Thương pháp này dùng để miêu tá đặc điểm về hình thức hình thái, cầu trúc cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trên một số báo mạng tiếng ViệL Cụ thể: cáo từ ng
Trang 1
VIÊN HÀN LÂM
KHOA HOC XA HO] VIET NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRAN MINH HUNG
TU NGU TIENG ANH TREN
CAC PHUONG TIEN TRUYEN THONG TIENG VIET
(TU TU LIEU CUA MOT SO BAO MANG TIENG VIET)
Nganh : Ngôn ngữ học
Mã số : 9229020
LUẬN ÁN TIÊN SĨ NGÔN NGỮ HỌC!
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌ:
GS TS NGU VĂN KHANG
HÀ NỘI -2018
Trang 2
LOI CAM DOAN
Tôi xin cam doan dây là công trinh nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công
bổ trong bat ky công trình nảo khác Nội dưng luận án có tham khão và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguần tư liệu dãng tái trên
các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án
TÁC GIÁ LUẬN ẤN
Trần Minh Hùng
Trang 3MUC LUC
CIIUONG 1: TONG QUAN VẺ TỈNH HÏNI NGIHÊN cou VÀ CƠ SỞ
LÍ THUYÉT CỦA LUẬN ÁN
1.1.1 Tông quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ vay mươn trên thé
1.1.2 Tông quan tỉnh hình bì nghiên cửu hiện tượng từ ngữ vay mượn ở Việt
Nam và các tử ngữ Anh trên các phương tiện truyền thông 14
1.1.3 Nhận xét và hướng triển khai của luận án - sa 24
1.2.4 Một số vấn đề về bảo mạng tiếng Việt 5]
CHƯƠNG 2: ĐẶC DIEM CUA TU NGỮ TIỀNG ANH TRÊN MỘT SỐ
Trang 42.6 Tiểu kết 91 CHƯƠNG 3: TỪ NGỮT TIENG ANH TREN BAO MANG TIENG VIET
VỚI VIỆC GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIỀNG VIỆT 9
3.1 Những vấn để chưng về “giữ gìn sự trong sáng cúa tiếng Việt” 93
3.1.4 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với từ ngữ vay mượn 97
3.1.5 Vấn để đặt ra về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đổi với từ ngữ vay
3.3 Khảo sát ý kiến xung quanh việc sử dụng từ ngữ tiếng s Ảnh trong tiếng
DANIIMUC CONG TRÌNH! KIIOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 163
PHỤ LỤC
Trang 5CAC BANG BIKU, BIEU DO, SO BO
1 CAC BANG BIEU
Đáng 2.1 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng không dịch nghĩa 60
Bảng 22 Từ ngữ tiếng Anh nguyễn dạng có dịch nghĩa 63
Bang 2.3 Téng hợp hình thức của từ tiếng Anh trên bảo mạng 3
Pang 2.4 Các cụm từ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt 87
Bang 3.1 Lựa chọn cách viết của các từ tiếng Anh trên báo mạng "3
Bang 3.2 Tựa chọn cách viết cúa các từ tiếng Ảnh trên bảo mạng, H4 tiếng Việt
2 CAC BIEU DO, SO DO
Tiểu dỗ 2.1 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dang không dịch nghĩa 60
Biểu để 2.2 Từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng có dịch nghĩa 64
Biéu dé 2.3 1716 sit dung cum tir tiéng Anh trén bdo mang 88
tiéng Viét
iều đỗ 2.4 Tỉ lệ sử dụng cụm từ tiếng Anh trong các chuyên mục 90
trên báo mạng tiếng Việt
Biểu dỗ 3.1 Tỉ lệ lựa chọn cách viết của từ tiếng Anh trên báo mạng H3
tiếng Việt
Biểu đỗ 3.2 'Iï lệ lựa chọn cách viết của tử tiếng Anh trên báo mạng, 15
Trang 6
MO BAU
1 Lí đo chọn để tài
1.1 Trong các nguồn bỗ sung từ vựng cho một ngồn ngữ, bên cạnh các
phương thức tạo từ mang tính nội lực thì vay mượn với tư cách ngoại lực la
một nguỗn bổ sung có vai trò hết sức quan trọng Vì thể, vay mượn từ vựng trở thành hiện tượng phể biến của mọi ngôn ngữ Có thế nói, hầu như không
cỏ vốn từ của mội ngôn ngữ nào lại không có các lừ ngữ vay mượn Tuy
nhiên, mặc đủ lả củng một hiện tượng vay mượn từ ngữ nhưng có sự khác
nhau giữa các ngôn ngữ ở lí do vay mượn, nguồn vay mượn (ngôn ngữ cho
vay), số lượng từ ngữ vay mượn, con đường vay mượn và cách xử lí các từ
ngữ vay mượn, v.v Ngay trong một ngôn ngữ thì cũng có cách ứng xử khác
nhau đối với các từ ngữ vay mượn tử các nguần ngôn ngữ khác nhau, thậm
chỉ ở các thời ki khác nhau, ở các nhóm xã hội khác nhau dối với củng, một
ngôn ngữ di vay
1.2 Nằm trong quy luật trên, trong vốn từ vựng của tiếng Việt có một
số lượng không nhỏ các từ ngữ vay mượn Các nguyên nhân về xã hội như
chỉnh trị, chiến tranh, giao thương cũng như giao lưu văn hóa và các nguyên
nhân về ngôn ngữ như sự tiếp xúc trực tiến hoặc gián tiếp giữa tiếng Việt với
các ngôn ngữ khác, đã làm cho có sự xuất hiện các từ ngữ nước ngoài trong
tiếng Việt Trong số đó, có một số lượng không nhỏ các đơn vị lit vung da
dược Việt hóa, trở thành những từ ngữ Việt gốc ngoại, một số khác thỉ vẫn
“chân trong chân ngoái”, tức là chỉ được Việt hóa một phân, hoặc được ding mang tinh lam thời mà chưa Việt hỏa
Tạm gác lai van đẻ tiếng Việt lịch sử liên quan đến cội nguồn của tiếng,
Việt, nhắc đến từ ngữ mượn hiện nay trong tiếng Việt là nhắc đến ba nguồn
vay mượn chủ yếu: nguồn từ ngữ mượn tử tiếng Hản mả trưng lâm lá từ ngữ
Trang 7Tián - Việt, nguồn từ vựng mượn từ tiếng Pháp và nguồn từ vựng mượn Lừ tiếng Anh
1.3 Tiếng Anh hiện nay đang nỗi lên với tư cách là ngôn ngữ giao tiếp
quốc tố với trên 85% thông tin trên thế giới bằng ngôn ngữ này Nhất là từ
đầu thế ký XXI đến nay, tiếng Anh đang như một cơn lốc tràn vào tất cả các
ngôn ngữ trên thể giới và theo đó là các từ ngữ Anh được sử dụng trong các
ngồn ngữ Tiếng Việt cũng nằm trong vòng xoáy đó Các từ ngữ tiếng Anh
xuât hiện ngày một nhiều, liên tục và đi vào mọi ngõ ngách của đời sống tiếng
Việt hiện nay
Một trong những Ii do co bản dé cho từ ngữ tiếng Anh được sử dụng
nhiều trong tiếng Việt hiện nay là vai trỏ của truyền thông, trong đỏ có báo
mang (bay con gọi là báo onlinc) Điều đáng chủ ý là, vì báo mạng lá báo cập
nhật tin tức nhanh nhất cho nên cách tiếp nhận và xử lí thông tin nói chung,
trong đó có việc xử lí ngôn ngữ, cụ thể là các từ ngữ mượn (tiếng Anh) cũng
chịu áp lực của thời gian dưa tin (nhanh nhất) và không gian dưa tin (không
gian mạng) Dây là lí do dẫn đến nhiều cách tiếp nhận và xử lí khác nhau đối với cáo từ ngữ tiếng Ảnh IIệ quả là, các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trong
tiếng Việt ở nhiều đạng biến thể như biến thể cách viết, biển thể cách đọc,
biển thể cách dùng Đây chính là lí do chứng tôi chon “Fir nei tiéng Anh trên các phương tiện truyễn thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số bảo mạng tiếng
Việt” làm đề tài luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mạc dịch nghiên cửa
Luận án nghiên cứu, khảo sát đặc điểm của việc sử dụng từ ngữ tiếng
Anh trên các báo mạng hiện nay, đồng thời lí giải cáu nhân Lỗ ngôn ngữ - xã
hội tác dông dến việc sử dụng chúng Tử đó, luận án góp phần vào nghiên cứu
vấn để từ ngữ mượn nói riêng, tiếp xúc ngôn ngữ nói chung từ góc độ ngôn
kè
Trang 8ngữ học xã hội, góp phần vào giữ gìn sự trong sing của tiếng Việt và chuẩn
hóa tiếng Việt
24.3 Nhiệm tụ nphiên cứu
Từ mục đích trên, luận án để ra nhiệm vụ như sau
2.1 Tổng quan có đánh giá, nhận xét những nội đưng nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận án;
2.2 Xây đựng cơ số lí thuyết để làm cơ sở triển khai luận ản;
2.3 Nghiên cứu, khảo sát thực trạng, đặc điểm của các từ ngữ tiếng
Anh được sử dựng trên một số báo mạng,
2.4 Nghiên cứu, khảo sát thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối
với việc sử đụng các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên các bảo mạng;
2.5 Lí giải và để xuất kiến nghị việc sử dụng các tử ngữ tiếng Anh trên các báo mạng gắn với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hớa tiếng Việt
3 Phương pháp và thủ nháp nghiên cứu
Luận án sử đựng một số phương pháp sau:
3.1 Phương pháp thông kê ngôn ngữ học
Phương pháp này dùng dễ thống kê các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên
một số báo mạng tiếng Việt, chỉ ra số lượng cùng như tần suất xuất hiện của
chủng Cụ thể tiến hành thống kế các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên một số báo mạng nhưng không phải bằng cách ghi lại các từ ngữ đơn lẻ mả ghi trọn
vẹn cả câu, tức là ngữ cảnh xuất hiện của chúng Việc ghi bối cảnh xuất hiện
như vậy sẽ giúp cho việc giải thích vỉ sao các từ ngữ tiếng Anh này lại được
xuât hiện (do tiếng Việt chưa có từ biếu thị hay xuất hiện với tư cách là một
thuật ngữ mang tỉnh quốc tế hay nhằm nhắn mạnh, ) Đồng thời, việc ghi trọn ven ngữ cảnh sẽ giúp cho việc giải thích lí do vì sao từ ngữ tiếng Anh
này lại xuất hiện ở dạng nguyên dạng, từ ngữ tiếng Anh kia lại xuất hiện ở
Trang 9dạng biến thể như phiên âm, có khi là xuất hiện vừa ở dạng phiên âm vừa
nguyên dạng,
3.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học
Thương pháp này dùng để miêu tá đặc điểm về hình thức (hình thái, cầu
trúc) cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trên
một số báo mạng tiếng ViệL Cụ thể: cáo từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên báo
mạng tiếng Việt có piữ nguyễn hình thải cấu trúc như trong nguyễn ngữ hay
đã thay đối theo đặc điểm cấu trúc hình thái của từ tiếng Việt; các từ ngữ
tiếng Anh xuất hiện trên báo mạng tiếng Việt có giữ nguyên nghia nhu trong,
tiếng Anh hay dã thay đổi và mức dộ của sự thay đổi trong nội bộ một từ cũng,
nihư giữa các từ ngữ với nhau
3.3 Phương pháp diễu tra cúa ngôn ngữ học xã hội
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 3 để xem xét “thái
độ ngôn ngữ”, hay nói một cách giản dị là ý kiến của người đọc/độc giả đối
với việc sử dụng tử ngữ tiếng Anh trên báo mạng,
- Sử dụng các câu hỏi đóng và câu hỏi mở thăm dò ý kiến của người sử
dụng đồng ý hay phản đối, thích hay không thích cách sử dụng các từ ngữ
tiếng Anh trên báo mạng
- Thực hiện phỏng vấn sâu để có được câu trã lời rỡ ràng cững như nêu
được lí do vỀ ý kiến cũa người sử dụng đối với sáo từ ngữ tiếng Anh xuất hiện
trên báo mạng
Củng với các phương pháp nêu trên, luận án còn sử dụng một số phương pháp và các thủ pháp quen thuộc trong nghiên cửu như diễn, dịch,
quy nạp Luận ăn cũng sử dụng cách tiếp cận liên ngành, các trí thức về văn
hóa, xã hội để nghiên cứu việc sử dựng các Lừ ngữ tiếng Anh trên bảo mạng
4 Dối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
từ ngữ tiếng Anh được dùng trên một số báo mạng hiện này
Trang 10Pham vi và tư liệu được giới hạn trong một số trang báo như Dân trí,
Vnexprass, Báo mới và một số báo mạng khác từ năm 2013 trở lại đầy
Sở dĩ chúng tôi tập trung vào ba tờ bảo mạng nảy là vì: day là những tờ
báo mạng thuần tủy, tức là không có báo giấy đi kèm nên các bải viết trong ba
tờ báo này ít nhiễu không chịu ảnh hưởng của báo giấy Tuy nhiên, cũng khó
tránh khối điều này Chẳng hạn, Báo mới là từ đưa tìn khá tổng hợp, dẫn từ
nhiều nguồn thông tin khác nhau, nên rất cỏ thể cớ một số bài “có nguồn pắc”
từ báo giây
Tủ nguồn từ liệu được thu thập trên các báo mạng số lượng khá lớn nên chúng tôi tiến hành thu thập theo cách chọn mẫu chủ ý có kết hợp với ngẫu
nhiên Cụ thể: theo quan sát của chúng tôi, các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện
trên báo mạng tập trung vào một số lĩnh vực lớn như: khoa học công nghệ, thể thao, kinh doanh, giáo dục, giải trí, du lịch Vỉ thế, củng với việc thống kẻ
theo chiều rộng, chúng tôi tập trung vào thống kê các từ ngữ tiếng Anh xuất
hiện thường xuyên trong một số chuyển mục này
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
41 Ý nghĩa lí luận
Eết quả của việc khảo sát, nghiên cứu các từ ngữ tiếng Anh xuất hiện trên báo hiện nay góp phần vào lí hiận tiếp xúc ngôn ngữ và hệ quả của sựu
tiếp xúc nảy Như đã biết, thể giới hiện nay có xu hướng là thể piới của da
ngữ đo quá trình toản cầu hóa, trong đó di dân là một tác nhân quan trong
Đây chính là điều kiện thuận lợi để các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau Khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì hệ quả của chúng lâ rất lớn, tác động không,
chỉ đến hệ thống cấu trúc của mỗi ngôn ngữ mã còn đến cả các vẫn đề của
giao tiếp Nếu như trước dây, ngôn ngữ học cấu trúc luận chỉ chủ ý đến các
nội dung của cấu trúc hệ thống thỉ ngày nay ngôn ngữ trong sử dụng được
Trang 11đặc biệt chú ý Vì thế, thiết nghĩ kết quả nghiễn ctru khao st tir ngữ tiếng Anh được sử dụng trên báo mạng tiếng Việt góp phần minh chứng, làm rỡ thêm
một số vấn đề lí thuyết này
Kết quá này oũng góp phần vào lí luận của ngôn ngữ họo xã hội, Lức là,
sự tác động của nhân tô xã hội đối với việc sử dụng ngôn ngữ Di với xã hội hiện nay thì đó là nhân tổ toàn cầu hóa với vai trò của tiếng Anh đối với tất cả
các ngôn ngữ nói chưng, tiếng Việt nói riêng Một cách cụ thể hơn, toàn cầu
hóa đang góp phần mở rộng chức năng của tiếng Anh, theo đó, các yếu tố của
tiếng Anh, trong đó có từ vựng dang tác động mạnh vào cáu ngôn ngữ trên thể
giới
52 nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luân án có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp phần chỉ ra được hiện trạng sử dụng tiếng Anh trong tiếng Việt hiện nay, nhất
là trong lnh vực truyền thông Việc sử dụng ngôn ngữ nói chung, các lừ ngữ
tiêng Anh nói riêng trên các phương tiện truyền thông có tác động mạnh đến việc sử đụng ngôn ngữ của toàn xã hội Vì thế, kết quả khảo sát này làm rõ
thêm dặc điểm sử dụng tử ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt ở các phong cách
khác nhau với các mức độ khác nhau; từ đó, định hướng cho việc tiếp tìm từ
ngữ nước ngoài má chủ yếu là từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt gắn với việc
giữ pìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng, Viết: xử lí từ ngữ tiếng Anh trên các
phương tiện truyền thông: xử lí từ ngữ tiếng Anh trong từ điển
6 Cấu trúc của luận án
Luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
dược cấu trúc thành 3 chương
Trang 12Chương 1 Tẳng quan tình hình nghiên cúu và cơ sở lí thuyết của
luận ản
Chương này, trên cơ sở tống quan tỉnh hình nghiên cứu về từ ngữ vay
mượn, xây dựng cơ sứ lí thuyết cho luận án Các nôi dung lỉ thuyết lập trung
vào lí thuyết vay mượn từ vựng vá chuẩn hóa ngôn ngữ liên quan đến việc xử
lí, tiếp nhân từ ngữ nước ngoài trong ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói
riêng Đồng thời, chương này cũng dành một phần giới thiệu về đặc trưng và
đặc điểm ngôn ngữ của báo mạng nói chung, trong đó có các báo mà luận án
thống kể tư liệu
Chương 2 Đặc diễm từ ngữ tiếng Anh trên bán mạng tiếng Việt
Chuong nay, ttr tư liệu théng kề được tiễn hành phân loại, tổng hợp các
tử ngữ mượn tử tiếng Anh, chỉ ra thực trạng cách dủng chúng trên các trang báo nảy từ các góc độ ngữ âm - chính tả, ngữ nghĩa, tử loại; chỉ ra các biến thể từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng hiện nay, đồng thời lí giải lí đo của việc
xử lí chứng,
Chương 3 Từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng với việc giữ gìn sự
trang sáng của tiếng Việt
Chương này khảo sắt ý kiến hay nởi theo cách của ngôn ngữ học xã hôi
là thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với việc sử dụng từ ngữ nước
ngoài trên bảo mạng Từ việc phân tích những gái “được”, “mắt” cúa mỗi
cách sử dụng, luận án để xuất một số giải pháp cho việc sử dụng từ ngữ tiếng
Anh trên bảo mạng nói riêng, trong tiếng Việt nói chung,
x
Trang 13CHƯƠNG 1
TÔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYÉT CỦA LUẬN ÁN
1.1 Tẳng quan về tình hình nghiên cứu
1.11 Tng quan tình hình nghiên cửu hiện tượng từ ngũ vay mượn
trên thể giới
a Khang định “có lẽ không có ngôn ngữ nảo trên thể giới hoản toàn
không cỏ các từ mượn", các nhà nghiên cứu cho rằng, khi các ngôn ngữ tiếp
xúc với nhau thì tắt phải vay mượn của nhau Sự vay mượn có thể diễn ra ở
mọi bình điện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ở mọi cấp đô của ngôn ngữ (cấp đô
dưới từ, cấp độ từ, cấp độ trên từ) Tuy nhiên, trong các bình điện vay mượn,
sự vay mượn từ vựng là "phổ biển nhất” Phẳng hạn
Trong vén từ của tiếng Anh có rất nhiễu từ ngữ vay mượn Ihỗng kẻ
gần đây cho thấy, trong tiếng Anh: các Lừ ngữ mượn từ tiếng Latinh chiếm
khoảng 29%, mượn từ tiếng Pháp chiếm 29%, mượn từ tiếng Dức chiếm
khoáng 26%, mượn từ tiếng Hy Lạp 6%, mượn tử các ngôn ngữ khác khoảng
10% |nguồn: Wilapedia|
Đổi cánh xã hội cũng tác dộng mạnh dễn sự vay mượn từ ngữ trong
tiếng Anh Ching hạn, lòi lại lịch sử cho thây, vào những năm 1500, 1600,
1700, trong tiếng Anh có cáo từ ngữ mượn Lử tiếng Itaha, tiếng Tay Ban Nha,
tiếng Hà Lan; vào những năm 1800, các từ ngữ của tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiéng Hy lap, tiếng Tức nhập vảo tiếng Anh; còn ngày nay lại thấy xuất hiện
cac Uir nuit iéng Nhat, vi du: judo, sushi, tsunami “song thần” Đây là lí do
giải thich vi sao R.L.Track dua ra nhận xét thủ vị vé hién Tượng vay Imượn từ
ngữ trong tiếng Anh "người nỏi tiếng Anh thuộc về trong số những người muon nhiệt tinh nhat (the most enthusiastic borrowers) ti ngữ của các dân tộc
Trang 14trên thé giới"; "Nếu như giở một trang bất kỉ của cuốn ur dién liểng Anh
nhằm chỉ ra nguồn gốc của từ, bạn có thể khám phá ra quá giả nửa các từ có
nguồn gốc từ ngôn ngữ khác" [Dẫn theo 52]
Các ngôn ngữ khác cũng vậy Chẳng hạn
'trong tiếng Nga có rất nhiễu từ tưởng như là thuần Nga nhưng truy về
lịch sử chúng lại thuộc các ngôn ngữ khác Ví dụ
1rkana “trường học” (pắc T.atinh)
Kapaiiòaii “bút chỉ” (sốc Tuyêc)
Koomoa “hộ dồng phục” (gốc Pháp)
cavap "dường"(sốc Hy lap)
ceerna “cay cl cai dé” (ắc Tly lap)
Trong tiếng Hán, bên cạnh lớp từ ngữ thuần Hán thì có một số lượng, không nhỏ các từ ngữ “phi thuần Hán” Ví dụ
gốc từ tiếng Ba Tu cé Ser: IF (su ut)
Các từ ngữ Phật giáo có nguồn gốc tir tiéng Phan: popes A di da
phat (Amitabha), 7£ Bồ tát (Bodhisattva), [R[F Diêm vương (Yama-ràja)
b Xung quanh van dé vay mượn, các tác giả như Haugen Kinar, Grzega
Joachim (2003) Weinreich Uriel (1953), Zuckerman Ghil (2003) [121] đã
đưa ra nhiều vấn để nôi dung nghiên cứu khảo sát Có thể quy thành thành 5
câu hồi lớn như sau
G) Khai niệm thể náo IA tit muon? Lam thế nảo để có thể phân biệt với
các hiện tượng khác như là chuyển mã hay trộn mã?
(i) Vi sao phấi vay mượn lử ngữ?
(ii) Lam thé nao dé cho các từ ngữ mượn co thể thích nghi với ngôn
ngữ đi vay về ngữ âm, ngữ pháp (hình thải - cấu trúc) và ngữ nghĩa?
Gv) Lam thé nao để cho các Lừ ngữ mượn có thể phát triển ở các ngôn
ngữ di vay?
Trang 15r Se Rk aoa wah th ng
{v) Vai trò của các nhân Lỗ ngoài ngôn ngữ đối với các từ ngữ mượn
như bối cảnh chính trị xã hội, thái đô ngôn ngữ của công đồng,
Trên đây là những câu hỏi chung cho mọi ngôn ngữ khi xử lí các từ vay
mượn Còn cách xử lí ra sao thi lại phụ thuộc vào từng ngôn ngữ
Có thể tóm tắt những nội dung đã và đang được nghiên cứu về từ vay mượn như sau:
Thứ nhất, các tác giả tập trung vào làm rõ các khái niệm như: 4iien
word, Borrowed/borrowing word, Foreign word, IIybrid word, Loan word,
Lean biends, Loan transtation/calque
Alien word: chỉ các từ ngữ dến từ ngôn ngữ khác nói chưng,
Borrowed/borrowing word: chỉ những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ
khác bằng cách để nguyên dạng hay đã thay dỗi it nhiều
Horeign word: chỉ các từ ngữ đến từ ngân ngữ khác
Hybrid word: chỉ các từ ngữ hình thành từ các thành phần có nguồn gốc
từ ngôn ngữ chơ vay và ngôn ngữ di vay
Loan word: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác bằng cách
dịch âm, phỏng âm
Loan blend: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác bằng cách
pha giữa một phần ngữ âm mượn và một phần ngữ âm của ngôn ngữ đi vay
Loan iranslation/calque: là những từ ngữ được mượn từ ngôn ngữ khác
bằng cách dịch nghĩa, phỏng dịch nghĩa
Đây là những khái niệm phức tạp, có thể phân biệt về mặt lí thuyết,
nhưng thực tế thì không hề đơn giãn Có lẽ vi lí do này mả gần dây, theo
tướng ngôn ngữ học xã hội, R.Fasold đề nghị nên dùng tir “copying word’
thay cho Borrowed/borrowing word |117|
Thứ hai, các tác giả dều dưa ra các lí do về ngôn ngữ và xã hồi tác động,
đến vay mượn tử ngữ.
Trang 16Về nhân tô xã hội, đáng chú ý là ý kiến của B.Sapir: "Cũng như các nền
văn hoá, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ", "nhu cầu giao lưu đã khiến
cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với
xihững người nỏi những ngôn ngữ lân vận hay có ưu thế về mặt văn hoá Sự
giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thủ địch Nó có thể diễn ra trên bình
diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bản, hoặc có thể là
một sự vay mượn hay trao đổi những giả trị tỉnh thần, nghệ thuật, khoa học,
tôn giáo" [140, tr 237]
VỀ nhân tổ ngôn ngữ, ø.wÕcnuow và ›LÕ.nuxonckuli cho rằng, vay mượn từ vựng có thể diễn ra do thiếu thì vay nhưng cũng có thể là có nhưng,
vẫn vay [Dẫn theo 52] Theo đồng tác giả, hiện tượng này chỉ bắt gặp ở các
ngôn ngữ phương Đông như tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Việt lí do là vì, các ngôn ngữ phương Đông trước đây như tiếng Nhật, tiếng Hản, tiếng V
chỉ là các ngôn ngữ thấp (L) so với tiếng Ilán là ngôn ngữ cao (II), do vay,
trong các ngôn ngữ nảy rất thích mượn các tử ngữ của tiếng Hán mặc đủ đã có
từ ngữ mà bản thân ngôn ngữ mình đã có
Tuy nhiên, trái với cách nhìn của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, các
nhả ngôn ngữ học Âu - Mỹ, cho rằng, tưy trong vốn từ của một ngôn ngữ đã
có các từ ngữ biểu thị khái niệm rôi mà vẫn còn mượn dùng các từ ngữ tương
đương oũa ngôn ngữ kháo là hiện tượng vay mượn rất bình thưởng đối với
mọi ngồn ngữ Ví dụ, trong vốn từ vựng tiếng Anh đã có pen-ame nhưng vẫn
vay mượn của tiểng Pháp nơm đe phưme "Người nói tiếng Anh (English- speaker) dã cỗ pắng mượn một cải gì đó tử tiếng Pháp, nhưng đã lảm sai lệch
đi ", Khi người nói tiếng Anh mượn th nom de plume cha tiếng Pháp mả
trong tiếng Anh đã có tử gen-name tương duong "chi la do uy tin" (prestige)"
[Dẫn theo 52, tr 23]
Trang 17: 2 teh ate nye bed on ` +
Ngày nay, hiện tượng “có từ ngữ biểu thị rồi mà vẫn còn vay mượn, sử
dụng từ ngữ của ngồn ngữ khác” xem ra cảng ngày cảng phổ biển Chẳng hạn,
trong tiếng Việt, có nhiều khái niệm đã có từ biểu thị vả trở nên rất quen
thuộc với người Việt nhưng vẫn sử dụng tử tiếng Anh Vi du
chất lượng quéc gia — national accreditation
“Mii ndi (beret) cé cú trở lại ngoạn mục, thê hiện mối quan hệ chặt chết
giữa thời trang và xã hội ”"
(12 trảo lưu mốt thống trị dường phố năm qua,
Vnexpress, 23/12/2017)
“Chia khéa dẫn tới thành công kh bọc Hếng Anh chính là
“vocabulary” (tir vung)”
(Bạn di tim ra bi kip học tiếng Anh đứng cách chưa?
Trang 18Về ngữ âm, các từ ngữ được vay mượn phải đẳng hóa về ngữ âm sao cho phủ hợp với ngữ âm của ngôn ngữ đi vay Ví dụ
Tiếng Nhật không có âm ¿v/ nên các từ ngữ nước ngoài có âm // đều chuyển thánh /b/, ví dụ: víđeo thanh bideo; 3044, wen hua (văn hóa) thành bunka)
Về hình thái, các từ ngữ vay mượn phải thay déi hinh thai sao cho pha
hợp với ngôn ngữ đi vay Ví dụ:
Các từ tiếng Anh du nhập vàn tiếng Đức phải thay đổi theo giống, số, cách:
weg: wege (so nhiều), blume: blumen (sô nhiều), pilol: pilotn (số
nhiều)
Các từ tiếng Anh vào tiếng Nga cũng thay đổi hình thái cho phù hợp
với tiếng Nga Ví dụ:
Thứ tư, các nghiên cứu tập trung vào vai trò của từ ngữ mượn trong các
ng6n ngữ Xung quanh vấn dé nay có hàng loạt các câu hỏi đặt ra, chẳng hạn
như, trong vên từ vựng của một ngôn ngữ thì mượn bao nhiêu từ ngữ? Mức
độ mượn đến đầu thì bị coi là “lạm dụng”, bị coi là 6 nhiém (language
poliution, #773)? Day chính là một nội dung thường được nhắc đến
trong ngôn ngữ học xã hội của xã hội (ngôn ngữ học xã hội vĩ mô) má lrực
Trang 19tiếp là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ - một nội dung của kế hoạch hoa ban thé ngồn ngữ
1.1.2 Tẳng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng từ ngữ: vay naượn
ở Vide Nam va cdc từ ngữ Anh trên cúc phương tiện truyền thông
1.1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng lừ ngữ vay mượn ở
Viét Nam
© Viét Nam, hiện tượng vay mượn trở thành một nội dung lớn, xuyên
suốt lịch sử nghiên cứu tiếng Việt Được coi là một trong những hệ quả quan
trọng của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, từ ngữ vay mượn
trong tiếng Việt thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới Việt ngữ học
a, Ti góc độ nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các nhà nghiên cửu như
Nguyễn lài Cấn [7] ‘Trin ‘Ii DSi [20], Phan Ngoc, Pham Duc Duong [68], Nguyễn Ngọc San [7§], đã nghiên cứu sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với các
ng6n ngữ Nam Á và các từ ngữ của tiếng Việt có nguồn gẫu lử các ngôn ngữ
này Lhông qua mỗi quan hệ về ngữ âm lịch sử giữa các từ ngữ tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam A dé tim hiểu về cội nguồn của tiếng Việt Cũng liên quan
dến lịch sử tiếng Việt, không thể không kể dến các công trình nghiên cửu về
tiếp xúc Hán - Việt để hình thành nên cách đọc Hán - Việt, một phần quan
trọng của hệ thông ngữ âm tiếng Vit ela Wang Li/Vuong Luc, Nguyén Tai Cẩn Trong công trình của mình, Vũ Đức Nghiệu [67] dã thu thập và chỉ ra
được 362 từ có nguồn gốc Việt - Mường, 145 tử có nguồn gốc Proto Việt -
Mường, 520 từ có nguồn gốc Proto Mon - Khmer và khoảng 90 từ có sự tương ứng với các ngôn ngữ Nam Á khác Xin được nhắn mạnh là, mặc dù,
đây không phải là hướng nghiên cứu của luận án này, nhưng thiết nghĩ không
thể không nhắc dén vì chúng liên quan dến các khái niệm về lí thuyết mà
chúng tôi sẽ trình bảy dưới đây.
Trang 20b Liên quan đến hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Việt, các
nghiên cửu đều tập trung vào 3 nguồn chính
- Nguôn vay mượn từ tiêng Hán;
- Nguần vay mượn từ tiếng Pháp;
- Nguôn vay mượn từ tiếng Anh
Các nội dung trên luôn luôn xuất hiện và Irở thành một phần không thể thiểu trong các giáo trình cũng như chuyển khảo về từ vựng tiếng Việt như
Nguyễn Văn Tu (1976), Dễ Hữu Châu (2005), Nguyễn Thiện Giáp (1985),
Lưu Văn Lăng (1987), Nguyễn Như Ý (1989), Vũ Quang Hảo (1991), Bui
Đức Tĩnh (1976), Phan Ngoc (1983), Nguyễn Đức Lân (1999),
Cho đến nay, có đến hàng trăm bải viết và nhiều luận án, luận văn, khóa luận về nội đụng này Trong dé dáng chú ý là hai cuốn chuyển khảo
*fừ ngoại lai trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Khang (2007) nghiên cứu
toàn điện cả ba nội dung về vay mượn từ vựng trong tiếng Hán, tiếng Pháp và
tiếng Anh; ? gốc Pháp trong tiẳng Việt của Vương Toàn (1992) nghiên cứu,
khảo sát về hiên tương vay mượn tử vựng trong tiếng Pháp
Dưới đây, chúng tôi tiến hanh téng quan tinh hình nghiên cứu các từ
ngữ vay mượn từ ba nguồn này
Do khối lượng công trình nghiên cứu rất nhiều nên chúng tôi trinh bảy
tổng quan theo ndi dung vấn dé nghiên cứu và tập trung vào một số nội dung
lớn
Một là, có thể nhận thấy, khi nghiên cứu về từ vay mượn trong tiếng
Việt, các nhà Việt ngữ hợc tập trung vào các nội dung chủ yếu như sau:
G) Nghién cứu khả năng Việt hóa của các từ mượn trong tiếng Việt ở
các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, tử vựng - ngữ nghĩa
(1 Nghiễn cứu về khả năng hoạt dông của các từ mượn ở cấp độ tạo từ
cũng như ở khả năng hoạt động độc lập.
Trang 21đi) Nghiên cứu sự tương ứng giữa từ ngữ mượn với các đơn vị tương
đương trong tiếng, Việt
đv) Nghiên cứu về vai trò của các tử mượn từ góc độ phong cách học (v) Nghiên cứu cáo Lừ mượn trong tiếng Việt từ góc độ chuẩn hóa, giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Hai là, xung quanh việc sử đựng thuật ngữ vẫn còn các ý kiến khác
nhau Hiện tiếng Việt dang sử dụng các thuật ngữ liên quan như: “từ mượn”,
“từ vay mượn”, “
(1981); Nguyễn Văn Khang (2007), Nguyễn Thiên Gháp (2015) Mặc dủ có
từ gốc ngoại”, “từ ngoại lai”, “từ thuần Việt? (Phan Văn Các
thể lả tên gọi giống nhau nhưng cách lí giải, quan niệm khác nhau, nhất là
cách Hỉ giải “từ thuần Việt" trong sự đối lập với “từ mượn” Ching hạn:
Nguyễn Thiên Giáp (2015) cho rằng: "Những từ pốc Hản cổ ( ) dã di
vào khẩu ngữ của nhân dân, được nhân dân Việt Nam chấp nhận như là
những yếu tế của tiếng Việt Như vậy, những từ gốc Nam Á, gốc Tây - Thái,
adc Nam Dao, adc Han di cd mặt khi tiếng Việt hình thành thì đều được coi
là những từ thuần Việt Chỉ nên coi là từ mượn những từ mà tiếng Việt tiếp
nhận của các ngôn ngữ khác sau khi tiếng Việt đã hình thành Đó chính là
những từ ngữ mà tiếng Việt mượn của tiếng Hán, của các ngôn ngữ An - Âu
và các ngôn ngữ khác Vấn đề đặt ra là, có nên đồng nhất từ mượn với tử
ngoại lai, đối lập với từ thuẫn Việt được coi là từ bản ngữ hay không?" Tác
giả đã giải thích như sau: "Nếu xác định từ thuân Việt không chỉ căn cử vào
nguỗn gốc mà căn cứ cả vào quá trình vận động và phát triển của tiếng Việt
thì từ thuẫn Việt không đối lập với tử mượn mà đối lập với từ ngoại lai Từ
ngoại lai trong tiếng Việt là những từ mượn của các ngôn ngữ khác nhưng vẫn
còn giữ đấu ấn của ngoại ngữ Những tử mượn của ngôn ngữ khác nhưng có
su ding hóa cao thường được coi là từ bản naữ, thuần Việt” [32]
Trang 22Nguyễn Văn Khang trung cuốn "Từ ngoại lai trong tiếng Việt [52] có cách nhin khác như sau
- "Nhin từ góc độ vay mượn từ vựng, vốn từ vựng của một ngôn ngữ,
vỗ lí thuyết, sẽ được phân làm hai: những từ bản ngữ và những từ vay mượn
‘Thuit ngt tr vay mượn, cũng vì thể, thường được dùng trong sự đổi lập với te
bắn ngữ Với cách nhìn này, về mặt lí thuyết, cá thế hình dung hệ thống từ
vựng tiếng Việt sẽ dược lưỡng phân một bên là tte thudn Việt và mét hén 1a ter
vay muon hay từ ngoại lai"
- Khải niệm “từ ngữ thuần Việt” dược nhắc dến cũng lả nhằm để đổi
lập với khái niệm “không thuần Việt”, “phi thuần Việt”, nói cách khác, dây là
những từ không phải gốc tiếng Việt Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó có thể
vạch ra dược ranh giới này Cũng theo Nguyễn Văn Khang, liên quan dến nội dung này, trong tiếng Việt còn sử dựng "từ gốc ngoại" hay "từ Việt gốc
ngoai": cách dùng này để chỉ các đơn vị từ vụng của tiếng nước ngoài được
du nhập vào tiếng Việt (như các từ ngữ của tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh
và một số ít đơn vị từ ngữ tiếng Nga)
- Có thể xem xét các từ mượn trong tiếng Việt từ các góc độ khác nhau:
+ Xét từ góc đô nguồn gốc: gồm các từ ngữ tiếng Việt gốc ngoại có
+ Xét từ gác độ thời kì vay mượn: pm các từ ngữ tưy cùng một gốc
mượn nhung lại được vay mượn ở các thời kỉ khác nhau
+ Xét từ bình diện cấu trúc hệ thống: các từ vay mượn có thể phân loại
thành các tiểu loại khác nhau
Trang 231 Xé từ góc độ kiểu vay mượn: gầm các từ ngữ bảo lưu như trong nguyên ngữ và các từ ngữ thay đổi khác với nguyên ngữ
Từ đó, Nguyễn Văn Khang đi đến nhận định răng: "Diễm qua vài nét
xihư trên để thấy bức tranh của từ mượn trong tổng Việt rất đa dạng Có thổ từ
nhiều góc độ khác nhau để tiếp cận từ mượn trong tiếng Việt" [52, tr 62-66]
Ba là, hiện Lượng vay mượn từ ngữ trong liếng Việt cũng giống như phần lí thuyết nêu ở trên: từ ngữ mượn có thể mang khái niềm mới mả tiếng
Việt chưa có từ ngữ biểu thị và có thể là các từ ngữ tiếng Việt đã có từ ngữ
biểu thị Chứng mình và làm sâu sắc thêm cho quan diém này, Nguyễn Văn Khang (2007) đã dưa ra một thống kê thú vị về vay mượn các đơn vị Hán
trong, tiếng Việt:
- Những dơn vị Hán mang khái niêm mới ma tiếng Việt chưa có từ biểu
thi chỉ chiếm 15% Ví dụ: thánh-thánh, hiển-hiển, tiên-tiên, phật- phật
- Những đơn vị mượn Iián mang khải niệm mả tiếng Việt đã có từ biểu
thị chiếm tới 85% Đây chính là lí do tạo nên hiện tượng ding nghĩa rất lớn
trong tiếng Việt Ví dụ: đài-trường, chó-cẫu, trăng-nguyệt-sóc-vong, chếttữ-
hị sinh mãn cảnh trấn, cây-th
Bồn lá, đỗi với từ ngữ mượn Hán
Trong các hiện tượng vay mượn từ ngữ thì vay mượn từ ngữ tiếng llán
là phức tạp nhất và đượu nghiên cứu nhiều nhất Li do lả vi, các lử ngữ mượn
Hán trong tiếng Việt "vừa nhiều vừa đa dạng về số lượng, phong phủ về chất
lượng", "hoạt động trong tiếng Việt hiện đại ở lất cả cấp độ", "tham gia vào các phong cách chức năng giao tiếp tiếng Việt, hỏa nhập vảo tiếng Việt thành
các tầng các lớp"; "cỏ tầng nối lên trên bề mặt có thể đễ đảng bóc tách riêng
ra dược, lại có tầng phải nhờ dến thao tác ngôn ngữ học lịch sử mới có thể ghí
ra dược, nhưng lại có cả những tầng mà cho đến nay vẫn là những diều bi an
chưa thể khám phá" [52, tr 67].
Trang 24() Thảo luận và làm rõ ác khái niệm cũng như o
ch phân loại từ mượn
Hán trong tiếng Việt Cĩ thế thấy, xung quanh cách gọi và phân loại tử mượn
Hán cịn cĩ những cách nhin khác nhau, chẳng hạn, các tác giá đã phân loại
theo cach gọi tên như sau: từ gốc Hán, tử mượn Hán (Phan Văn Các, 1981),
từ gốc Hán trong tiếng Việt với các từ Hán đọc theo âm Hán - Việt của
Nguyễn Thiện Giáp (1985), nhĩm Hán Việt cỗ, nhỏm Hán - Việt và nhĩm từ
muon qua tiếng dịa phương (Nguyễn Văn Thạc, 1968); từ Hán cổ, từ gốc Hán
mượn của đời Dường, từ gốc Hán đã Việt hố (Nguyễn Văn Tu, 1976); từ tiễn
Han - Việt, từ Hán - Việt, từ hậu Hán - Việt (Nguyễn Quang Hồng, 1994), Các cách gọi khác nhau này khơng phải chỉ dễ gọi tên mà bà hàm cả quan
niệm, cách ứng xử đổi với các từ muon Ian
(Gi) Qua cách gọi tên ở trên cũng như cách nhìn nhận về từ ngữ mượn
Han, các tác giả đều cho rằng, từ ngữ Hán - Việt là bộ phận quan trọng nhất
của tử tiếng Việt cĩ nguỗn gốc từ tiếng Iián, vi thế, các nội dung nghiên cứu
dều hướng vào Hán - Việt Cĩ thể tổng hợp các nội dung và kết quả nghiên
cứu về từ ngữ Hán - Việt như sau
- Phân biệt giữa từ Ilán - Việt (những từ Ián - Việt đã va dang được
dùng trong tiếng việt) và từ Hán chỉ cĩ cách đọc Han - Việt (chưa dược nhập
vào tiếng Việt) Như vậy, chỉ khi nào các từ Hán cĩ cách đọc Hán - Việt được dùng trong tiếng Việt mới được coi là từ Hán - Việt Cịn các từ llán chỉ cĩ
cách doc Hán - Việt chưa dược nhập vào tiếng Việt sẽ cĩ tiểm năng trở thành tir Han - Việt khi cĩ điều kiện
- Từ ngữ Hán - Việt được nghiên cứu từ các gĩc độ kháu nhau, như: Lử
gĩc đơ nguồn gốc tìm hiểu lịch sử của từ Hán - Việt; từ gĩc độ thời gian của
sự vay mượn để tìm hiểu tác động của béi cảnh xã hội đối với từ ngữ Hán -
Việt, từ gĩc độ con dường vay mượn để thấy dược việc Lạo ra các biến thể
Hán - Việt trong tiếng Việt, từ gĩc độ đồng hĩa để thấy được khả năng Việt
Trang 25hóa của các Lừ ngữ Hán - Việt; từ góc độ sử dụng, từ góc độ chức năng để
thay được vai trò của tử ngữ Hán - Việt trong tiếng, Việt
Khả năng Việt hóa các bình điện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, như: ở
bình diện ngữ âm là khả năng tạn ra các biến thể Hán - Việt do Lác động của
yếu tổ phương ngữ; ở bính diện nội dung của các từ ngữ Hán - Việt là khả
năng giữ nguyên nghĩa hay thay đối, phát triển nghĩa; sự phân bố lại nghĩa khi
Các từ Hán - Việt đã thay đổi nghĩa so với nghĩa trong tiếng Hán:
khốn nạn | trong tiếng Hán có nghĩa là "khó khăn"; vì trong tiếng
Việt đã có khó khăn nên khôn nạn có nghĩa là “có nhân cách kém, tai"
cốt # trong tiếng Hán có nghĩa là "xương"; vì trong tiếng Việt đã cỏ
xương nên cốt có nghĩa là “xương của người, động vật đã chết từ lãu”
thuyết 7Ế trong tiếng Hắn có nghĩa là "nói"; vi trong tiếng Việt đã có nói nên thuyết có nghĩa là “giảng giải, nói lí lẽ để người ta nghe theo”
tứ rễ {Ÿ Ìll trong tiếng Hán có nghĩa là “tỉ mỉ”; vì trong tiếng Việt đã có
tỉ mỉ nên sử tế có nghĩa là “đứng đắn, đảng hoàng trong việc làm, hành xử”
6 bình diễn diện ngữ pháp: giữ nguyên cương vị lá từ hoặc thay dỗi
cương vị ngữ pháp, tức là chuyển từ cương vị từ xuống cương vị hình vị Ví
dụ: nhân (người), bắt (không), thụ (cây), hà (sông) trong tiếng Việt chỉ là yếu
tổ tạo tử (nếu có dùng dộc lập thì cũng chỉ mang tỉnh lâm thời)
20
Trang 26- Các từ ngữ Iián - Việt có phong cách chức năng khảo nhau, như: có
sic thai trang trong, khải quát, trừu tượng, do đó, thường được dùng trong
nigôn ngữ văn chương, trong cấu tạo thuật ngữ
- Giữ gia sự trong sáng của tHỏng Việt khi sứ dụng từ Hán - ViệU sử
dụng đúng từ Hán - Việt, tránh lạm dụng từ Hán - Việt
Năm là, đỗi với cáu từ ngữ mượn Ấn - Âu
Đổi với từ ngữ mượn Ấn - Âu, gồm từ ngữ mượn của tiếng Pháp vả từ
ngũ mượn của tiếng Anh, các tác giả như Vương Toàn, Nguyễn Dức Dân, Lê
Văn Thới, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thúy Nga, Đỗ
Phương l.âm, tập trung vào nghiên cứu các van dễ như sau:
() Các cách vay mượn từ ngữ An - Au, gồm:
- Phiên chuyển Ví dụ
xắc-cỐI/wà-cột: sacoche, xốt-vang: sauce au vin, dp-phe: affaire, xide-
cirque); caa bd? (cowboy), sé (show)
- [3ịch sang tiếng Việt Ví dụ:
duéng sdt: chemin de fer, phót ăng-lêphót tỉnh ảng-lê: Le Ẩlegme
d*anglais), giết thì giờ: tuer le Lampsỳ vay bắc edu: bridge loan, mit cd chesi
bottle neck
(Gi) Cach Viét héa ngit am di véi các từ Ân - Âu Do sự khác nhau về
đặc điểm loại hình học, nên không íL các từ ngữ tiổng Pháp, tiếng Anh khi sử
dụng trong tiếng Việt đã được Việt hóa theo cấu trắc âm tiết của tiếng Việt
[Vương Toản, 1992, Nguyễn Văn Khang, 2007; Đỗ Phương Lâm, 2017] Đỏ
là xu hưởng rút gọn cầu trúc âm tiết của từ như dơn tiết hóa, song tiết hỏa
- Những từ có câu trúc ngữ âm ngắn được rút gợn thành từ đơn tiếng Việt
Ví dụ
hombe: bom
pompe: bom
2L
Trang 27chéque: séc
~ Những từ đa tiết bị lược bỏ bớt âm tiết chỉ giữ lại một âm tiết Vỉ dụ
enveloppe: lốp
roue libre: lip
camera: cam (thiết bị thu hình)
website: web
container: công (dẫu công, xe công)
copy: cép (sao chép đã liệu)
- Rút gọn các từ da tiết thành song tiết Ví dụ
Calegon: xa lin
remote control: vi mit (cdi diéu khién từ xa)
Gil) Gan thanh diéu cho cac 4m tiét Các ngôn ngữ Ấn - Âu không có thanh điệu trong khi tiếng Việt lại có 6 thanh Vỉ thể, các tử ngữ tiếng Pháp, tiếng Anh đã
được gán thêm thanh điệu cho các âm tiết Ví dụ:
party: pat-ty
cachet: cdt-xé
style: xitai resort: ri-sot
scandal: xi-cang—dan
(iv) Về mặt tử vựng - ngữ nghĩa: các từ Ân - Âu vào trong Hếng Việt
đều có lí do là bỗ sung cho vốn từ tiếng Việt những khái niệm mới Chăng
hạn, theo Nguyễn Văn Khang (2007)
+ Các từ ngữ mượn Pháp có nội dung ngữ nghĩa liên quan dến: trang
phục, trang điểm, xây dựng, nhà cửa, đời sông văn hoá (như nghệ thuật, âm
xihạc, giải trí), phương tiện giao thông, in ấn, chiến tranh, giáo dục, y học,
Giải thích điều nảy, Nguyễn Văn Khang cho rằng, "các từ Pháp xuất hiện khi
mà trong tiếng Việt đã có một lượng lớn các từ Hán - Việt Vi thế, các từ
22
Trang 28
Pháp nhập vào tiếng Việt chủ yếu chỉ các khái niệm mới về lối sống, văn hóa,
văn minh của Pháp nói riêng, của phương “Tây nói chung" [52]
+ Các từ ngữ mượn Anh có nội dung ngữ nghĩa liên quan đến: giải trí
(gồm ãm nhạc, điện ánh, thể thao), công nghệ điện tử - viễn thông - thông tin,
trang phuc, thời trang, ấm thực, kinh tế thị trường,
1.1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng các từ ngữ tiếng
Anh trén các phương tiện truyền thông
Cho đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu các tử ngữ tiếng
Anh được sử dụng trong tiếng Việt gồm ác bài viết, chương sách, luận văn
và một phần trong các luận án Đáng chú ý là các công trình như: Nguyễn
Thiện Giáp (2000), Nguyễn Văn Khang (2000), Kguyễn Thủy Nga (2013),
Nguyễn Tải Thái (2013) Vương Toàn (2013), Đỗ Thủy Trang (2015), Trần
Văn Phước (2017), ‘Tran ‘Thi ‘Thu Ha 017) Dưới đây, chúng tôi xin néu mét
số kết quả và kết luận liên quan trực liếp đến các từ ngữ tiếng Anh sử dụng
trên báo mạng
- Các từ ngữ tiếng Anh hiện được sử dụng khá phố biến trên bảo vả ở
nhiều chuyên mục: “Các lĩnh vực có nhiều từ tiếng Anh được sử dụng nhất
phải kể đến là các lĩnh vực âm nhạc, thể thao, công nghệ thông tin hoặc các
ngành khoa học Những từ tiếng Anh này, một phần làm phong phú và sinh
È hóa
đông cho nội dung bài viết, mặt khác cũng cho thấy xu hướng quốc
dang dan dan hình thành trong đời sống của người Việt Nam” [84, tr 817]
- Gó 4 cách viết: 1/Viết theo nguyễn dạng (viết nguyên dạng không chủ
thích tiếng, Việt và viết nguyên dạng có chủ thích tiếng Việt), 2/Viết theo cách doc/phéng âm (viết theo chính tả tiếng Việt: ma két tỉnh, viết có gạch nếi); 3/
út gọn từ tiếng Anh; 4/Kết hợp vừa Ảnh vừa Việt
Về mức độ sử dụng các cách viết, theo Nguyễn Tải Thái, trong 762 từ
ngữ tiến Anh thống kế từ các báo như: Tiền phong, [loa học trò, Thể thao,
23
Trang 29Kinh té, Vietnamnet.vn, Vnexpress.vn, Dân trívn: viết nguyên dạng 67.5%, lết theo tiếng Việt có dấu: 16.7%, viết theo tiếng Việt không dấu: 13.3%, viết theo tiếng Việt có gạch nối: 2.5% [84, tr 817]
Nguyễn Thúy Nga, trên cơ sử khảo sát Lừ báo Hoa học trò đã đưa ra
nhận xét: "Các từ gốc tiếng Anh có thể được phiên chuyến hoặc mượn
nguyên dạng Xu hướng viết nguyên dạng đang trở thành phổ biến Từ mượn
gốc Anh dược sử dụng phổ biến ở nhiễu lĩnh vực của xã hội Việc mượn
nguyên dạng đang là một xu hướng chiêm ưu thể Tuy nhiên, khá nhiễu từ mượn dược Việt húa cách viết với nhiều biến thể khác nhau và chưa có sự
nhất quán Để có sự chuẩn hóa về cách sử dụng, cách viết các từ mượn pốc
Anh, cần có những văn bản chính thức quy định về cách viết, cách phiên
chuyển các tử nước ngoài” [66]
1.1.3 Nhận xét và hưởng triển khai của luận ân
a Có thể đi đến một nhận xét chung là, vì là cách để bỗ sung vốn từ
cho một ngôn ngữ, cho nên, vay mượn từ vựng là hiện tượng phố biển và trở thành đối tượng nghiên cứu ở các binh điện của cấu tric - hé thống cũng như
ở các bình diện của sử dụng: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng - ngữ nghĩa, phong,
cách và giao tiếp
b Đối với tiếng Việt, với một số lượng lớn trên 65% là từ ngữ mượn Hán, khoảng trên dưới 3000 từ ngữ mươn Pháp và rất nhiều các từ ngữ tiếng,
Anh đang được sử dụng trong tiếng Việt, các từ ngĩ nước ngoài đã vả đang
lâm phong phú vốn tử tiếng Việt cá về số lượng và chất lượng Vi thể, các từ ngữ vay mượn hay có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài trở thành một vẫn để
quan trọng của Việt ngữ học, theo đỏ, chúng luôn là vấn để thời sự, “nóng”
của Việt ngữ học
c ‘Tuy nhiền, từ các kết quả nghiên cứu của những người ởi trước,
chúng tôi thấy gó máy vấn đề đáng chú ý là
24
Trang 30- Các tử mượn Iián đều được Việt hóa về cả ngữ âm và cách viết, trong
đó đóng vai trỏ trưng tâm là từ ngữ Hán - Việt có hệ thống cách đọc Hán - Việt
- Các từ ngữ mượn Pháp đêu được Việt hóa về ngữ âm (và cách viết)
- Riêng cáu từ ngữ tiống Anh thi có tỉnh hình như sau
+ Chúng chủ yến được viết nguyên dạng và có cách đọc “phỏng âm” với nhiều biến thể Ví dụ: từ woriácup được việt nguyên dạng
Tai World Cup 2014 trén dat Brazil, trong trận dấu giữa Pháp và
Nigeria, ống kinh truyền hình cũng ghỉ lại được hình ảnh quốc lỳ Việt Nam
tới cử đỗ sao vàng rực rỡ tung bay
(Báo Hóng da, 2015)
Còn cách đọc thì “tủy ý”: uôn cúp, uôn cắp, vơn cúp, von cắp, oắn cúp,
oan cap
+ Trong nhiều trường hợp, các từ ngữ Anh được viết bằng cách phiên
âm mang tính chính thức và phi chính thức:
Mang tinh chính thức thường thấy trên các trang dầu của các báo im
chính thống như báo Nhân Dân, Hả Nội Mới, Quân Đội Nhân dân Mang
tính phí chính thức thường xuất hiện trên các trang mạng cá nhân Ví dụ
Cố gắng hơm trong HK2 hí hẹp bị bát đầy! (hẹp bị bát day happy birthday)
Se lién nay (se: share)
Tranh thủ lân phây trong lúc chờ đợi! (phây: facebook)
Nhé meo cung nhal (meo: email}
Thực tế này cảng trở nên phức tap khi chúng xuất hiện trên bảo mạng với số lượng ngày một nhiều Ví dụ
Dâm mẫu nam khoe body chuân tại trung tâm mua sắm hút vô số khách
nữ Trung tâm mua sắm dã mời l6 nam người mẫu diễn trai, body chudn 6 múi người nước ngoài dễn tạa không khú sôi dộng mùa CHáng sinh
(Mua sim, 26/12/2016)
25
Trang 31TBM da sin sang dé sdng mai 26-5 bat dau khoan duimg ugdm metro đầu tiền và lớn nhất Liệt Nam
Ngày 27.5, trên mạng xã hội xuất hiện một doạn clip ghỉ lại cảnh cựu
thành viên nhém nhac AXN bi bdu show chiti mang và khán giả tat nude, câm cây dọa dúnh vì di tré 2 tiény
CUhanh nién, 28/5/2017)
Vậy, câu hỏi đặt ra là: các từ ngữ tiếng Anh body, TBM, break, show
nay li gi? Ching da la ti ngữ mượn chưa hay chỉ lả hiện tương của trộn mã,
chuyến mã? Phải chăng đây cũng chính là lí do mả Nguyễn Văn Khang
(2012) trong khi gọi từ mượn Ilán, từ mượn Pháp, nhưng đã không gọi là "từ
ngữ mượn Anh" mmả chỉ là "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" Côn Nguyễn
‘Thay Nga (2013) gọi là “nguyên dạng từ gốc Anh” (các yếu tố tác động đến
xu hướng sử dụng nguyên dạng từ gốc Ảnh trong báo tiếng ViệU),
Luan an cia chúng tôi đi theo hướng nảy, tức là, khảo sát thực tế sở
đụng từ ngữ Anh trên các bảo mạng tiếng Việt Từ đó, lí giải hiện tượng này
trong tiếng Việt dưới góc đồ của ngôn ngữ học xã hội
1.2 Cơ sở lí thuyết của luận án
1.3.1 Cơ sở lí thuyết VỀ vay mượn từ vựng
121.1 Các khải niệm “vay mượn ngôn ngữ”, “va mượn từ vựng”
“tis vay muon”
Cho dén nay, trong ngồn ngữ học đang có một số tên gọi liên quan đến
vay mượn, như: language borrowing (vay mượn ngôn ngữ) lexical
26
Trang 32borrowing (vay mượn từ vựng), lean word/borrowed word (lis mugn, từ vay
muon), foreign ward (từ ngoại lai) Theo đó, trong tiếng Việt với ba nguồn
vay mượn chủ yêu về từ ngữ từ tiếng nước ngoài là tiếng Hán, tiếng Pháp và
tiếng Anh đã xuất hiện các tôn gọi tương ứng với sáo nguồn vay mượn như
từ ngoại lai: Nguyễn Văn Khang (2007), từ gốc Hản: Phan Văn Các (1981),
Bùi Đức Tịnh (1981), Trương Chính (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), từ
mượn Hán: Phan Văn Các (1981), Nguyễn Văn Thạc (1968) Nguyễn Văn Tu
(1976), từ gốc Pháp: Vương Toàn (1992}, từ mượn Pháp: Bùi Dức Tịnh
(1976), Nguyễn Văn Khang (2007); tử mượn Anh, từ mượn tiếng Anh: Phạm Văn Tình (2014), Nguyễn Thiện Giáp (2015): từ tiếng Anh trong tiếng Việt
Nguyễn Văn Khang (2007)
Theo thông kê, thế giới hiện nay cỏ khoáng 6800 ngôn ngữ Mỗi ngôn
ngữ lại có các phương ngữ Luy nhiên, với tư cách là công cụ giao tiếp, các
xigôn ngữ cũng như các phương ngữ không tôn tại và hành chức một cách độc
lập ma luôn cỏ sự liếp xúc, tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Có thể nói, tiếp
xúc ngôn ngữ là hiện tượng thường thấy trong sử dụng cũng như trong quá
trình phát triển của ngôn ngữ loài người
“Tuy nhiên, bản thân các ngôn ngữ (hay phương ngữ) không thể có khả
năng tự tiếp xúc với nhau mà phải thông qua sử dụng Việc sử dụng có thể
diễn ra ở giao tiếp nói trong môi trường đa ngữ, được gọi là tiếp xúc trực tiếp
và giao tiếp viết (hay còn gọi là sách vở), được gọi là tiếp xúc gián tiếp và
ngảy nay với sự xuất hiện của internel, tiếp xúc ngôn ngữ được mở rộng vả dang dong vai trỏ chủ lực lả tiếp xúc qua các phương tiện truyền tin bằng
internet
Khi các ngôn ngữ có điều kiện tiếp xúc với nhau thì giữa chúng có sự
tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Hệ quả tất yếu dẫn dến là sẵn sinh ra các sản
2
Trang 33phẩm ngôn ngữ, như: giœo thoa (interference), vay megn (borrowing), chuyén
md (code switching), trén md (code mixing)
Nhu vy, vay muon ngén ngtt (language borrowing) 1a mét hé qua cia
sự tiến xúc ngôn ngữ, cụ thế là hệ quă của sự ảnh hưởng bit ngdn ngữ cho vay
sang ngôn ngữ di vay Cụ thể hơn, vay mượn ngôn ngữ là chỉ chung cho hiện
Tượng vay mượn cả ở ngôn ngữ và ở phương ngữ, thuộc các bình điện ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa và sử dụng, Ví dụ
Ngữ âm: hệ thông phụ âm đầu tiếng Việt không có các phụ âm kép,
nhưng hiện nay mét vai phu am kép nhu bf (blouse), ex (crome), str (stress),
dược sự dụng khả phổ biến Đây là kết quả của sự vay mượn từ tiếng nước
ngoái (tiếng Pháp, tiếng Anh)
Các phát âm (dz) vén chỉ có trong phương ngữ Nam bộ, nhưng nay
được dùng khá phổ biến trong tiếng Việt toàn dân để phát âm “dz6” (trong
các buổi liên hoan nâng cấc) Đây là kết quả của sự vay mượn giữa các
phương ngữ
Ngữ pháp: hiện tượng tiếng Việt dùng khá phổ biến các cấu trúc ngữ
pháp như “đến tir " thay cho “?ừ đến”, “được (thực hiện) bởi ” thay cho
*đo (thực hiện)” lá kết quả của sự vay mượn cấu trúc cú pháp tiếng Anh
(come from > by )
Từ vựng: trong hệ thống từ vựng tiếng Việt hiện đang cú hàng loạt gác
tử ngữ mượn tử tiếng Hản (Hãn - Việt số, Hán - Việt, Hán - Việt Việt hóa), từ
tiếng Pháp cũng như các từ tiếng Anh (như các từ ngữ mượn từ tiếng Anh:
can bối, xô, fim, worldcupi, )
Xung quanh khái niêm “børowing” (vay mượn) hiên vẫn còn có
những ý kiến khác nhau
28
Trang 34BE Iaugen [121] cho ring, ding “borrawing” (vay mượn) xem ra có vẻ
không phù hợp và tác giả diễn đạt một cách hài hước rằng, khi ngôn ngữ này
mượn một thành phần nào đó của ngôn ngữ khác thì đâu có được hỏi ý kiến
và cũng không cần có sự đồng ý của ngôn ngữ cho vay (source languaye:
ngôn ngữ nguồn), nêu không muốn nói đây là hành vi ăn cắp (sfeaửng) Vì
thế, E.Haugen đã lấy bai thuật ngữ để so sánh là øđopdon (tiếp nạp) và
diffusion (khuếch tân)
Adoption (tiếp nạp): khi người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp có tiếp
nhận môi thánh tổ nào dó của ngôn ngữ nước ngoài và lắm cho nó trở thành một thành phần của ngôn từ giao tiếp
Diffusion (khuéch tán): đùng theo cách của nhân chúng học, đó là sự
piao lưu giữa các nền văn hỏa
Nguyễn Văn Khang (2012) đã lí giải chỉ tiết hơn, theo nghĩa của từ
mnượn là "nhận được hoặc được (cái gì) tạm thời (từ aU/cái gì) với lời hứa hoặc
¥ định sẽ trả lại nó" thi về nguyên tắc, khi thực hiện hành vi này phải là: có
"hai bên", gồm một bên cho vay và một bên đi vay: cái mà vốn có ở bên cho
vay sẽ không còn nữa da chuyên sang bên cho vay, bên đi vay phải trả lại bên
chơ vay (đã vay thì phải trả) Nhưng vay mượn từ vựng ở trong ngôn ngữ thì
lại hoản toàn khác: vay không những không trả mả bên cho vay cũng không
thể mắt đi dơn vị từ vựng đó Vì thế, khi bản về tên gọi này (borrowed word),
Ray đã để nghị nên thay vay mượn tử vựng đử vay mượn) bằng "sao chép"
(copying) Tác giả cho rằng, chỉ như vậy mới có thể thể hiện chính xác được
nội dung của khải niệm vừa nều” |52, tr 26]
Cuỗi cùng, E.Haugen cho rằng, vẫn nên dùng từ vay mượn vì ná
không có nghĩa xấu xa gì; dòn Ray thì cho rằng, vay mượn vẫn dược dùng
và dùng quen đến mức nếu "tim cách thay đổi né di 1a chuyện vỗ nghĩa"
[Dẫn theo 52]
29
Trang 35Chúng 141 tan déng véi ¥ kaén nay, bdi theo Sapir Ed, "cling nhu che
nền văn hoá, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đẩy đủ", "nhu cầu giao lưu đã
khiển cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hay gián
tiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn
hóa Sự giao lưu có thế có tính chat hữu nghị hay thủ địch Nó có thé diễn ra
trên bình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bản, hoặc
có thể lá một sự vay mượn hay trao dỗi những giá trị tỉnh thần, nghệ thuật,
khoa học, tôn giảo" [140, tr 237] André Martinet trong Zởi ¿ựư cuốn
“Language im contact: Findings and Prpblems” của U.Wcirrcich dã khẳng dinh ring, bat kỉ ngôn ngữ nảo cũng không tu tin tai (self-contained) va
không hoàn thiện hoàn mỹ [Andrẻ Martinet] Vay mượn ngôn ngữ “được xem
là hiện tượng tắt nhiên, khó tránh khỏi, đủ muốn hay kbông” | Dẫn thco 52|
Khái niệm “vay mượn ngôn ngữ” được H.Haugen giới hạn như sau:
a Mỗi một người sử dụng ngôn ngữ, trong tiềm thức đã vận dụng mô
hình ngôn ngữ (language pattern) ma minh nim vig dé sang tạo, tải sinh
(reproduee) lời nói, nhằm đáp ứng bối cảnh ngôn ngữ không ngừng đối mới
b Những mô hình sản sinh mới không chỉ là thành phần tương dồng hoặc không ngừng tương đồng trong mô hỉnh ngôn ngữ mà người nói nắm
vững mà còn được người nói có ý thức vận dụng nó để tạo ra các mô hình
mới hơn
c Nếu như các mô hình ngôn ngữ mới do người nỏi sáng tạo ra này
không thuộc về hệ thống ngôn ngữ vốn có của người sử dụng mà thuộc về hệ thống của ngôn ngữ khác thi điều đỏ có nghĩa rằng, người nói đã đem mô
thỉnh từ một hệ thỗng ngôn ngữ này mượn sang một hệ thống ngôn ngữ khác
Hạt nhân của khái niệm vay mượn mà E Haugcn dÈ xuất là h°m thức
tan dụng yếu tổ của hệ thống ngôn ngữ nảy dễ sáng tạo ra các mô hình ngôn
ngũ mới Kết hợp các ý kiến của Thomason vả Kaufnan (1988), Y.Matras
Trang 36and J.Sakel, Rickey (2013) cé thé thay, vay mugn ngén ngit (language
borrowing) là một khái niêm rộng với các nội dung cơ bản như sau
- Ngôn ngữ cho vay với các cách gọi: ngôn ngữ nguồn (source
language), ngon nytt cho/ting (donor language)
- Ngôn ngữ di vay voi các cách gọi: ngôn ngữ nhận (recipient
language), ngôn ngữ đích (1argeL Ïanguage), ngôn ngữ mượn (borrowing
Janguage), ngdn ngit sao/chép (replica language)
Ngoài các cặp tương ung nêu ở trên như “ngôn ngữ nguồn” (source
language) - “ngôn ngữ dích” (largel languagej, còn có thể gặp các cặp thuật ngữ khác như “ngôn ngữ thượng tầng” (superstrafe language) - "ngôn ngữ hạ
ting” (substrate language)
- Vay muon ngén ngữ là một khái mềm rộng: ở mặt cầu trúc hệ thống, bao gồm cả ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng; ở mặt cấp độ bao gồm cả cấp độ âm
vị, hình vị, từ và câu; ở mặt vay mượn bao gồm câ các đơn vị nguyên khối, các dơn vị dã dược ding hóa, các mô hình và các đơn vị dược tạo ra từ các
mô hình, chuyển đối, thay thể, phát triển
Với tư cách là một phần quan trọng của vay mượn ngôn ngữ, vay mượn
từ vựng (lexical borrowing) có thé được hiểu là sự tiếp nhận các dơn vị từ
vụng từ ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay, nhằm bổ sung, làm giảu cho
hệ thống Lừ vựng của một ngôn ngữ
Các đơn vị từ vựng này có thé gọi chung là “từ mượn”, “tử vay mượn”
(loan wordborrowed word) Số dĩ chúng tôi sử dụng “có thể gọi chưng” là vì
liên quan dén khái niệm về “từ”: thuật ngữ “từ” trong cách dùng nảy không
được quan niệm chặt chế như định nghĩa về nẻ mà chúng bao gồm cả đơn vị
dưới từ, từ và cáo cụm tử cổ định Vì thể, cách gợi “tử vay mượn” má chúng tôi dùng trong luận án nảy cũng với nghĩa như vậy dể chỉ chung cho các đơn
vi th vung vay muon
Trang 371.2.1.2 Vay nưượn lừ ngữ với các khái niệm liên quan
Như ở trên dã dễ cập, vay mượn chỉ là một trong những hệ quả của sự
tiếp xúc ngôn ngữ, trong đó vay mượn từ ngữ là một phần của vay mượn bên
cạnh vay mượn ngữ âm, vay mượn ngữ pháp Liên quan trực liếp đến khái niệm vay mượn tử ngữ là ba sẵn phẩm của sự tiếp xúc ngôn ngữ: giao thoa,
chuyển mã và trộn mã
a Giao thoa và vay mượn từ ngữ
Giao thoa là thuật ngữ vật lí, được hiểu là hiện tượng xảy ra khi hai
chấn động có tần số bằng nhau chỗng lên nhau, có thể làm cho ánh sáng hay
âm mạnh lên, hoặc yếu di dến triết tiêu
Trong ngôn ngữ học, giao thoa được định nghĩa là “Sự chuyển biển
trong một ngôn ngữ do ảnh hướng từ ngôn ngữ khác Đây là hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hệ quá của sự tiếp xúc có thể khác nhau Ổ mức đơn giản nhất, người nói có thể tiếp nhận một số từ của ngôn ngữ bên cạnh Đó là những từ mượn 8ự giao thoa về từ vựng còn thể hiện ở từ sao phỏng (sao phỏng cấu tạo từ và sao phỏng ngữ nghĩa), từ phép lai Nhưng sự giao thoa có
thể đi xa hơn, đụng chạm đến ngữ pháp và ngữ âm” [52, tr 78] “Một cách cụ
thể hơn, ở bình điện từ vựng, piao thoa dược biểu hiện ở sự mượn từ, tạo từ
mới cho một ngôn ngữ bằng yếu tố của ngôn ngữ giao thoa và sự chuyển di
ngữ nghĩa của từ” [S2, Ir 40]
Như vậy có thể thấy, giữa piao thoa và vay mượn từ vựng có điểm
trùng nhau là sự vay mượn các tử hoặc các yếu tố tạo từ để tạo ra từ mới hoặc
các từ mượn có thể thay dỗi nghĩa hoặc tạo ra nghĩa mới Ví dụ
Các từ như lấp (envelope), ca-vat, cd-vat, cra-vdt (cravate ), ga (gas) 1a
kết quả của sự giao thoa giữa tiếng Pháp và tiếng Việt
b Hiện tượng chuyên mã, trộn mỗ và vay mượn tir ngit
Trang 38Chuyén m3 (code switching) va won m& (code mixing) 1A hai kiểu giao
tiếp chủ yếu trong xã hội đa ngữ Irong xã hội đa ngữ, bên cạnh giao tiến
băng một ngôn ngữ (như ngôn ngữ chung hay tiếng mẹ để), người giao tiếp
thường sử dụng bai ngôn ngữ vị thế mới có hiện tượng chuyển mã và trộn mã
Giao tiếp chuyển mã là hiện tượng khi giao tiếp người đa ngữ củng lúc
sử dụng hai hay trên bai mã ngôn ngữ, côn giao tiếp trộn mã là hiện tượng sử
dụng những “mảnh nhố” của một ngôn ngữ nảo đó khi người giao tiếp dang,
sử dung một ngôn ngữ khác (mánh nhỏ nảy có thê là từ, cụm từ hoặc lớn hơn
và có thể gọi chung lá các yếu tố của ngôn ngữ) |52| Cũng theo Nguyễn Văn Khang (2012), điểm khác nhau cơ hản giữa chuyển mã vả trộn mã lả: người
giao tiếp khi chuyển từ mã ngôn ngữ nảy sang ngôn ngữ khác thì vẫn phải
đấm bão được tỉnh chuẩn mực của hai ngôn ngữ, tức là không ngôn ngỡ nảo chịu sự chỉ phối của ngôn ngữ nào Trong khi đó, giao tiếp trôn mã luôn đòi
hỏi phải có một mã chính, còn các yếu tố của ngôn ngữ khác được “trộn” vào,
do vậy, khó trảnh khải không thay dỗi do áp lực của ngôn ngữ chính
'Eay nhiên, việc phân biệt này xem ra rất khỏ khăn, nhất là tại các văn tắn viết hiện nay, các từ ngữ được viết nguyên đạng nên khó có thể biết là
chúng có chịu áp lực hay không Chẳng hạn, theo Hill (1980) thấy “không có
hy vọng phân biệt được giữa trộn mã và chuyển mã” Vì thế, “cách tốt nhất là
xơm ba loại lựa chon là những điểm trên một đường liên Lục ”: “hây giờ
đang dần nối lên những tình huỗng ngôn ngữ mà những mô hình miêu tả trên
đây (chuyển mã, trên mã) không thể chấp nhận một cách máy móc” [Ran thee 53]
Vao nim 1999, Myers-Scotton d& đưa ra giả thuyết ngôn ngữ ma trận,
viết tắt lá ML (The matrix language Jppothesis): trong giao tiếp sẽ có một
ngôn ngữ căn bin (principle language) va mét ngén ngit nhing (embedded
Trang 39language) và thành phần của ngôn ngữ nhúng nảy có thé gọi là chuyển mã
chen (insertional code-switching) hay (mixing)
W
¡ cách hiệu như vậy, chúng tôi cho Tăng, các từ ngữ của chuyển mã,
trộn mã như là một sản phẩm trưng gian giữa từ ngữ nước ngoái và từ ngữ
vay mượn Dây chính là nguỗn tử ngữ vay mượn luy nhiên, ở một góc độ
vay mượn mà xót thì trộn mã là nguồn bố sung nhanh, thiết thực cho vay
muon tir ngit
1.2.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ học xã hội của hiện Ftư0ntg vay muon tr
Đình nghĩa về vay mượn, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng, đây là “hiện
tượng một ngôn ngữ chấp nhận các biểu thức của ngôn ngữ khác hoặc ý nghĩa
của ngồn ngữ khác để biểu thị những đối tượng, khái niệm hoặc sự tỉnh chưa
tần Lại trong ngôn ngữ mình Nguyên nhân của hiện tượng vay mượn có thể
do sự phát triển khác nhau về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị Người ta
phan biét vay muon tt vung (lexical borrowing) va vay muon ngit nghia
(semantic borrowing) Trong vay mượn từ vựng, các từ và ý nghĩa cúa chúng
được mượn tử ngôn ngữ nảy sang ngôn ngữ khác, thường củng với các đổi tượng mới và được dùng như những từ mượn (oan word) Vay mượn ý nghĩa
chính lả hiện tượng sao phông Sao phỏng ngữ nghĩa là hiện tượng các từ tiếp
nhận thêm ý nghĩa cúa các từ tương ứng trong ngôn ngữ khác” [33, tr 58Z]
Từ định nghĩa này, dó thể li giải vay mượn từ ngữ là hiện tượng của ngôn ngữ học xã hôi như sau
a Do sự phát triển khác nhan về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị mà
trên thể giới luôn xuất hiện các khái niệm mới được biểu thự/gợi tên bằng gác
từ ngữ mới Lheo đó, do sự giao lưu rộng lớn, thường xuyên của các quốc gia,
dân tộc dẫn đến sớm hay muộn, các từ ngữ mới này sẽ được sử dụng Ở các
ngôn ngữ khác Nhất là trong thể giới “phẳng” hiện nay thỉ hiện lượng nảy
Trang 40cảng dé dang xy ra Vi du: interned, computer, facebook ids đây đã trở thành
từ ngữ của mọi ngôn ngữ (có thể khác nhau chút ít về cách viết cũng như cách đọc)
b Tuy nhiên, thực tễ cho thấy, các từ ngữ mượn không chỉ “biểu thị những dỗi tượng, khái niệm hoặc sự tỉnh chưa tẳn tại trong ngôn ngữ mình”
như định nghĩa trên nêu ra mả còn biểu thị các nghĩa mà ngôn ngữ đi vay
dang có từ biểu thị Ví dụ
hof-nóng, check im-nhập vào êm tra, book-đặt vé, share-chia sẻ
Việc trong ngồn ngữ có không ít khái niệm tuy đã có từ biểu thị rỗi
nhưng vẫn mượn, theo Nguyễn Văn Khang (2012) là hiện tượng lam giàu vấn
từ của ngôn ngữ đi vay va tạo nên các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa trong
một ngôn ngữ
c Nguyễn Thiện Giáp trong định nghĩa hoàn toản có lí khi phân biệt
“vay mượn từ vựng” và “vay mượn ngữ nghĩa” Vay mượn ngữ nghĩa cảng
thể hiện rõ tính ngôn ngữ học xã hội của từ vay mượn Ví dụ
‘lit dé trong tiếng Việt có thêm nghĩa 3 là “ Lhuộc về cách mang v6 san,
có tư tưởng vô sản (do coi màu đô là biểu tượng của cách mạng vô sản) [ Từ
diễn tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 2010] Đây là nghĩa tiếp nhận từ nước
Tigoải (tiêng Nga)
Tit escalation trong tiéng Anh cé thêm nghĩa “leo thang" được ghi chú
là “nghĩa này xuất hiện nãm 1964 khi Mỹ ném bom ra miễn Hắc Việt Nam”
[Dẫn theo 52] Phải chăng vi thế mà tiếng Việt xuất hiện từ “leo thang” ở thời
điểm nay?
đ Vay mượn từ ngữ là hiện tượng của ngôn ngữ học xã hội vì chúng
chịu tác động của hoản cảnh vay mượn, như thời gian vay mượn, không gian