1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài tìm hiểu sự ra Đời nguồn gốc của các từ mới Được giới trẻ Ưu dùng trong tiếng việt hiện nay

16 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu sự ra đời/ nguồn gốc của các từ mới được giới trẻ ưu dùng trong tiếng Việt hiện nay
Tác giả Đinh Thùy Trang, Ngô Văn Nguyện, Trần Bình Sơn, Lê Đạt Thái Thành, Lê Thị Ngoan, Nguyễn Nhật Thiên, Đồng Thị Hà Vy, Bùi Thị Hương Sen, Hoàng Huyền Minh, Nguyễn Thị Nhật Minh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ - ĐHQGHN
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 125,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn lựa đề tài Là một trong số những Gen Z hiện nay, chúng em hiểu được phần nào những sáng tạo ngôn ngữ tiếng Việt của giới trẻ.. Từ mới “Từ mới là các từ ngữ mới xuất hiện tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐHQGHN

BỘ MÔN NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

-BÀI TẬP NHÓM MÔN NHẬP MÔN VIỆT NGỮ LỚP 11 Học kì 2 năm học 2021-2022

Đề tài: Tìm hiểu sự ra đời/ nguồn gốc của các từ mới được giới trẻ ưu dùng

trong tiếng Việt hiện nay

Danh sách nhóm 6

10 21041527 21J8 Nguyễn Thị Nhật Minh

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn lựa đề tài

Là một trong số những Gen Z hiện nay, chúng em hiểu được phần nào những sáng tạo ngôn ngữ tiếng Việt của giới trẻ Ngoài ra, vì muốn tìm kiếm sự mới mẻ

ở chủ đề ngoài sách giáo trình và sự hứng thú khi tìm hiểu các từ mới, từ lóng do chính thế hệ chúng em tạo ra nên chúng em quyết định nghiên cứu đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Tuy thuộc lớp trẻ nhưng chúng em chưa hoàn toàn biết nguồn gốc thực sự

của những từ mới, từ lóng được ưu dùng hiện nay xuất phát từ đâu và chúng em đắn đo rằng: Liệu những từ được xem là “mới” có thật sự phù hợp và ảnh hưởng của nó như thế nào đối với sự giàu đẹp chung của tiếng Việt

3 Phương pháp nghiên cứu

- Đọc tư liệu, nghiên cứu tài liệu trên mạng xã hội và vận dụng trải nghiệm

của bản thân

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Từ mới, từ lóng được giới trẻ ưu dùng hiện nay.

- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn gốc của các từ mới, từ lóng giới trẻ ưu dùng

hiện nay

Trang 4

NỘI DUNG I.KHÁI QUÁT CHUNG

1 Từ mới

“Từ mới là các từ ngữ mới xuất hiện trong một ngôn ngữ, thường để bù đắp

những thiếu hụt, không thỏa mã, không phù hợp với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng trong đời sống và thế giới con người Đôi khi, chúng cũng xuất hiện một phần bởi mốt trong cách định danh, muốn dành cho sự vật một tên gọi

mới hơn dù nó đã có tên gọi rồi.” – theo giáo trình Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt

Có hai con đường cơ bản làm xuất hiện một tên gọi mới:

- dùng những yếu tố, chất liệu và quy tắc sẵn có trong ngôn ngữ dân độc của mình

- vay mượn từ nước ngoài

Khi một từ vừa mới xuất hiện, chưa có nhiều người trong phạm vi toàn xã hội biết đến, trong phạm vi giao tiếp hẹp nào đó, vì thế nó thuộc lớp từ ngữ tiêu cực

Trang 5

(tần suất sử dụng ít) Nhưng theo thời gian, một từ mới có khả năng chuyển từ lớp từ tiêu cực sang lớp từ tích cực (sử dụng phổ biến và rộng rãi hơn).

2 Từ lóng

Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn

ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, bởi một nhóm người Tiếng lóng ban đầu xuất hiện nhằm mục đích che giấu ý nghĩa diễn đạt theo quy ước chỉ những người nhất định mới hiểu Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát ra mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng

Tiếng lóng xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa

muốn truyền tải là gì Mỗi nhóm người trong xã hội đều có hệ thống tiếng lóng riêng

Do đó, mỗi người cần biết cách sử dụng tiếng lóng một cách phù hợp và tránh hiện tượng lạm dụng quá nhiều

Từ mới giới trẻ ưu dùng hay tiếng lóng giới trẻ là sản phẩm ngôn ngữ đặc thù do giới trẻ tạo ra, có phạm vi sử dụng chủ yếu trong nội bộ giới trẻ, mang màu sắc ngữ nghĩa độc đáo thể hiện bản sắc nhóm giới trẻ

II NGUỒN GỐC

Như đã giới thiệu ở phần I, chúng ta có thể phân loại nguồn gốc các từ mới của

giới trẻ Việt Nam dựa trên hai con đường cơ bản: sự vay mượn từ nước ngoài và biến đổi từ những đơn vị có sẵn của Tiếng Việt Ngoài ra, còn có những sáng tạo

từ mới bằng cách kết hợp các yếu tố khác nhau

1 VAY MƯỢN TỪ NƯỚC NGOÀI

Trang 6

Toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời sống

và ngôn ngữ không nằm ngoài phạm vi ấy Các cộng đồng khác nhau cần có một

mã ngôn ngữ chung để giao tiếp Chính quá trình sử dụng này đã tác động ngược trở lại ngôn ngữ của các cộng đồng Hiện tượng vay mượn vì thế hình thành Mặt khác, sự ra đời của hàng loạt khái niệm mới cũng cần được định danh Một trong những cách nhanh chóng và hiệu quả nhất là vay mượn từ của dân tộc khác Mặc dù số lượng những từ mới lớp này rất ít, nhưng chúng lại có tần số xuất hiện lớn, góp phần quan trọng trong việc tạo nên màu sắc sinh động cho từ giới trẻ

1.1 Lớp từ mới gốc Hán

Quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán đã để lại trong tiếng Việt một số lượng lớn từ vay mượn gốc Hán Các từ gốc Hán khi đi vào tiếng Việt đã được Việt hóa

về âm đọc cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt Đó gọi là cách đọc Hán – Việt Cách đọc này đã được hoàn thiện từ khoảng thế kỉ X – XI và được sử

dụng ổn định cho đến nay Với sự phát triển vượt bậc của phim điện ảnh Trung Quốc, các bạn trẻ ngày càng ưu chuộng phim Trung và có cách bắt chước nhại theo cách đọc của những diễn viên người Trung nhưng Việt hóa chúng

Ví dụ: “Soái ca” xuất phát từ tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc, dùng để nói

về những anh chàng đẹp trai, lãng tử, hào hoa, phong nhã, giỏi giang, có thể xử

lý tất cả rắc rối trong cuộc sống, yêu thương và che chở các cô gái có tính cách yếu đuối, không nổi bật Chính vì định nghĩa hoàn hảo như vậy, từ này được phái

đẹp sử dụng khi nhắc đến chàng trai trong mơ Hay “chân mệnh thiên tử”, “bạch

mã hoàng tử”…

Trang 7

1.2 Lớp từ mới gốc Ấn – Âu

Lớp từ này chủ yếu có nguồn gốc từ tiếng Pháp và tiếng Anh (xuất hiện khá

nhiều ở dạng phiên âm hoặc nguyên ngữ), chiếm tỉ lệ khoảng 12% Giới trẻ khá

ưu dùng việc mượn từ tiếng Anh vì hiện nay tiếng Anh được sử dụng phổ biến như một ngôn ngữ quốc tế trên toàn thế giới, việc dạy học và sử dụng tiếng Anh cũng đang rất phổ biến ở Việt Nam Họ có xu hướng sử dụng từ vay mượn Anh ở dạng nguyên ngữ

Ví dụ: “Ex” là một từ xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện mạng xã hội.

Nó được rút gọn từ “ex-boyfriend” hoặc “ex-girlfriend”, dùng để chỉ người yêu

Ngoài cách dùng từ nguyên ngữ thì người ta còn phiên âm những từ thông dụng

Ví dụ1: “ Bóc phốt” cũng là một từ lóng thịnh hành trong giới trẻ Chữ

"phốt" có nguồn gốc từ chữ "faute" trong tiếng Pháp, có nghĩa là “lỗi”, tương đương với "fault" trong tiếng Anh (bản thân từ "fault" trong tiếng Anh hiện đại cũng bắt nguồn từ "faute" của tiếng Pháp thượng cổ - khoảng từ thế kỷ 8 đến thế

kỷ 14)

Về nghĩa đen, theo từ điển tiếng Việt thì “phốt” có nghĩa là “hố phân” hoặc còn được gọi là “bể phốt” (hầm tự hoại, chứa chất thải hữu cơ) Bể phốt cũng là

từ vay mượn tiếng Pháp, nhưng chữ gốc của nó là "fosse" (cái hố) trong “fosse septique”. 

Trang 8

Bể “phốt” là nơi chứa đựng chất thải của con người bao gồm chất thải của

quá trình tiêu hóa thức ăn thành công và chất thải trong sinh hoạt Nó được biết

đến là bẩn thỉu và bốc mùi, như vậy “phốt” là không “sạch sẽ”.

Hiểu theo nghĩa bóng, “phốt” theo giới trẻ ngày nay là mặt tối hoặc những

bí mật của một ai đó, dù đã được giấu kín nhưng vẫn bị phanh phui và rêu rao khắp mọi nơi, đặc biệt là trên mạng xã hội

Ví dụ2: Cụm từ “Ờ mây zing gút chóp em” là phiên âm nhại theo lời khen

“Amazing! Good Job Em - Thật tuyệt vời, làm tốt lắm em” của Huấn luyện viên

Binz trong series chương trình game show Rap Việt 2020 Sau đó, cụm từ này được nhiều bạn trẻ sử dụng như một lời khen ngợi mang tính hài hước đối với một người, sự vật hoặc sự việc nào đó

Bên cạnh đó, tiếng lóng của giới trẻ còn có thêm một hình thức sử dụng là viết

tắt như FB ( Facebook), IG (Instagram),

Các từ ngữ thuộc lớp từ lóng có tính chất lâm thời, chúng là một hiện tượng

ký sinh vào vốn từ tiếng Việt Xuất hiện và mất đi, thay đổi thường xuyên, không ngừng Bằng chứng là rất nhiều tiếng bồi trước đây rất hay được sử dụng thì nay

đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Có thể

kể đến các trường hợp sử dụng từ ngữ lóng theo kiểu tiếng bồi như: No four

go (vô tư đi), know die now (biết chết liền), ugly tiger (xấu hổ), like is afternoon (thích thì chiều),

2 BIẾN ĐỔI TỪ NHỮNG ĐƠN VỊ CÓ SẴN TRONG TIẾNG VIỆT

Trang 9

Đây là cách thức tạo từ phổ biến của giới trẻ Trên cơ sở từ ngữ có sẵn của

tiếng Việt, giới trẻ đã biến đổi chúng theo nhiều cách (ngữ âm, ngữ nghĩa, phạm

vi sử dụng) để có những từ ngữ riêng của nhóm mình Tiếng lóng giới trẻ thuộc nhóm này chính là hiện tượng biến âm, biến nghĩa của từ vựng toàn dân

2.1 Biến đổi âm đầu, ngữ nguyên phần vần

Sự biến đổi ngữ âm này không phải xuất hiện trên mỗi thành tố của từ, mà đôi khi chỉ là một bộ phận nào đó

V í dụ : Sự biến đổi âm đầu /ʈ/ thành âm /z/

“Con trai” /kɔn1 ʈai1/  “Con zai” /kɔn1 zai1/ ; “trời” /ʈɤi2/  “giời” /zɤi2/

Cơ sở của quá trình biến âm này là đặc điểm phương ngữ Bắc Bộ Tuy cùng một kiểu ghi âm /z/, nhưng lại có tới hai biến thể chữ viết khác nhau, một bên thuần Việt (gi), một bên lại vay mượn con chữ của tiếng nước ngoài (z)

2.2 Biến đổi phần vần, ngữ nguyên âm đầu

Ví dụ: khum (không), tình iu, tềnh iêu (tình yêu), túm lại (tóm lại), bí kíp (bí

quyết), đi mò ( đi mà), toẹt vời ( tuyệt vời),

“Không” được đọc chệch thành “khum” Theo một số quan điểm, cách nói

này giúp cho sắc thái của sự phủ định được giảm bớt, hay cách nói giảm nói tránh trong tiếng Việt

“Không” còn là một trong những từ vựng biến hóa nhất trong “ngôn ngữ teen” Vào những năm 2000, khi điện thoại 12 phím bấm bắt đầu phổ biến ở

Việt Nam, người trẻ hình thành thói quen trò chuyện qua tin nhắn điện thoại Vì

giới hạn ký tự tin nhắn, không được viết tắt thành “ko”, “0”, “hok” hoặc “k”.

Trang 10

Tua nhanh thêm nhiều năm, “không” khoác lên mình một lớp áo mới:

“hông”, “hơm” hoặc “hem” Cách phát âm “không” thành “hông” vốn là cách nói phổ biến của người dân Nam Bộ (theo từ điển Từ ngữ Nam Bộ) Nhiều người thấy rằng hông nghe rất dễ thương nên lập tức bỏ túi từ vựng.

 “Khum” chỉ là một trong những sản phẩm của nền văn minh hiện đại, của

sự hội nhập giữa các vùng miền

2.3 Biến đổi thanh điệu

Các bạn trẻ biến đổi các thanh điệu trong từ nhằm mục đích chủ yếu để tăng

sức biểu cảm cho sự diễn đạt Ví dụ như: “Hổng thích đau!” tức là “Không thích đâu!” hay “Hổng cõ nhỡ!” tức là “Không có nhớ!” Việc biến đổi thanh

điệu này mang xu hướng giọng đọc nặng của người dân miền Trung và có phần đáng yêu, duyên dáng hơn khi trò chuyện Đồng thời nó cũng khiến cuộc trò chuyện trở nên thú vị và hài hước hơn, mang lại niềm vui cho người nghe và người nói

2.4 Thêm âm

Khi trào lưu chế ảnh “chú chó cheems” xuất hiện, người dùng mạng thường

thêm âm /m/ vào một từ bất kỳ rồi biến đổi các yếu tố khác để nghe hài hước

hơn Ví dụ như “chúa hề” được đọc thành “chmúa hmề”, hay “em đẹp lắm” được thêm mắm muối thành “ênm đệnp léăm”.

3 SỰ KẾT HỢP NGẪU NHIÊN CỦA NHIỀU YẾU TỐ

Ví dụ điển hình nhất minh họa cho cách cấu nên từ mới là cụm “u là trời”.

Trang 11

“úi trời” → khi gõ tiếng Việt theo kiểu Telex, sau ghi gõ xong chữ “ui” để thêm dấu sắc sẽ cần gõ kí tự “s”, nhưng do lỗi gõ chữ sẽ thành “uis” Giới trẻ tách “uis” thành “u” và “is” mà “is” trong tiếng Anh nghĩa là “là” → kết quả nhận được cuối cùng là “u là trời”.

III TÁC ĐỘNG

1 Tích cực

Trước tiên có thể nhắc tới đó là sự tiện lợi mà nhóm ngôn ngữ này mang lại.

Trong xã hội mà mạng xã hội chiếm ưu thế như hiện nay, nhu cầu sử dụng thông tin liên lạc điện tử cao lượng thông tin cần truyền tải đương nhiên cũng có phần nhiều hơn so với thời điểm trước, chính vì vậy, sự đơn giản hóa mà giới trẻ tạo ra trong nhóm ngôn ngữ ấy được sử dụng khá triệt để, vậy nên tốc độ truyền tin của nhóm ngôn ngữ này có thể nói là rất cao, vô cùng tiết kiệm thời gian. 

Thứ hai, những nhóm từ do giới trẻ tạo ra này cũng mang tính biểu cảm, phần nhiều mang tính hài hước, dí dỏm, sinh động cao, lại có tính sáng tạo vậy nên có thể dễ dàng biểu lộ được cảm xúc, trạng thái của người nói chỉ thông qua văn bản chứ không cần phải gặp mặt trực tiếp cũng như làm cho hoạt động giao tiếp phong phú hơn Người đọc sẽ dễ dàng cảm nhận được cảm xúc, tâm trạng thông qua những dòng chữ như đang trong một cuộc trò chuyện suồng sã đời thường.  Một phần nữa đó là việc sử dụng ngôn ngữ giới trẻ cũng giúp các bạn trẻ có phần được tiếp cận với các ngôn ngữ nước ngoài, học tốt ngoại ngữ hơn hay có thể bổ trợ giúp họ nhớ từ vựng lâu hơn khi học tiếng Tuy vậy, đây chỉ là một

Trang 12

2 Tiêu cực

Việc sử dụng tiếng lóng quá mức gây nên sự lạm dụng các yếu tố ngoại ngữ,

khẩu ngữ, cách diễn đạt để gây “ấn tượng”, “giật gân” Thậm chí những sáng tạo này còn được các phương tiện truyền thông “tiếp sức” một cách mạnh mẽ và

đẩy thành một trào lưu mới Nhiều nhà quảng cáo đã sáng tạo ra những kết hợp

kiểu biến danh từ thành tính từ chưa có trong từ điển Điển hình như: “cảm giác thật là yomost” hay “phong cách xì - teen” Ý thức, trách nhiệm giữ gìn sự trong

sáng của tiếng Việt của một bộ phận nhân dân đang xuống cấp Xu hướng lai căng, vọng ngoại đang sôi nổi

Giới trẻ hiện nay thiếu hụt tri thức cơ bản về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Đời sống hiện đại khiến cho con người thiếu quan tâm đến ngôn ngữ giao tiếp Họ thích nói ngắn gọn Từ đó dẫn đến việc dùng sai tiếng Việt cả về từ ngữ lẫn ngữ pháp Một thực trạng dễ thấy là lời nói của giới trẻ ngày càng khô khan do vốn từ nghèo nàn.Việc sáng tạo ngôn ngữ không dựa trên các nguyên tắc

khoa học và hoàn cảnh giao tiếp khiến cho ngôn ngữ tuổi “teen” rắc rối, khó hiểu, hoặc vô nghĩa Sự thiếu tích cực và “chậm chân” của công tác nghiên cứu,

phản ánh về ngôn ngữ của các chuyên gia trước thực trạng xã hội khiến cho hiện tượng này leo thang Chữ viết vốn là một công cụ để ghi lại ngôn ngữ Vì thế những biểu hiện lệch lạc trong ngôn ngữ nói lâu dần sẽ được phản ánh trong ngôn ngữ viết Với những dữ kiện như trên hẳn sẽ không còn là điều ngạc nhiên nữa Bên cạnh những nét độc đáo, những sáng tạo đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần có sự can thiệp, chấn chỉnh kịp thời để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

Trang 13

 Những ngữ ‘trẻ” được ứng dụng trong phạm vi hẹp và trong những hoàn cảnh nhất định nên thời gian tồn tại ngắn, phụ thuộc, dao động bởi nhiều yếu tố

Một trong những yếu tố ảnh hưởng nhất là sự phổ biến hay “độ hot trend” Trong thời kì đầu mới nổi, chúng ta có thể bắt gặp những từ “bắt trend” này ở

bất cứ đâu trên các trang mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau, hai trong số

đó là hài hước và châm biếm nhẹ nhàng Nhưng sau dần, tần suất xuất hiện ít hơn

và rải rác ở từng đối tượng Bên cạnh đó một yếu tố cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại của các phương ngữ này là tính tích cực hay tiêu cực Những từ tiêu cực, có ý nghĩa và cấu tạo nên từ quá khó hiểu hoặc hiểu không rõ ràng, xuất hiện trong cách nói mỉa mai, châm biếm hoặc thô tục, thô thiển như chửi thề, phạm vào thuần phong mỹ tục, đạo đức, sự trong sáng của tiếng Việt sẽ xuất hiện rất ít trong một nhóm nhỏ đối tượng hoặc sẽ bị lãng quên. 

KẾT LUẬN

Trang 14

càng lan rộng và gia tăng không ngừng, thuận theo sự phát triển của truyền thông

và xã hội Thông qua toàn bài ta cũng có thể nhận thấy được tầm ảnh hưởng quan trọng của nó trong cuộc sống của giới trẻ Nó giống như một công cụ góp phần vào sự đa dạng hóa trong giao tiếp của họ, và dần dần trở thành một thói quen

trong giao tiếp, hội thoại Có thể thấy, việc dùng ngôn ngữ “tự chế” như sử dụng

dao hai lưỡi Nó có thể mang lại hiệu quả nhất định trong thời gian ngắn, trong bối cảnh và nhóm xã hội nhất định, nhưng cũng có thể mang đến tác hại lâu dài Vấn đề văn hóa ngôn ngữ và giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho thế hệ trẻ nhất là cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay trở thành vấn đề cấp bách, cần

sự chung tay của các lực lượng xã hội, trong đó, việc giáo dục, định hướng học sinh về sử dụng ngôn ngữ, cách thức giao tiếp, ứng xử là trách nhiệm của nhà trường và phụ huynh Triển khai qua các giờ học chính khóa hay như ở môn Ngữ văn, học sinh được rèn cách sử dụng câu chữ, cách viết đúng chính tả, ngữ pháp… Qua các giờ học, giáo viên đều quan tâm uốn nắn cách diễn đạt của học sinh; khơi gợi cho học sinh niềm tự hào đối với tiếng Việt, giúp các em có ý thức giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc Với sự phát triển của xã hội hiện đại, nhà trường cần quan tâm giáo dục, hướng dẫn kỹ hơn cho học sinh về cách thức trao đổi, ứng xử trên môi trường mạng xã hội Đặc biệt, nhấn mạnh vai trò nêu gương của nhà giáo trong việc thực hiện quy tắc ứng xử văn minh, thanh lịch ngay từ lời nói để học trò noi theo Còn phụ huynh thì cần tăng cường quản lý, giám sát và rèn dũa con mình ở nhà nhiều hơn Sử dụng hay không sử dụng ngôn

ngữ “tự chế”, sử dụng thế nào, đó là điều giới trẻ, nhất là học sinh, sinh viên nên cân nhắc; tránh tình trạng ngôn ngữ “tự chế” xâm nhập vào học đường Bản thân

Ngày đăng: 10/05/2025, 22:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w