1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời

72 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Một Số Thí Nghiệm Liên Quan Đến Chuyển Động Của Trái Đất, Mặt Trăng Quanh Mặt Trời Ứng Dụng Cho Dạy Học Chủ Đề Trái Đất Và Bầu Trời
Tác giả Nguyễn Việt Hoàng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Sư Phạm Toán
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT, MẶT TRĂNG QUANH MẶT TRỜI (13)
    • 1.1. Tìm hiểu khái quát về Trái Đất (13)
      • 1.1.1. Khối lượng và kích thước của Trái Đất (13)
      • 1.1.2. Đặc điểm cấu trúc của Trái Đất (14)
      • 1.1.3. Các chuyển động của Trái Đất (16)
      • 1.1.4. Khí hậu trên Trái Đất (18)
      • 1.1.5. Bầu khí quyển của Trái Đất (21)
    • 1.2. Tìm hiểu khái quát về Mặt Trăng (25)
      • 1.2.1 Kích thước và khối lượng của Mặt Trăng (25)
      • 1.2.2. Chuyển động của Mặt Trăng (25)
    • 1.3. Tìm hiểu khái quát về Mặt Trời (28)
      • 1.3.1. Kích thước và khối lượng của Mặt Trời (28)
      • 1.3.2. Cấu trúc của Mặt Trời (29)
      • 1.3.3. Ảnh hưởng của Mặt Trời tới Trái Đất (35)
    • 1.4. Các hiện tượng liên quan đến sự chuyển động của Trái Đất, Mặt Trăng (38)
      • 1.4.1. Nhật thực (38)
      • 1.4.2. Hiện tượng Nguyệt Thực (42)
      • 1.4.3. Chu kì của Nhật – Nguyệt thực (45)
      • 1.4.4. An toàn khi quan sát Nhật - Nguyệt thực (45)
    • 2.1. Cơ sở lý thuyết (48)
      • 2.1.1. Thí nghiệm vật lý (48)
      • 2.1.3. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học vật lý (49)
    • 2.2. Thiết kế các mô hình thí nghiệm (54)
      • 2.2.1. Mô hình các pha của Mặt Trăng (54)
      • 2.2.2 Mô hình mô phỏng Nhật thực (60)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (69)

Nội dung

1 CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT, MẶT TRĂNG QUANH MẶT TRỜI .... CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN Đ

TÌM HIỂU VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT, MẶT TRĂNG QUANH MẶT TRỜI

Tìm hiểu khái quát về Trái Đất

1.1.1 Khối lượng và kích thước của Trái Đất

Trái Đất, hành tinh thứ ba từ Mặt Trời, được biết đến với tên gọi "hành tinh xanh" và là nơi cư trú của hàng triệu loài sinh vật, bao gồm cả con người Đây là hành tinh duy nhất trong vũ trụ được biết đến có sự sống Trái Đất hình thành cách đây khoảng 4.55 tỷ năm, với sự xuất hiện của sự sống trên bề mặt diễn ra khoảng 1 tỷ năm trước.

Khối lượng của Trái Đất ước tính khoảng 6 × 10^24 kg, khiến nó trở thành hành tinh có khối lượng đất đá lớn nhất trong Hệ Mặt Trời Trong thứ tự khối lượng, Trái Đất đứng thứ sáu, và khối lượng của nó chỉ chiếm khoảng 0.0003% tổng khối lượng của Hệ Mặt Trời.

Trái Đất có hình dạng hơi dẹt ở hai đầu địa cực, với bán kính xích đạo là 6.378,16 km và bán kính tại hai cực là 6.356,78 km Đường kính tổng thể của Trái Đất khoảng 12.742 km Khối lượng và kích thước của Trái Đất ảnh hưởng đáng kể đến nhiều khía cạnh của cuộc sống, từ cấu trúc địa chất đến khí quyển và điều kiện sống của sinh vật.

Khối lượng và kích thước của Trái Đất là hai đặc điểm quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của hành tinh Những yếu tố này cũng đóng vai trò thiết yếu trong nghiên cứu vũ trụ và xác định vị trí của Trái Đất trong hệ Mặt Trời.

1.1.2 Đặc điểm cấu trúc của Trái Đất

Vỏ đất, hay còn gọi là lớp nham thạch, là lớp ngoài cùng của Trái Đất, bao gồm lớp đất phong hóa và lớp đá Mặc dù chỉ chiếm 1% khối lượng của hành tinh, vỏ đất đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc Trái Đất Nếu so sánh, lớp vỏ đất giống như vỏ trứng, trong khi lớp mantle và lớp lõi tương tự như lòng trắng và lòng đỏ của quả trứng.

Chiều dày của vỏ đất thay đổi đáng kể ở các khu vực khác nhau, với bề dày cao nguyên Thanh Tạng - Trung Quốc có thể đạt tới 60 – 80 km, trong khi một số nơi như lũng biển Đại Tây Dương chỉ dày 5 – 6 km và lũng biển Thái Bình Dương khoảng 8 km Trung bình, bề dày của vỏ đất trên lục địa là khoảng 33 km, chiếm 1/200 bán kính của Trái Đất.

Vỏ đất, dù mỏng, có cấu trúc khác biệt giữa lớp trên và lớp dưới Lớp trên chủ yếu là nham thạch nhẹ với thành phần silic và nhôm, được gọi là lớp silic - nhôm Trong khi đó, lớp dưới gồm nham huyền vũ nặng với thành phần chủ yếu là manhê, sắt và silic, được gọi là phần silic - manhê Ở đáy biển, thường chỉ tồn tại tầng silic - nhôm do vỏ đất mỏng, không có tầng silic - manhê Lớp trên cùng còn bao gồm vỏ ngoài với nham trầm tích, nham biến chất trầm tích và đất phong hóa.

Vỏ đất chứa đựng một kho tàng tài nguyên khoáng sản phong phú, với hơn 2000 loại quặng đã được phát hiện Trong số đó, vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, vonfram, mangan, chì, kẽm, thủy ngân, than đá và dầu mỏ là những tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người.

Lớp manti nằm giữa lõi và vỏ Trái Đất, kéo dài từ bề mặt xuống độ sâu 2900 km, chiếm khoảng 84% thể tích và 68,5% khối lượng của hành tinh Lớp này bao gồm nhiều khoáng vật và hóa chất đa dạng, như silicat, oxit kim loại và nước.

Lớp manti được chia thành hai loại chính: manti dạng đá và manti dạng hợp chất Manti dạng đá chủ yếu chứa các khoáng vật chịu áp lực cao như olivine, pyroxene và garnet, trong khi manti dạng hợp chất bao gồm chất lỏng và các phần tử hóa học như silicat và oxy Nhiệt độ ở phần trên của lớp manti thường dao động từ 500 đến 900°C, trong khi ở phần dưới, nhiệt độ có thể đạt hàng nghìn độ C.

Lớp manti của Trái Đất đóng vai trò quan trọng trong chuyển động địa chất và nhiệt động lực học của hành tinh, gây ra hiện tượng địa chấn và núi lửa, đồng thời ảnh hưởng đến sự biến đổi bề mặt Trái Đất theo thời gian.

Lớp manti là một trong những lớp nội bộ quan trọng của Trái Đất, được nghiên cứu chủ yếu qua phân tích địa chất và đo lường sóng địa chấn Nghiên cứu lớp manti giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về cấu trúc và hoạt động của hành tinh chúng ta.

Lõi trong của Trái Đất là phần trung tâm nhất, được xác định qua các nghiên cứu địa chấn, có hình dạng quả cầu rắn với bán kính khoảng 1.220 km, tương đương 70% bán kính của Mặt Trăng Nó chủ yếu chứa hợp kim sắt và có nhiệt độ tương đương với nhiệt độ bề mặt của Mặt Trời.

Lõi của Trái Đất bao gồm hai phần chính: lõi ngoại và lõi trong Lõi ngoại, dày khoảng 2.890 km, chủ yếu được cấu thành từ niken và sắt, có tính dẻo và chịu được áp lực cao Ngược lại, lõi trong nằm ở trung tâm và chứa hỗn hợp sắt và niken lỏng, tạo ra từ trường thông qua sự chuyển động của các chất lỏng này.

Lõi Trái Đất có nhiệt độ cực kỳ cao, ước tính lên đến hàng ngàn độ C, với áp lực rất lớn Nhiệt độ cao trong lõi là nguyên nhân chính dẫn đến các hoạt động địa chất như động đất và núi lửa Sự di chuyển của dòng magma từ lõi ra bề mặt có thể gây ra hiện tượng địa chấn và hoạt động núi lửa.

Tìm hiểu khái quát về Mặt Trăng

1.2.1 Kích thước và khối lượng của Mặt Trăng

Mặt Trăng, vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất, là nguồn sáng lớn thứ hai trên bầu trời chỉ sau Mặt Trời Con người đã biết đến Mặt Trăng từ thời tiền sử, và nó luôn giữ một vị trí quan trọng trong văn hóa và khoa học.

Mặt Trăng có hình cầu, rộng khoảng 27% so với Trái Đất và nặng khoảng 1,23% khối lượng của Trái Đất Giả thuyết phổ biến nhất về sự hình thành của Mặt Trăng cho rằng nó được tạo ra từ các mảnh vụn sau vụ va chạm giữa Trái Đất và một thiên thể khác cách đây hơn 4,5 tỷ năm, không lâu sau khi Trái Đất hình thành.

Khối lượng của Mặt Trăng được ước tính là khoảng 7,35 × 10 22 kg Mặt

Mặt Trăng có khối lượng chỉ khoảng 1/81 so với Trái Đất, khiến nó trở thành một vệ tinh nhỏ Đường kính trung bình của Mặt Trăng là khoảng 3,474 km.

1.2.2 Chuyển động của Mặt Trăng

1.2.2.1 Chuyển động của Mặt Trăng quanh Trái Đất

Mặt trăng di chuyển quanh Trái đất theo quĩ đạo elip với độ dẹt không cao, và mặt phẳng quĩ đạo của nó nghiêng 5°9’ so với mặt phẳng quĩ đạo của Trái đất Chu kỳ chuyển động của Mặt trăng là 27,32 ngày, được gọi là tháng sao, nhưng do hiện tượng tiến động, chu kỳ hoàn thành một vòng quanh Trái đất ngắn hơn khoảng 7 giây so với tháng sao Mặt trăng di chuyển từ tây sang đông, giống như chiều quay của Trái đất quanh Mặt trời, với vận tốc khoảng 1,022 km/s và có chu kỳ quay quanh trục là 27,3 ngày.

Mặt Trăng không chỉ quay quanh Trái Đất mà còn luôn giữ một mặt hướng về Trái Đất Điều này xảy ra do tốc độ quay quanh trục và tốc độ quay quanh quỹ đạo của Mặt Trăng tương đương nhau, khiến cho cả hai thiên thể chỉ nhìn thấy một mặt của nhau.

Mặt Trăng ảnh hưởng sâu sắc đến Trái Đất, chủ yếu qua hiện tượng thủy triều Lực hấp dẫn của Mặt Trăng kéo căng nước biển, dẫn đến sự nổi lên và rút đi của nước, tạo ra chu kỳ thủy triều hàng ngày Ngoài ra, Mặt Trăng còn tác động nhẹ đến khí hậu và sự di chuyển của một số loài trên Trái Đất thông qua ảnh hưởng của thủy triều.

1.2.2.2 Mặt Trăng cùng Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời

Mặt Trăng là một thiên thể nguội, không tự phát sáng mà chỉ phản chiếu ánh sáng từ Mặt Trời Khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, sự chuyển động này tạo ra các pha khác nhau của Mặt Trăng, từ không nhìn thấy vào đầu tháng, đến dạng lưỡi liềm, bán nguyệt, và cuối cùng là trăng tròn giữa tháng Sự thay đổi này xảy ra do Mặt Trăng phản xạ ánh sáng Mặt Trời với cường độ khác nhau trong suốt tháng âm lịch.

Hình ảnh 1.8 Các pha của Mặt Trăng

Tia sáng Mặt Trời được giả định là những tia song song trong mặt phẳng Hoàng đạo, tạo ra một góc pha với ánh sáng phản chiếu từ Mặt Trăng đến Trái Đất Góc pha này thay đổi tùy thuộc vào vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất và Mặt Trời, dẫn đến những hình dạng khác nhau của Mặt Trăng Lưu ý rằng phần Trái Đất được chiếu sáng sẽ là ban ngày và không nhìn thấy Mặt Trăng, trong khi phần tối của Trái Đất (ban đêm) mới có thể quan sát được Mặt Trăng.

Có 4 pha cơ bản của Mặt Trăng là: Ở vị trí 1: φ = 180° gọi là pha Giao hội, thường ứng vào ngày đầu tháng trăng (ngày sóc của tuần trăng) Ở phần tối của Trái Đất (đêm) không thấy trăng nên đây là kỳ không trăng Ở kỳ này nếu Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất thẳng hàng thì Mặt Trăng sẽ che khuất Mặt Trời giữa ban ngày (Nhật thực) Nhưng vì mặt phẳng bạch đạo có thể không trùng với hoàng đạo nên có thể không che khuất

Từ vị trí 1 đến vị trí 3, Mặt Trăng hiện lên như một lưỡi liềm mỏng, được gọi là trăng non Tại vị trí 3 với φ= 90°, chúng ta có thể quan sát nửa vầng trăng, đây là thời điểm thượng huyền, thường xảy ra vào ngày 7 hoặc 8 của tuần trăng.

Từ vị trí 3 đến vị trí 5, Mặt Trăng dần tròn lên, với vị trí 5 (φ = 0°) gọi là pha xung đối, thường xảy ra vào ngày 14, 15, 16 của tuần trăng, được biết đến là ngày rằm hay ngày vọng Trong phần tối của Trái Đất, vào ban đêm, Mặt Trăng phản xạ toàn bộ ánh sáng Mặt Trời, tạo nên hình ảnh Mặt Trăng tròn Hiện tượng này xảy ra do độ nghiêng giữa hoàng đạo và bạch đạo Khi ba thiên thể Mặt Trời, Mặt Đất và Mặt Trăng thẳng hàng, bóng của Trái Đất sẽ che khuất Mặt Trăng, dẫn đến hiện tượng nguyệt thực.

Từ vị trí 5 đến 7 Mặt Trăng khuyết dần Ở vị trí 7: φ = 270° ta cũng thấy còn nửa vầng trăng gọi là trăng hạ huyền (ngày 22, 23, 24 của tuần trăng)

Từ đó trở đi trăng khuyết dần và trở về pha đầu (không trăng).

Tìm hiểu khái quát về Mặt Trời

1.3.1 Kích thước và khối lượng của Mặt Trời

Mặt Trời là ngôi sao trung tâm của Hệ Mặt Trời, chiếm khoảng 99% khối lượng của nó và có hình cầu gần như hoàn hảo, chỉ hơi dẹt Trái Đất cùng các thiên thể khác như hành tinh, tiểu hành tinh, thiên thạch, sao chổi và bụi đều quay quanh Mặt Trời Khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất là khoảng 149,6 triệu kilômet, khiến ánh sáng Mặt Trời cần 8 phút 20 giây để đến được Trái Đất.

Mặt Trời có đường kính trung bình khoảng 1.392.000 km, gấp hơn 110 lần đường kính của Trái Đất Là thiên thể lớn nhất trong hệ Mặt Trời, Mặt Trời chiếm khoảng 99% tổng khối lượng của hệ này.

Mặt Trời có khối lượng khoảng 1.9 × 10^30 kg, tương đương với 333.000 lần khối lượng của Trái Đất Nó là một quả cầu khí, trong đó khoảng 75% là Hydro, 23% là Heli, và 2% còn lại là các khí nặng khác.

Khối lượng của Mặt Trời lớn hơn rất nhiều so với Trái Đất, khi mà Trái Đất chỉ chiếm khoảng 0.0003% khối lượng của Mặt Trời Mặt Trời có đủ khối lượng để hình thành và duy trì toàn bộ hệ Mặt Trời.

Mặt Trời, một ngôi sao trung bình về kích thước và khối lượng, có khả năng duy trì các quá trình hạt nhân, từ đó tạo ra năng lượng mặt trời thông qua sự hợp lực hạt nhân.

1.3.2 Cấu trúc của Mặt Trời

Cấu của Mặt Trời có các thành phần bao gồm: lõi, vùng bức xạ, vùng đối lưu, quang cầu, sắc cầu, tai lửa, nhật hoa, vệt đen

Lõi của Mặt Trời được coi là chiếm khoảng 0,2 tới 0,25 bán kính Mặt

Trời Nó có mật độ lên tới 150 g/cm³ và có nhiệt độ gần 13.600.000 độ K.

Lõi của Mặt Trời là khu vực duy nhất sản sinh ra lượng nhiệt lớn thông qua quá trình phản ứng tổng hợp, trong khi phần còn lại của ngôi sao được làm nóng nhờ năng lượng tỏa ra từ lõi.

Hình ảnh 1.10 Cấu trúc của Mặt Trời

Năng lượng từ phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi Mặt Trời phải vượt qua nhiều lớp trước khi đến quang quyển và phát ra không gian dưới dạng ánh sáng Mặt Trời hoặc động năng của các hạt Trong hầu hết vòng đời của Mặt Trời, năng lượng này được sản xuất thông qua quá trình dãy p – p (proton–proton), biến đổi hydro thành heli.

Mỗi tia gamma trong lõi Mặt Trời được chuyển đổi thành hàng triệu photon ánh sáng nhìn thấy trước khi thoát vào không gian Ngoài ra, các neutrino cũng được sinh ra từ các phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi, nhưng khác với photon, chúng hiếm khi tương tác với vật chất, do đó hầu hết neutrino thoát khỏi Mặt Trời ngay lập tức.

Vùng truyền bức xạ năng lượng là nơi năng lượng được phát tán qua sự hấp thụ và bức xạ của vật chất thành những ánh sáng gọi là lượng tử Quá trình bức xạ và tái bức xạ của các lượng tử diễn ra rất chậm, có thể mất hàng nghìn năm để năng lượng thoát ra ngoài quang cầu Khi đến quang cầu, các lượng tử đã biến đổi hoàn toàn và năng lượng của chúng cũng giảm so với ban đầu Điều này đặt ra câu hỏi về những gì đã xảy ra trong vùng truyền bức xạ này.

Hình ảnh 1.11 vùng bức xạ

Trong quá trình tái bức xạ, các lượng tử gamma từ vùng tâm Mặt Trời luôn đổi hướng, vừa di chuyển về phía trước vừa lùi lại Những lượng tử này có năng lượng lớn gấp hàng nghìn lần ánh sáng nhìn thấy, nhưng bước sóng rất nhỏ Khi di chuyển, chúng bị hấp thụ bởi các nguyên tử khác, dẫn đến quá trình tái bức xạ, làm tăng số lượng lượng tử lên hai, ba hoặc nhiều hơn Theo định luật bảo toàn năng lượng, tổng năng lượng của các lượng tử sau phải bằng năng lượng của lượng tử ban đầu, vì vậy năng lượng của chúng giảm dần Quá trình này tiếp tục diễn ra, khiến năng lượng của các lượng tử giảm hàng nghìn lần khi đến bề mặt Mặt Trời, với sự biến đổi từ lượng tử gamma thành lượng tử tia X.

Nếu một ngày nào đó "chiếc lò năng lượng" bên trong Mặt Trời ngừng chiếu sáng, thì phải mất hàng triệu năm sau chúng ta mới nhận ra điều đó, do sự truyền tải thông tin qua các loại tia như rơnghen, tia tử ngoại, tia nhìn thấy và tia hồng ngoại.

Mặt Trời được cấu tạo từ nhiều lớp với các tính chất khác nhau, dẫn đến việc năng lượng từ lõi truyền ra quang cầu không chỉ qua bức xạ mà còn bằng nhiều phương pháp khác, tùy thuộc vào nhiệt độ và áp suất của từng vùng Khi năng lượng di chuyển ra vùng có độ không trong suốt của khí tăng cao, phương pháp bức xạ sẽ không còn hiệu quả và được thay thế bằng phương pháp đối lưu.

Hình ảnh 1.12 Vùng đối lưu

Vùng đối lưu của Mặt Trời là nơi năng lượng được truyền qua sự đối lưu, với luồng khí nóng bốc lên và luồng khí lạnh hạ xuống Quá trình này tạo ra sự trao đổi liên tục giữa khí nóng và khí lạnh, giúp truyền năng lượng từ bên trong Mặt Trời tới quang cầu Hiện tượng này khiến vật chất trên Mặt Trời sôi lên và bị xáo trộn, giống như cháo quánh đang nấu trên bếp lửa, dẫn đến sự tạo hạt trên bề mặt.

Vùng đối lưu của Mặt Trời bắt đầu cách tâm Mặt Trời khoảng 0,7 bán kính và kéo dài đến bề mặt nhìn thấy của nó, được gọi là quang cầu, với độ dày khoảng 125.000 km Tại đây, năng lượng được chuyển dời chủ yếu thông qua quá trình bức xạ.

Quang cầu là lớp khí sâu nhất của khí quyển Mặt trời, với đáy là những điểm sâu nhất có thể quan sát được và đỉnh chứa các hạt photon ánh sáng thoát ra khỏi Mặt trời Độ dày của lớp này không vượt quá 1/300.000 bán kính Mặt trời, nên thường được gọi là bề mặt.

Các hiện tượng liên quan đến sự chuyển động của Trái Đất, Mặt Trăng

Trái Đất và Mặt Trăng chuyển động quanh Mặt Trời, tạo ra những hiện tượng thiên văn thú vị như nhật thực và nguyệt thực Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng đứng giữa Trái Đất và Mặt Trời vào ban ngày, khiến Mặt Trời bị che khuất Ngược lại, nguyệt thực diễn ra khi Trái Đất nằm giữa Mặt Trời và Mặt Trăng, ngăn ánh sáng Mặt Trời chiếu đến Mặt Trăng, làm cho Mặt Trăng không phản chiếu ánh sáng và trở nên tối vào đêm rằm.

Nhật thực xảy ra khi Mặt Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời, tạo thành một đường thẳng và che khuất ánh sáng từ Mặt Trời.

1.4.1.1 Điều kiện và nguyên nhân xảy ra Nhật thực

Vào kỳ giao hội (ngày sóc) Mặt Trăng đứng giữa Trái Đất và Mặt trời vào ban ngày, làm cho Mặt Trời bị tối sầm (Nhật thực)

Mặt Trăng quay quanh Trái Đất một lần mỗi tháng, trong khi Trái Đất quay quanh Mặt Trời một lần mỗi năm Nếu quỹ đạo của Mặt Trăng hoàn toàn thẳng hàng với Trái Đất và nằm chung một mặt phẳng, chúng ta sẽ có hiện tượng Nhật thực mỗi khi xảy ra Trăng mới Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy do quỹ đạo của Mặt Trăng có sự lệch nhất định.

Mặt Trăng nghiêng so với Trái Đất khoảng 5°9', cho phép nó lệch khỏi mặt phẳng giữa Trái Đất và Mặt Trời Điều này có nghĩa là Mặt Trăng có thể di chuyển qua phía trên hoặc phía dưới Mặt Trời trên bầu trời, khiến cho Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời không hoàn toàn thẳng hàng Tuy nhiên, vào thời điểm trăng mới, Mặt Trăng có thể nằm thẳng hàng giữa Mặt Trời và Trái Đất, dẫn đến hiện tượng Nhật thực.

Hình ảnh 1.19 Điều kiện xảy ra Nhật thực

1.4.1.2 Các loại Nhật thực a Nhật thực toàn phần

Nhật thực toàn phần là hiện tượng khi Mặt Trăng hoàn toàn che khuất Mặt Trời từ góc nhìn của Trái Đất, khiến bề mặt Mặt Trăng trở nên tối tăm trong một khoảng thời gian ngắn Hiện tượng này chỉ xảy ra trong những điều kiện nhất định và thu hút sự chú ý của nhiều người yêu thiên văn.

Trăng di chuyển vào giữa Trái Đất và Mặt

Trời trong một đường thẳng hoàn hảo, tạo ra một bóng tối hoàn toàn trên bề mặt của Mặt

Hình ảnh 1.20 Nhật thực toàn phần

Nhật thực toàn phần không xảy ra mỗi khi có một sự trùng hợp giữa Mặt

Trăng, Trái Đất và Mặt Trời cần có sự căn chỉnh hoàn hảo về góc độ và vị trí để xảy ra nhật thực toàn phần Thời gian giữa các nhật thực toàn phần không cố định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ chính xác của tính toán thiên văn và hình dạng, kích thước quỹ đạo của Mặt Trăng Trung bình, mỗi năm có khoảng một đến hai nhật thực toàn phần trên toàn cầu, và trong một chu kỳ nhật thực, có thể xảy ra từ hai đến năm nhật thực toàn phần Thời gian giữa các nhật thực toàn phần liên tiếp có thể dao động từ vài tháng đến vài năm.

Nhật thực toàn phần là một hiện tượng thiên văn kỳ diệu, thu hút sự chú ý của các nhà quan sát và nhà khoa học Hiện tượng này cung cấp cơ hội cho các nhà nghiên cứu nghiên cứu khí quyển Trái Đất thông qua việc quan sát sự thay đổi ánh sáng trong suốt quá trình nhật thực Bên cạnh đó, nhật thực một phần cũng là một hiện tượng thú vị đáng được khám phá.

Hiện tượng nhật thực xảy ra vào ban ngày, khi Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt

Trời cùng nằm trên một đường thẳng Mặt

Trăng nằm giữa Trái Đất và Mặt Trời, tạo ra hiện tượng che khuất Mặt Trời trong vài phút, khiến bầu trời trở nên tối sầm Sự kiện này xảy ra do quỹ đạo của Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời.

Trời khác nhau lên hiếm khi Mặt Trăng hoàn toàn che khuất Mặt Trời, hay còn gọi là hiện tượng Nhật thực toàn phần

Hình ảnh 1.21 Nhật thực 1 phần

Nhật thực một phần xảy ra khi Mặt Trăng di chuyển qua trước hoặc sau Mặt Trời từ góc nhìn của Trái Đất, dẫn đến việc chỉ một phần của Mặt Trăng bị che khuất bởi Mặt Trời.

Nhật thực một phần xảy ra khi Mặt Trăng di chuyển qua đĩa Mặt Trời, che khuất một phần của nó và tạo ra bóng tối trên bề mặt Trái Đất trong khoảng thời gian ngắn.

Nhật thực một phần là hiện tượng tự nhiên đã được khoa học lý giải, không ảnh hưởng đến quỹ đạo của Trái Đất hay gây ra các hiện tượng bất thường khác Nhật thực hình khuyên là một dạng của hiện tượng này.

Nhật thực hình khuyên xảy ra khi Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất thẳng hàng, nhưng do Mặt Trăng ở xa Trái Đất và di chuyển theo quỹ đạo hình elip, nên không thể che khuất hoàn toàn Mặt Trời Hiện tượng này tạo ra một vòng tròn lửa, giống như chiếc nhẫn, trên bầu trời.

Hình ảnh 1.22 Nhật thực hình khuyên

Khi Mặt Trăng che khuất Mặt Trời, hiện tượng này tạo ra một hình khuyên trên bề mặt Trái Đất, khiến ánh sáng Mặt Trời trở nên mờ nhạt Hình khuyên này xuất hiện do tỷ lệ kích thước giữa Mặt Trăng và Mặt Trời, cho phép Mặt Trăng che khuất Mặt Trời một cách hoàn hảo nhưng vẫn để lại một vòng ánh sáng xung quanh, được gọi là những tia sáng hình khuyên, tạo nên hiện tượng nhật thực lai.

Nhật thực lai là hiện tượng bao gồm cả nhật thực toàn phần và nhật thực hình khuyên Khi hiện tượng này xảy ra, một số khu vực trên Trái Đất sẽ chứng kiến pha toàn phần, trong khi những khu vực khác chỉ quan sát được pha hình khuyên hoặc pha một phần.

Hình ảnh 1.23 Nhật thực lai

Chu kỳ diễn ra nhật thực lai không đều do độ nghiêng của quỹ đạo Mặt Trăng so với Mặt Trời và Trái Đất Trung bình, mỗi năm có từ 2 đến 5 lần nhật thực lai xảy ra Chu kỳ giữa các nhật thực lai toàn phần là khoảng 18 tháng, trong khi chu kỳ giữa các nhật thực lai một phần là khoảng 6 tháng Nhật thực lai chỉ chiếm 4,8% trong tổng số các loại nhật thực.

Cơ sở lý thuyết

Theo Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông của nhóm tác giả

Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng và Phạm Xuân Quế nhấn mạnh rằng thí nghiệm vật lý là quá trình tác động có chủ định và hệ thống của con người lên các đối tượng trong hiện thực khách quan Bằng cách phân tích các điều kiện diễn ra sự tác động và kết quả thu được, chúng ta có thể đạt được tri thức mới.

Thí nghiệm vật lý là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình vật lý Kết quả của những thí nghiệm này không chỉ dẫn đến các định luật và ứng dụng kỹ thuật mà còn có thể dùng để chứng minh hoặc hình thành các giả thuyết vật lý mới.

Thí nghiệm vật lí có một số đặc điểm sau:

Trong thí nghiệm, các điều kiện phải được lựa chọn và thiết lập có chủ đích để trả lời câu hỏi nghiên cứu, kiểm tra giả thuyết hoặc hệ quả từ giả thuyết Mỗi thí nghiệm bao gồm ba yếu tố chính: đối tượng nghiên cứu, phương tiện tác động lên đối tượng và phương tiện quan sát để thu thập kết quả từ sự tác động.

Các điều kiện của thí nghiệm có thể được điều chỉnh để nghiên cứu mối quan hệ giữa các đại lượng, trong khi vẫn giữ nguyên các đại lượng khác.

Để đảm bảo các điều kiện của thí nghiệm được khống chế và kiểm soát đúng như dự định, cần sử dụng thiết bị thí nghiệm có độ chính xác cao và thường xuyên phân tích các yếu tố của đối tượng nghiên cứu Việc này giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các nhiễu, tức là loại bỏ những điều kiện không liên quan để tránh làm xuất hiện các tính chất hay mối quan hệ không mong muốn Một đặc điểm quan trọng của thí nghiệm là khả năng quan sát sự biến đổi của đại lượng này do sự thay đổi của đại lượng khác, điều này được thực hiện thông qua các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật.

Thí nghiệm có thể lặp lại với các thiết bị và điều kiện giống nhau, đảm bảo hiện tượng vật lý diễn ra như các lần trước Để nâng cao năng lực cho học sinh, thí nghiệm tại nhà nên kèm theo báo cáo, video và phân tích Học sinh cũng nên chia sẻ kết quả với mọi người và trên Internet để tăng tính tương tác.

2.1.3 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học vật lý

Thí nghiệm vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình dạy và học môn vật lý, giúp sinh viên hiểu rõ các khái niệm lý thuyết thông qua thực hành Các thí nghiệm không chỉ minh họa các nguyên lý vật lý mà còn kích thích sự tò mò và khả năng tư duy phản biện của người học Ngoài ra, việc thực hiện thí nghiệm còn giúp sinh viên phát triển kỹ năng quan sát, phân tích và giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức và khả năng ứng dụng trong thực tế.

Việc xác định rõ thời điểm và cách thức sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lý là rất quan trọng Điều này không chỉ khẳng định sự cần thiết của thí nghiệm trong quá trình giáo dục mà còn giúp chúng ta lựa chọn kiểu thí nghiệm phù hợp để tổ chức dạy học hiệu quả.

Quá trình dạy và học bao gồm hoạt động hướng dẫn của giáo viên và hoạt động nhận thức của học sinh Do đó, cần phân tích vai trò và chức năng của thí nghiệm vật lý trong dạy học từ hai quan điểm: lý luận nhận thức và lý luận dạy học.

Nếu dựa trên quan điểm của lý luận nhận thức, TN có các vai trò và chức năng như sau:

Thí nghiệm là công cụ quan trọng trong quá trình nhận thức, giúp con người thu nhận kiến thức khoa học cần thiết để nâng cao năng lực bản thân và cải tạo thực tiễn Trong dạy học vật lý, thí nghiệm đóng vai trò then chốt trong hoạt động nhận thức của học sinh, hỗ trợ phân tích đối tượng nghiên cứu, thu thập thông tin và kiểm chứng kiến thức một cách hiệu quả.

Thí nghiệm là công cụ quan trọng để kiểm tra tính chính xác của tri thức và suy luận trong dạy học vật lý Nó giúp xác minh kiến thức vật lý được tổng hợp từ lý thuyết, đồng thời thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh Qua đó, thí nghiệm không chỉ kiểm chứng sự đúng đắn trong suy luận mà còn củng cố kiến thức mà học sinh đã tiếp thu.

Thí nghiệm là công cụ quan trọng giúp áp dụng tri thức vào thực tiễn, đặc biệt trong khoa học, nơi nó không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn hỗ trợ con người chế tạo thiết bị phục vụ mục đích cụ thể Trong dạy học vật lý, thí nghiệm trở thành phương tiện để học sinh thực hành và ứng dụng lý thuyết đã học vào thực tế.

Thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong các phương pháp nhận thức, đặc biệt là trong phương pháp thực nghiệm, nơi nó hỗ trợ trong việc xác định vấn đề nghiên cứu và kiểm tra tính đúng đắn của các giả thuyết Đối với phương pháp mô hình, thí nghiệm giúp thu thập thông tin về đối tượng gốc, từ đó xây dựng mô hình và kiểm tra tính chính xác cũng như giới hạn áp dụng của tri thức.

Nếu dựa trên quan điểm của lý luận dạy học, TN cũng có vai trò và chức năng quan trọng trong dạy học vật lí, thể hiện ở các mặt:

Thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong nhiều giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc đề xuất vấn đề nghiên cứu đến kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năng của học sinh Trong giai đoạn đầu, thí nghiệm giúp học sinh tiếp cận mục tiêu nghiên cứu qua việc quan sát và thu thập dữ liệu Tiếp theo, thí nghiệm cung cấp cơ sở dữ liệu vững chắc để khái quát và kiểm chứng các giả thuyết, từ đó hình thành kiến thức mới Cuối cùng, trong giai đoạn củng cố, thí nghiệm không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá khả năng tự lực và sáng tạo của học sinh, góp phần xây dựng niềm tin vào kiến thức và hình thành thế giới quan khoa học cho các em.

Thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện học sinh, giúp các em hiểu rõ bản chất của hiện tượng và định luật vật lý Qua đó, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn Thí nghiệm tạo ra môi trường cho học sinh quan sát, đưa ra dự đoán và phát triển ý tưởng mới, từ đó kích thích hoạt động nhận thức và phát triển tư duy của các em.

Thiết kế các mô hình thí nghiệm

2.2.1 Mô hình các pha của Mặt Trăng

2.2.1.1 Chế tạo mô hình các pha của Mặt Trăng

Mô hình các pha của Mặt Trăng được tạo ra từ những vật liệu tái chế dễ tìm như bìa cát tông, bóng nhựa, dây thép, keo nến và vải đen Để thực hiện, cần sử dụng các dụng cụ như kìm, dao, kéo, đèn pin, máy bơm keo nến, bút và thước Mô hình này phản ánh kiến thức về các hình dạng khác nhau của Mặt Trăng mà chúng ta có thể quan sát.

Hình ảnh 2.1 Các dụng cụ, vật liệu chế tạo mô hình pha Trăng

Các bước chế tạo mô hình:

Để tạo một hộp có 8 mặt, đầu tiên bạn cần cắt 8 miếng bìa cát tông hình chữ nhật và khoét một hình vuông nhỏ ở mỗi miếng Sau đó, ghép 8 miếng bìa lại với nhau để tạo thành hình hộp Cuối cùng, cắt một miếng bìa lớn để làm nắp cho hộp.

Bước 2: Dùng một sợ dây thép xuyên qua trái bóng tròn, treo trái bóng lơ lửng ở giữa hộp, đầu dây théo được gắn cố định ở nắp hộp

Bước 3: Dùng sơn đen phủ hết toàn bộ mặt trong của hộp để mô phỏng không gian vũ trụ

Bước 4: Sử dụng đèn pin chiếu ánh sáng qua một ô vuông, ánh sáng sẽ chiếu thẳng vào trái bóng treo trong hộp Quan sát các hình dạng của trái bóng qua từng ô trên cạnh hộp sẽ cho thấy các hình dạng tương tự như Mặt Trăng.

Trong quá trình chế tạo mô hình Mặt Trăng, em đã gặp một số khó khăn Ban đầu, việc sử dụng trái bóng nhựa khiến ánh sáng không thể mô phỏng được hình dạng của Mặt Trăng Sau đó, khi dùng băng dính đen để phủ bề mặt trái bóng, ánh sáng phản xạ khiến quan sát không rõ ràng Cuối cùng, em đã sử dụng vải đen để bọc trái bóng, giúp quan sát trở nên rõ nét hơn Tuy nhiên, khi quan sát trăng lưỡi liềm, ánh sáng không đủ để chiếu sáng bề mặt trái bóng, chỉ thấy một viền sáng nhỏ Để khắc phục, em đã cắt to phần ô vuông ở cạnh hộp để tăng diện tích chiếu sáng, giúp hình dạng trăng lưỡi liềm được quan sát rõ ràng hơn Mô hình đã được thiết kế thành công và cho ra kết quả tốt.

2.2.1.2 Kết quả quan sát các pha trăng bởi mô hình các pha Mặt Trăng

Sau khi thực hiện thí nghiệm chiếu ánh sáng từ đèn pin qua một ô vuông bất kỳ trên hộp tới quả bóng tròn bên trong tượng trưng cho Mặt Trăng, chúng ta thu được các hình ảnh minh họa cho các pha Mặt Trăng như không Trăng, Trăng lưỡi liềm, Trăng bán nguyệt, Trăng khuyết và Trăng tròn.

Trong pha đầu tiên của mô hình, hiện tượng không có Trăng xảy ra khi quả bóng tròn che toàn bộ ánh sáng từ đèn pin, khiến quả bóng trở nên tối tăm giống như Mặt Trăng trong giai đoạn tuần trăng mới.

Pha thứ hai của mô hình quan sát hiện tượng Trăng lưỡi liềm xảy ra khi ánh sáng chỉ chiếu sáng một góc nhỏ trên quả bóng, tạo ra vệt sáng đặc trưng.

Trăng lưỡi liềm đầu tháng (trăng non)

Hình ảnh 2.3 Trăng lưỡi liềm

Pha thứ ba của mô hình quan sát cho thấy hiện tượng Trăng bán nguyệt, khi ánh sáng chỉ chiếu sáng một nửa quả bóng, tạo ra hình ảnh một nửa sáng và một nửa tối, tương tự như hình ảnh của Trăng thượng tuần.

Pha thứ tư của mô hình quan sát hiện tượng Trăng khuyết xảy ra khi ánh sáng chiếu sáng bề mặt của quả bóng, tạo ra hình ảnh giống như Trăng khuyết.

Pha thứ năm của mô hình quan sát cho thấy hiện tượng Trăng tròn, khi ánh sáng chiếu sáng toàn bộ bề mặt quả bóng, làm cho quả bóng trông giống như Trăng tròn giữa tháng (trăng đầy).

2.2.1.3 Ứng dụng trong dạy học của mô hình các pha Mặt Trăng

Mô hình các pha của Mặt Trăng được ứng dụng vào dạy học phần kiến thức

II Hình dạng nhìn thấy của Mặt Trăng của bài 44 “ Chuyển động nhìn thấy của Mặt Trăng” trong chủ đề Trái Đất và bầu trời ở sách Khoa học tự nhiên lớp 6 bộ sách Chân trời sáng tạo

II Hình dạng nhìn thấy của Mặt Trăng

Hoạt động 2: Tìm hiểu hình dạng nhìn thấy của mặt trăng a) Mục tiêu:

Học sinh cần nhận biết các hình dạng khác nhau của Mặt Trăng và hiểu khái niệm về pha của Mặt Trăng Pha của Mặt Trăng được hình thành do sự phản chiếu ánh sáng mặt trời và vị trí tương đối giữa Mặt Trăng, Trái Đất và Mặt Trời.

Năng lực: HS tự chủ tìm tòi, tìm hiểu, sáng tạo trong chuẩn bị sản phảm mà

GV hướng dẫn học sinh chuẩn bị và chế tạo mô hình quan sát Mặt Trăng tại nhà Qua đó, học sinh sẽ nhận thức rõ về các hình dạng nhìn thấy của Mặt Trăng và hiểu rằng Mặt Trăng phản xạ ánh sáng Mặt Trời Học sinh sẽ vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học để giải thích các hình dạng của Mặt Trăng, đồng thời thiết kế mô hình thực tế để minh họa cho một số hình dạng này Nội dung chính là học sinh sẽ chế tạo mô hình các pha Mặt Trăng theo hướng dẫn của giáo viên.

GV tổ chức thực hành thí nghiệm để học sinh quan sát các hình dạng của Mặt Trăng, từ đó hiểu rõ kiến thức trong SGK Sản phẩm của hoạt động này là học sinh chế tạo và thực hiện thí nghiệm trên mô hình, giúp các em quan sát, phân loại và nhận biết tên gọi các hình dạng của Mặt Trăng, cũng như giải thích nguyên nhân hình thành các hình dạng này.

Hoạt động của GV và HS Sản phẩm dự kiến

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

Giáo viên kiểm tra sản phẩm mô hình mà học sinh đã chuẩn bị ở nhà từ tiết học trước, bao gồm một hình hộp có 8 mặt được làm từ bìa cát tông, với các ô vuông nhỏ khoét trên mỗi mặt Ở giữa hộp, có treo một trái bóng nhựa được phủ đen bằng sợi dây và kèm theo một chiếc đèn pin.

Ngày đăng: 08/05/2025, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quốc Hà (chủ biên), Thiên văn học đại cương, NXB Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên văn học đại cương
Tác giả: Trần Quốc Hà
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2003
2. Lê Thị Phương Hiền – Nguyễn Thị Huyền Trang, Tiểu luận đề tài Mặt Trời và hệ Mặt Trời, Đại học Thái Nguyên – Khoa Vật lý (2011), 3. Ts Lê Thị Thanh Hương, Bài giảng học phần thiên văn học, Đại họcHải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận đề tài Mặt Trời và hệ Mặt Trời
Tác giả: Lê Thị Phương Hiền, Nguyễn Thị Huyền Trang
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên – Khoa Vật lý
Năm: 2011
4. Ts Nguyễn Thị Nhi và PGS Hà Văn Hùng (chủ biên), Giáo trình thí nghiệm trong dạy học Vật lý, NXB Đại học Vinh, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thí nghiệm trong dạy học Vật lý
Tác giả: Ts Nguyễn Thị Nhi, PGS Hà Văn Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2017
5. Trần Ngọc Tiến Pháp, Khóa luận tốt nghiệp “ Thiết kế và sử dụng một số thí nghiệm trong dạy học Vật Lý 10 gắn kết với cuộc sống học sinh”, Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng một số thí nghiệm trong dạy học Vật Lý 10 gắn kết với cuộc sống học sinh
Tác giả: Trần Ngọc Tiến Pháp
Nhà XB: Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2019
6. Nguyễn Quang Riệu (chủ biên), Vũ trụ phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại, NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ trụ phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại
Tác giả: Nguyễn Quang Riệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
7. Phạm Viết Trinh – Nguyễn Đình Noãn (chủ biên), Thiên văn học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên văn học
Tác giả: Phạm Viết Trinh, Nguyễn Đình Noãn
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
8. Trịnh Xuân Thuận (chủ biên), Hỗn độn và hài hòa, NXB trẻ, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗn độn và hài hòa
Tác giả: Trịnh Xuân Thuận
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2013
9. Sách giáo khoa Khoa học tự nhiên 6 Chân trời sáng tạo, NXB Bộ Giáo dục Việt Nam Khác
10. Sách chuyên đề Vật lý 10 bộ Kết nối tri thức, NXB Bộ Giáo dục Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh 1.2. Con lắc của Foucault - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.2. Con lắc của Foucault (Trang 17)
Hình ảnh 1.5. Vùng ôn đới - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.5. Vùng ôn đới (Trang 20)
Hình ảnh 1.6. Vùng hàn đới - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.6. Vùng hàn đới (Trang 21)
Hình ảnh 1.7. Mặt Trăng - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.7. Mặt Trăng (Trang 25)
Hình ảnh 1.8. Các pha của Mặt Trăng - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.8. Các pha của Mặt Trăng (Trang 27)
Hình ảnh 1.9.  Mặt Trời - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.9. Mặt Trời (Trang 28)
Hình ảnh 1.11. vùng bức xạ - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.11. vùng bức xạ (Trang 30)
Hình ảnh 1.14. Tai lửa - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.14. Tai lửa (Trang 33)
Hình ảnh 1.18. Hiện tượng cực quang - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.18. Hiện tượng cực quang (Trang 37)
Hình ảnh 1.19.  Điều kiện xảy ra Nhật thực - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.19. Điều kiện xảy ra Nhật thực (Trang 39)
Hình ảnh 1.24. Điều kiện xảy ra Nguyệt thực - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.24. Điều kiện xảy ra Nguyệt thực (Trang 42)
Hình ảnh 1.25. Nguyệt thực toàn phần - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 1.25. Nguyệt thực toàn phần (Trang 43)
Hình ảnh 2.1. Các dụng cụ, vật liệu chế tạo mô hình pha Trăng - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 2.1. Các dụng cụ, vật liệu chế tạo mô hình pha Trăng (Trang 54)
Hình ảnh 2.10. Mô phỏng Nhật thực vành khuyên - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 2.10. Mô phỏng Nhật thực vành khuyên (Trang 62)
Hình ảnh 2.9 Mô phỏng Nhật thực một phần - Khóa luận tốt nghiệp Sư phạm Toán học: Thiết kế một số thí nghiệm liên quan đến chuyển động của trái đất, mặt trăng quanh mặt trời ứng dụng cho dạy học chủ đề trái đất và bầu trời
nh ảnh 2.9 Mô phỏng Nhật thực một phần (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w