Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp viện Tên đề tài Đỏnh giỏ tỡnh trạng huyết học và kiến thức hành vi của đối tượng sau 18 thỏng kết thỳc chương trỡnh bổ sung sắt vào nước mắm Cơ quan quản
Trang 1Bộ Y Tế Viện dinh d−ỡng -
Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp viện
Đỏnh giỏ tỡnh trạng huyết học và kiến thức hành vi của đối tượng sau
Trang 2Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp viện
Tên đề tài
Đỏnh giỏ tỡnh trạng huyết học và kiến thức hành vi của đối tượng sau 18 thỏng kết thỳc chương trỡnh bổ sung sắt vào nước mắm
Cơ quan quản lý, chủ trì: Viện Dinh Dưỡng, 48 B Tăng Bạt Hổ, Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: Ts Bs Phạm Vân Thúy
Cán bộ thực hiện chính: Ts Phạm Vân Thúy, Ths Y Lima, Ts Nguyễn Công Khẩn, Bs Trương Tuyết Mai và cán bộ Khoa Nghiên cứu và ứng dụng Vi chất, Viện Dinh dưỡng
Hỗ trợ kinh phí của NNS/ VDD
Hà Nội, tháng 10/2008
Trang 3danh mục chữ viết tắt
n : Số đối tượng nghiên cứu
NaFeEDTA : Sodium Iron EthylenDiaminTetraAcetic (Sắt Natri EDTA)
T0 : Trước can thiệp
T18 : Can thiệp 18 tháng
T36 : Ngừng can thiệp 18 tháng
VAC : Vườn, Ao, Chuồng
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
YNTK : ý nghĩa thống kê
Trang 4I TổNG QUAN
Thiếu máu dinh dưỡng hiện đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng trên thế giới, trong đó thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất ở các nước đang phát triển [1] Thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển thể lực, tâm lý, hành vi và khả năng lao động và góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong chung có liên quan đến dinh dưỡng [2] Thiếu máu có thể do thiếu một hoặc nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu như sắt, axít folic, vitamin
B12… hoặc có thể do sốt rét, nhiễm trùng, ký sinh trùng và khuyết tật di truyền của các phân tử hemoglobin Tuy nhiên, thiếu sắt là nguyên nhân gây thiếu máu quan trọng nhất [1] [2]
ở Việt Nam, cuộc điều tra năm 2000 về tỷ lệ thiếu máu đã cho thấy: tỷ lệ thiếu máu chung của cả nước phổ biến nhất ở trẻ em < 2 tuổi (trên 50%) Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em < 5 tuổi là 34,1%, phụ nữ có thai là 32,2%, phụ nữ không có thai 24,3% trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới là 9,4%[3]
Có rất nhiều biện pháp can thiệp khác nhau được sử dụng để phòng chống thiếu máu thiếu máu thiếu sắt, bao gồm việc cải thiện chế độ ăn uống hàng ngày, làm giàu thực phẩm với sắt, bổ sung sắt và các biện pháp y tế khác, như phòng chống giun sán Tất cả các biện pháp tiếp cận đó có thể cải thiện được tình hình thiếu máu thiếu sắt trong một số hoàn cảnh [4], [5] Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của chương trình can thiệp, các hoạt động thông tin, truyền thông cần được triển khai phối hợp nhằm nâng cao hiểu biết, thái độ, thực hành cho các đối tượng về trò quan trọng của sắt dinh dưỡng đối với sức khoẻ [8]
Giải pháp bổ sung sắt vào thực phẩm hiện nay cũng đang là hướng phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt rất được quan tâm [8] Các can thiệp bằng bổ sung sắt vào thực phẩm đã được Ngân hàng thế giới nhận xét như một trong số những can thiệp vào sức khoẻ có hiệu quả cao và giá thành thấp Nước mắm là một gia vị thông dụng ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Châu á, trong đó có Việt Nam Những nghiên cứu ở nước ta cho thấy nước mắm là chất mang tiềm năng thuận lợi cho việc bổ sung sắt nhằm phòng chống thiếu máu thiếu sắt [9], [10] Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu hiệu lực của nước mắm bổ sung sắt EDTA tại
2 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương [9] trong 6 tháng dưới sự giám sát chặt chẽ của các nghiên cứu viên Kết quả cho thấy thường xuyên sử dụng nước mắm bổ sung sắt đã làm giảm đáng kể tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ có thiếu máu thiếu sắt Đó là nghiên cứu có sự giám sát chặt chẽ của nghiên cứu viên, trong khi cần có một đánh giá can thiệp trong điều kiện bình thường không đòi
Trang 5Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Hiệu quả của việc sử dụng
nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ” trong 18 tháng tại Vụ Bản-Nam Định Kết quả cũng cho thấy, đối với
nhóm can thiệp, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt giảm rõ rệt so với lúc ban đầu nghiên cứu sau 18 tháng sử dụng nước mắm bổ sung sắt [10]
Vấn đề đặt ra là sau khi kết thúc nghiên cứu can thiệp, tình trạng thiếu máu thiếu sắt trên đối tượng can thiệp thay đổi theo chiều hướng như thế nào Hơn nữa, việc
đánh giá và theo dõi sự thay đổi về tình trạng thiếu máu thiếu sắt của của các đối tượng đã tham gia nghiên cứu can thiệp sẽ cho thấy vai trò của giải pháp nghiên cứu, đồng thời đưa ra các khuyến cáo về việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt dài hạn nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt một cách bền vững Bên cạnh
đó, kiến thức, niềm tin và thực hành phòng chống thiếu máu và sử dụng nước mắm bổ sung sắt trên các đối tượng can thiệp cũng cần được đánh giá lại sau khi dừng nghiên cứu can thiệp Chính vì vậy, chúng tôi tiếp tục tiến hành nghiên cứu
này nhằm: Đánh giá sự thay đổi về tình trạng thiếu máu thiếu sắt, cũng như kiến thức, hành vi của các đối tượng sau 18 tháng kết thúc nghiên cứu can thiệp bố sung sắt vào nước mắm
II Mục tiêu
1 Đánh giá tình trạng thiếu máu thiếu sắt của đối tượng sau 18 tháng dừng can thiệp (T36), so sánh với thời điểm trước can thiệp (T0) và sau 18 tháng can thiệp (T18)
2 Tìm hiểu kiến thức, niềm tin và thực hành phòng chống thiếu máu và sử dụng nước mắm bổ sung sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ sau 18 tháng dừng nghiên cứu can thiệp
III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không có thai, tuổi từ 16-49 Không có dấu hiệu mắc các bệnh nhiễm trùng cấp hay mạn tính, hoặc sốt cao
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Vụ Bản, Nam Định: Xã Kim Thái và Minh Tân
Trang 6Nghiên cứu Hiệu quả trên cộng đồng được tiến hành trong 18 tháng từ tháng 12 năm 2001 đến tháng 6 năm 2003 [10] Chúng tôi chọn 2 xã ngẫu nhiên trong tất cả những xã của huyện Vụ Bản-Nam Định, trong 2 xã đó, chọn ngẫu nhiên 576
hộ gia đình Trong mỗi hộ gia đình chọn 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nếu trong mỗi hộ gia đình có trên 2 người phụ nữ trong đối tượng sinh đẻ thì chọn lấy ngẫu nhiên 1 người Tổng số 288 hộ gia đình được ăn nước mắm bổ sung sắt, với mức tiêu thụ trung bình là 7 mg NaFeEDTA/15 mL nước mắm Cát Hải/ người/ ngày
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên đối tượng, địa điểm của nghiên cứu Hiệu quả để đánh giá sự thay đổi về tình trạng thiếu máu thiếu sắt sau 18 tháng dừng can thiệp Nghiên cứu được tiến hành trong tháng 2 năm 2005, nghĩa là sau 18 tháng kết thúc nghiên cứu hiệu quả
3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu chiều dọc, mù kép có đối chứng
Sơ đồ nghiên cứu
Tại 2 xó: chọn ngẫu nhiờn phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ, tuổi 16-49 (n=576)
Nhúm can thiệp (CT), n=288
Nhúm chứng (C) n=288
- Đỏnh giỏ thỏi độ hành vi: T 36
- Điều tra khẩu phần: T 0, T 18, T 36
Trang 7à àư 2: hai số trung bình khác nhau mong muốn của Hb (g/l)= 3 [9]
σ : độ lệch chuẩn giữa 2 số trung bình khác nhau của Hb (g/l)= 7 [9]
Từ công thức trên, cỡ mẫu cho nghiên cứu theo dõi sau can thiệp là 84 đối tượng/ mỗi nhóm, vậy 2 nhóm thì cỡ mẫu đủ để điều tra nghiên cứu can thiệp là 168, cộng thêm 15% đối tượng bỏ cuộc Tổng số đối tượng là 194 cho cả 2 nhóm nghiên cứu, nhóm chứng (C) và nhóm can thiệp (CT)
Cách chọn đối tượng :
Cỡ mẫu tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu Hiệu quả là 576 đối tượng chia 2 nhóm, sau 18 tháng can thiệp, loại trừ đối tượng bỏ cuộc, đối tượng có thai, cỡ mẫu còn lại dùng để phân tích các chỉ số huyết học còn 380 đối tượng chia 2 nhóm (190
đối tượng/nhóm) [10] Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 98 đối
tượng từ mỗi nhóm trong nghiên cứu Hiệu quả để đưa vào phần điều tra huyết học, phần hỏi ghi đánh giá về kiến thức, niềm tin, thực hành của các đối tượng
*) Điều tra khẩu phần ăn:
áp dụng công thức tính cho mỗi nhóm
n: số mẫu cần điều tra
Z: độ tin cậy đòi hỏi 95% (Z=1,96)
δ: độ lệch chuẩn của nhiệt lượng trung bình ăn vào (300 Kcal)
N: tổng số người của tổng điều tra (194)
e: sai số cho phép khoảng 100 kcal
Trang 8Ta có :
2 2
300.96,1194
100
194.300
5 Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
- Xét nghiệm máu: Trong quá trình nghiên cứu, tất cả các đối tượng được lấy máu tĩnh mạch 3-4 ml vào ống chống đông EDTA tại trạm y tế xã Huyết thanh
ly tâm 3.500 vòng/phút trong 10 phút, bảo quản lạnh -70°C cho tới khi phân tích Ferritin, Transferrin receptor Xác định nồng độ Hb trong máu bằng phương pháp Cyanmethemoglobin, Ferritin và Transferrin receptors được phân tích bằng kỹ thuật ELISA, 10% mẫu máu được phân tích 2 lần và nhắc lại nếu có sự khác biệt lớn hơn 10% Tất cả các xét nghiệm huyết học được tiến hành tại Labo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Hà Nội
+) Nhận định về tình trạng thiếu máu theo ngưỡng hemoglobin do Tổ chức
Y tế khuyến nghị [11] đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi Hb < 12,0 g/dL
+) Nhận định về tình trạng thiếu hụt dữ trữ sắt theo ngưỡng ferritin huyết thanh [10], [12] khi SF <12 mcg/l
+) Nhận định về tình trạng cạn kiệt dữ trữ sắt theo ngưỡng transferrin receptor [10], [13] khi TfR > 8,5 mg/l
- Hỏi ghi đánh giá về kiến thức, hành vi:
+ Các chỉ tiêu chính gồm kiến thức về thiếu máu do thiếu sắt và kiến thức về thực phẩm bổ sung sắt, thực hành sử dụng nước mắm bổ sung sắt
Trang 9+ Công cụ nghiên cứu là dựa vào bộ câu hỏi KBAP (kiến thức, thực
hành) đã đ−ợc thiết kế sẵn để phỏng vấn (phụ lục 1) Có 16 câu hỏi về kiến thức,
10 câu hỏi về niềm tin và 8 câu hỏi về thực hành đ−ợc đ−a vào phân tích số liệu
+ Cách đánh giá: Mỗi câu hỏi có 2 cách trả lời hoặc đúng hoặc sai Xác
định bao nhiêu đối t−ợng (%) trả lời đúng ở mỗi câu hỏi Tại mỗi nhóm câu hỏi (kiến thức, niềm tin, thực hành) cũng xác định số đối t−ợng có số câu hỏi trả lời
đúng (%)
Các câu hỏi về kiến thức bao gồm 4 phần với tổng số 16 câu hỏi:
Phần 1 Tác dụng của sắt đối với cơ thể
2 Tăng thêm máu
3 Chống lại bệnh tật
4 Lợi cho sức khoẻ
Phần 2 Nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt
5 ăn uống thiếu chất sắt
Trang 10Các câu hỏi niềm tin với tổng số 10 câu hỏi:
1 Nếu chị hiểu biết về tác dụng của sắt đối với sức khoẻ chị sẽ có
thể tự điều chỉnh chế độ ăn cho có đủ sắt
2 Chị sẽ chú ý tìm mua cho gia đình các thực phẩm có bổ sung sắt
3 Nếu ăn nước mắm bổ sung sắt, sẽ quen với mùi vị của nó
4 Nếu ăn nước mắm bổ sung sắt, sẽ có đủ sắt cung cấp cho nhu
Các câu hỏi về thực hành với tổng số 8 câu hỏi:
1 Chị thường dùng nước mắm loại chai hay túi?
2 Trung bình 1 tháng gia đình chị dùng mấy lít nước mắm (>0,5 lít)
3 Chị dùng theo cách nào? (chấm, nấu)
4 Khi mua nước mắm chị có chú ý đến nhãn hiệu của nhà máy không?
5 Giá một Lít nước mắm chị vẫn dùng là bao nhiêu? (>3,000 đ/L)
6 Chị có thích sử dụng nước mắm của chương trình hay không?
7 Nếu bây giờ bán nước mắm bổ sung sắt chị có mua không?
8 Nếu giá đắt hơn bao nhiêu (đ/L) chị có thể mua được? (>3,200 đ/L)
- Hỏi khẩu phần ăn: sử dụng phương pháp hỏi ghi 24 giờ qua, theo Tài liệu tập
huấn về điều tra hỏi ghi khẩu phần, Viện Dinh dưỡng (2000) (phụ lục 1)
Trang 116 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đ−ợc tiến hành với sự tự nguyện tham gia của tất cả đối t−ợng (không
có thai, trong độ tuổi sinh đẻ) (phụ lục 2) Những đối t−ợng bị thiếu máu nặng
(Hb < 70 g/dL) đ−ợc đ−a đi điều trị theo phác đồ và không xếp vào trong nhóm nghiên cứu
Tất cả các dụng cụ để cân, đo đều đ−ợc đảm bảo an toàn, đúng quy định của Viện Dinh D−ỡng Quốc gia Dụng cụ lấy máu các đối t−ợng để xét nghiệm đều đảm bảo an toàn tuyệt đối theo quy định và chỉ sử dụng một lần
tỷ lệ hai thời điểm sử dụng NC Nerma test
Việc so sánh tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt giữa hai nhóm nghiên cứu đ−ợc sử dụng bằng χ2 test
VI Kết quả nghiên cứu
1 Các chỉ số huyết học về thiếu máu thiếu sắt của các đối t−ợng nghiên cứu sau 18 tháng dừng can thiệp (T 36 ), so sánh với 2 thời điểm T 0 và T 18 của nghiên cứu can thiệp
Bảng 1 cho thấy sau 18 tháng kết thúc nghiên cứu can thiệp (T36), các chỉ số huyết học về thiếu máu thiếu sắt, bao gồm Hb, SF and TfR, giữa 2 nhóm chứng
và nhóm can thiệp khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0, 05)
Trang 12Bảng 1 Chỉ số sinh hoá của 2 nhóm sau 18 tháng kết thúc can thiệp (T36)
(n = 96)
Nhóm can thiệp (n = 98)
P (t-test)
Hemoglobin, Hb (g/L) 126,8 ± 9,2 124,7 ± 7,6 > 0,05
Serum Ferritin, SF (mcg/L) 27,8 ± 32,1 28,0 ± 60,3 > 0,05
Transferrin- Receptor, TfR (mg/L) 5,5 ± 2,4 5,3 ± 1,5 > 0,05
Tuy nhiên, khi so sánh với các chỉ số huyết học tại thời điểm T0 và T18của nghiên
cứu can thiệp cho thấy đã có sự thay đổi đáng kể giữa 3 thời điểm, T0, T18và T36
về các tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt (bảng 2)
Bảng 2 Tỷ lệ (%) thiếu máu, thiếu sắt của hai nhóm tại 3 thời điểm
Thời điểm Nhóm chứng
(n=96)
Nhóm can thiệp (n=98)
*) p <0,05 khi so sánh giữa T 0 và T 18 ; giữa T 18 và T 36
**)p <0,01 khi so sánh giữa T 0 và T 18 ; giữa T 18 và T 36
Sự thay đổi về tỷ lệ thiếu máu thông qua chỉ số Hemoglobin
Bảng 2 và Hình 1 cho thấy tại thời điểm T36, tỷ lệ thiếu máu (Hb < 120 g/l) của hai
nhóm can thiệp và chứng có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Kết
quả này cũng tương tự như tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (To) của nghiên cứu
can thiệp Hiệu quả Sau 18 tháng can thiệp, tại thời điểm T18, nhóm can thiệp có tỷ
lệ thiếu máu thấp hơn có YNTK so với nhóm chứng (p < 0,01)
Trang 13Trong nhóm can thiệp, tỷ lệ thiếu máu (Hb < 120 g/l) thay đổi đáng kể tại 3 thời
điểm khác nhau (p < 0,05) Tại thời điểm T18, tỷ lệ thiếu máu giảm xuống một cách rõ rệt so với thời điểm ban đầu (T0) với p < 0,05 Nh−ng sau 18 tháng dừng can thiệp, cũng trên nhóm can thiệp, tỷ lệ thiếu máu lại tăng lên đáng kể (xấp xỉ bằng lúc thời điểm T0) so với T18 (p < 0,05) Còn tỷ lệ thiếu máu tại hai thời điểm
Hình 1 Sự thay đổi về tỷ lệ thiếu máu (Hb < 120 g/l) của hai nhóm tại 3 thời
điểm T0, T18, T36
Sự thay đổi về tỷ lệ thiếu hụt dự trữ sắt thông qua chỉ số serum ferritin:
Bảng 2 và Hình 2 cũng cho thấy, tại thời điểm T18, nhóm can thiệp có tỷ lệ hụt giảm dự trữ sắt thấp hơn có YNTK so với nhóm chứng (p < 0,01) Nh−ng tại thời
điểm T36 tỷ lệ thiếu hụt dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trang 14Trong khi đó tỷ lệ hụt giảm dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) của những đối t−ợng trong nhóm can thiệp thay đổi đáng kể tại 3 thời điểm khác nhau, sự khác biệt đó có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 giữa T0 và T18, giữa T18 và T36 Trong nhóm chứng tỷ hụt giảm dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 3 thời
điểm T0, T18, T36 (p > 0,05)
5.1
17.3 21.4
Hình 2 Tỷ lệ (%) thiếu hụt dự trữ sắt (SF < 12 mcg/l) của hai nhóm tại 3 thời
điểm T0, T18, T36
Sự thay đổi về tỷ lệ cạn kiệt dự trữ sắt thông qua chỉ số Transferrin- Receptor:
Bảng 2 và Hình 3 cho thấy, tại thời điểm T0 và T36, tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt (TfR≥8,5 mg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng có sự khác biệt, nh−ng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nh−ng tại thời điểm T18, tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt (TfR ≥ 8,5 mg/l) ở đối t−ợng trong nhóm can thiệp thấp hơn có YNTK so với nhóm chứng (p < 0,05)
Trong khi đó tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt (TfR ≥ 8,5 mg/l) của những đối t−ợng trong nhóm can thiệp thay đổi đáng kể tại 3 thời điểm khác nhau, sự khác biệt đó có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 giữa T0 và T18, giữa T18 và T36
Trong khi đó ở nhóm chứng, cũng có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về
tỷ lệ cạn kiện dự trữ sắt giữa 3 thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)