ vọng sống chuẩn tại tuổi trung bình khi tử vong ở nhóm tuổi đó Công thức cơ bản để tính YLL là:
YLL = N * L
Trang 17Trong đó N là số trường hợp tử vong theo nhóm tuổi và giới và L là kỳ vọng sống chuẩn theo nhóm tuổi và giới Với tỷ lệ chiết khấu 3%, công thức tính sẽ là:
3.3 SỐ NĂM SỐNG MẤT ĐI DO TÀN TẬT (YLD)
Mất mát về sức khỏe của những tình trạng sức khỏe không tử vong được tính dựa vào tỷ suất mới mắc của tình trạng sức khỏe đó (bệnh tật hoặc chấn thương) trong năm nghiên cứu Với mỗi trường hợp mới mắc, số năm sống khỏe mạnh mất đi do tàn tật được tính bằng cách nhân thời gian mắc bệnh hoặc chấn thương trung bình (đến khi khỏi hoặc tử vong) với trọng số về mức độ trầm trọng (trọng số bệnh tật) của bệnh hoặc chấn thương
đó Công thức cơ bản để tính YLD là:
YLD = I * DW * L
Trong đó I là số trường hợp mới mắc trong thời gian nghiên cứu, DW là trọng số bệnh tật
và L là thời gian mắc bệnh hoặc chấn thương trung bình (tính bằng năm) Với tỷ lệ chiết khấu 3%, công thức tính sẽ là:
Cách tiếp cận của nghiên cứu là xác định các nhóm bệnh hoặc chấn thương hoàn toàn riêng biệt của hơn 100 tình trạng sức khỏe và 400 giai đoạn bệnh sử dụng mã ICD-10 Trong nghiên cứu của Việt Nam, các bệnh/chấn thương được chia làm 3 nhóm lớn, 22 phân nhóm bệnh hoặc chấn thương và các bệnh hoặc chấn thương cụ thể theo đúng cấu trúc của danh sách bệnh và chấn thương của GBD (Phụ lục 1)
Trang 18Báo cáo này mô tả phương pháp đã được sử dụng để tính gánh nặng do tàn tật (YLD) của 42 bệnh và chấn thương theo các giai đoạn hoặc hậu quả bệnh Các bệnh và chấn thương được lựa chọn trên cơ sở được cho là đóng góp đáng kể vào tổng gánh nặng do tàn tật dựa trên xếp hạng của nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật (BoD) tại Thái Lan năm
1999 [11] và các số liệu hiện có ở Việt Nam Danh sách các bệnh và chấn thương được lựa chọn cho nghiên cứu này chưa được đầy đủ, do đó kết quả của một số tình trạng bệnh hoặc chấn thương phải ngoại suy do hạn chế về số liệu hiện có ở Việt Nam
Ngược lại, ước tính gánh nặng bệnh tật do tử vong được cho là khá đầy đủ trong điều kiện hạn chế của việc thu thập số liệu về nguyên nhân tử vong hiện nay Do vậy, để hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về tổng gánh nặng bệnh tật của Việt Nam, chúng tôi sử dụng một số giả định sau đây để tính gánh nặng do tàn tật của 41 bệnh và chấn thương không được phân loại riêng:
Đối với các bệnh/chấn thương có tỷ lệ tử vong cao, chúng tôi sử dụng tỉ số YLD/YLL của các nhóm bệnh liên quan được phân loại riêng trong danh sách để tính gánh nặng do tàn tật của các bệnh hoặc chấn thương đó
YLD cho một số tình trạng bệnh/chấn thương ở Việt Nam được tính bằng cách nhân tỉ
số YLD/YLL của bệnh/chấn thương đó trong nghiên cứu BoD của Thái Lan năm 1999 với YLL của Việt Nam Chúng tôi sử dụng phương pháp ngoại suy này đối với suy dinh dưỡng, rối loạn nội tiết, bệnh thấp tim (rheumatic heart disease), bệnh tim do tăng huyết áp (hypertensive heart disease), bệnh tim do viêm (inflammatory heart dis-ease), các bệnh di truyền và các dị tật bẩm sinh Đối với các bệnh đường tiêu hóa, YLD ở Việt Nam được tính bằng tỉ số YLD/YLL của các bệnh đường tiêu hóa ở Thái Lan YLD của các nhóm “khác” trong mỗi phân nhóm như “các bệnh tim mạch khác”,
“các ung thư khác”, “các bệnh lý thời kỳ chu sinh khác”, “các bệnh ở bà mẹ khác”,
“các nhiễm khuẩn khác” được ngoại suy sử dụng tỉ số YLD/YLL của các bệnh trong phân nhóm đã được tính YLD và YLL Vì số liệu các nghiên cứu hiện nay của Việt nam chỉ cho phép ước tính YLD trực tiếp cho động kinh và mất trí nhớ một các chính xác nên YLD của “các bệnh tâm thần kinh khác” được tính từ tỉ số tổng YLD/tổng YLL của động kinh và mất trí nhớ của Việt nam
Trang 19 Đối với những bệnh/chấn thương có tỷ lệ tử vong thấp mà không được phân loại riêng trong danh sách, để tính YLD, chúng tôi sử dụng tỷ lệ YLD theo tuổi và giới từ nghiên cứu BoD ở Thái Lan năm 1999
3.5 DÂN SỐ
Dân số được ước tính dựa trên điều tra dân số quốc gia năm 1999 và 2009 Hai cuộc tổng điều tra dân số gần đây cung cấp số liệu về số người, số hộ gia đình và các đặc tính dân số 3.6 CHIẾT KHẤU
DALY đo lường số năm sống khỏe mạnh mất đi trong tương lai của mỗi trường hợp tử vong hay mỗi trường hợp mới mắc bệnh/chấn thương Như vậy, DALY được coi là phương pháp đo lường dựa trên số liệu mới mắc hơn là số liệu hiện mắc Nghiên cứu GBD áp dụng mức chiết khấu 3% đối với những năm sống mất đi trong tương lai để ước tính giá trị hiện tại của những năm sống đó Ví dụ, khi áp dụng chiết khấu 3%, một năm sống khỏe mạnh của 10 năm sau có giá trị thấp hơn 24% giá trị của một năm sống khỏe mạnh ở hiện tại
Áp dụng chiết khấu cho những lợi ích trong tương lai là phương pháp chuẩn được sử dụng trong các phân tích kinh tế Việc áp dụng chiết khấu đối với DALY trong tính toán sức khỏe dân số [12] nhằm đảm bảo:
Nhất quán với phương pháp đo lường kết quả về sức khỏe trong các phân tích chi phí - hiệu quả
Tránh việc gán trọng số quá lớn cho các trường hợp tử vong ở lứa tuổi trẻ (nếu không áp dụng trọng số tuổi và chiết khấu thì một trường hợp tử vong ở 0 tuổi của nam giới đóng góp YLL nhiều hơn một trường hợp tử vong ở tuổi 25 là 44% và một trường hợp tử vong ở tuổi 40 là 97%; nếu áp dụng chiết khấu 3% thì một trường hợp tử vong sơ sinh chỉ đóng góp YLL nhiều hơn 12% so với một trường hợp tử vong ở 25 tuổi và 29% so với một trường hợp tử vong ở 40 tuổi)
Tránh được những nghịch lý trong lựa chọn đầu tư cho nghiên cứu hay cho loại trừ một bệnh nào đó: giả dụ việc đầu tư cho nghiên cứu hoặc cho loại trừ một
Trang 20bệnh nào đó có cơ hội thành công, nếu không áp dụng chiết khấu thì tất cả kinh phí hiện tại sẽ được cho là nên đầu tư vào bệnh đó bởi lợi ích tương lai của việc đầu tư này là vô hạn
Chiết khấu có tác động rất lớn đến việc ước tính quy mô của kết quả sức khỏe Chiết khấu làm thay đổi giá trị của các trường hợp tử vong ở các độ tuổi khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu nào cho kết quả về sức khỏe, cho dù là do yêu cầu về mặt kỹ thuật tính toán, cũng có thể dẫn đến sự phân chia không thể chấp nhận được
về mặt đạo đức giữa các thế hệ Do không dễ giải quyết những vấn đề xung quanh chiết khấu, nghiên cứu GBD công bố cả 2 kết quả về gánh nặng bệnh tật: có chiết khấu và không có chiết khấu
Mức chiết khấu 5%/năm thường được sử dụng trong kinh tế y tế và các phân tích chính sách xã hội trong nhiều năm Trong những thập niên gần đây, các nhà môi trường và các nhà phân tích năng lượng thay thế đã tranh luận rất nhiều về việc áp dụng mức chiết khấu thấp hơn đối với các quyết định mang tính xã hội Nghiên cứu xác định ưu tiên trong kiểm soát bệnh tật của Ngân hàng Thế giới và nghiên cứu GBD đều sử dụng tỷ lệ chiết khấu 3% [13,14] Hội đồng phân tích chi phí-hiệu quả trong y dược của Mỹ gần đây
đã khuyến cáo về việc sử dụng tỷ lệ chiết khấu 3% trong các nghiên cứu chi phí-hiệu quả đối với cả chi phí và kết quả sức khỏe [15] và phải có phân tích độ nhạy đối với kết quả thu được Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng tỷ lệ chiết khấu 3% đối với DALY
3.7 TRỌNG SỐ BỆNH TẬT
DALY sử dụng giá trị “ưu tiên” của các tình trạng sức khỏe khác nhau, được gọi là “trọng
số bệnh tật” (DW) Trọng số bệnh tật đo lường mức độ “ưu tiên” của xã hội đối với mỗi tình trạng sức khỏe Trọng số này không thể hiện sự trải nghiệm khi sống trong điều kiện tàn tật hay tình trạng sức khỏe nào đó hay thể hiện giá trị xã hội của một người sống trong điều kiện sức khỏe đó Nó chỉ đo lường sự “ưu tiên” của xã hội đối với tình trạng sức khỏe đó so với tình trạng sức khỏe “lý tưởng” Trọng số bệnh tật có giá trị từ 0 đến 1 với 0 là hoàn toàn khỏe mạnh và 1 là tử vong
Trang 21Trọng số bệnh tật của tình trạng liệt hai chi dưới là 0,57 không có nghĩa một người trong tình trạng này là “chết một nửa” hay giá trị xã hội của người đó thấp hơn của những người khác Nó chỉ có nghĩa xã hội đánh giá một năm sống với tình trạng mù lòa (DW 0,43) được chấp nhận hơn so với một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới (DW 0,57)
và một năm sống với tình trạng liệt hai chi dưới được xã hội chấp nhận hơn so với một năm sống liên tục trong tình trạng trầm cảm nặng (DW 0,76) Nó cũng có nghĩa rằng xã hội chấp nhận một người sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong hơn là sống 1 năm với tình trạng liệt hai chi dưới và sau đó tử vong Bên cạnh đó, xã hội chấp nhận một người sống 3 năm với tình trạng liệt hai chi dưới rồi tử vong hơn là sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong (3x (1-0,57) = 1,3 năm sống “khỏe mạnh” lớn hơn 1 năm sống trong tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh)
Trọng số bệnh tật sử dụng trong nghiên cứu BoD được xác định bằng phương pháp
“hoán đổi về con người” (PTO) bởi nó gần với việc đo lường sự chấp nhận của xã hội hơn so với các phương pháp khác Khi sử dụng phương pháp này, trọng số bệnh tật của
22 tình trạng sức khỏe được các nhóm chuyên gia y tế trên khắp thế giới xác định và sau
đó là một quá trình thảo luận cho phép các thành viên của nhóm chỉnh sửa những đánh giá ban đầu của họ sau khi nghe phản biện từ các thành viên khác Đã có tranh cãi về sự chấp nhận đối với các tình trạng sức khỏe là khác nhau ở các quần thể dân số khác nhau
về niềm tin văn hóa, khái niệm về sức khỏe, kỳ vọng về sức khỏe cũng như sự khỏe mạnh Tuy nhiên có rất ít bằng chứng chứng tỏ cho điều này [17] Nghiên cứu GBD thực hiện nghiên cứu về sự chấp nhận đối với các tình trạng sức khỏe trên 10 quốc gia và kết quả rất ngạc nhiên là có sự nhất quán khá cao giữa trọng số bệnh tật cho 22 tình trạng sức khỏe với các mức độ trầm trọng khác nhau [16]
Chúng tôi sử dụng trọng số sẵn có hoặc được tính toán lại từ hai nguồn: nghiên cứu GBD và trọng số của Hà Lan sử dụng trong nghiên cứu của Úc [3, 18] Nghiên cứu của
Hà Lan chỉ cho trọng số bệnh tật của một số tình trạng sức khỏe nhưng được xác định cho các giai đoạn và mức độ trầm trọng của tình trạng sức khỏe Chính vì vậy, trọng số bệnh tật của Hà Lan có thể áp dụng trong các mô hình bệnh chi tiết để ước tính YLD Trọng số bệnh tật của Hà Lan cũng có ưu điểm là chúng định nghĩa một giai đoạn hay mức độ trầm trọng của tình trạng sức khỏe theo những mô tả chuẩn sử dụng các mức
Trang 22phân loại của EuroQol với 6 phạm trù (đi lại, tự chăm sóc, hoạt động thường ngày, đau đớn, tình cảm và nhận thức) và 3 mức độ trầm trọng cho mỗi phạm trù (‘không có vấn đề”, “có chút vấn đề” và “rất có vấn đề”)
Nghiên cứu GBD có trọng số bệnh tật cho nhiều tình trạng sức khỏe nhưng không cụ thể cho từng giai đoạn hay mức độ trầm trọng của tình trạng sức khỏe Riêng đối với chấn thương, nghiên cứu GBD có trọng số bệnh tật khá toàn diện cho 39 loại chấn thương với thời gian “ngắn hạn” và “dài hạn” Trọng số bệnh tật của đa số các tình trạng sức khỏe từ
2 nguồn khó có thể so sánh trực tiếp với nhau bởi các bệnh trong nghiên cứu của Hà Lan
cụ thể hơn Hệ số tương quan giữa 2 hệ thống trọng số bệnh tật là 0,91 cũng như đường
mô phỏng khá khớp với nhau (giá trị độ dốc: 0,998 và điểm cắt: 0,009) cho thấy có thể sử dụng trọng số của GBD và của Hà Lan trong cùng một nghiên cứu
Danh sách các trọng số bệnh tật được sử dụng trong nghiên cứu cùng nguồn số liệu của chúng được trình bày ở Phụ lục 2
3.8 TRỌNG SỐ TUỔI
Nghiên cứu GBD coi một năm khỏe mạnh ở lứa tuổi trẻ và già có giá trị thấp hơn ở những lứa tuổi khác.Tuy nhiên, không có sự thống nhất trong việc gán cho năm sống ở lứa tuổi trẻ và già có giá trị thấp hơn hoặc nếu làm vậy thì thấp hơn bao nhiêu so với năm sống ở lứa tuổi khác
Trọng số tuổi là giá trị được lựa chọn gây nhiều tranh cãi nhất khi tính toán DALY Bốn vấn đề tranh cãi chính xung quanh trọng số tuổi là [2, 19]:
Xét ở góc độ công bằng, trọng số tuổi là không thể chấp nhận được bởi các năm sống phải có giá trị như nhau;
Trọng số tuổi chưa được kiểm chứng trên quần thể dân số lớn;
Trọng số tuổi không phản ánh giá trị xã hội; và
Trang 23 Sử dụng trọng số tuổi chỉ làm phức tạp thêm phương pháp tính toán gánh nặng bệnh tật và làm nó trở nên khó hiểu trong khi kết quả cuối cùng thay đổi rất không đáng kể
Ngược lại, có một số ý kiến cho rằng trọng số tuổi bản thân nó đã mang tính công bằng bởi mỗi cá nhân đều có thể sống qua các lứa tuổi khác nhau và nó thực chất đã phản ánh các ưu tiên được chấp nhận về mặt xã hội [20] Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật và chấn thương của Việt Nam sử dụng trọng số tuổi đồng nhất có nghĩa một năm sống khỏe mạnh có giá trị như nhau ở tất cả các lứa tuổi
3.9 TỶ LỆ MỚI MẮC VÀ THỜI GIAN MẮC
Bước đầu tiên khi tính toán YLD là xác định số trường hợp mới mắc của một bệnh hoặc loại chấn thương nào đó trong năm nghiên cứu và ước tính hay mô hình hóa thời gian mắc bệnh hoặc chấn thương và đôi khi xây dựng mô hình của bệnh/chấn thương theo các giai đoạn và mức độ trầm trọng Với một số bệnh/chấn thương, ta có thể lấy số liệu mới mắc từ các hệ thống ghi nhận bệnh, các số liệu thường kỳ hay các nghiên cứu dịch
tễ học, tuy nhiên đa số bệnh/chấn thương chỉ có số liệu hiện mắc Ngoài ra, ta cũng thường phải ước tính thời gian mắc bệnh trung bình thông qua các số liệu khác như tỷ lệ khỏi bệnh hay tỷ lệ tử vong Đối với những bệnh/chấn thương đó, chúng tôi sử dụng phần mềm DISMOD2 Mô hình sử dụng trong DISMOD2 được mô tả dưới đây (Hình 1)
Mô hình dịch tễ học của một bệnh được mô tả bằng các chỉ số mới mắc, hiện mắc, khỏi bệnh, thời gian mắc, và một số chỉ số về tử vong (nguy cơ tương đối, tỷ lệ chết/mắc hay
tỷ lệ tử vong) Các chỉ số này khác nhau về bản chất Ví dụ, tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ chết/mắc mô tả sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác trong khi tỷ lệ hiện mắc chỉ đơn thuần là tỷ lệ phần trăm Về cơ bản, tất cả các chỉ số này đều có thể thu được qua quan sát/theo dõi tùy theo mức độ khó thực hiện Ví dụ như tỷ lệ tử vong thì
có thể dễ dàng quan sát/theo dõi nhưng đối với một số bệnh thì có thể xác định nhầm nguyên nhân tử vong; tuy nhiên các số liệu về nguyên nhân tử vong thường là nguồn thông tin đáng tin cậy
Trang 24Hình 1 Mô hình cơ bản của bệnh sử dụng trong DISMOD2
Nếu có 3 trong 5 chỉ số trên thì DISMOD2 có thể tính toán 2 chỉ số còn lại Thông thường
ta hay có tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ tử vong và một số thông tin về tỷ lệ khỏi bệnh DISMOD2 tính tỷ lệ mới mắc và thời gian mắc bệnh trung bình theo tuổi và giới sao cho nhất quán với các chỉ số đã biết
Tuy các giả định khác nhau về tỷ lệ khỏi bệnh và tỷ lệ chết/mắc ảnh hưởng đến sự phân
bố theo tuổi của tỷ lệ hiện mắc và YLD, tổng YLD gần như không bị thay đổi do các giả định này khớp với phân bố cố định của tỷ lệ hiện mắc Đó là do YLD được tính bằng cách nhân số trường hợp mới mắc với thời gian mắc bệnh - gần như tương đương với số hiện mắc Nói cách khác, đối với đa số các bệnh, sự kết hợp giữa tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ chết/mắc và tỷ lệ khỏi bệnh (để tính ra thời gian mắc bệnh) sử dụng trong tính toán YLD tạo ra rất ít sự khác biệt về tổng YLD ở các nhóm tuổi nếu mô hình hiện mắc không thay đổi Tuy nhiên khi áp dụng chiết khấu thì phức tạp hơn, các bệnh có tỷ lệ mới mắc thấp
và thời gian mắc bệnh dài bị chiết khấu nhiều hơn những bệnh có tỷ lệ mới mắc cao nhưng thời gian mắc bệnh ngắn
Đối với những giai đoạn bệnh có thời gian ngắn như giai đoạn hồi phục sau phẫu thuật, thay vì sử dụng DISMOD2, chúng tôi sử dụng các giả định về thời gian mắc trong các y văn hoặc theo ý kiến của chuyên gia
Trang 254 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BỆNH VÀ CHẤN THƯƠNG
4.1 LAO
Chúng tôi sử dụng số liệu thường niên về lao từ năm 2002 đến năm 2008 của Bệnh viện Phổi Trung Ương (số liệu này cũng được sử dụng trong hệ thống dữ liệu Lao toàn cầu của WHO) để tính số mới mắc lao Do chỉ có số mới mắc AFB+ theo tuổi và giới, chúng tôi áp dụng mô hình theo tuổi và giới của AFB+ cho các trường hợp mới mắc lao phổi (bao gồm AFB+ và AFB-) và lao ngoài phổi
YLD của lao được tính cho 6 nhóm: điều trị và khỏi bệnh, điều trị và tái phát, điều trị nhưng không khỏi bệnh, không được điều trị và tử vong, không được điều trị nhưng tự hồi phục và không được điều trị dẫn đến lao mãn tính Theo một nghiên cứu quần thể ở Việt Nam, có 20% số trường hợp lao không được ghi nhận [21] Do không có số liệu của Việt Nam, chúng tôi giả định giống giả định trong nghiên cứu BoD của Thái Lan rằng tỷ lệ được điều trị là 70% [11, 22] Thời gian điều trị lao là 10 tháng, bao gồm 4 tháng có triệu chứng trước khi điều trị và 6 tháng điều trị [23] Theo số liệu của Chương trình phòng chống Lao quốc gia, tỷ lệ khỏi bệnh của các trường hợp được điều trị là 89% Với 8,6%
là những người tái phát, thời gian điều trị trung bình là 12 tháng (4 tháng trước điều trị và
8 tháng điều trị) [24] Với 2,4% là những người không khỏi bệnh, thời gian điều trị trung bình là 18 tháng Với những người không được điều trị, chúng tôi giả định 50% tử vong, 18% chuyển sang lao mãn tính và 32% tự hồi phục [25]
Trọng số bệnh tật của Hà Lan được sử dụng để tính YLD của lao (0,29 đối với lao phổi
và 0,30 đối với lao ngoài phổi)
4.2 HIV/AIDS
Chúng tôi xây dựng mô hình của HIV/AIDS gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu nhiễm HIV không có triệu chứng (DW của Hà Lan là 0,20), tiếp theo là giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng (DW là 0,31), sau đó là giai đoạn AIDS (DW là 0,56) và cuối cùng là giai đoạn cuối của bệnh (DW là 0,95)
Trang 26Theo báo cáo dự báo về HIV/AIDS của Việt Nam, tỷ lệ mới mắc HIV ở Việt Nam là khoảng 39/triệu dân [26] Báo cáo này cũng có tỷ lệ hiện mắc, tỉ số giới và số trường hợp nhiễm HIV trong năm 2008 của Việt Nam Chúng tôi áp dụng mô hình theo tuổi và giới trong báo cáo về HIV/AIDS của Bộ Y tế đối với số liệu mắc HIV năm 2008 [27]
Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút (ARV) giúp tăng thời gian sống của bệnh nhân Ở Úc, thời gian sống trung bình của những bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị là khoảng 30 năm [28] Nó tương đương với thời gian ủ bệnh trung bình ở người trưởng thành từ khi nhiễm HIV đến khi chuyển sang giai đoạn AIDS là khoảng 10 năm đối với những trường hợp không được điều trị Các chuyên gia y tế về các bệnh truyền nhiễm ước tính có 59.000 người cần được điều trị, khả năng đáp ứng của hệ thống y tế là 29.000 nhưng thực sự chỉ có 20.000 người được điều trị [29] Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2008, diện bao phủ hiệu quả của ARV ở Việt Nam là 45% [30] Vì vậy, chúng tôi giả định 27%
có thời gian sống dài hơn (ước tính theo những trường hợp được điều trị ở Úc) và số còn lại có thời gian sống ngắn hơn được ước tính theo thời kỳ chưa có phác đồ điều trị Thời gian trung bình từ giai đoạn AIDS đến khi tử vong được ước tính tương tự dựa trên diện bao phủ hiệu quả là 45% với thời gian 5,5 năm [18], với giả định những người không được điều trị có thời gian sống trung bình là 1,3 năm (theo nghiên cứu dự báo về HIV/AIDS của Thái Lan [11])
và trung bình) và 0,402 với những trường hợp phức tạp (nặng)
4.4 NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP
Chúng tôi sử dụng số liệu tự báo cáo trong Điều tra Y tế quốc gia năm 2002 về triệu chứng
ho trong 4 tuần trước khi phỏng vấn ở 3 mức độ: nhẹ, trung bình và nặng Chúng tôi giả định
Trang 27những trường hợp nặng là những trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp dưới với trọng số bệnh tật theo nghiên cứu GBD là 0,28 Những trường hợp nhẹ được cho là viêm mũi họng và trường hợp trung bình được cho là viêm xoang hoặc viêm amiđan (DW của nghiên cứu BoD của Úc tính toán theo mô hình hồi quy của trọng số Hà Lan là 0,014 và 0,061)
Với những người đang làm việc, số ngày nghỉ trung bình do nhiễm khuẩn hô hấp là 0,5 ngày Nghiên cứu GBD giả định thời gian mắc bệnh trung bình là 3,5 ngày Nếu chúng tôi
sử dụng số liệu hiện mắc do cá nhân tự báo cáo, số liệu đó có thể bao gồm số lượng đáng kể các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ với mức “tàn tật” tối thiểu Vì vậy, chúng tôi lấy
số ngày nghỉ ốm cộng với 1,5 ngày để tính thời gian mắc bệnh trung bình
4.5 UNG THƯ
Chúng tôi lấy tỷ lệ mới mắc của các loại ung thư từ 6 hệ thống ghi nhận ung thư (3 hệ thống ở miền Bắc, 1 ở miền Trung và 2 ở miền Nam) Khi so sánh tỷ lệ mới mắc của hệ thống ghi nhận với tỷ lệ tử vong từ điều tra VA, kết quả cho thấy tỷ lệ tử vong cao hơn tỷ
lệ mới mắc ở hầu hết các loại ung thư trong các lứa tuổi ở 2 giới Qua trao đổi với các chuyên gia về ung thư của Bệnh viện K, những người trực tiếp tham gia vào quá trình thu thập số liệu của hệ thống ghi nhận, chúng tôi được biết số liệu của các hệ thống ghi nhận hiện nay chưa đầy đủ bởi diện bao phủ chưa toàn diện cũng như thiếu nhân lực thu thập thông tin có chất lượng Để đảm bảo tính nhất quán giữa số liệu tử vong và số liệu mới mắc, chúng tôi quyết định tính tỷ lệ mới mắc của các loại ung thư bằng cách nhân tỷ lệ tử vong từ điều tra VA với tỉ số mới mắc/tử vong từ một nghiên cứu trong khu vực về tử vong và mới mắc của ung thư [31]
Những người bị ung thư và sống được ít nhất 5 năm được cho là khỏi bệnh và bị bệnh trong 5 năm Đối với những trường hợp tử vong, thời gian sống cho đến khi tử vong được giả định là theo phân bố của hàm Weibull Do đó thời gian sống trung bình của những trường hợp tử vong được ước tính bằng cách áp dụng phân bố của hàm này đối với tỷ lệ sống sót tương đối trong 5 năm ở các nước đang phát triển từ một nghiên cứu
về tử vong của 25 loại ung thư trên toàn cầu [32]
Trang 28Chúng tôi tính toán YLD cho các ung thư theo mô hình bệnh được sử dụng trong nghiên cứu BoD của Úc [18] và áp dụng trọng số bệnh tật của Hà Lan cho mỗi giai đoạn bệnh
Mô hình chung của các ung thư được trình bày ở Hình 2
Hình 2 Mô hình chung của ung thư sử dụng trong tính toán YLD
(bao gồm khoảng trọng số bệnh tật và thời gian mắc)
4.6 ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
YLD của đái tháo đường được tính cho 2 loại: không có biến chứng và có biến chứng Tỷ
lệ hiện mắc của bệnh được tính từ số liệu của điều tra dịch tễ học về bệnh đái tháo đường ở Việt Nam [33] Để tính tỷ lệ mới mắc và thời gian mắc bệnh, phần mềm DIS-MOD2 [34] được dùng với các chỉ số đầu vào là tỷ lệ khỏi bệnh bằng 0, nguy cơ tử vong tương đối ở những người bị đái tháo đường từ một nghiên cứu của khu vực Châu Á Thái Bình Dương [35] Chúng tôi sử dụng tỉ số YLD của đái tháo đường có biến chứng/số hiện mắc đái tháo đường trong nghiên cứu BoD của Thái Lan 1999 để ước tính YLD của đái tháo đường có biến chứng ở Việt Nam Trọng số bệnh tật của Hà Lan (0,07) được sử dụng cho đái tháo đường không có biến chứng
12 tháng hoặc ít hơn
Thay đổi tùy theo
Giai đoạn ổn định
Trang 294.7 CÁC BỆNH TÂM THẦN KINH
Chúng tôi sử dụng kết quả của Điều tra dịch tễ học của 10 rối loạn tâm thần thường gặp trên 8 vùng sinh thái của Việt Nam năm 2008-2009 Cỡ mẫu của điều tra này là 82.908 người Số liệu của điều tra này được tính riêng cho các nhóm tuổi và phân theo giới
Rối loạn do lạm dụng rượu
Số mới mắc của các rối loạn do lạm dụng rượu được tính bằng DISMOD2 với các chỉ số đầu vào là tỷ lệ hiện mắc của điều tra dịch tễ học, tỷ lệ khỏi bệnh là 0,24 theo một nghiên cứu theo dõi dọc của Mỹ ở những người uống rượu ở mức độ có nguy cơ [36] và nguy
cơ tử vong là 1,8 ở nam và 3,84 ở nữ [37] Do thiếu số liệu trong nước, các chuyên gia y
tế trong lĩnh vực này chấp nhận việc sử dụng các số liệu trên
DW trung bình của các rối loạn do lạm dụng rượu là 0,09 dựa trên nghiên cứu BoD của
Úc [18]
Rối loạn lo âu
Điều tra dịch tễ học cho kết quả 2.085 trường hợp được chẩn đoán là rối loạn lo âu Tỷ lệ khỏi bệnh là 4,3% được ước lượng từ 4 nghiên cứu dọc ở những người bị rối loạn lo âu [38] Tỷ suất tử vong hiệu chỉnh trong một nghiên cứu tổng quan của Harris và Barra-clough có giá trị từ không tăng nguy cơ đối với loạn thần lo âu (anxiety neurosis) đến tăng gấp đôi đối với rối loạn sợ hãi (panic disorder) [37] Chúng tôi giả định nguy cơ tương đối của rối loạn lo âu bằng 1 và sử dụng DISMOD2 để xác định tỷ lệ mới mắc và thời gian mắc Đối với trọng số bệnh tật, chúng tôi sử dụng giả định của nghiên cứu BoD của Úc có tính đến mức độ trầm trọng trung bình và phần trăm thời gian có triệu chứng của những trường hợp bệnh mãn tính
Trang 30cứu của Rotterdam (rất nhẹ là 13,8%, nhẹ là 41,3%, trung bình là 30,0% và nặng là 15%) [34] Do đó chúng tôi tính được trọng số bệnh tật là 0,52
Trầm cảm
Có 2.653 trường hợp được chẩn đoán là trầm cảm trong điều tra dịch tễ học lâm sàng nói trên Do không có số liệu về các chỉ số dịch tễ học khác của trầm cảm ở Việt Nam nên chúng tôi quyết định sử dụng ước tính về thời gian mắc của nghiên cứu GBD 1990 cho nghiên cứu này Chúng tôi giả định rằng thời gian mắc bệnh trung bình là 0,5 năm và tiếp sau đó là 2 năm khỏi bệnh Nguy cơ tử vong tương đối là 1,36 được sử dụng trong DISMOD2
Lạm dụng ma túy
Có 369 trường hợp lạm dụng ma túy trong điều tra dịch tễ học nói trên, trong đó nam giới chiếm 91% Lạm dụng ma túy trong điều tra này được định nghĩa là nghiện cocaine, her-oin, thuốc phiện và cannabis Điều tra này cho thấy nghiện heroine là phổ biến nhất Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ hiện mắc của lạm dụng ma túy là 0,0078 ở lứa tuổi 10-19 Chúng tôi giả định lạm dụng ma túy chỉ xảy ra ở lứa tuổi trên 15 với tỷ lệ hiện mắc gấp hai lần tỷ lệ hiện mắc ở lứa tuổi 10-19
Cũng do không có số liệu về các chỉ số khác của lạm dụng ma túy ở Việt Nam, chúng tôi
sử dụng tỷ lệ khỏi bệnh là 5% và tỷ lệ chết/mắc do quá liều là 1%/năm theo nghiên cứu của Úc [40] Chúng tôi sử dụng trọng số bệnh tật là 0,27 giống nghiên cứu BoD của Úc
ở những người được chẩn đoán ở lứa tuổi 10-19, 28% ở những người được chẩn đoán
ở lứa tuổi 20-59 và chỉ 6% ở những người được chẩn đoán khi 60 tuổi hoặc hơn Ngoài
Trang 31ra, khả năng tái phát sau khi khỏi bệnh 20 năm là 13% ở những trường hợp được chẩn đoán trước 9 tuổi, 22% ở những trường hợp được chẩn đoán ở độ tuổi 10-19 và 32% ở những người được chẩn đoán trên 20 tuổi [42] Chúng tôi loại trừ tỷ lệ tái phát trong tỷ lệ khỏi bệnh để lấy được tỷ lệ khỏi bệnh thuần sử dụng cho DISMOD2.
Tâm thần phân liệt
Cũng trong điều tra dịch tễ học này, có 348 trường hợp tâm thần phân liệt Chúng tôi sử dụng trung vị của tỷ suất tử vong hiệu chỉnh là 2,58 ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt và tỷ lệ khỏi bệnh bằng 0,0137 được tính dựa trên nghiên cứu tổng quan về 10 nghiên cứu của Saha năm 2007 [43]
Theo nghiên cứu BoD của Thái Lan, chúng tôi giả định 63% thời gian của bệnh nhân sống với DW của GBD là 0,627 đối với những trường hợp không được điều trị (đây là tỷ
lệ bệnh nhân thuyên giảm bệnh trong 2 năm theo dõi trong 1 nghiên cứu của WHO tại 10 quốc gia [44]) và thời gian còn lại sống với trọng số 0,351 (DW của GBD cho những trường hợp được điều trị), và từ đó tính được trọng số của bệnh là 0,453
4.8 CÁC KHUYẾT TẬT VỀ GIÁC QUAN
Khiếm thị
Chúng tôi sử dụng số trường hợp khai báo là bị khiếm thị trong Điều tra mức sống hộ gia đình 2006 Khiếm thị được chia thành 3 nhóm: nhẹ, trung bình và nặng Trong điều tra này, điều tra viên hỏi đối tượng nghiên cứu có gặp khó khăn khi nhìn hay không, bao gồm cả việc họ có phải đeo kính hay không Các phương án trả lời của đối tượng nghiên cứu là: không gặp khó khăn gì, có chút khó khăn, rất khó khăn và mù hoàn toàn Chúng tôi xếp mức độ trầm trọng theo 4 nhóm bình thường, nhẹ, trung bình và nặng tương ứng với 4 phương án trả lời trên
Chúng tôi dùng DW của Hà Lan là 0,02 cho trường hợp nhẹ, 0,17 cho trường hợp trung bình và 0,43 cho trường hợp nặng DISMOD2 cũng được sử dụng để tính tỷ lệ mới mắc
và thời gian mắc của khiếm thị ở mỗi mức độ trầm trọng với giả định tỷ lệ khỏi bằng 0 và
tử vong rất thấp
Trang 32Khiếm thính
Tỷ lệ hiện mắc của khiếm thính cũng được lấy từ Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006 Trong điều tra này, đối tượng nghiên cứu khai báo 1 trong 3 mức độ khiếm thính: có chút khó khăn về thính giác, rất khó khăn và điếc hoàn toàn Chúng tôi cũng xếp 3 lựa chọn trả lời này vào 3 nhóm khiếm thính nhẹ, trung bình và nặng với trọng số bệnh tật của Hà Lan tương ứng là 0,02, 0,12 và 0,37
Do số hiện mắc nhỏ, DW trung bình của tất cả các trường hợp hiện mắc khiếm thính khác nhau đáng kể theo tuổi nhưng cũng có thể thấy rõ là DW ở tuổi dưới 45 (trung bình
là 0,083) cao hơn ở tuổi trên 45 (trung bình là 0,051)
DISMOD2 được dùng để tính số mới mắc và thời gian mắc với giả định tỷ lệ khỏi bệnh là
0 và nguy cơ tử vong tương đối bằng 1
4.9 BỆNH MẠCH VÀNH (ISCHEMIC HEART DISEASE)
Chúng tôi tính toán YLD cho 3 dạng của bệnh mạch vành là chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và suy tim Số mới mắc của chứng đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim được lấy từ số liệu bệnh viện của 200 trung tâm y tế huyện, bệnh viện tỉnh và bệnh viện trung ương trên cả nước Chúng tôi lấy số hiện mắc của bệnh mạch vành từ số liệu của các
cơ sở y tế được quản lý bởi Cục quản lý và khám chữa bệnh Theo ý kiến tư vấn của các chuyên gia, chúng tôi giả định 70% các trường hợp nhập viện trên 60 tuổi là nhập viện lần đầu do chứng đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, 40% các bệnh nhân nhồi máu
cơ tim không tử vong ở bệnh viện nên không được ghi nhận trong số liệu của bệnh viện Chúng tôi áp dụng mô hình theo tuổi và giới của Thái Lan đối với tổng số bệnh nhân lấy từ số liệu bệnh viện
Cũng qua trao đổi với chuyên gia của Viện Tim mạch quốc gia, chúng tôi giả định rằng tỷ
lệ chết/mắc của bệnh mạch vành ở Việt Nam là 50%, cao hơn so với tỷ suất này ở Úc DISMOD2 cũng được sử dụng để tính thời gian mắc bệnh trung bình ở tất cả các trường hợp mới mắc bệnh mạch vành (bao gồm chứng đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim) với
Trang 33giả định tỷ lệ khỏi bằng 0 Sau đó chúng tôi dùng tỉ số giữa những người nhập viện do chứng đau thắt ngực và những người nhập viện do nhồi máu cơ tim để tính số mới mắc cho mỗi dạng bệnh Chúng tôi giả định 15% các trường hợp nhồi máu cơ tim dẫn đến suy tim và cũng giả định tỷ lệ chết/mắc do suy tim ở Việt Nam cao hơn ở Úc và bằng 50%
Chúng tôi giả định chứng đau thắt ngực có mức độ bệnh nhẹ và trung bình (DW bằng 0,08) cho đến 6 tháng cuối thì có DW ở mức độ trầm trọng là 0,57 Trọng số bệnh tật GBD của nhồi máu cơ tim trong 3 tháng là 0,491 đối với những trường hợp không được điều trị và 0,395 với những trường hợp được điều trị Do giả định 50% các trường hợp nhồi máu cơ tim được điều trị nên chúng tôi tính được DW cho bệnh này là 0,443 Đối với suy tim, chúng tôi giả định 60% là trường hợp nhẹ, 30% trung bình và 10% trầm trọng tương ứng với DW là 0,06, 0,35 và 0,65
4.10 ĐỘT QỤY
YLD của đột qụy được tính riêng cho những người tử vong trong vòng 28 ngày và những người sống qua 28 ngày Những người tử vong trong vòng 28 ngày được cho là có 1 tuần ở mức độ bệnh trầm trọng với DW là 0,92
Chúng tôi áp dụng mô hình theo tuổi và giới của các trường hợp nhập viện tại Thái Lan đối với tổng số bệnh nhân tại Việt Nam được tính bằng số bệnh nhân ra viện sau khi bị đột quỵ có hiệu chỉnh do số liệu bệnh viện không bao phủ được toàn bộ dân số như đã
mô tả trong phần tính toán YLD cho bệnh mạch vành Tại Perth-Úc, 22% những trường hợp không tử vong được quản lý bên ngoài hệ thống bệnh viện [45] Chúng tôi giả định hơn 50% các trường hợp bị đột quỵ ở Việt Nam không đến bệnh viện và tỷ lệ này cao hơn ở lứa tuổi từ 75 trở lên (44%) so với các lứa tuổi trẻ hơn (17%)
Bonita [45] cũng ghi nhận rằng 69% các trường hợp được chẩn đoán là tai biến mạch máu não là những trường hợp bị lần đầu Chúng tôi áp dụng tỷ lệ này đối với những trường hợp mới mắc trên 60 tuổi Trong nghiên cứu tại Perth, 22% các trường hợp ở nam và 26% các trường hợp ở nữ tử vong trong vòng 28 ngày Tỷ lệ tử vong ở những trường hợp trên 75 tuổi (29%) cao hơn ở những trường hợp dưới 75 (18%) [45] Theo ý
Trang 34kiến của các chuyên gia từ viện Tim mạch quốc gia, chúng tôi giả định tỷ lệ chết/mắc do tai biến mạch máu não là 50% ở Việt Nam
Theo số liệu của miền Tây nước Úc [46] về mức độ bệnh trước và sau khi bị tai biến mạch máu não ở những bệnh nhân sống sót, chúng tôi có DW trung bình của những bệnh nhân sống sót ở 4 tháng và 12 tháng sau khi bị tai biến mạch máu não Trọng số này được tính từ sự thay đổi tuyệt đối về mức độ tàn tật sau khi bị tai biến mạch máu não
ở mỗi bệnh nhân và áp dụng cho những bệnh nhân sống sót chứ không chỉ áp dụng cho những người bị tàn tật Chúng tôi sử dụng DW của những bệnh nhân sống sót tại 4 tháng cho năm đầu sau khi bị tai biến và áp dụng trọng số bệnh tật của những bệnh nhân sống sót tại 12 tháng cho những năm sau đó
4.11 BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH (COPD)
Nghiên cứu này sử dụng kết quả của Điều tra dịch tễ học cắt ngang (đại diện quốc gia)
về tỷ lệ hiện mắc COPD được thực hiện từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 7 năm 2007 tại Việt Nam [47] COPD trong điều tra này được định nghĩa theo tiêu chuẩn của WHO (WHO GOLD) ở những người được đo phế dung có tỷ lệ dung tích khí hít vào gắng sức trong giây đầu tiên thấp hơn 70% (FEV1/FVC < 0.7)
Chúng tôi giả định mô hình tiến triển của bệnh là từ không có triệu chứng đến mức độ nhẹ, trung bình và cuối cùng là trầm trọng Chúng tôi có DW cho trường hợp bệnh trầm trọng (Gold III-IV) là 0,53 và cho các trường hợp nhẹ, trung bình là 0,17 Định nghĩa về các trường hợp Gold II (FEV1/FVC trong khoảng 50-80%) bao phủ rộng hơn định nghĩa của chúng tôi về các trường hợp nhẹ và trung bình (50-70% FEV1/FVC) với DW là 0,17 Chúng tôi tính thời gian mắc bệnh trung bình và số mới mắc của COPD bằng DISMOD2 với giả định tỷ lệ khỏi bệnh bằng 0
4.12 BỆNH THOÁI HÓA KHỚP (OSTEOARTHRITIS)
Chúng tôi quyết định ước tính tỷ lệ hiện mắc của bệnh thoái hóa khớp theo một nghiên cứu cộng đồng nhằm kiểm soát các bệnh thấp khớp (COPCORD) tại Việt Nam mặc dù quy mô của nghiên cứu khá nhỏ [48] bởi nghiên cứu này có tỷ lệ hiện mắc của thoái hóa
Trang 35khớp thông qua chụp X-quang chứ không phải tự khai báo Nghiên cứu này thực hiện ở 2.119 đối tượng ở thành thị tuổi từ 16 trở lên, sử dụng bộ câu hỏi WHO-ILAR COPCORD
để ghi nhận các triệu chứng của đối tượng và tiến hành chụp X-quang và thử máu để phân loại các bệnh cơ xương khớp [48] Do nghiên cứu này chỉ có tỷ lệ hiện mắc theo giới nên chúng tôi sử dụng mô hình theo tuổi của tỷ lệ hiện mắc bệnh thoái hóa khớp trong một nghiên cứu COPCORD của Thái Lan [11]
Những người bị thoái hóa khớp có nguy cơ tử vong cao hơn người bình thường nhưng nguy cơ tử vong này được cho là do khả năng bị các “tàn tật” khác cao hơn người bình thường chứ không phải trực tiếp do bệnh thoái hóa khớp, do đó chúng tôi giả định tỷ lệ chết/mắc của bệnh bằng 0 Chúng tôi sử dụng DISMOD2 để tính tỷ lệ mới mắc và thời gian mắc trung bình Tương tự nghiên cứu BoD của Thái Lan [11] và Úc [18], chúng tôi dùng DW trung bình của Hà Lan với mô hình phân bố các mức độ trầm trọng của bệnh dựa trên mức độ 2 và 3-4 qua chụp X-quang của Kellgren and Lawrence trong nghiên cứu của Framingham [49, 50]
4.13 CHẤN THƯƠNG
Số liệu mới mắc của chấn thương được lấy từ điều tra chấn thương ở Việt Nam (VMIS) [51] và điều tra về chấn thương ở trẻ em tại 6 tỉnh thành: Hải Phòng, Hải Dương, Huế, Quảng Trị, Cần Thơ và Đồng Tháp [52] Các trường hợp chấn thương trong hai điều tra được xếp vào 8 loại: bỏng, đuối nước, ngã, giết người và bạo lực, ngộ độc, tự tử, tai nạn giao thông và các chấn thương có chủ định khác So với điều tra chấn thương ở trẻ em,
tỷ lệ mới mắc trong điều tra VMIS cao hơn ở tất cả các loại chấn thương và có tính đại diện hơn do cỡ mẫu lớn hơn Cả hai điều tra đều có thông tin đầy đủ về loại chấn thương (ví dụ ngã hay tai nạn giao thông) nhưng không có số liệu đầy đủ về đặc điểm của chấn thương (ví dụ như gãy chân hay chấn thương ở đầu) Trong điều tra chấn thương ở trẻ
em cũng có một số thông tin về bộ phận cơ thể bị chấn thương và một số thông tin về việc trẻ có bị gãy xương hay không Do hạn chế về thông tin, chúng tôi sử dụng mô hình
về 32 đặc điểm của chấn thương trong nghiên cứu BoD của Thái Lan Ví dụ, trong tất cả
Trang 36các nạn nhân bị tai nạn giao thông ở Thái Lan có chấn thương ở vùng mặt (trong điều tra chấn thương ở người trưởng thành ở Việt Nam chỉ có thông tin này), 67% bị gãy xương mặt, 22% bị vỡ xương sọ và 11% chấn thương ở mắt Chúng tôi áp dụng các tỷ lệ này đối với số liệu về chấn thương ở vùng mặt do tai nạn giao thông ở Việt Nam Đối với các
bộ phận bị chấn thương khác, chúng tôi cũng tính tương tự với số liệu lấy từ nghiên cứu BoD của Thái Lan Trọng số bệnh tật và thời gian mắc của chấn thương ngắn hạn và dài hạn được lấy từ nghiên cứu GBD
Trang 375 KẾT QUẢ
5.1 TỬ VONG VÀ KỲ VỌNG SỐNG
Số lượng tử vong ước tính ở Việt Nam năm 2008 là 541.228, trong đó tử vong ở nam chiếm 54% và ở nữ là 46% Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả 2 giới là đột quỵ (Bảng 2) Ung thư gan và tai nạn giao thông là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 và thứ 3 ở nam giới trong khi ở nữ giới là COPD và viêm phổi
Bảng 2 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong theo giới
STT Bệnh/chấn thương Tử vong % Bệnh/chấn thương Tử vong %
Trang 385.2 GÁNH NẶNG DO TỬ VONG Ở VIỆT NAM (YLL)
Tổng YLL của dân số Việt Nam năm 2008 là 6,8 triệu năm Gần hai phần ba tổng YLL là
do các bệnh không truyền nhiễm (nhóm II) Tỷ lệ YLL của các bệnh truyền nhiễm, các vấn
đề về bà mẹ và bệnh lý thời kỳ chu sinh (nhóm I) và của chấn thương (nhóm III) đều là 16% trong tổng YLL (Hình 3)
16%
68%
16%
Nhóm I Nhóm II Nhóm III
Hình 3 YLL của 3 nhóm bệnh lớn, Việt Nam 2008
Tử vong sớm làm mất 4,1 triệu YLL ở nam và 2,7 triệu YLL ở nữ Tỷ lệ YLL của 3 nhóm bệnh lớn khác nhau ở nam và nữ Nhóm I và nhóm III có tỷ lệ trong tổng YLL ở nam lớn hơn ở nữ (Hình 4)
Hình 4 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo giới, Việt Nam 2008
Trang 39YLL theo giới
Các bệnh tim mạch, ung thư và chấn thương không chủ định là các nhóm nguyên nhân hàng đầu của tử vong sớm ở nam giới trong năm 2008 (Hình 5) Các bệnh truyền nhiễm cũng đóng góp một phần đáng kể trong tổng YLL Bốn nhóm nguyên nhân trên chiếm đến 74% tổng YLL ở nam giới
Bệnh đường tiêu hóa Bệnh đường hô hấp Nhiễm trùng hô hấp Chấn thương có chủ định
Dị tật bẩm sinh Bệnh tâm thần kinh Khác
Hình 5 YLL của các phân nhóm bệnh ở nam giới, Việt Nam 2008
Mô hình các nhóm nguyên nhân gây tử vong sớm ở nữ cũng tương tự như ở nam giới Các nhóm nguyên nhân hàng đầu của YLL ở nữ cũng là các bệnh tim mạch, ung thư, chấn thương không chủ định và các bệnh truyền nhiễm Bốn nhóm nguyên nhân này đóng góp 69% tổng YLL ở nữ giới (Hình 6)
Bệnh đường hô hấp Nhiễm trùng hô hấp Đái tháo đường Bệnh đường tiêu hóa Bệnh tâm thần kinh Bệnh lý thời kỳ chu s inh Khác
Hình 6 YLL của các phân nhóm bệnh ở nữ giới, Việt Nam 2008
Trang 40YLL theo tuổi
Ở nam giới, tổng YLL tăng đều từ giá trị thấp nhất tại nhóm tuổi 5-14 và đạt giá trị cao nhất ở nhóm tuổi 45-59 (Hình 7) Mô hình YLL theo tuổi ở nữ cũng tương tự ở nam nhưng YLL ở nữ tại các nhóm tuổi thấp hơn so với ở nam (Hình 8) Chấn thương và các bệnh truyền nhiễm, các vấn đề sức khỏe bà mẹ, dinh dưỡng và bệnh lý thời kỳ chu sinh là nguyên nhân chính của YLL khi còn trẻ trong khi các bệnh không truyền nhiễm là nguyên nhân chính gây tử vong sớm ở người cao tuổi
Hình 7 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nam, Việt Nam 2008
Hình 8 YLL của 3 nhóm bệnh lớn theo tuổi ở nữ, Việt Nam 2008