1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp dạy ký hiệu ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính

12 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Dạy Ký Hiệu Ngôn Ngữ Cho Trẻ Khiếm Thính
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trinh
Trường học Trung Tâm Nuôi Dạy Trẻ Khuyết Tật Đồng Nai
Chuyên ngành Giáo Dục Đặc Biệt
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2011 - 2012
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 340,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

'Thể nhưng không phải gia đình nảo có trẻ khiếm thính cũng mua được máy trợ thính tốt và tạo điều kiện cho cơn nghe noi tốt được Hơn 90% các em Khiểm thính dang theo học tại Trung tâm N

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VẢ ĐÀO TẠO ĐÓNG NAI TRUNG TAM NUOI DAY TRE KHUYET TAT

MB S62

SANG KIEN KINH NGHIEM

MQT SO BIEN PHAP DAY KY HIEU NGON NGU

CHO TRE KHIEM THINH

Nguoi thuc hién: NGU Tĩnh vực nghiên cửu N THỊ NGỌC TRINH

- Quán lý giáo dục n

- Phương pháp dạy học bộ môn: Ký hiệu ngôn ngữ

- Lĩnh vực khác n

Cả đính kèm:

H Mô hình LH Phần mềm H Phim ảnh Ll Hiện vật khác

Năm học 2011 - 2012

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I | THONG TIN CHUNG VE CA NHAN

1 Ho va tan: NGUYEN THỊ NGỌC TRINH

2 Ngày, tháng, năm sinh : 01- 10- 1977

3 Nam, nữ: Nữ

4 Địa chỉ: A 1/038 Lạc Sơn - Quang Trung - Thống Nhất - Đồng Nai

Š Điện thoại: CQ: 0613954171 ĐTDĐ: 0919307387

7 Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn khối 3,4,5- CPTTT

8 Don vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ Khuyết tật Đồng Nai

Khu phố 3- Tân Bản - Bửu Hòa

Biên Hòa- Đồng Nai

Il TRÌNH ĐỌ ĐÀO TẠO

- Trình độ chuyên nhôn cao nhât: Đại học Sư phạm

~ Chuyên nghành đào tạo: Giáo dục Tiêu học

II KINH NGHIEM KHOA HOC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiêm: Day trẻ khiếm thính

~ Số năm có kinh nghiệm: 13 năm

- Cac sang kién kinh nghiém da co trong 5 nim gan day:

+ Sử dụng giao tiếp tông hợp trong giảng dạy trẻ Khiém thinh

+ Nâng cao hoạt động tô chuyên môn Tiêu học

+ Một số biện pháp rèn đọc chữ Braile cho trẻ Khiém thi

Trang 3

SỐ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Trung tâm Nuôi Dạy trẻ Khuyết tật

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY KÍ HIỆU NGÔN NGỮ

CHO TRE KHIEM THINH

I LY DO CHON DE TAI

Trẻ Khiếm thỉnh là một trong những đổi tượng khó khăn nhất trong giáo dục đặc biệt Do khiếm khuyết về thính giác, trẻ rất khó khăn trong giao tiếp với mọi người xung quanh và phát triển nhận thức của bản thân Nêu để trẻ có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thì việc thiết yếu hảng đầu là phải cung cấp cho trẻ máy trợ

thính phi hop, trễ dược cạn thiệp sóm từ nhỏ, có mỗi trưởng học tập và luyện nghe nói tốt 'Thể nhưng không phải gia đình nảo có trẻ khiếm thính cũng mua được máy

trợ thính tốt và tạo điều kiện cho cơn nghe noi tốt được

Hơn 90% các em Khiểm thính dang theo học tại Trung tâm Nuôi dạy Trẻ

Khuyết tật Đồng Nai là những ơm được sinh ra bởi cha mẹ bình thường nên ngồn

ngữ kí hiệu không phái là ngôn ngữ mẹ đó của các bậc phụ huynh, do không có

kinh nghiệm nên cha mẹ rất lúng túng khi nuôi dạy con cái khiếm thính và phần lớn là không hiểu con cái mình muốn gì? có suy nghĩ như thể nào? Một số íL còn

lại được sinh ra bởi cha mẹ điếc câm thì ngôn ngữ kí hiệu là tiếng mẹ đẻ của họ

Khi đến trường phân lớn các em học sinh khiếm thính đùng ngôn ngữ kí hiệu để sử dụng trong giao tiếp hàng ngày lúc này thì ngồn ngữ kí hiệu được coi là tiếng mẹ

đề của học sinh khiêm thỉnh Một trong các môn đặc thù đang được giảng đạy tại

‘Trung tâm là môn Kí hiệu ngôn ngữ với mục tiêu phát triển vốn kỉ hiệu ngôn ngữ,

giúp học sinh khiểm thính có phương tiện để trao dổi thông tin trong quả trình học

tập và giao tiếp Việc hình thành, phát triển kĩ năng sử dụng kí hiệu ngôn ngữ cho học sinh khiểm thính góp phần xây đựng hệ thẳng kí hiệu của người Điếc Việt

Nam ngày cảng phong pha va hoàn thiên hơn, đó cũng lả một trong những mục

tiêu trong kế hoạch phát triển giáo dục đặc biệt của Trung tâm đã xây dựng và hướng Lới trong nhiều nằm qua

Việc dạy kí hiệu ngôn ngữ làm sao cho học sinh khiểm thính tiếp thu được

kí hiệu, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ kỉ hiệu và cách ứng dụng ngôn ngữ kí hiệu vao cuộc sống là vị ấn để hiện nay của Trung tâm Nuôi đạy Trẻ Khuyế ết tật nói Tiêng Và Các cơ sở chuyên biệt nói chung đang gặp phải những khó khăn nhất đị Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Kí hiệu ngôn ngữ của bản thân, tôi xin được

trao đổi cùng các đồng nghiệp về “Một số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho học

sinh Khiếm thính” với mơng muốn nâng cao chất lượng dạy học về bô môn kí hiệu ngôn ngữ nhằm giúp giáo viên vả học sinh thực hiện kỉ hiểu ngôn ngữ tốt hơn

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẺ TÀI

1 Cơ sở lý luận

Trang 4

Tí hiệu ngôn ngữ là quy ước về ÿ nghĩa của sy val, su việc thông, qua ban tay Sử dung thi giác để hiểu nội dung giao tiếp Đây là hình thức giao tiếp thuận

lại và hiệu quả nhất đối với người khiếm thính

Quy tắc biểu đạt kí hiệu

- Str dung cả hai tay và ngón tay

-_ Hướng của bản tay vê phía trước

-_ Chuyến động của tay phía trước bung, trong khoảng không gian quy định

-_ Tay, ngón tay chuyển động theo các hướng : lên, xuống, trong, ngoài, tron

theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại

Hiện nay hầu hết những người khiểm thỉnh ở Việt Nam nói chung và ở Đồng Nai nói nêng đều sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để giao tiếp với nhau Chỉ có

mội ít người khiểm thỉnh sử dụng ngôn ngữ nói, lí do là số người khiếm thính này

bị điếc nhẹ có khả năng sử dựng lời nói hoặc không có dịp tiếp xúc với những

Ngôn ngữ kí hiệu được cộng đông Tgười điếc sử dụng rong rãi Đây là thứ

ngôn ngữ sử dụng hình dạng của bàn tay, chuyển động của cơ thể, cử chỉ điệu bộ

VÀ sự thể hiện trên khuôn mặt để trao đối với nhau, nói lên những suy nghĩ, nhu

cầu và cảm xúc Cũng như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ kỉ hiệu lả một ngôn ngữ thực

sự hay còn gọi là tiếng mẹ đẻ của người điếc, có ngữ pháp riêng và cầu trúc riêng, giữa ngôn ngữ nói vả ngôn ngữ kí hiệu tuy cả hai đều quy về Tiếng Việt chung

nhưng lại có sự khác biệt nhau rất rũ rệt về trật tự từ của câu

Ví dụ: Ngôn ngữ nói: Tôi ăn hai quả táo

Ngôn ngữ kí hiểu: Tôi/ quá táo/ n/ hai

Từ vựng: Như tất cả ngôn ngữ thông thường, đễ học tốt kí hiệu ngôn

ngữ trước liên phải học và nhớ các Lừ, ở Trẻ khiếm thỉnh học từ vựng ngôn ngữ kỉ hiệu để dàng hơn nếu trẻ được nhìn thay trực tiếp Do vay cần rèn thêm cho trẻ các

kĩ năng phát huy trí ưởng lượng, kết hợp tay, thân thể, nét mặt và khẩu hình (vừa

lâm ki hiệu vừa nói) Nhờ có thực hành nên trẻ có thé học và sử dụng ngôn ngữ kí

hiệu không mấy khó khăn

Nếu những trẻ nghe được binh thường có thế dùng ngôn ngữ lời nói để trao đổi với người nghe bình thường khác thi những trẻ sử dụng ngồn ngữ kí hiệu cũng

có thể giao tiếp với bắt kỳ ai nếu người đó cũng biết ngôn ngữ ký hiệu đó một cách

hoàn chỉnh Không giống ngôn ngữ nói, đối với trẻ Khiểm thính Việt Nam biết

ngôn ngữ kí hiệu thành thạo có thé giao tiếp dược với trẻ Khiểm thính biết kí hiệu đến từ nước khác đễ dàng hơn lá đối với trẻ ngho bình thường đến từ bái nước này khi giao tiếp bằng lời nói với nhau

2 Nội dung, hiện pháp thực hiện các giải pháp

Để có thể thực hiện các yêu cầu vẻ kiển thức và kĩ năng khi dạy phân mén ki

hiệu ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính, tôi có những biện pháp sau:

21 Nắm vững nội dung chương trình, mức dộ yêu cầu và từng đôi tượng học

sinh

, Do không có chương trình, sách giáo khoa cụ thể nên để giúp học sinh khiếm thính rèn luyện kĩ năng học và sử dụng kí hiệu ngôn ngữ, trước tiên chính

4

Trang 5

giáo viên phải xác định và nắm rõ mục tiêu chính của bải học theo chủ đề là gì? Mức độ tiếp thu của từng em như thé nao? Chính chủ đẻ là điểm tựa để học sinh nắm được các kí hiệu có liên quan với nhau, không đi quả xa chủ đề Xác định từng đối tượng học sinh để lập kế hoạch bài giảng cho phù hợp

2.2 Lận dụng lình hoạt các phương pháp và hình thức tô chức dạy học

Với mục tiêu hình thành và phát triển vốn kí hiệu, rèn kĩ năng, giao tiếp bằng

kí hiệu ngôn ngữ cho trẻ Khiếm thính giáo viên cần vận dụng các phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh; chú ý hơn về thực hành giao tiếp, lặp lai, dong vai, tan dung những tình huồng cụ thể đang Xây ra để dạy trẻ sử dụng kí hiệu kết hợp với chữ việt và tiếng nói đồng thời biết phổi hợp linh hoạt các phương pháp dạy học khác Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức day trong một tiết

học: làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, làm việc chung cả lớp

Vi du: day trẻ kí hiệu "con mèo” cân sử dụng bằng kí hiệu, bằng ngôn ngữ nói, bằng chữ viết vả tranh ảnh hay vat that

Giáo viên nắm bắt thực tế về khả ì năng phát triển kí hiệu của từng em để đưa

ra những phương pháp và hình thức hỗ trợ kịp thời Bởi trong môt lớp cỏ thể có

Cũng như các môn học khác, khi dạy môn kí hiéu ngôn ngữ việc chuẩn bi tranh ảnh, đồ dùng dạy học để cho tiết dạy sinh đông hứng thủ cũng không kém phần quan trọng Ngoài ra giáo viên cũng có thé str dung powerpoint đề giúp cho bài dạy của mình có hiệu quả hơn Chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý phủ hợp cho từng đối tượng Các em khá giỏi nêu các câu hỏi tổng quát, đối với các em yêu nên chẻ nhỏ câu hỏi

Ví dụ: Chủ đề thiên nhiên

~ Giáo viên cho học sinh xem một số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, bão )

~ Học sinh nêu các hiên tượng trên bằng các kỉ hiệu tự phát

~ Giáo viên cung cấp Kí hiệu ngôn ngữ thống nhất chung, giải nghĩa từ cho trẻ hiểu sau đó giáo viên cho học sinh lặp lại cá nhân, nhóm, cả lớp về kí hiệu vừa

học

- Giáo viên nêu gợi ý để hoc sinh cùng thảo luận về các hiên tương trên

~ Thông qua hoạt đông trò chơi học sinh được khắc sâu thêm kí hiệu

Trời nắng - Làm đông tác “trời nắng” - “Đội mũ”

“Trời mưa - Làm đông tác "mưa”- " che du’

Trang 6

2.3Một số biện pháp với các dạng bài cụ thể

a Các kí hiệu đầu tiên

Đối với trẻ Khiếm thính việc học những kí hiệu đồ vật gần gũi và người thân

là rất quan trọng đối với trẻ Do đó việc đạy kí hiệu đầu tiên phải chú ý đến những người gần gũi với bé nhất

Ví dụ: ông, ba, ba, me, anh, chị, cô, bạn hoặc những đỗ vật mà trẻ yêu

thích

Biện pháp

Đôi với những người gần gũi với trẻ: ra những dẫu hiệu đơn giản, làm kí hiệu gắn với đối tượng - cung cấp kí hiệu thông nhất kết hợp chữ viết

Ví dụ

- Đối với các đô vật gân gũi, giáo viên chỉ vào đô vật được làm kí hiệu, cung

cap kí hiệu đề giúp trẻ tạo được môi liên hệ giữa đô vật và kí hiệu |

Giáo viên làm kỉ hiệu tên đô vật hoặc người thân quen một vài lân, yêu câu trẻ quan sát tay vả khuôn mặt khi giáo viên làm kí hiệu

Giáo viên quan sát phản ứng của trẻ nêu trẻ không phản ứng giáo viên lặp lại

từ một vải lần, yêu câu trẻ khác nhắc lại, nếu trẻ hiểu | giáo viên tuyên đương trẻ kịp thời Giáo viên khuyến khích vả tạo cơ hội cho trẻ sử dụng các kí hiệu cảng nhiều cảng tốt

b, Đối với các chữ cái ngón tay |

Chit cai ngón tay là hệ thông chữ cái được biêu thị băng các ngón tay đây là một trong , những đạng ngôn ngữ không lời giúp cho trẻ khiêm thính học ngôn ngữ, đặc biệt hỗ trợ trẻ trong giai đoạn đầu giúp trẻ đọc và viết chính xác tiếng Việt

Hệ thống từ điện kí hiệu ngôn ngữ ‹ của trẻ Khiếm thính hiện nay chưa được đầy đủ và thống nhất, do đó khi Trẻ Khiểm thính sử dụng kỉ hiệu có những tiếng

tử chưa có kỉ hiệu chung buộc trẻ phải sử dụng chữ cái ngón tay khi giao tiép hoặc trẻ giải thích kí hiệu như tên riêng của cá nhân, địa danh

Lưu ý vị trí của tay khi sử dụng chữ cái ngón tay:

- Chi ding mét tay (trái hoặc phải)

- Tay dé ngang miéng, lòng bản tay hướng về phía trước

- Chi chuyén đông các ngón tay vả cỗ tay, không chuyển động cả cánh tay

~ VỊ trí của các ngón tay phải chính xác

Biện pháp

Trang 7

Giáo viên dạy trẻ học cách làm kí hiệu các chữ cái, cách đặt vị trí của bàn

tay tiếp đến là cách di chuyển bản tay và cuối cùng làm hình dạng bàn tay Và các ngón tay cho đúng Đề làm được điều nảy đòi hỏi giáo viên phải kiên nhẫn, động

viên khuyến khích trẻ khi trẻ thể hiện

Ví dụ: đánh tên bằng chữ cái ngón tay “TỨ”

e Đổi với các từ chỉ hành động, cảm xúc, mô tả

Biên pháp:

Giáo viên quan sát thông tin trẻ muôn thê hiên qua cử chỉ, điêu bộ, nét mặt, tiệp đên giáo viên cung cap cho trẻ các kí hiệu đê trẻ thê hiện Nhân mạnh va làm

kí hiệu cần học một vải lần, khuyên khích trẻ bắt chước và làm theo Khi trẻ đã học được kỉ hiệu giáo viên khuyến khích trẻ sử dụng thường xuyên qua các hoạt động hàng ngày

Vi du: day từ “vui vé”

~ Giáo viên đỉnh hình các bạn học sinh đang cười đùa vui vẻ

~ Yêu cầu học sinh nêu cách hiểu và biểu đạt từ bằng kí hiệu ngôn ngữ

~ Giáo viên nhận xét, giải nghĩa từ: vui vẻ là thê hiện niêm vui với mọi

người xung quanh, sau đó cung cấp KHNN từ “vui vẻ

~ Yêu cầu học sinh thể hiện lại từ trên

Vi du: day cum từ “ảnh lửa bâp bùng”

Trang 8

- Giáo viên cho trở quan sát mô hình manh họa hoặc cảnh đồng lửa đang

cháy ánh lửa lúc sáng, lúc tôi, lúc nhỏ, lúc to và giải thích cho trẻ hiểu khái niệm

tập bùng,

- Giáo viên cung cấp cách biểu đạt bằng kí hiệu ngôn ngữ và chữ viết Sau

đó yêu cầu học sinh thể hiện lại kí hiệu “bập bùng”

d Đổi với các khái niệm trừu tượng, không cụ thể hoặc từ tượng thanh

Hệ thống ngôn ngữ kí hiệu này thường dược minh họa cho việc giải thích

các khải niệm trừu tượng, không cụ thể vả nhất là tượng thanh do vậy giáo viên cần phẩi gụ thể hóa, hình tượng hóa các khái niệm sau đó dùng dé ding tre quan

(tranh ảnh, vật thật, phim ảnh) hoặc đóng vai Kết hợp dùng lời nói ngôn ngữ kỉ hiệu cử chỉ điệu bộ để giúp các em hiểu khái niệm

Ví dụ: Muốn giải nghĩa cho các em hiểu từ “yêu thương” giáo vién lam cách

sau:

- Ngữ cảnh: cho một học sinh lên làm mẫu, giáo viên vuốt tóc em học sinh

tỏ cử chỉ gần gũi chăm sóc

- Giáo viên làm kí hiểu "yêu thương”

- Giáo viên nói, viết lên bảng hoặc dùng phiếu chữ giới thiệu cho các em từ

“yêu thương”

+ Hoặc có thể dùng bằng tranh ảnh

- Giáo viên có thể cho các em xem ánh mộ Bgười mẹ ôm con một cách gần gũi Giáo viên làm kí hiệu “yêu thương” tiếp đến giáo viên nói, viết từ “ “yêu thương”

Dái với một số khái niệm khác như: hạnh phúc, tỉ tách, đau khổ - giáo viên

có thể dùng cách tương tự để cung cap khai niém cho các em Để học sinh hiểu và nhớ tốt khải niệm, giáo viên cũng cần phải nhạy bén nắm bắt những tình huỗng xây ra trong thực tế hàng ngày để nhắc lại khải niệm đã học

ä Đổi với các câu hỏi ơn giản

Khi giáo viên hồi một câu hỏi, đầu tiên giáo viên phải trả lài mẫu cho trẻ để trẻ hiểu và áp dung

Vi du: - Em có mây quyền vỡ?

- Em có 2 quyén vở

Giáo viên cố ý trả lời sai để khuyến khich trẻ phát hiện lỗi sai và đưa ra câu

trả lời đúng Ví dụ: Em có 2 cái áo Ding hay sai?

Khuyén khich tré giao tiép với bạn và học thêm nhiều kí hiểu mới với những

câu hỏi đơn giản cái gì? Ở dâu? Mấy?

ø Dối với các nhóm kí liệu

Sau khi trẻ đã có một vốn kỉ hiệu nhất định và biết đùng các kí hiệu trong

giao tiếp cũng như hiểu và lâm theo các yêu câu đơn giản, các em sẽ bắt đầu ghép các kí hiệu lại với nhau để thể hiện ý hoàn chỉnh

Vi du: Trẻ chỉ vào “cái áo” và kí hiệu “đẹp”

Cải áo —> cái áo + đẹp

Giáo viên nhân mạnh: Cái áo này đẹp

Cải áo máu hồng đẹp

Trang 9

Cải áo mẹ mua

Giáo viên dựa theo hiểu biết hoặc kí hiệu má các em đã học, dùng các cầu

hỏi đơn giản để mở rộng ra Yêu cầu học sinh lặp lại câu hoàn chỉnh một vài lần

'Từ các nhóm kí hiệu giáo viên nâng dân lên cho trẻ sử đụng thành cầu dai hơn

8 Chuyển dịch doan vẫn ra kí hiệu ngôn ngất

Ổ các lớp 3,4,5 sau khi trẻ hiểu, sử dụng, _giải thích được nghĩa cúa kí hiệu

giáo viên đưa ra một số bài tập đọc ngắn yêu cầu học sinh đọc hiểu nội đụng và

chuyên dịch bài tập đọc sang kí hiệu ngôn ngữ Ở giai đoạn này trẻ không còn dịch

theo từng tiếng nữa mà phải chuyển dịch theo từ phủ hợp với ngữ cảnh

Ví dụ: Bài “lIạt gạo làng ta” (khổ cuối)

Hat gao lang ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa

Em vui em hát

Hat vang Ling ta

Bên cạnh đó giáo viên có thể phối kết hợp với các hoạt đông ngoài giờ lên

lép, tạo môi trường giao tiếp có chọn lọc dễ học sinh có cơ hội thực hành, cứng cá

mở rộng vốn tử có dịnh hướng vả phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng kí hiệu

ngôn ngữ

h Đánh giá kết quả học tập

Như các môn học khác việc đánh giá kết quả hình thành và phát triển kí hiệu

ngôn ngữ của học sinh khiếm thỉnh là cần thiết Đánh giá khả năng sử dụng kỉ hiệu

ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập nhằm tìm ra những biện pháp phát triển khá năng giao tiếp cho trẻ khiểm thính phủ hợp và hiệu quả hơn

Nội dụng đánh giá: kĩ năng 1 hiểu và biểu đạt kí hiệu 'ngôn ngữ trong giao tiếp

thông thường, vả kĩ năng dịch, diễn dạt một duạn văn ngắn, một bải lập đọc ra kí

hiệu ngôn ngữ

Hình thức dánh giá: đánh giá định Lính về kĩ năng giao tiếp, cách thể hiện kí hiệu ngôn ngữ Đánh giá định lượng với yêu cầu hiểu nội dung đoạn, bải tập đọc,

trả lời câu hồi bằng kí hiệu ngôn ngữ, địch bài đọc bằng kí hiệu ngôn ngữ

I Hf Qua ca DE TAL

Việt sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trong quá trình day học cho trẻ khiểm thính

sẽ có lợi rất nhiều về mặt tâm lí vì ngôn ngữ kí hiệu là tiếng mẹ để của người khiếm thính Sau 3 năm thực, hiện đưa chương trỉnh môn kí hiệu ngôn ngữ lả môn học đặc thủ của trễ vào các tiết chính khóa tại Trung tâm đã nhận được kết quả cao

và sự thánh công nhất định

Kết quả khảo sát vào đầu năm học môn kỉ hiệu ngôn ngữ khối lớp 3, 4, 5

khiểm thính thu được như sau:

Khải Ší số Giải Khá TB Yêu

Trang 10

5 10 1 2 4 3

‘Tong số 26 2-17T7% 7-269% [11-433 % — 23.0%

Qua thống kê khảo sái chất lượng dâu năm cho thấy học sinh rung bình và

học sinh yếu còn nhiễu, số học sinh giỏi và khá chưa cao Tôi đã mạnh đạn trao đối

với tổ vào những, buôi sinh hoạt chuyên môn để đề ra các biện pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh tiếp thu nắm bắt bài học tốt hơn, nâng cao chất lượng hiệu quả môn Ki hiệu ngôn ngữ

Sau khi áp dụng các biện pháp trên với từng trình độ của khối lớp tôi đã

khảo sát lần 2 vào giữa học kì II Kết quả cho thấy

Khải Sis Gigi Khả TB Yến

Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng của học sinh đã được nâng lên rõ rột

Cụ thể học sinh biểu đạt các kí hiệu đúng yêu sầu, trả lời cầu hỏi giáo viên đưa ra, khả năng địch đoạn văn cũng trôi chây hơn Kết quả trên đã cho thấy chương trình đạy kí hiệu ngôn ngữ được thiết kể theo tùng chủ đề với tùng bài học theo hệ thông,

là dạy các từ —+ câu —> đoan nên rất phủ hợp với học sinh khiém thính Tiểu học

khi vốn Tiếng Việt còn hạn chế

Kết thúc năm học, học sinh lớp 3,4,5 có thể phân tích được câu, địch doạn văn trôi chảy Lừ tổng việt sang kí hiệu ngôn ngữ Học sinh mạnh dạn tự tin hơn không còn rụt rẻ, nhút nhát trong các giờ học hay các hoạt ding ngoài giờ

Qua thực tế giảng đạy tôi nhận thấy: Muốn giúp học sinh học tất môn Kí

hiệu ngôn ngữ giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng day, tim

những hình thức riêng phù hợp với nội dung từng bài đạy và từng trinh độ nhận

thức của học sinh, tạo điều kiện cho các em tham gia học tập một cách hứng thú

Hy vọng đây là những biện pháp thiết thực để giáo viên có định hướng khi giảng đạy phân môn kí hiệu ngôn ngữ góp phần nâng cao chất lượng dạy vả học cho học sinh khiếm thính

IV ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

Làm thể nảo để các biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ thực sự có ích trong quá

trình dạy học cho trẻ khiểm thính do vậy tôi có một số để xuất sau:

+ Dỗi với giáo viên day trẻ khiểm thính

- Việc dạy học và sử dụng kí hiệu ngôn ngữ phải được lồng phép trong tất

cả các môn học, các loại hình ngôn ngữ

- Giáo viễn không ngừng học hỏi trau dồi thêm vốn ngôn ngữ kỉ hiệu cho

bản thân, không ngại khi học thêm từ trễ, sử dụng thánh thạo kỉ hiệu ngôn ngữ

- Tổ chức các hoạt động với những hình thức phong phủ sẽ giúp trẻ khiếm

thính tự tin, mạnh dạn hơn khi sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình

10

Ngày đăng: 08/05/2025, 13:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w