BÀI GIẢNG CHÍNH TRỊ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Trang 2NỘI DUNG
BÀI 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHÍNH TRỊ HỌC
BÀI 2 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ
BÀI 8 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
BÀI 9 CHÍNH TRỊ VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
BÀI 10 THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ĐƯƠNG ĐẠI
Trang 31.1 Khái niệm chính trị và chính trị
học
Trang 41.1.1 Khái niệm chính trị
TỪ NGUYÊN
Hy Lạp cổ đại
POLIS POLITEA (HIẾN PHÁP)
POLITES (CÔNG DÂN) POLITICOS (NGƯỜI HĐ NHÀ NƯỚC)
POLITIKA (CHÍNH TRỊ)
Những công việc nhà nước hay
những công việc xã hội
Trang 5“Chính trị”: làm cho việc cai trị được ngay thẳng, chính tắc
Thuật ngữ "chính trị" có điểm đáng chú ý sau: chính trị trước hết hàm chỉ những hoạt động liên quan tới việc tổ chức đời sống cộng đồng, tới nhà nước, tới việc cai trị (quan hệ giữa người cai trị và bị trị)
Trang 61.1.1 Khái niệm chính trị
Định nghĩa chính trị
Một số quan niệm ngoài Mác - xít:
Platon: “Republic - Nền Cộng hòa”: Chính trị là
công việc nhà nước, công việc xã hội
Arixtot: “Politic - chính trị”: Chính trị là nghệ thuật
cai trị; Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học tổ chức xã hội.
Khổng Tử: “Luận ngữ”: Chính trị là sự sắp đặt, lo
liệu, quản lý để xã hội có kỷ cương, nề nếp.
Tôn Trung Sơn: “Chủ nghĩa tam dân”: Chính trị là
quản lý công việc của dân chúng
M Weber: Chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực
Harold Lasswell: “Politics”: Chính trị là sự tìm kiếm
giải pháp để thực hiện phân phối các lợi ích
Trang 7Lợi ích, là quan hệ lợi ích giữa các giai cấp
Sự tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nước Việc tổ chức chính quyển nhà nước
Biểu hiện tập trung của kinh tếVừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Trang 8Định nghĩa
- Bách khoa toàn thư triết học: “Chính trị
là những công việc nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước”
- Tập bài giảng Chính trị học: “chính trị là
mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung ở quyền lực nhà nước”
Trang 9(2) Nhà nước là bộ phận trung tâm của chính trị: cái căn bản của chính trị là tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước
(3) Chính trị (với tư cách là quan hệ hiện thực và hệ tư tưởng) đều được xác định bởi các quá trình kinh tế Xét đến cùng lợi ích kinh tế chính là nguyên nhân xã hội của các hoạt động
chính trị.
(4) Chính trị là lĩnh vực phức tạp: nhạy cảm (“tác động đến
hàng triệu người”), phức tạp (“vừa là khoa học vửa là nghệ
thuật”)
(5) Chính trị “vừa là khoa học vừa là nghệ thuật: i/ khoa học -
có tri thức chính trị = nắm và vận dụng quy luật của đời sống chính trị; ii/ Nghệ thuật - có kinh nghiệm, trải nghiệm, nhạy
cảm chính trị
Trang 101.1.1 Khái niệm chính trị
Lợi ích chính trị
Tổ chức chính trị Hoạt động chính trị
Ý thức chính trị Quan hệ chính trị
Hệ thống chính trị
Chính sách Quá trình chính trị
Cấu trúc của chính trị:
Phương án 1 Phương án 2
Trang 111.1.1 Khái niệm chính trị
Chức năng của chính trị:
(1) Tổ chức, quản lý, điều tiết các quá trình xã hội
(2) Thể hiện, kiểm soát, phân bổ quan hệ lợi ích của các giai cấp, nhóm, tầng lớp xã hội.
(3) Đảm bảo tính chỉnh thể, sự ổn định và trật tự của hệ thống xã hội.
(4) Xã hội hoá cá nhân, hình thành tính tích cực xã hội, tính chủ động của công dân Đảm bảo sự phát triển của
xã hội và con người
(5) Điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc, giữa con người với tự nhiên.
Trang 12Mối quan hệ của chính trị với một số lĩnh vực
của đời sống xã hội
Trang 13thứ 2 - chính trị học là khoa học về quyền lực.
Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị như một chỉnh thể, lấy quyền lực chính trị làm phạm trù trung tâm, nhằm nhận thức và vận dụng những quy luật và tính quy luật chung nhất chi phối
sự vận đông và biến đổi của lĩnh vực chính trị.
Trang 14- Những tác phẩm về chính trị như là lĩnh vực chuyên biệt xuất hiện vào khoảng 2500 năm trước tại Hy Lạp và phương Đông
- Nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX
- Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 (1945)
Trang 15Sơ lược về nguồn gốc và quá trình
hình thành của chính trị học:
Yếu tố quyết định
sự phát triển của chính trị học
Nhu cầu phát triển của tri thức khoa học
và khoa học chính trị
Trang 161.2 Đối tượng và chức năng của chính trị học
1.2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của chính trị học
Đối tượng nghiên cứu của chính trị học: nghiên cứu những
quy luật, tính quy luật của xã hội với những phạm vi chủ yếu sau: hoạt động của nhà nước và các cơ quan nhà nước, của các đảng chính trị, các tổ chức chính trị và xã hội, quan hệ
chính trị đối ngoại, hệ tư tưởng chính trị và các phong trào
chính trị, hành vi và ý thức chính trị của con người cùng với
sự tham gia của họ trong đời sống chính trị, nghiên cứu và dự
báo các hiện tượng và quá trình chính trị Tóm lại, đối tượng
nghiên cứu của chính trị học là nghiên cứu tính quy luật, quy luật của sự hình thành, hoạt động và phát triển của quyền lực chính trị, nghiên cứu sự tác động qua lại và
đặc trưng của những biểu hiện của quyền lực chính trị
trong các hệ thống, các chủ thể và các cơ chế chính trị
khác nhau.
Tuy nhiên việc xác định đối tượng nghiên cứu của chính trị
học có thể có những khác biệt ở các trường phái tuỳ thuộc
cách tiếp cận, chẳng hạn, trường phái trường phái Pháp và
Mỹ hướng vào nghiên cứu hoạt động của nhà nước , đặc biệt của chính phủ.
Trang 17Những lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của chính trị
Quản lý các quá trình hoạt động chính trị xã hội
Hệ tư tưởng chính trị và lịch sử tư tưởng chính trị
Trang 191.3 Phương pháp nghiên cứu của chính trị học
Trang 201.3.2 Phương pháp nghiên cứu chính trị học
Phương pháp khoa học:
Định nghĩa: là tổng hợp những cách tiếp
cận và những nguyên tắc, những quy tắc
và những chuẩn mực, những công cụ và những quy trình nhằm thực hiện sự tác
động qua lại của chủ thể nhận thức (nhà khoa học) với khách thể nhận thức (đối
tượng) để giải quyết những nhiệm vụ
nghiên cứu được đặt ra.
Trang 211.3.2 Phương pháp nghiên cứu chính trị học
Cấu trúc:
Phương pháp khoa học
Chủ thể nhận thức:
nhà khoa học
Khách thểnhận thức
Cách tiếp cận, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, công cụ, quy trình, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 22Phương pháp khoa học chính trị
- Định nghĩa: Phương pháp nghiên cứu chính trị là
tổng hợp những cách tiếp cận và những nguyên tắc, những quy tắc và những chuẩn mực, những công cụ
và những thể thức (quy trình) nhằm đảm bảo sự tác động qua lại của chủ thể nhận thức (nhà khoa học) với hiện tượng chính trị để giải quyết những nhiệm vụ
nghiên cứu được đặt ra.
- Phương pháp nói chung và phương pháp nghiên cứu
chính trị học có những chức năng chính sau đây:
(1) Mô tả, thu thập dữ liệu nghiên cứu (thu thập thông tin, bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát trực tiếp)
(2) Tổng hợp, phân tích dữ liệu
(3) Giải thích và dự báo
Trang 23Một số cách phân loại phương pháp nghiên cứu chính trị
Mô hình 1: tác giả Belogurova T.
Phương pháp nghiên cứu chính trịPhương pháp truyền thống Phương pháp công cụ Phương pháp thực nghiệm
PP So sánh
Tiếp cận xã hội
PPTâmlíhọc
Trang 24Một số cách phân loại phương pháp nghiên cứu chính trị
Mô hình 2: tác giả Degtiariev A.
Phương pháp nghiên cứu chính trị
Phương pháp khoa học chung Phương pháp KHXH&NV Phương pháp chuyên biệt
- Sử dụng kỹ thuật computer
Phương pháp lôgic:
Quy nạp, diễn dịch
Phân tích, tổng hợp
Chuẩn đoán, dự báo
Định nghĩa, phân loại
So sánh, đồng nhất
Phương pháp giá trị học-triết học:
Những nguyên tắc thế giới quan
và xác định những tiêu chí giá trị - đánh giá
Trang 25- Hiệu quả: làm tiền đề cho
giải thích, lập giả thuyết
nghiên cứu
-Chỉ rõ, làm rõ mối liên hệ nhân quả, bản chất của hiện tượng, quá trình, diễn tiến của khách thể
- Đặc điểm:
+ Làm rõ đặc trưng, liên hệ chủ yếu, bản chất của sự vật, hiện tượng
+ Kết quả của giải thích phụ thuộc: i/ cơ sở lý thuyết lựa chọn; ii/ khả năng, xu hướng (chủ quan) của người nghiên cứu; iii/ độ chính xác dữ liệu
Trang 26khía cạnh chất lượng của các
hiẹn tượng, quá trình xã hội
- Đặc điểm: chỉ ra các đặc tính,
tính chất của đối tượng và
trình bày nó.
- Yêu cầu: dựa trên i/ lý thuyết;
ii/ kinh nghiệm; iii/ phân tích
khái niệm, phạm trù
-Là tập hợp các quy tắc, thao tác, công cụ, thể thức, kỹ thuật nhằm phân tích xem xét mặt lượng của các hiện tượng, quá trình, các quan hệ xã hội
- Đặc điểm:
+ Sự xâm nhập sâu của toán học + Kết quả là những con số phản ánh đặc trưng cần Nc của đối tượng
+ Hướng đến đo mức độ phản ứng, thái độ, sự thay đổi…
+ Dựa trên biến số trực tiếp và gián tiếp
Trang 271.4 Quan hệ của chính trị học với các môn học của Khoa học Chính trị và các khoa học
xã hội khác
1.4.1 Chính trị học và các môn học của Khoa học Chính trị
Trang 28Mô hình 1: Cấu trúc của Khoa học Chính trị
Trang 29Mô hình 2: Vị trí của chính trị học trong Khoa học Chính trị
Quan niệm 1: Chính trị học = nền tảng của các môn học khác của KHCT
Chính trị học = lý thuyết chung
XHHCT, CTQT, NN&PL, TLHCT,NHCT, ĐCT
Trang 30Mô hình 2: Vị trí của chính trị học trong khoa học chính trị
Quan niệm 2: Chính trị học và triết học chính trị = nền tảng của
các môn học khác của KHCT
Lý thuyết chung
Chính trị học Triết học CT
LSHTCT, NN&PL, HTCTQT, ĐCT, TLHCT, NHCT
Trang 311.4.2 Chính trị học với các khoa học khác (xã hội - nhân văn, khoa học tự nhiên)
Mô hình 3: Quan hệ chính trị học và các khoa học khác
IT/ Điều khiển học
Đạo đức họcTriết học
CHÍNH TRỊ HỌC
Chủ nghĩa duy vật
lịch sử
Trang 321.5 Chính trị học Việt Nam
1.5.1 Khái lược lịch sử hình thành, phát triển của chính trị
học Việt Nam
Ở VN nghiên cứu chính trị có từ sớm, nhưng chính trị học với
tư cách là ngành khoa học độc lập mới xuất hiện vào khoảng thời gian đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Những dữ kiện sau đây giúp chúng ta phần nào lý giải
nguyên nhân của sự “muộn màng” này:
(1) Chính trị học (Khoa học chính trị) ra đời muộn là hiện
tượng phổ biến ở những nước thuộc hệ thống xã hội chủ
nghĩa trước đây: 1983 Ba lan là nước XHCN đầu tiên thừa
nhận ngành chính trị học; Liên Xô – 1985; Ở Nga đến 1993 chính trị học mới được đưa vào giảng dạy ở các trường đại
học, cao đẳng với tư cách là môn chung.
(2) Trước đó ở các nước này trong đó có VN bị chi phối quan niệm rằng: các môn học Mác – Lênin như Triết học, Chủ nghĩa
xã hội khoa học, lịch sử đảng, Kinh tế chính trị đảm đương
nghiên cứu chính trị, vì vậy không cần chính trị học
Trang 331.5 Chính trị học Việt Nam
1.5.2 Đặc điểm, nhiệm vụ chính trị học Việt Nam
* Đặc điểm:
(1) Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng
lý luận và tư tưởng của chính trị học Việt Nam.
(2) Chính trị học Việt Nam phải gắn chặt với thực tiễn chính trị (Lý luận gắn với thực tiễn).
* Nhiệm vụ chính của chính trị học VN:
(1) Về lý luận: xây dựng ngành chính trị học VN đủ sức lý giải, nắm bắt những quy luật vận động của đời sống chính trị đất nước trong những giai đoạn phát triển khác nhau.
(2) Cung cấp cơ sở cho hoạch định đường lối phát triển đất
nước.
(3) Xã hội hóa tri thức chính trị.
(4) Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị, quản lý.
Trang 34THE END
Trang 362.1 Khái lược lịch sử tư tưởng và học
thuyết chính trị trước Mác
2.1.1 Nội dung cơ bản tư tưởng chính trị thời
kỳ cổ đại
Trang 37Các nhà triết học, nhà tư tưởng cổ đại đặc biệt chú ý đến những vấn đề về chính trị, về quyền lực, về nhà nước, về pháp trị,
về sự cai trị… Về vị trí của vấn đề chính trị trong hệ vấn đề triết học thời kỳ cổ đại
Arixtot viết: “nếu lợi ích là mục tiêu cuối cùng của mọi khoa học và nghệ thuật, thì lợi ích cao nhất là mục tiêu ưu tiên chủ yếu nhất của tất cả các khoa học và nhệ thuật là chính trị”(Arixtot, toàn tập, tập 4, M, tr 467)
Những đóng góp chủ yếu của tư tưởng chính trị cổ đại:
Học thuyết về các thể chế chính trị Hylạp-Lamã cổ đại phản ánh trình độ phát triển cao của sự phát triển các hình thức
tự tổ chức của cộng đồng người đạt đến trong thời kỳ cổ đại Các hình thức chung nhất của các thể chế chính trị thời kỳ Hylạp- Lama cổ đại gồm:
Quân chủ và hình thức sai của nó là độc tài Quý tộc……… quả đầu(tập đoàn trị) Cộng hòa……… dân chủ trị
2.1.1 Nội dung cơ bản tư tưởng chính trị thời kỳ cổ đại
a Phương Tây
Trang 38Từ lý luận về các thể chế chính trị đặt ra nhiều vấn đề cơ bản lý thuyết chính trị thời cổ đại, và lý luận chính trị nói chung:
+ Chính trị là phương thức thúc đẩy và thực hiện hoạt động của con người vì lợi ích và vinh quang chung, trong đó có lợi ích cá nhân.
+ Phục vụ lợi ích chung của cộng đồng là cứu cánh của quyền lực chính trị, nghĩa là chính trị phải hướng đến làm cho trong đời sống cộng đồng con người sống được và được sống tốt hơn.
+ Người cai trị - người nắm giữ quyền lực phải là người có phẩm chất đạo đức cao cả, biết chế ngự bản năng và dục vọng cá nhân, bản thân luôn phảI đặt dưới một luân lý nghiêm khắc, và là người phải có tri thức và năng lực tốt nhất Nhà chính trị đích thực phải là người cai trị bằng trí tuệ, bằng sự thuyết phục của lý trí và phẩm cách.
+ Để có được một xã hội, một nền chính trị ổn định quyền lực phải được sự giám sát.
+ Mọi hình thức nhà nước- chế độ chính trị đều chưa đựng trong đó mần mống dẫn đến sự biến chất Cách tốt nhất để chống lại sự biến chất của nhà nước chính là phải rút lấy những cái tốt nhất của các thể chế chính trị để tạo ra một thể chế hỗn hợp, mà ở đó nguyên tắc nền tảng phải là: 1- quyền lực
và lợi ích của công dân là nền tảng, mục đích tối thượng của chế độ; 2- phảI tập hợp được những người có trí tuệ để cầm quyền.
Trang 392.1.1 Nội dung cơ bản tư tưởng chính trị thời kỳ cổ đại
b Phương Đông
* Đặc điểm chung
Khác với xu hướng của các học thuyết chính trị Hylap – Lama cổ đại, trọng tâm học thuyết chính trị phương Đông nhằm kiến giải sự cai trị: quan hệ giữa người
cầm quyền và dân chúng, cụ thể:
- Luận chứng cho quyền lực tuyệt đối của lực lượng cầm quyền qua công thức quan hệ giữa THẾ QUYỀN – THẦN QUYỀN; công thức giới hạn đẳng cấp ĐẲNG CẤP của bộ máy cai trị.
- Tập trung luận giải, phát triển lý thuyết phương
pháp/ phương thức cai trị.
.v.v…
Trang 402.1.2 Tư tưởng chính trị thời kỳ trung cổ
Để hình dung xã hội châu Âu trung cổ nói chung và nền chính trị nói riêng, cần đặc biệt
chú ý những mệnh đề sau đây của các nhà
kinh điểm của chủ nghĩa Mác:
i/ Đặc trưng của xã hội trung cổ gắn liền với sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và
thay thế bằng chế độ bóc lột nông nô(những
người bị bóc lột nặng nề, lệ htuộc hoàn toàn
vào địa chủ và lãnh chúa phong kiến).
ii/ Trong xã hội trung cổ người tiểu nông là nhân vật chủ chốt, điều hành nền kinh tế,
nhưng họ lại là những người bị lệ thuộc về mặt
cá nhân và ngu dốt về trí tuệ.
Trang 412.1.2 Tư tưởng chính trị thời kỳ trung cổ
iii/ Sự thống trị của tôn giáo và nhà thờ là yếu tố đặc trưng của xã hội trung cổ.
+ Sự hùng mạnh của nhà thờ có thể được cắt nghĩa từ những điều chủ yếu sau: 1/ sự tồn tại của giai cấp nông dân đông đảo về số lượng, nhưng “tối tăm về trí tuệ”; 2/ sau sự tan rã của chế độ nô lệ, của chế độ thị tộc trong xã hội xuất hiện đòi hỏi sự thống nhất mới và nhà thờ đóng vại trò đó Từ đó nhà thờ, giáo hội trở thành một tổ chức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu về tinh thần (tín điều của nhà thờ là điểm xuất phát cho mọi tư duy) và chính trị.
+ Sự lệ thuộc của quyền lực chính trị vào quyền lực nhà thờ cần được nhìn nhận từ những căn nguyên sau: 1/ về mặt kinh tế- nhà thờ và giáo hội trở thành chủ sở hữu ruộng đất rất lớn; 2/ về mặt xã hội- sự nhất thể hóa giữa con người công dân với con người tín đồ đã tạo cơ sở xã hội vững chắc cho sự tồn tại và quyền uy của giáo hội; 3/
về mặt văn hóa- thời kỳ trung cổ là một bước thụt lùi so với thời kỳ cổ đại khi tín điều của nhà thờ trở thành điểm xuất phát của mọi suy nghĩ của con người, của toàn xã hội; 4/ về chính trị sự hợp nhất của thiết chế chính trị(thế giới thế tục) và thiết chế tôn giáo(thế giới vô hình), của nhà nước và nhà thờ, của chính trị và giáo hội trên cơ sở sự chi phối của giáo hội Với hai cực tổ chức như vậy trong xã hội trung cổ con người cá nhân bị chói buộc bởi thực tế nghiệt ngã.