Cách tiếp cận tích hẹp trong GDMM là lựa chạn hợp lý vì nó đán ứng được xu thé phat triển của thời đại và mục tiều giáo dục của thể kỉ 21 Do đó, nêu giáo vién mam non GVMN hiéu r6 ban ch
Trang 1GIAO DUC MAM NON
LUAN VAN THAC Si GIAO DUC HOC
Thành phố Hỗ Chi Minh — 2014
Trang 2
BO GIAO DUC VA DAO TAO TRUONG DAL HQC SU PHAM TP, HO CHI MINH
Tran Thj Héng Tham
NHAN THUC CUA GIAO VIEN MAM NON VE
CACH TIEP CAN TICH HGP TRONG
GIAO DUC MAM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học (mầm non)
Mã số: 60 1401 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHAN THI THU HIEN
Thành phố Hồ Chí Minh — 2014
Trang 3LOL CAM BOAN
T6i xin cam doan, day la céng trình nghiên cửu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cửu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bổ trong bất kỉ công, trình nào khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Loc vién
Trần Thị liẳng Thắm
Trang 4LOI CAM ON
'Trong quả trinh hoản thanh luận văn, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và hỗ
trợ nhiệt tỉnh từ gia đình, thây cô, nhà trường và bạn bè Tôi gửi lời cấm ơn chân thành đấm:
- Gia đình đã luôn luôn mang lại sức mạnh tỉnh thần cho tôi;
- Tién si Phan Thị Thu Hiển — giáo viên hướng dẫn trực tiếp đã tậu tình giúp đỡ, chỉ dẫn và định hưởng cho tôi trong suốt quả trình nghiên cửu và hoàn chính luận
văn,
- Quý Thấy Cô trường ĐHSP TP HƠM, Đại học Sài gòn, Cao đẳng Sư phạm 'Trung ương TP HCM đã tận tỉnh giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thúc hữu ích trong suết thời gian học tập chương trình cao học tại trường Đại học Sư
phạm Thành phổ Hồ Chí Minh;
- Quý Thấy Cô phòng Sau đại học Trường ĐHSP TP HCM dã tạo diều kiện thuận
Tợi cho tôi trong quá trình học và nghiên cứu;
~ Các chuyên gia, giảng viên sư phạm trường Dai hoc sai gon, Cao ding Su phan
‘Trung ương TP HCM, Cao đẳng sư phạm Binh Phước;
- Can bộ Phòng mẫm nơn, ban giảm hiệu, giáo viên mam non 21 trường mâm mon
trên dịa bàn TP HCM và tỉnh Binh Phước đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong qua trình nghiên cứu
Chỗi cừng, xin linh gửi lời chúc sức khỏe và bạnh phúc đến tắt cả mọi người
Tp 116 Chi Minh, ngay 23 thang 09 nam 2014
Học viên
Trần Thị Hằng Thắm
Trang 5Déng gép mới của để tải TH H202 00010 ve 4
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CUA GIAO VIEN MAM NON VE
'TÍCH HỢP + TH" 0.00010111111110 tre Seo 26
2.2 Phương pháp tin hiểu thực trạng oooccccc0ccctrrrreirierrrrrrrereier 7 2.2.1 Các phương pháp thu thập số liệu 27
2.2.2 Phương pháp xứ lý số liêu - ¬
2.3 Kết quả tìm hiểu thực trạng nhận thức của QVMN về cách tiếp cận tích hợp
3.3.1 Một số thông tin của GVMN trên hai địa bản điều tra - 30
2.3.2 Giáo viên mẫm non hiểu cách tiếp cận tích hợp như thế nảo? 33 2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của GVMN vẻ cách tiếp cận tích
2.3.4, Nhiing dé xuét nhim nang cao nhận thức của ƠVMIN về chương trình
2.4 Để xuất biện pháp nâng cao nhận thúc của GVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp
2.4.2 Một số biện pháp nâng cao nhận thức của GVMN về tích hợp và vận
Trang 7DANH MUC CAC CHU VIET TAT
Trang 8
DANII MUC CAC BANG
Bang 2.1 Dai tượng và phương pháp nghiên cứu
Báng 2.2, Thông tin của GVMN trên 2 địa bàu điều tra
Tảng 2.3 Dánh giá của GVMN về việc tổ chức hoạt đông tích hợp và tích hợp trong,
GDMN Bang 2.4 Dánh giá của GVMN vẻ những khó khăn khi thực biện chương trình với
cách tiếp cận tích hợp
Trang 9DANH MỤC CÁC BIẾU DỎ
Biểu để 2.1 Trinh 44 chuyên mân
Biểu đỏ 2.2 Thâm miên
Biểu dỗ 2.3 Quan niệm của GVMN về tích hợp trong (DMIN
Biéu dé 2.4 Quan niệm của GVMN vẻ tích hợp giữa 2 địa bản
iều đỗ 2.5 Đánh giá của VMN về uú điểm: của tích hợp theo chủ dé
Biểu đồ 2.6 Đánh giá của GVMN về hạu chế của tích hợp theo chủ đề
Biéu d6 2.7 Dánh giá của GVMN về những thành công khi thục hiện chương trình
GDMN voi cách tiếp cân tích hợp Biéu dé 2.8 Danh giả của GVMN về những khỏ khăn khi thực hiện chương trình với
cách tiếp cận tích hợp
Biểu dỗ 2.9, Ý kiến của GVMN về những yếu tổ ảnh hướng đến việc hiểu và thực hiện
chương trình với cách tiếp cận tích hợp
Trang 10thử thách va cạnh tranh quốc tế thúc đây các nhà cải cách GIXMN Việt Nam ngay từ
những thập niên 9Ó đã thấy là phải làm một cái gì do dé thay déi tình hình giáo dục Câu trả lời cho vẫn để nảy là cái cách chương trình đảo tạo theo những tiêu chuẩn và những điểm móc đánh giá mới Cách tiếp cận tích hẹp trong GDMM là lựa chạn hợp lý
vì nó đán ứng được xu thé phat triển của thời đại và mục tiều giáo dục của thể kỉ 21
Do đó, nêu giáo vién mam non (GVMN) hiéu r6 ban chất tích hợp sẽ thực thi tốt chương trình GDMN và dao tao được nhiều thể hệ trề thích ứng cao cho các bậc học tiếp tho, ngược lại sẽ gặp rất nhiều khỏ khăn cho việc học sau nay của trẻ
Giáo viên luôn là thành phân đóng vai trò cưc ki quan trọng đưa đến thành công,
trong công tác giáo dục ở mọi thời đại cũng như ruọi quốc gia trêu thể giới Từ kinh nghiệm được tiếp xúc trực tiếp với GVMN trong thực tế giảng dạy tại trường sư phạm cũng như việc đưa sinh viễn đi thực tập hàng năm tại một số trường mẫm non, tỏi nhận thấy, GVMN chưa tiếp cận một cách rõ ràng những điểm mới lừ chương trình đăng,
thực thi (cá chương trình GDMN dỗi mới - 1998 dến chương trình GIDAMN mới -
200% Từ đó, bọ tổ chức các hoạt động giáo đục ở trường mâm non còn mang hình
thức đổi phó và dâm đấu ân của chương trình cải cách Ở dây, năng lực nhận thức của GVMN trong việc hiểu và thực thi cách tiếp cận tích hợp trong GDMN đang là rào cắn
rat lén Chính vì thế, việc nâng cao nhận thức của GVMN để họ hiểu tích hợp và thục
thị đúng tỉnh thần của chương, trình với cách tiếp cận tích hợp dang, là vẫn dễ cấp thiết
Trang 11k
Với những lý do trên, chúng tdi chon dé tai tim hiểu thực trạng “Nhân thức của giáo
vién mam non vé cach tiếp cận tích hợp trong GDMN”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng nhận thức của GVMIN vẻ cách tiếp cận tích hợp trong GDMN'
và để xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của GVMN về cách tiếp cận
tích hợp trong GDMN
3 Đối Lượng và khách thể nghiền cửu
3.1 DÃi trụng nghiên cửu
Nhân thức của GVMN về cách tiếp cân tích hợp trong GDMN
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình thực thi cách tiếp cận tích hợp trong GD
4 Giả thuyết khoa hi
Nhận thức của GVMM về cách tiếp cận tích hop trong GDMN có thể đạt được
thành công: trẻ được học mọi lúc mọi nơi, nhận ra ý nghĩa của việc học đảng thời có thể còn khó khan khi GVMN chưa có nhậu thức rõ rằng về cách Liếp cậu tích hợp do ảnh hưởng bởi một số yếu tổ xuất phát từ bản thân GVMN, các cắp quản lý, cơ sở đảo
ao
5 Giới hạn và phạm vì nghiên cứu
Nghiên cứu nảy tim hiểu nhận thúc của GVMIN về cách tiếp cận tích hợp trong
GDMN; thực hiện ở 20 trường mâm non da dạng về loại hinh và chất lượng trên địa
ban tinh Binh Phước (2 thị xã và 3 huyện) và TP HCM (4 quận nội thành, Ì quận vừng, ven và 1 huyện ngoại thành)
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1, Hệ thống hoa ly luận vẻ ï) cách tiếp cận tich hop trong GDMN va ii) nhan thức của GVMfN về lý luận dạy học
6.2 Khảo sáL iực trang nhận thức của GVMN về cách tiếp cận tích hợp ương
Trang 12Để thực hiện các mục tiêu nghiên cửu đã dễ ra, tôi sử dụng kết hợp nhiều phương,
pháp nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu tài liệu, điên tra bằng bảng hỏi, quan sát,
phỏng vẫn và xử lý số liệu
Phương phúp nghiên cứu tải liệu
Tôi tim hiểu, thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những tải liệu có liên
quan nhằm xây dựng cơ số lý luận cho đề tài và làm bằng chứng để lý giải thực trạng
Phương pháp điễu tra bang bang héi
Sử đựng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm tim hiểu thực trạng nhận thức của GVMN vẻ cách cách tiếp cân tích hợp trong GDMN, ou thé la:
~_ GVMN hiểu tích hợp [a gi?
~_ Đánh giá của GVMN về cách tiêp cận tích hợp: những ưu điểm và hạn chế,
- Danh gid cia GVMN vẻ thực tế dạy học theo hướng tích hợp ở các trường mâm
non hiện nay: thánh công vá khó khăn;
~_ Ý kiến của GVMN về những yêu tổ ảnh hưởng đến nhận thức của GVMN về
cách tiếp cận tích hợp vả v
e dạy học theo hướng tích hợp của họ; và
~_ Những để xuất của GVMN nhằm nàng cao nhận thức của họ vẻ tích hợp và vận dụng vào thực tế dạy học có hiệu quả
Phương pháp quan sát
Tiên cạnh phiếu hỏi để thăm dò ÿ kiến của giáo viên, tôi tiên hành quan sát thực tế
đạy bọc của GVMN nhằm hiểu thêm về thực ưạng thực hiện tích hep beng GDMN: so sảnh nhận thức và đánh giá của GVMN về cách tiếp cận tích hợp với thực tế dạy học ở các trường mẫm non
Phương pháp phông vẫn
Ngoài ra, tôi phong van 6 GVMN; 4 can bộ quản lý trường mảm non và 4 cán bộ
sở, phòng mâm non; 4 giảng viên các trường sư phạm đẻ tìm hiển ý kiến của họ về đề
tải dang nghiên củu
~_ Thực trạng nhận thức của GVMN về cách tiếp cận tích hợp và ảnh hưởng lên
thực tế đạy học của họ,
~_ Những thành công và khó khăn của GVMN khi nhận thức vẻ tích hợp và vận
dụng vào thực tế dạy học của ho; va
Trang 13~ _ Ý kiến dễ xuất của các dối tương phỏng van dé gop phan lam cho nhận thức của
GVNN về cách tiếp cận tích hợp đạt hiệu quả hơn
Phương pháp xử lỆ số liệu
Với sự hỗ trợ của phin mém SPSS (Statistical Package for the Social Sciences}
16.0, cng ty [JM (International Business Machines Corporation) - Lloa Ky, ti xut ly
6 héu va dia ra thận xéL
số liện thu thập được từ phiếu hồi, từ đó phân Lích kết quả
8 Đăng gún mới của đề tài
8.1 Dễ tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn vẻ cách tiếp cận tích hợp
trong giáo dục, GDMN; những khó khăn của GVMN trong việc hiểu và thực thị tích
hợp; nhận thức của GVMN, nhận thức của GVMN ảnh hưởng đến thực tế day học
cũng như những yếu tổ ảnh hưởng nhận thức về tích hợp và dạy học theo hướng tích hợp của họ
8.2 Dễ tải đã chỉ ra thực trạng nhận thức của GVMN về cách tiếp cận tích hợp
trong GDMIN tại một số trường mẫm non trên địa bản tỉnh Bình Phước, TP HCM dua
trên cơ sở lý luận, các phương pháp nghiên cứu (điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát) và hỗ trợ của phân mềm xử lý số liệu SPSS
8.3 Để tải đã để xuất một số biên pháp nhằm nâng cao nhận thức của GVMN về
9 Cấu trúc của luận văn
Chương 1 nói rỡ sự cân thiết tiển hành nghiên củu nảy trong phẫn bồi cảnh nghiên
cũu và trình bảy cơ sở lý luận về cách tiếp cận tích hợp, nhận thức của GVMN vé cach
tiếp cận tích hợp trong GIMM
Chương 2 cu thé héa mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiền cứu tìm hiểu thực trạng trong đó trình bảy cụ thể cách lấy số liệu cũng như xử lý số liệu; lý giải bức tranh thực trạng nhận thức của GVMN vé cach tiếp cận tích hợp trong, GIMN Xuất
phat tir co sở lý luận và thục tiễn, xây đìmg một vài biện pháp nâng cao nhận thức của
GYMN ve cách tiếp cận tích hợp và vận dụng váo thực tế dạy học liệu quả đáp ứng, chương trinh GDMN đang thực thị Kết thúc luận văn tôi đưa ra kiến nghĩ
Trang 14wa
Chuong 1: CO SG LY LUAN CUA DE ‘TAL
Dạy kiến thức tách rời sẽ khơng chuân bị cho học xinh những kinh nghiệm của cuộc sống thực
Tọm Dewey {9, tr83|
1.1 Bỗi cảnh nghiên cứn
Kỹ nguyên cơng nghệ với sự bùng nỗ của cơng nghệ truyền thơng kiến thức dược cung cấp khi ngồi trên ghế nhà trường khơng cơn đáp ứng đủ cho con người sống
trong xã hội hiện đại củng với việc khơng đủ thời gian cha người học tiếp nhận trị thức
ngày càng đổi mới trong nên kinh tế trí thức Do đĩ, con người cần năng dộng, tích cực, chủ động trong học tập cững như khi giải quyết mọi tỉnh huỗng trong cuộc sống một cách tổng thể Nhin thây những hạn chẻ của mơ hình day học củ - lấy thay lam
trung lâm - với cách đạy học truyền đại khơng oơn phủ hợp trong xã hội hiện đại (người học đa đạng, trí thức cũ đi nhanh chĩng ), từ đá các nhà hoạch định chương,
trình nhận định cần chuyển sang mơ hinh đạy học mới - lây người học làm trung tầm -
với cách học thơng qua trải nghiệm của chính bản thân người học, cĩ năng lực tự học; khả năng thích ứng với sự phát triển thân tốc của kỷ nguyên cơng nghệ vá năng lực giải quyết các vẫn để sủa cuộc sống hiện đại Chính vì thế, địi hỏi giáo đục phải đào
được yêu cầu bức thiết của xã hội cũng như mục tiêu giáo đục của thế kỉ 21,
Theo Esbjém-Hargens (dan theo [30, t.14]) lý thuyết tích hợp được vận dụng trong hơn 35 Tĩnh vựo chuyên mơn và họo thuật khác nhau, cho thây nhiều ứng dung
cia lich hop và sự cần thiết phải tích hợp trong xã hội hiện đại Tích hợp trong GDMN giúp trẻ thấy duce ý nghĩa của việc học, mỗi liên hệ của các sự vật hiện tượng trong,
Trang 15thé giới một cách thông nhất và toàn ven khi trẻ đấm mình khám: phả thể giới theo
cách riêng của trẻ: học qua chơi, học qua khám phá trải nghiệm của chinh bản thân
thông qua hoạt động trong các chủ để hay sự kiện phải sinh, học theo hứng thú Điều
giáo viên có vai trò làm “giàn giáo” (scaffolding) trong qué trinh day va hoc Chinh vi
thể, có những công trình nghiên cửu [38] khẳng định năng hye nhận thúc của giáo viên
đồng vai trỏ cực kì quan trọng trong quá trình giáo đục, thành tích học tập của học sinh
cũng như tiếp cận với những vẫn để mới; và nếu giáo viên dược tham gia trong quá trình xây dựng va phát triển chương trinh thi ho sé dé dang thích ủng với thực tế day hoc Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về nhận thức của GV.MN cũng như nhận
ân lich hop trong chương trình GDMN ở Việt Nam vẫn
thức của GVMN về cách tiếp
chưa được chú ý đúng mức
Chương trinh GIDMN 16 năm đối mới nhưng lại chưa có công trình nghiên cứu nào
sâu và cụ thẻ, Đỏ là một trong những lý do thôi thúc tôi nghiên cửu dễ tải nảy dễ lý
giải bức tranh thực trạng đang điễn ra từ đó làm hành trang cho công tác của mình, góp
phần hỗ trợ giáo viên hiểu và của cách liếp cận tích hợp cũng
được ý nghĩ như những lợi ích mà chương trình với cách tiếp cận mang lại Từ dó giúp giáo viên có
cải nhìn chính xác hơn để hỗ trợ cho công việc giảng dạy của họ cũng như việc học tập suốt đời của người học
1.2 Cơ nở lý luận của đề tải
1.21 Cách tiếp cận tích hợp trang giáo duc
1.3.1.1 Tích hợp là gì?
a Quan niém vé tich hgp trong giao duc
Trong tiếng Anh tích hop duoc viét 1A “integration” co ngudén gốc từ tiếng Latin
(integer) có nghĩa 1a “whole” (toàn bộ, toàn thé), là hành động hoặc cảch thức kết hợp
hai hoặc nhiều bộ phận với nhau trong một tổng thẻ Irong khi Clark [42] chi ra ring:
Trang 16tích hợp là cách tìm kiếm gác mối quan hệ thông qua các kỹ năng siêu nhận thức, tư
đuy phê phán, từ đó thấy được ý nghĩa của việc học; là quá trình người học kiến tac tri thức thông qua việc học lập sâu sắc (đecp larning), tìm tồi khám phá Và học lập
chỉnh là tiễn trình tích hợp nhiều kiến thức nhờ đó người học có thể đổi mặt những vẫn
đề hay tỉnh huống phức tạp Thêm vào đó Beane [34, tr.9] cũng cho ring “Heh hop ed ngiấa trọn vẹn và thông nhất chứ không phải là tách và phân mảnh”,
'theo từ điển Tiếng việt [20, tr.1217], tích hợp là “ấp ráp, nói kết các thành phần của một hệ thông để tạo nên một hệ thông đồng bộ" Như vậy đễ có một hệ thẳng đồng bộ thi các thành tổ của hệ thông can được nỗi kết hay lắp ráp với nhau Từ diễn giáo đục học [11, tr.383] cũng chỉ ra tích hợp là “hảnh động liền kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng đạy, của cùng một lnh vực hoặc vời lĩnh vực kháe nhau trong cùng
một kế hoạch dạy học” Trong dạy hợc, tích hợp được hiểu như là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kẻ hoạch để đám bảo sự hải hỏa, thống nhật, toàn vẹn của hệ thông đạy học nhằm đat được mục tiên một cách hiệu quả
Có thể hiển, theo nghĩa động, tích hợp là hành động, cách thức nói kết hai hay nhiều bộ phận thành một hệ thống tron ven va thống nhất, tích hợp cũng là cách tim
kiếm, là quá trình kiến tạo trí thúc giúp người học đổi phó với mỗi trường lâm việc
phức Lạp và da diện (Tacob, theo |42J) và phải tiểu kỹ răng giải quyết vấn de rong xã
hội hiện đại (Davis, theo [12]) cũng như thây được ý nghĩa của việc học [42] trong, một
tổng thé lrọn ven, thống nhất đã được kết nối ruột cách tự nhiên, hải hòa Theo nghĩa
tình, “tích hợp là trạng thái có tính liên kết, tình thâm nhập và tương tác của các lĩnh vực giáo đục riêng lẽ" T17, tr.113] Có nghĩa là cáo lĩnh vực giáo đục riêng rẽ liên kết, thâm nhập, Lương tác với nhan trong một khoảng thời gian nảo đó
Tịch hợp liên môn vá xuyên môn đã và dang dược hướng dến trong xã hội hiện dại
đ'Hainaut (dẫn theo [22, tr.48-49]) khẳng định “như cẩu của xã hội đòi hội chúng ta
phải hướng tới một guan diễm liên môn và xuyên môn” ương dò quan điểm “liên môn”
có sự đóng góp, liên kết của nhiều môn học đề giái quyết những vẫn đề, tỉnh huồng cụ
thé va quan điểm “xuyên môn” phát triển ở người học những kĩ năng có thể áp đụng,
trong cuộc súng Hễ trợ quan diễm đŸHaimaut, xuất phát từ kimh nghiệm cà nhân,
Drake va Bums [37] đưa ra ba cách tiếp cận tích hợp đỏ là tích hợp đa môn
Trang 17(Multidisciplinary Integration), tich hop lién mén (Interdisciplinary Intergration) va tích hợp xuyên mén (Transdisciplinary Intergration) Trong 4, tich hop liên môn
được hiểu khi nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới, tích hợp
xuyên môn gido viên tổ chức chương trình xoay xung quanh câu hỏi và những xôi quan tâm của học sinh từ đó người học phát triển kĩ năng sống vả vận đụng vào cuộc
sống thực, có hai con đường đó là học tập theo dự án vả thương lượng chương đình
học Thêm vào đó, Franzie [40] dùng “phép Ấn dự về lát đá cẩm thạch so với chiếc bánh bông lan đề biểu biện cấp độ khác nhau của tích họp, bánh bông lan có nghĩa là
mỗi lớp bánh dại diện một môn khoa học duy trì một bân sắc trong một khóa khoa học
tong quát trong khí lát đa cẩm thạch gôm nhiều vấn dé dựa trên các ngành khoa học
khác nhau góp phần giải quyết vấn đề” Ó Việt Nam, tích hợp liên môn đã được tác
gia Pham Thi Kim Anh | 4, tr.169| noi đến: “2ích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách bữu co, có hệ thông các kiên thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành
tt
mét nội đung thông nhất” Có thế thấy quan niệm liên môn, xuyên môn của các nhà
giáo dục Việt Nai và trêu thể giới lương đồng, hỗ trợ nhau: hình ảnh bảnh bông lan
tượng trưng cho tích hợp liên môn, hình ảnh lát đá cẩm thạch tượng trưng cho tích hợp
xuyên mên Giáo đục cân hướng đến tích hợp liên môn và xuyên môn, nửnr thế người học sẽ có liểu biết sâu sắc và vận dụng dược kiến thức dễ giải quyết vẫn dê, tình
tmiếng trong cuộc sông thực, thây được ý nghĩa của việc học
THơn nữa, nhà giáo dục BermeL (Anh) (lái liệu tập huận giáo viên tiêu học trường, quốc tế Việt Úc - Phan Thị Thu Hiển,
2013) cho rằng tích hợp các môn học là một trong những yêu tổ đem lại hiện quả của mồ hình day hoc mdi — lấy học sinh làm trung,
tầm, khuyến khích học sinh tích cực, chủ động Như vậy, tích hợp các môn học, lẫy
người học lâm trung tâm và dạy học tích cực luôn di liên nhau không tách rời Quả thế, niêu đạy học tích hợp và dạy học tích cực hay lấy người học làm trung tâm không liên
Xết với nhau sẽ khó dạt dược mô hình đạy học hiệu quả
Tóm lại trong giáo dục tích hợp không phân chia các môn học riêng rẽ mà đảm
bảo mỗi liên kết giữa các môn học, các lĩnh vực nhận thức một cách có ý nghĩa thông,
qua tìm hiểu, khám phá những vấn đẻ, chủ đẻ gắn liễn với cuộc sống Bởi “kiến thức
học rồi rạc sẽ nhanh chóng bị lũng quên” [53] và học những môn học riêng rẽ thì
Trang 18người học khó liên kết các mang kiến thức lại với nhau dé van dung vào cuộc sống, Do
đó đạy học tích hợp giúp người học thấy ý nghĩa của việc học trong một chỉnh thể
thống nhất cũng như vận dụng kiến thức để giải quyết vấn để trong cuộc sống thực Ngoài ra, đẻ dạt dược mô bình dạy học hiệu quả, trong thực tế dạy học tích hợp luôn di
kèm với lây người học làm trung tâm (luôn tên trọng cách học của người học) và đạy
bọc tích cực (người học chủ động giải quyết vẫn dé, hoc qua trải nghiệm của chính
mình )
+ Quan niệm về tích hợp trong GDMN
Bén canh chương trình giáo đục phủ hợp, cẩn lựa chọn cách tỏ chức nội dung học phủ hợp đến người học Sự phân chia cáo môn hoe rach roi như những ngắn kéo riêng
rẽ hay đảm bão mỗi liên kết giữa cáo môn hẹc, các lĩnh vực nhận thức Đâu lả câu trúc
nội dung học phù hợp với trẻ lứa tuổi mẫm non? Cách tổ chức nội đụng học dâm bảo mỗi liên kết của các môn học, các lĩnh vực nhận thức là phủ hợp với trẻ mẫm nơn, trẻ mam non cân học theo cách tiếp cận tích hợp Hỗ trợ cho nhận định này, Bredekamp
(dẫn theo |7, tr33J) cho rằng “việc học của trẻ không chỉ xâu ra trong phạm vì hạn
hẹp của mỗi môn học; sự phát wién va bọc của trẻ mang tính tích họp” Các nhà giáo đục [8], [15] cũng cho răng: trẻ nhìn nhận thê giới một cách tổng thể và tr nhiên nhĩ
là nó vốn có, không chúa cắt rạch rồi các sự vật hiện tượng, có nghĩa là trẻ không nhìn
nhận, phân tích thế giới từng chỉ tiết mã nhìn một cách tổng thể, học một vẫn đẻ và
nhiều khía cạnh theo vẫn dé di Fisher (dan thea [14, 8) viel “ẻ nhỏ học qua con
đường chỉnh thê thông nhất chỉ không phải qua những ngắn bệp ngdn nap va gon gàng chứa đụng trí thức " Như vậy, cách tê chức nội đụng học “lồng ghép nhiều môn học trong một hoại động và đầm bảo sự liên kết giữa các mảng kiến thức bằng cách tổ
chức nội dụng chương trình giáo dục thành các chủ đề" [14, tr3] phù hợp với trẻ
mâm nơn Bởi lẽ, kiến thức tré lĩnh hội ở hữa tuổi mam non cén néng can, hoi hot, bé
ngoài, chưa chuyên sâu và chưa trừu tượng, Bên cạnh đó, tốc độ tăng trọng lượng não
rất nhanh đặc biệt là giai đoạn O đến 3 tuổi, mỗi người có bộ não rất riêng, phong cách
riêng khi xử lý thông tin và đạy học tích hợp não sẽ xử lý thông tin tốt hơn đạy học rời
rạc, dạy học tích hợp giúp trẻ nhìn thấy các mối liên hệ về kiến thức và kỳ năng giữa
các lĩnh vực [36].
Trang 19Vi sao day hoc tich hop dim bao ede méi lién két? Vi tich hop khéng phan chia cac
môn học riêng rẽ mà trong cùng hoạt động, chủ để nó đồng thời khám phá được nhiều
nên học hay lữ: vực nhận thức Quả thể, việc học của trẻ cần đâm bão sự liên kết,
dan xen các nội dung học trong các chủ dễ giáo dục và các chủ đẻ này phải gắn liên với cuộc sống, là một phản của cuộc sông, nó như sợi chỉ đỏ liên kết những gì trẻ học
Mộ tác giã |8, tr.10| nhận định “hoại động day hoc ở mẫu giáa được tổ chức theo hưởng tiếp cận tích hợp các nội dung học Các nội dụng học này không phân chia thành các “bộ môn” mà kết hợp trong một chủ đề cá chứa đựng những trĩ thức sơ đẳng của đời sông văn hóa — xã hội và tự nhiên” Có nghĩa khi trẻ khám phá chủ dé cũng đồng thời khám phá nhiều lĩnh vực kiển thức khác nhau trong đời sống tạo cơ hội
cho trẻ trở thành “nhà nghiên cứu” tích cực, năng động, có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống thực cỏ ý nghĩa |15, tr.26| Nhận định trên cảng dược
chứng mình khi một số táo giá [8, tr.12], [15, tr.26] nhắn mạnh “đích hợp nhỉn nhận
thể giới tự nhiều, xã hội và con người nhụ là một thể thông nhảt, không ca cẤt rạch rồi các xự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh, tích hợp không chỉ là đặt các đối tượng cạnh nhau, liên kết các đối tượng với nhau mà còn là xâm nhập, đan xen các
đãi tượng hay các bộ phận của đối tượng vào nhau, tạo thành một chỉnh thể ” Điêu
cần nhân mạnh ở đây là sự dan xen, xâm nhập các dói tượng dé tao nên chẳnh thể chứ
không phải là đặt cạnh hay liên kết đổi tượng với nhau, có thể hiểu đạy học phải làm
sao giúp trẻ thấy được các mối liên hệ tự nhiêu giữa những gi trẻ học trong một chẳnh thể thống nhất chứ không phải là cổ gắng gượng ép, chắp vá hay phối hợp các đối tượng với nhan Với cách tổ chức nội dưng học đảm bao mdi liên kết của các môn học, các lĩnh vực nhận thức không chỉ phù hợp với trê lứa tuổi mầm nơn rmà hiển nay ngay
cả phổ thông trung học cũng dang nói dẻn tich hợp Bởi vi, nếu các mỏn học bị chia cắt có nghĩa là mỗi liên hệ tự nhiên của chứng đã bị chặt đứt, kiến thúc sẽ rời rạc, tách rời, nội dung kiến thức được đặt wong các “khoang kín nước” sẽ nằm mãi trong dé va
“không thé có giá trị trong những điều kiện thực của cuộc sống" [9, tr.84] Ph^~ng-
Ghen [1, tr.74] viết “zất cả thể giỏi mà chúng ta có thế nghiên cứu được là một hệ
thông, một tập hợp gồm các vật thể khẳng khi với nhau ” Chính vì thể càn dạy học tích hợp để giúp trẻ thấy được mỗi liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, đối tượng trong
Trang 20một chỉnh thể thống nhất Hơn nữa, cách tổ chức nội dung học không chi dim bao mỏi
liên kết giữa các môn học, cáo lĩnh vực nhện thức bằng cách tổ chức nội đung chương,
trình thành các chủ để mà còn phát triển nhiều mặt giáo dục bởi tích hợp còn là sự dan xen của các mặt giáo dục Vẻ khía cạnh này một số tác giả [8, tr.12{ cho rằng, “ø# mẩu
giáo phái triển về nhiều mặt: thế chải, nhận thức, ngôn ngữ tình cảm — xã hội, thÂm:
xi — sảng lạo ; các mặi này cá liên quan chặt chẽ với nhau Do đó, việc chăm súc
nôi dưỡng và giáo dục trẻ có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau và được tiên hành đồng
thời, không có sự tách bach” Bredekamp (dan theo [7, tr.33]) nhận định “ruột hoạt
động thúc dây một mặt phát triển nào dây thì cũng tác dong dén cdc mặt phải triển khác" Quả thể, cùng lúc nhà giáo dục có thể đạt được nhiều mục tiêu phát triển trong
cùng một hoạt động của trễ vì “gióa đục ích hợp ở bậc học mắm non chỉnh là quá trình tác dộng sư phạm một cách phù hợp với sự phát triển tình câm, dạo đức và trí tuệ của trẻ” [15, tr.26] Như vậy, cùng lúc trẻ không chứ được học nhiều môn học má
còn phát triển nhiều mặt giáo đục thông qua các hoạt động, chủ đề giáo đục Trái lại,
tác gi Nguyễn Thị Thanh Hà |3, tr.117| lo ngại “chương trình với cách tiếp cận tích
hợp theo chủ đề cũng tiềm ân nguy cơ áp đặt nội dụng boạt động từ giáo viên lên trẻ "
Và vấn để này, các nhà giáo dục trên thể gidi (Palmer va Pettitt) cứng cho rằng dạy học tích hợp cũng tiểm ẩn nhiều nguy co rắc rồi Tuy nhiên, không nhất thiết các lĩnh
vực giáo dục là ngang băng nhan trong mỗi chủ đề bởi lẽ trị thức ở mỗi lĩnh vực, mỗi
môn học có những điểm đặc trưng riêng Hỗ trợ nhận định nay, Palmer va Pettitt (din
theo |14, tr.5|) hưu ý “giáo viên có thể tích hợp các môn hạc theo kiểu không đâm bảo
sw cong bang và giá trị của từng môn học " và nhân mạnh “trong những chủ để chung
và rộng, chúng ta củ thế dành chỗ cho hầu hết các môn học liên quan vị trí trung lâm i# nhất là tại một thời diễm Hoặc là một số hoạt động riêng bên ngoài chủ dễ có thế là cần thiết” Bởi lẽ “chương trình tích bợp không phải là thuốc chữa bách bệnh cha mọi vẫn dễ giáo dục Cúch tiếp cận chương tình (Ích hợp chỉ được xem như là công cụ đó thể giúp giáo dục học sinh và khuyến khích họ trong quá trình học tập” [ST, tr.2-3]
Tích hợp được hiểu rộng hơn là cách tổ chức hoạt động day hoc moi kic moi noi, trong mọi hình thức dạy hợc và trong nuôi có dạy, trong dạy có nuôi, học mà chơi,
chơi má học - gắn với khái niệm "ngày tích hợp”, "nội dung học không phân chia vào
Trang 21các giờ học” |8, tr10| Cách hiểu này rộng hơn cách hiểu vẻ phương, thức tích hợp thêng nhật các lĩnh vực giáo đục: “tim: ra mỗi liên hệ phụ thuộc giữa các lĩnh vực giáo
đục trong một dụng hoạt động của trẻ hoặc Irong trục tiêu và nội củng giáo đục, trong
đề có một lĩnh vực là chủ dạo và các lĩnh vực khác chỉ ở vai trò bỗ sung” |1T, tr1771
Điều này dễ nhận thay khi quan niệm cho rằng hoạt déng day hoc ở mọi hic moi noi,
trong mọi hoại động ở trường mầm non trong đỏ có những hoạt động chứa trong lòng, phân lớn các lĩnh vực nhưng cũng cỏ những hoạt động chí chứa vải lĩnh vực giảo dục,
điều cần nhân mạnh ở đây là các lĩnh vực đó có sẵn những mỗi liên hệ tự nhiên, vốn
có Với quan niệm hoạt động dạy học thực hiện trong giở học tích hợp trong đó có một
lĩnh vục là chủ đạo vả các lĩnh vực khác ở vai trò bỗ sưng khi có gẳng tìm ra môi liên
hệ phụ thuộc giữa các lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, Bennett [56] cho ring “ngay iích
bợp có thê thành công xuất sắc và có thể thâm bại, ngày tích hợp vô tô chức không có lợi cho trẻ và chản nắn, một mỗi cho giáo viên” Chính vị thể, 48 cỏ ngày tích hợp thành công giáo viên cân có kế hoạch tương đổi cũng như sự hợp tác của trẻ Hỗ trợ cách hiểu mày, Huật ngữ “chăm sóc và giáo dục Irễ mẫm nơn” trong chương trình GDMN thê hiện sự liên kết chặt chẽ giữa ''chăm sóc” và “giáo dục” và môi quan hệ
nay la bat khả xâm phạm (indissohsble) [48, tr.25] Thuật ngữ này rộng, toàn điện, tích
hop và thông nhất cách tiếp cặn
Trong chương trình với cách tiếp cận tích hợp theo chủ đẻ, kiên thức được xem xét
theo chiêu đài từ giai đoạn chuẩn bị đến đánh giá thực hiện chủ đề Trong đó, chủ để
“là một phần nội dụng kiên thúc, kĩ năng cùng phân ảnh một vẫn dé nao đó mà trễ có
thé tim hiểu, khám phá và hạc” [L2, tr.9], chủ đề là hình thức nhà giáo đụe liên kết các
môn học, các lĩnh vực giáo dục Giáo viêu có thể dạy học truyền đạt trong chương trình GDMN voi cách tiếp cận tich hợp theo chủ dẻ? Hoàn toàn có thể, Đề trành ngay
cơ người đạy truyền dat trí thức đến người học trong chương trình tích hợp, day hoc
tích hợp phối luôn di kẽm với dạy học tích cực và lây trẻ làm trung tâm, Như vậy, tích
hợp các môn học, lấy trẻ lâm trung tâm vả dạy học tích cực là một khối thống nhất
trong mỏ hình đạy học hiệu quả Bởi lẽ, néu nha giao duc day hoc tich hop thì vẫn có
thể dạy truyền dạt hoặc nêu dạy học lấy trẻ làm trung tâm, dạy hợc tích cực trong khi kiển thức vẫn tách biệt từng môn học như những ngăn kéo thi trẻ sẽ không thay được ý
Trang 22nghĩa của việc học cũng như khó vận dụng kiến thức cỏ được ở nhà trường váo thực tê
cuộc sống Đó là nguyên nhân Eranzie [10] cho rằng chương trình phân môn không,
thụ hút người học trong những tình huống thực gủa cuộc sống do đó được thay thể bằng chương trình tích hợp
Tém lại, tích họp trong GDMN duoc hiểu không phân chia các môn học, các lĩnh
vụe rửiận thức hay các mặi giáo đục riêng rỡ trong những ngăn hộp mà đâm bảo mối
liên kết giữa chúng thông qua các chủ đề giáo dục gắn liên với cuộc sống, tổ chức hoạt
động mọi lúc mọi nơi, trong mọi hình thức dạy học; tích hợp luôn tên trọng cách học
của trẻ (lấy trẻ làm trung tâm) và trẻ phải chủ động giải quyét van dé, dim minh vào cuộc sống, cho trẻ hoạt động, học qua trái nghiệm của chính minh Chính vì thế, tích
hợp luên đi kèm với day hoc tích cực và lấy trẻ là trung tâm Chương trình GDMN
Việt Nam với cách tiếp cận tích hợp theo chủ dễ hiện nay là phủ hợp bởi vì “Nếu trẻ không được dạy theo cách này, ý tưởng trở thành "trơ” và kiến thức vẫn “chết” Kết quả, đứa bề không hiểu được mi liên hệ giữa cuậc sống hàng ngày và những gì trẻ
được giảng dạy trong trưởng học" |41 |
1.2.1.2 ì sao nên dạy trẻ mâm nan theo hướng tích hợp?
a Cơ sở lý luận cửa tích hợp
“Tích hợp” không còn quả xe lạ đổi với mọi người nói chưng và những người hoại
động trong lĩnh vực giáo đục nói riêng, có lẽ nó tồn tại cùng với sự tổn tại của con
người vì ái học tích hợp” trong tuọi thời đại “V3 cuộc sống quanh (rẻ
tự bản thân nó, dã tận tại trong một logic tích hợp” |22| Thể giới luôn cò những môi quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, nó là cái vồn có, là cái khách quan, đó là “sự ác động qua lại, chuyển húa lẫn nhau giữa các vự vội, hiện lượng hay giữa các smặi, các
giai doạn phát triển của một sự vậi, hiện tượng ” [2, tr.322] Xuất phát từ cuộc sông va mong miễn người học thành công trong học tập cũng như trong xã hôi, các nhà tâm lý
~ giáo dụu học từ thể kỉ 19 đầu thế ki 20 dã có tư tưởng về xây dựng mô hình dạy học tích hợp vả lẫy trẻ làm trung tâm Đại biểu là Frobel (dẩn theo 14, tr.7]), một trong
những nhà giao dục người Dire nổi tiếng trên thẻ giới, viết: “đừng bao già quên rằ
nhiệm vụ chỉnh yếu của trường học không phải là dạy thật nhiều mà là kết nỗi sự da dạng và nhiều về của tất cả mọi sự vật đề làm nỗi bật sự thống nhất muôn thuở có ở
Trang 23trong tat ed mọi sự vật” Cùng với Frobel, Steincr |58| với quan điểm phát triển cả
nhân người học và coi phát triển nhận thức, tỉnh căm và hành vỉ của trẻ em được liên
kết với nhau Ngoài ra, những luận điểm chính trong thuyết phảt sinh nhận thức
¬
Piaget lam cơ sở xây dụng mô hình tích hợp trong GDMN Trước hết, Piaget nhân manh su phát triển cá nhân của mỗi đứa trẻ - học tập là quá trinh cá nhân trẻ phải tự hình thành các trí thức cho ban thin mink Quan điểm này thống nhất với các quan
niệm “lấy trẻ làm trung tâm”, người học là “người tự lực, tích cực bảnh động tìm tỏi,
kham pha” - Brunner dé xuất hay Panio Friere (thuyết phê phán) cho rằng trẻ em có
quyên chủ đông và lựa chọn trong mọi hoạt động [28, tr.2|; thứ bai, câu trúc nhận thức
được hình thành đân dẫn, tuần tự trên cơ sở các kích thích của mỗi trường xưng quanh
— phủ hạp quá trinh phát triển của trẻ, thứ ba, quá trình phát triển nhận thức phụ thuộc
vào sự trưởng thành vả chín muôi của các chức năng sinh lý thần kinh - các giai doạn phát triển trí tuệ của trễ em Quá trình này là tiên đề để người lớn lụa chọn, tổ chức các hoạt động thách thức trẻ và đưa trẻ vào những tình huống phải đổi mặt cần giải quyết
từ đơn giản đến phức tạp đần theo khả năng cũng như độ tuổi Từ lý thuyết của Pigel
va ly thuyét “ving phát triển gân” của Vugotxicy, Rruner xây dựng mô hình đạy học
đôi hỏi giáo viên phải tạo môi trường ở đỏ trẻ được tự lực tim tòi khám phá theo khả
nắng, hung thú cùng với việc trẻ có thể tự đo đặt câu hồi hay dua ra những vấn dé dén
giáo viên hoặc các chuyên gia cũng như lý thuyết “giàn giáo” trong đó giáo viên chấp
cảnh cho trẻ phát triển ở ruức độ cao hơn Thêm vào đó, Beane [34] chỉ ra rằng chương, trình tích hợp xuất phát từ quan diễm kiển tạo, người học có cơ hội van dung kỹ năng, kiến thức để nghiên cứu trả lời cho những câu héi hay mdi quan tâm của chính mình
và vì thể nó có ý nghĩa hơn việc người học chỉ lập trung chuẩn bị cho ki thi hay lop hoe tiép theo Quan diém tén cia Frobel, Steiner, Piaget, Vugotxky pha hop voi giao đục hiện đại ngày nay và được vận dụng vào việc xây dụng, phát triển chương
trù GDMN lấy trẻ làm trung tâm, học qua chơi, dạy học tích cục và day học tích
hợp
Xuất phát từ cơ sở tâm — sinh lý của trẻ mâm non, rẻ nh một thực thể tích hợp, trề
nhìn nhận thể giới một cách tổng thể và tự nhiền như là nó vốn có (các yêu tổ tự nhiên
xã hội và khoa học đan quyện vảo nhau tạo thành thể thống nhất) chứ không chia cắt
Trang 24rạch rồi các sự vật hiện tượng Một số nhà nghiên ctu đã khẳng dịnh “# em học
trong những năm đầu của cuộc sống nhiều hơn bắt cứ giai đoạn phát triển nao” [13,
trở], do đá họ cho rằng đây là “thời điểm vàng” đề chăm sóc và giáo đực trẻ cm Bởi
lẽ, tốc dộ tăng trọng lượng não rất nhanh đặc biệt là giai đoạn 0 đến 3 tuổi; mỗi người
có bộ não rất riêng, phong cách riêng khi xử lý thông tin và đạy học tích hợp não sẽ xử
Tý thông tr tốt hơn dạy học rời rạc Các nhà tâm lý — giáo dục học đã chứng mình hoạt động chú đạo ở từng giai đoạn lửa tuổi là khác nhau trong đỏ hoạt động, chơi phủ hợp
cho mọi giai đoạn vì chơi là cơ chế tự nhiên đề học tập va mang day ý nghĩa, bởi thể chơi và học có mối quan hệ cực kì chặt chế |36] Không những thế, Vưgếpxki cho rằng, chơi là điểm khởi đầu cho sự phát triển và giúp trẻ phá vỡ rào căn giữa các môn học,
các lĩnh vực phát triển Bên cạnh đó ngôn ngữ, các quá trình tâm lý cùng các phẩm
chất tâm lý phát triển nhanh và ngày cảng hoàn thiện Vugotxkcy (dẫn theo |14, tr.8-9|)
nhân mạnh sự liên kết, đạn xen của các chức năng tâm lý trong quả trinh phát triển:
Những chức năng tâm lý khác nhau (chú ý, trí nhớ, tri giác, ý chỉ và tw duy) không phát triển bên cạnh nhau như là bó các cành cây được ail trong mot
cái bình, chúng cũng không phát triển giống như các cành cây khác nhau mọc trên cùng một cây và được kết nối với nhau bởi thân cây Trong quả trình phát triển lÃI cả những chúc năng dé hop thành mội hệ thông cú phân
cấp phúc tạp trong đó chức năng trung tâm, hay chủ đạo, chính là sự phát
triển của tư duy, chức năng hành thành khái mộm
ay, nếu đánh đằng sự phát triền là như nhau của các chức năng tâm lý
trẻ hay các giai đoạn phát triển thi giáo dục khó đi đến sự thành công, vì vậy, tiếp cân
cả nhân trong giáo dục cần được xem xét giống như lầm quan trọng khí nhà giáo duc nắm lấy giai doạn “phát cảm” trong sự phát triển của trẻ Vai trỏ “diễm tựa”, "giản
giáo” (thân cây) của nhà giáo dục cảng được khẳng định, đo đó quá trình tổ chức các
hoại động cho trẻ trải nghiệm cần dựa trên các dặc điểm tâm — sinh lý lửa tuổi mắm:
non
Trên đây là co sé ly Ioan nhimg dinh hudng quan trong trong đối mới giáo dục
theo hưởng tích hợp Tóm lại, cách tiếp cận tích hợp trong giáo dục được xây dựng từ
những tư tưởng tiến bộ, hiện đại của nhiều nhà triết học, tâm lý - gido dục học nổi
Trang 25tiếng trên thể giới Điều nay làm xua tan những nghi ng’ khi chuong tinh GDMN
được xây đựng với cách tiếp cận tích hợp mang lại những thành công đáng kể
b Tích hợp mang lại gì cho trê?
Đây là câu hỏi của khá nhiều người trong lĩnh vục giáo dục từ những người quan
tâm cũng như không quan tâm đến tích hợp Tỉch hợp thực sự mang lai gi cho người hoo - trẻ lửa tuổi mẫm non) Nhiều nghiên cứu của các nhà giáo đục trên thế giới lừ cap hoc mam non dén đại học trong, phong trảo tiến bộ giao dục đều đi đến kết luận:
người bạc làm trưng tâm với cách tiếp cận tích hep la phi hop và dem lại hiệu
quả cao trong quá trình giáo dục” |49, tr.14 Trước hết, tích hợp giúp trẻ dễ đàng
trong việc vận dụng những gì đã học vào cuộc sống thực bởi lẽ khi dạy học tích hợp,
nội dung dạy học thường xoay xung quanh những chủ đẻ gân gi với trẻ, trẻ được hoc
từ những tình huông thực trong cuộc sống do dỏ trẻ thấy dược môi liên hệ giữa những,
gi trẻ học với cuộc sống cũng như phát huy được vên kinh nghiệm đã có của minh
Chứng minh cho nhận định này, Fan [38] cho rằng, nẻu người học không được học
trong chương trình tích hợp thủ sẽ khó thấy được mối quan hệ giữa cuộc sông hàng, ngày với kiến thức được trang bị ở trường, không có khả nàng đánh giá, không có sự
sáng tạo Trong khi đó khá năng tự học, đánh giá, năng lục sáng tạo là những thành tố
quan trọng giúp con người thành dại trong cuộc sống Tiếp dến, tích hợp giúp người
học nhận ra ý nghĩa của việc học cũng nhĩ năm được giả trị sâu của trí thức, bai “Hi
thức khoa học phụ thuộc vào sự hiểu biết về những ứng đụng đời sống xã hội hàng
ngày” }9, tr.135| Do đó trễ sẽ có cơ hội vận dụng kiến thức và kỹ năng của mình vào
các lĩnh vựo khác có liên quan hay giải quyết các vẫn để của cuộc sống thực Từ đó,
trề trở nên tự tin, độc lập hơn không chỉ trong học lập mà còn rong cuộc sống, đây
chính là dộng lực thúc dây trẻ tích cực tham gia cũng như khởi xưởng nhiều hoạt dộng,, chuẩn bị cho học tập suốt đời và cuộc sông trong tương lai Quả vậy, giáo đục tích hợp không chỉ giúp con người thông mình mà còn đễ trở thành một người tốt; không chỉ cho mọi người kiến thức mà còn giúp ho van dung kiến thức thực sự tyên thâm váo
các lĩnh vực của cuộc sống thực, không có sự phân chia giữa nhà trưởng, vả xã hội, học
tập và cuộc sống con người, kiến thức và lòng, tốt |38]
Trang 26Albert Einstein cho rằng “chơi là hình thức cao nhất của nhà nghiền cứu” có
nghĩa là trong khi choi tré có thẻ trở thành “nhả nghiên cứu”, tích cực, say sưa tìm tôi, phái hiện và thú vị nhận ra giữa các lĩnh vực giáo dục luôn có những môi liên hộ Và chơi là hình thức đạy học tự nhiên, luệu quả và đặc trưng của trẻ mắm non, trong kÌu
chơi trẻ thiết lập môi quan hệ giữa trẻ với mọi người xung quanh (giáo viên, cha mẹ,
chuyên gia, bạn bẻ ) cũng như khả năng tự điểu chính của trể hình thành và phát
triển, ong đó khả năng tự điều chỉnh lá nẫn tăng sinh học cho việc sẵn sảng đi học va
học tập thánh công [36, tr 1] Trẻ được học mọi lúc mọi nơi, trong mọi hình thức đạy học Hơn nữa, trẻ học cách yêu thương, tôn trong lẫn nhau và năng lực giao tiếp của
trẻ phát triển lên một nắc cao hơn bởi mỗi tré đến trường là một cả thể rất khác biệt về
văn hóa, ngôn ngữ, có đặc trưng riêng vả sự phat triển không giống nhau, chúng cảm
nhận thể giới xung quanh rất riêng, có phong, cách học / chơi rất khác nhau và khác với người lớn [36], [50] Nều trẻ được học qua chơi điều chắc chắn trẻ sẽ tích cực tự nguyên đến trưởng và xưng phong tham gia các hoạt đẳng ở trường mà không cân sự
ép buộc, răn đo hay cưỡng ép của người lớn
Ngoài ra, “cách tiếp cận tích hợp giúp cho nội dưng giáo đục tránh được sự trùng
lặp về kiến thức, sự quá tải về nội dung chăm sóc giáo dục đối với trẻ" [15 tr.35] Do
đó, trẻ dược học nhiều hơn trong khoảng thời gian ít hơn Cân Lạo một môi trường xã
hội ở trường mâm non trong đó hạnh phúc của trẻ được nâng cao, trẻ là trung tâm, mỗi
trường học lập và học lập trải nghiệm được thiết
ó chủ định, bối “mỗi mỗi trường
học tập tích cực hỗ trợ khuyên khích sự tham gia học tập của trẻ, có thể nhận thấp sự
tập trung cao độ và hoàn toàn bị cuồn hút vào nhưng gì trẻ thích thú " (Khung chương,
trinh giáo dục đầu đời - Úc, đẫn theo [29J) Chính vì thể cần phát triển một chương, trình giáo dục phủ hợp với khả năng va nÌưu cầu của trẻ vi khi trễ cảm thấy dược yêu
Thương, nhìn nhận, trễ sẽ trở nên tự tín, năng động hơn, tham gia tích cực vào các hoạt
động và đảm nhận những công việc xuang tính thách thức |29, tró|
1ên cạnh những thánh công, chương trình GDMN với cách tiếp cận tích hợp cũng
tiểm ẩn hạn chế, một số lĩnh vực ït hoặc không tim thây mỗi quan hệ với một vài chủ
để cụ thể, tiêm ân xu hướng hưởng dẫn học sinh học tập nông cạn hoặc không liên quan; dẫn đến mắt nhiều thời gian [40] Không nhất thiết trong một chủ để phải chứa
Trang 27tất cả các lĩnh vực phát triển vì có thé phat trién cae linh vue dé bén ngoai chi dé
Palmer va Pettitt (din theo [14, tr.S]) nhận định “ 7rong những chủ để chung và
rộng, chúng la có thể dành chỗ cha bầu hết các môn học hay là nhóm cáo môn học liên quan vị trí trung tâm íL nhất là tại một thời điểm, Một số hoạt déng riêng bên ngoài chủ đề có thể là cần thiét” Do dé, trẻ cần đi học đây đủ mới có thế kết nội các
hoại động trong chủ để |53| Bắt kì cách liếp cân nào cững có những lợi thể và bất lợi
tich hợp” |ŠT, r1] đua đến bước đầu hoang mang không chỉ GVMN 1ä còn giảng
viên sir phạm khi tiếp cận chương trình Kế đến, Krogh và Merehouse [43, trvii] cho ring “giáo viên can phải biết nến tảng jÿ thuyết, triết lý, nghiên cứu về sự phát triển của trẻ khi họ ủng hộ việc day học lấy trẻ làm trung tâm với cách tiếp cận tích hợp”,
khi GVMN nắm được nên tảng lý timyết, triết lý, nghiên cứu về sự phát triển của trễ,
họ hiểu rõ lý đo vì sao mình dạy như vậy và khéo léo xây đựng kế hoạch theo cách
hiểu riêng của mình cho phù hợp và ý nghĩa đối với trẻ bởi vì “lưm cho chương trình
tích hợp có ÿ ng]ữa với trẻ" [35, trxvii] cũng là một thách thức mà GVMN phải đối mill “Day hoc dia trên kinh nghiệm cuộc sỗng, tích cực hoại động và phải thách thúc
trì tệ của người hạc” [57, tr.2] là một vẫn đề cho GVMN, bởi lẽ mỗi người học trải nghiệm cuộc sống không giổng nhan, môi trường sống - giáo đục gia đỉnh, năng lục
cũng như hùng thú của mỗi trẻ lả khác nhau Do đó, đẻ tổ chức hoạt đông tích hợp thu hút và thỏa mãn sự tìm tôi cũng như thách thức trí tuệ cũa người học đỏi hỏi năng lực
thực sụ của người giáo viên Ngoài ra, chương trình tích hợp phải xây đựng mỗi quan
hệ sâu sắc giữa giáo viên, gia dình và đồng nghiệp, bởi quá trình tương tác này có ảnh hướng dang ké đến thành công trong học tập của trẻ [36, tr.15] Xây dựng được mốt
Trang 28quan hệ sâu sắc giữa con người với con người luôn là vân để nan giải trong xã hội
nhumg không phải là không thể với những người biết mở lòng, bam hiểu biết và vì trẻ
em Có lẽ, trảnh công trước hỏi cho chinks bau [hân người giáo viên, sau là những lợi
Ích cho trẻ khi họ xây dựng được mỗi quan hệ dó vì họ có thể chứa sẽ lẫn nhau về văn
hóa, hiểu biết về trẻ
nhà cùng như ở trường, họ tôn trọng lẫn nhau; và đặc biệt thông, qua mỗi quan hệ với đẳng nghiệp các giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục đảm bảo
sự liên thông giữa các độ tuổi Lrong chương trình tích hợp, “giáo viên sẽ đặt tên cho
chủ đề hay đề tài thật đễ thương, ngộ nghĩnh, tránh trường bợn giáo viên chỉ lưới qua những vấn đề cá liên quan dén dé tai ma cluca di séu vào nội dụng cần nhân mạnh cho
trẻ” [43, tr.22], Khó khăn chỉ thực sự diễn ra cho những giáo viên ít trái nghiệm trong, cuộc sống hoặc kém tưởng tượng bởi mục tiêu của việc đặt tên để tài, chủ để cho ngộ
nghĩnh, dé thương bắt nguồn từ chính cuộc sống, giúp cho người học thấy dược ý
nghĩa thục sự của việc học liên cạnh đỏ, các nhả nghiên củu [43, tr.22] chi ra chương trình tích hợp có thể: “@uá sức với nhiều giáo viên lâu năm đã quen với phương pháp
dạy học truyền thống bởi đời hài xự thay đổi rong triết lý và thực (ễ” Vân đề này
Dewey [9, tr6L] cho rằng: “fhói quen gây tác động tới sự hình thành những thái đệ”
có lẽ khi họ đã quen với cách làm việc não đây sẽ dẫn đến thải đội thờ ơ trước sự thay đối Điều này có thể đúng với những giáo viên lâu năm không linh hoạt và không thích
tứng với sự thay đối vì hạ đã mặc định cách làm việc trong não (wori style of brain) nhưng nếu là người lĩnh hoạt, xế trở thành ưu điểm khí họ có quá nhiều kinh nghiệm:
trong céng việc lẫn cuộc sống và hợ sẽ để nhận thấy sự khác biệt của cluương trình tích
hợp với cáo chương trình khác (chương trình truyền thống) để lựa chọn, phát huy
những uu điểm và gạt bố những bạn chế, bởi lẽ mỗi cách hếp cận, muỗi chương Hình cđêu có những mặt mạnh và hạn chế riêng Chương trình GIMN với cách tiếp cận tích hợp theo chủ đề cũng là “thách thức với cơ sé dao tao, phát triên GEMAN” [35, trxvii]
vi nơi dây là chiếc nội đảo tạo nhiều thế hệ và bồi duõng giáo viên lâu năm
'Trên đây là một số khó khăn GVMN trên thế giới gặp phải trong việc hiểu và thực
thị chương trình với cách tiếp cận tích hợp Khó khăn của GVMN Việt Nam là gì?
b Ở Việt Nam hiện nay
Trang 29Cũng như các nước trên thể giới, GVMN Việt Nam gặp không ít khó khăn trong, việc hiểu và thực thi tích hợp Trước hết những khó khăn khách quan mà ŒVAMN phải
đôi mặt: thiểu sự đồng nhất rong quan điểm chỉ dạo, triển khai và tô chúc thực hiện
chương trình |3, tr.19, 83}, bởi tong khi chi dao doi hỏi sự hiểu biết chính xác và dòng,
tâm, nhưng trên thục tế liệu có bao nhiêu người hiếu chính xác khi triển khai chỉ đạo
về tích hợp, đây cũng là một Lồn tại mrà chưa có nghiên cứa rào cho số liệu cụ thể Bên cạnh đó, một số khó khăn các tác giá [3, tr.19, B1, 84, 90] thừa nhận: cơ sở vật chất và điều kiện chưa đảm bảo để triển khai chương trình đạt hiệu quả: số lượng trẻ trong lớp
đông giáo viên khó khăn trong việc tổ chức hoạt đông phát huy tỉnh tích cực cổa mỗi
cá nhân thậm chí trong nhóm cững như quan sát nắm bắt sự phát triển, tâm lý từng trẻ;
chế độ chính sách chưa thỏa đáng trong khi công việc của GVMIN luôn bộn bể tắt bật
Ngoài ra, “một số phụ huynh, đặc biệt ở vùng nông thôn, chưa quan tâm đến trẻ; sách tham khảo còn it” [3, tr.19] cting din đến khó khăn cho GVMN trong việc hiểu và
thực thí tích hợp
Tên cạnh đỏ, một số khó khăn xuất phát từ chính ban thân giáo viên: “chưa năm vững cách quan sát, đánh giá sự tiền bộ của trẻ qua các hoạt động” [3] dẫn đến việc lập kế hoạch cho các chủ để tiếp theo khó mả phủ hợp với nhu câu, sở thích của tr;
“giáo viên vẫn bị ảnh hưởng bởi phương pháp cũ, chưa linh hoạt” |3, tr19|, dày là khó khăn ngay cả các nước trên thể giới và “thỏi quen cũ đạu theo bộ môn là rào cân
lớn nhất trong việc giáo đục trẻ theo hướng tích hợp” [3, 83] Quả trong mat
thành rào cản cực lớn bởi lỗi làm việc đã ăn sâu vào tiểm thức Đây címg là vẫn é
với giãng viên các trường sư phạm Hơn nữa, tác giá Phan Thị Thu Hiển [3,
1r.138,139] nên lên một số điểm yêu của sinh viên va GVMN dẫn đến những khó khăn
Xhủ Hưực thủ tích hợp: “chươ có khả năng dọc biếu, phân tích và dánh giá chương mình
- khã năng nhận ra những triết lý giáo dục cơ bản làm nên tăng cho mô hình giáo duc,
khả năng so sánh những khác biệt và giống nhau giữa các mô hình GIMÁN, khả năng đánh giá hiệu quả của các cách dạy khác nhau hay các mô hình GDAAN khác nhau”
Như vậy, nhận thức của GVMN lá yếu tố sốt lỗi trong việc hiểu và thục hiện chương
Trang 30trình với cách tiếp cân tích hợp GVAN cần năm vững các nguyên tắc giáo dục nên
tảng bởi chỉnh GVAMN và táo động sư phạm trong giai đoạn này có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự phát triển của trẻ
122 Nhận thức của GUMN về cách tiêp cận tích hợp trong GOMIN
"Người thâu cư xử như tmột chỉ huy chứ không phải như nhà độc tài
Jolm Dewey |9, tr.100] 1.2.2.1 Nhận thức của GƯMA
Theo từ điển triết học [31, tr.407], nhận thức la “gud tink phan anh va tai tạo lại
biện thực ở trong tự dụụ' của con người, dược quyết dịnh bởi những quy luật phát triển
xã hội và gắn liên không thê tách rời với thực tiễn” Có thê hiểu trong, quá trình nhận
thức con người thu nhận kiến thức, tái tạo lại cho phủ hợp với thực tiễn cuộc sảng vì
nhận thức không xa rồi thực tiễn, cũng từ đó giúp con người hiểu rõ thể giới xưng quanh để thích ứng LIễ trợ cho quan niệm trên, từ điển tâm lý học [10, tr.553] cho ràng, nhận thức là “ziếp thu được những kiến thức, hiểu biết những qiạ' luật về những hiện tượng, quá trình .” Như vậy, có thê hiểu nhận thức của GVMN về cách tiếp cận tích hợp trong GDMN nghĩa là giáo viên có hiểu biết, kiến thức như thé nao về cách tiếp cận tích hợp trong GDMN Trong hội thảo, GVMN thế hiện sự hiếu hiết về
cách tiếp cân tích hợp rung GDMN: “day hoe tich hợp không chủ trọng cung cấp
những kiến thức kĩ năng đơn là mà cung cần những kinh nghiệm sống, những kiến
thức gần gii xung quanh trẻ một cách tổng thế” [3] Đây là quan niềm đuợc thể hiện
trong chương trình GDMN va tai liệu hướng dẫn thực hiện chương trình Giáo viên bắt
đầu từ đâu không quan trọng bằng việc họ thực hiện như thể nảo và bọn trẻ sẽ được đi
đến đâu trong sụ phát triển cũa chúng |15, tr.4§] Xavier [22, tr.12| nhận định “mội
giảo viền giỏi không phải là người biết nói phải tổ chức lớp bọc như thế nào, mã biết
Tổ chức một lớp cu thế” Chính vì thê, GVMN phải có ý thức trau đổi kiến thức, nâng, cao trình đỏ, rở rộng tư đuy, trao dỗi với dông nghiệp và mọi người xung quanh dễ có nhận thửc đúng đắn về cách tiếp cận tích họp trong GDMN Qué tinh học tập của
GVMN diễn ra mọi lúc mọi nơi như chính quá trình học của trẻ, giáo viên có thé hoc
qua những giờ rânh rồi của ngảy làm việc, trong cuộc trỏ chuyện với đồng nghiệp, cát nhỉn thoảng qua của lớp học bền cạnh hay những kinh nghiệm hing ngáy trong lớp
Trang 31học |33, u.18], Chinh vi thé, néu GVMN co ¥ thie vé qua trinh hoe tap oda minh sé cd
ý thức về quá trinh học tập của trẻ em
1.3.2.3 Nhận thức của GVMN ảnh hưởng đến thực tÊ dạy học của họ
R Batliner khẳng định “giáo viên lả yếu tố chủ chốt quyết dịnh việc dạy và học có chất lượng " Chính vì thê đào tao đề phát trién chuyên môn cho giáo viên là chia khóa
thành công của cải cách giáo dục |33| Bởi lẽ nhận thức cũa giáo viên luôn đồng vai
trò cực ki quan trọng trọng sự thành công của chương trình cũng như thanh tích học
tập của học sinh thông qua thực tế đạy học [48] Trong nghiên cửu của mình,
Aminudin [33, tr.20| đưa ra hàng loạt các nghiên cửu chứng mình rằng nhận thức,
chuyên môn của giáo viên có ảnh hướng rất nhiều đến sự tự tín và thực tế đạy học
của họ Các nước Bắc Âu rất thanh công trong hệ thống chăm sóc giáo đục trẻ với
cách tiếp cận tích hợp bởi họ rất quan tâm dến đảo tạo các chuyên gia và những người
chăm sóc giảo dục trẻ tạo ra một lực lượng lao động tương thích với mục tiểu của cách
tiếp cân tích hẹp và thực hiện chương trình [48, tr.36,39] “Giáo viên có ảnh hưởng to
lớn, lâu dài và trực tiếp đến việc hạc xinh học như thể nào, học cải gì, khối lượng trí
thức, cách trẻ giao tiếp với bạn bè và mọi người xung quanh” [2A, tr11] Do đó,
“GIMN phải tích hợp kiên thức; điều chỉnh phương pháp giảng day trong bối cảnh xấ
hội - văn hóa da dựng và sử dụng nó mội cách hiệu guả” \35, urxvũ] dễ trở thành ruột
người giáo viên giỏi — nhận thức tốt — giúp người hoe biển những thông tin thành
những kiến thức bồ ích và nhìn thây mối liên hệ giữa các môn học, lĩnh vực trong thời
dai ma trị thức đổi mới mỗi ngày Robcrt Maynard Hiutchins cho rằng; “?mục tiểu của
giáa đục là chuẩn bị cho trẻ giáo dục bản thân trong suốt cuộc đời” đề đạt được mục
tiêu này không ai thay thể được vai tò của người thầy Thầy giối không những chấp nhận những cái mới má còn khai sang cho những ý tưởng hay Do dó, GVMN cần có hiểu biết rõ ràng, chính xác, hiếu đúng bản chất cña cách tiếp cân tích hợp trong
GDMN, quả trình thue thi tich hợp sẽ dại hiệu quả cao, dem lại nhiều thành công ương,
day hoe
1.2.2.3 Những yêu tố chỉ phéi GVMN nhận thức về cách tiếp cận tích họp và thực
‡ễ dạy học tích bợp của họ
Trang 32Nhin thie eda GVMN anh hudng dén thue té day học và đưa đến thành công trong,
công tac giao đục la điều không thể chối bỏ Vấn đề đặt ra, những yêu tổ nào chỉ phổi
nhận thức của GVMN về
ich Lidp cn tich hop va thuc 18 day hoe lich hợp của họ?
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đảo tạo Nguyễn Thị Nghúa nhân manh: “Mie thye hién
chương bình GUAẨN mới phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ QVUMN nhưng bình độ,
chuyên môn của GUAMN chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình Đây là ách nhiệm của các cơ sở đào tao GVMN” Như vậy các cơ sở đào tạo có trách nhiệm đào
tạn GVMN có trình độ chưyên môn đáp ung yêu cầu của chương trình mới — chương trình với cách tiếp cận tích hợp theo chủ đẻ Nhận nhức của giáo viên được hình thành
từ khi ngồi trên ghế trường sư phạm bới ở đỏ họ sẽ được lĩnh hội trị thức tử các nhà
khoa học (giảng viên), họ sẽ được tiếp cận với các quan niệm, triết lý giáo dục nên
tầng để vận dụng những hiểu biết dé vào quả trình thực tập và công việc sau khi tốt nghiệp liên cạnh đó, niềm tin, thái độ đối với triết lý chương trình GIOMN đang thực thi của GVMIN hình thành từ quan điểm của các giảng viền Các nhà giáo đục cũng nhận định GVMN sẽ khó có thể đạy trẻ cách học như thế mào nêu khi ngôi trên ghế nhà trường họ không được đạy như vậy Tác gia Hoang Tyy [51] khẳng định “nếu không đặt nặng vẫn đề đào tạo, hải dưỡng, ngễn chọn giáo viên rhủ khó lòng giải
guyết dược chất lượng đạy học” do đó, quan trọng đối với giáo viên là “kiến tước
phong phú và lình haat cho các đối tượng ” (Borlso, dẫn then [33, tr22]) Quả vậy, một
SỐ Lim tại trong thực lễ lam viée 66 thé nai x
phát từ chính các cơ sở dao lao
Sau khi rồi trường sư phạm, sinh viên sẽ làm việc tại các cơ sở chắm sốc — giáo
đục trẻ, trở thành GVAMN, và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các cấp quản lý (khôi
trưởng, ban giám hiệu, cấp phòng, sở ) bởi lẽ GVMN tiến cận chương trình mới và
thực thí trong thực tế thông qua các buổi hội thảo, tập huấn tử chỉ dạo của các cấp quân lý Công tác bổi đưỡng, tập huấn là con đường hỗ trợ không chỉ GVMN mà còn các cấp quần lý tiếp cận với tích hợp GVMN là người làm việc trực tiếp với trẻ cùng, với rất nhiễn ban ngành liên quan đến chương trình, do đó sự thống nhất chí đạo cũng,
như hợp tác của ban ngành Hên quan (truờng sư phạm, cơ quan chính quyền quản lý
cơ sở giáo dục ) là yêu tổ quan trọng nên tảng dem dén thanh công, “Mối nguy hiểm đáng lo ngại nhất trong ngành giáo dục đó chính là đội ngũ làm việc trong lĩnh vực
Trang 33nay và sự thông nhất chỉ dạo dưới sự kiểm soát của các ban liên quan là tiên dễ cần
thiết cho sự thành công của tích hợp” [48, tr 40] Vì vậy, hiển biết của GVMN và cáo
cấp lãnh đạo về cách tiếp cận tích hợp cũng rửuz chất lượng của các buổi tập huấn, bồi
đưỡng ảnh hưởng đến nhận thức của GVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp và thực tế dạy học tích hợp của họ Bởi “giáo viên là nguồn lực quan trọng trong hệ thông giáo duc
Hạ là chiếc chìa kháa để tiến tới câi cách, GIUMN đóng vai trò quan trọng và chính họ
phải thay đỗi cách suy nghĩ và phương pháp của mình" (Rgeo Lowry dẫn theo [21,
tr1S} để đáp ứng chương trình với cách tiếp cận tích hợp thea chủ để Do đó, nếu
giáo viên còn ảnh hưởng bôi phương pháp day học truyền dạt, không có khả năng tự học hỏi tìm tôi sẽ khỏ khăn cũng như không thực hiện thành công chương trinh với
cách tiếp cận tích hợp “Chính vì thá, để thực biện thành công đối mới GDMN can
nhìn nhận thẳng thân, khắc phục hạn chế, những thỏi quen ăn sâu không còn thích
hạp trong một số cán bộ quán lý và giáo viên " [21, trải] Lidn nữa, trong khi chương trinh với cách tiếp cận tích hợp thực thi đại trà trên cả nước nhưng “sóch :bam khảo
còn Ít, Ít tài liệu nguồn” |3, tr 19 ñnh hưởng đến nhậu thức của VMIN về cách tiếp cận tích hợp và thực tế dạy học tích hợp của họ
Thư vậy, ngoài những yếu tố khách quan: cơ sở đào tạo — nhận thức của giảng viên
sự phạm, ấp quản lý về cách liếp cân tích hợp, chát lượng của các buổi hội thảo,
tập huận; tài liệu hướng dẫn ảnh hưởng đến nhận thức của GVMN vẻ cách tiên cân
tích hợp và thực tế đạy học tích hợp của họ Yếu tổ cốt lối đem đến thành công trong,
đi kèm với dạy học tích cực và lấy trẻ là trung tâm Tịch hop đem lại nhiều thành công,
cho người học bên cạnh những khó khăn khi thực thí chương trình với cách tiếp cận
tích hợp xuất phát từ những nguyễn nhân chủ quan và khách quan
Trang 34yy Đ
R Batliner khang dịnh “giáo viên là yếu tổ chủ chốt quyết dịnh việc dạy và học có
chất lượng " Do đó, GVMN cần có hiểu biết vẻ bản chất của cách tiếp cận tích hợp trong GDMN đem lại nhiều thành công trong dạy học, quả trình thực Ủn tích hợp sẽ
dạt hiệu quả Bên cạnh dó, nhận thức của GVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp và thực tế
dạy học tích hợp ảnh hưởng bởi các yêu tổ: khả năng linh hoạt, sáng tạo của giáo viên
cơ sở đào (ao (các trường sử phạm); nhận thức các cấp quản lý vẻ tích hợp; chất luợng, các buổi tập huận, hội tháo về chương trình với cách tiếp cận tích hợp, sách, tài liệu tham khảo Trong đỏ, yếu tổ cốt lõi đem đến thành công trong day học chương trình tích hợp chính là nhận thức ca GVMN về cách tiếp cận tích hợp
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CUA GIAO VIEN MAM
'TÍCH HỢP
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Ching tôi đặt ra mục tiêu chính của đề tải là đánh giá thực trạng nhận thức của
GVMN về cách tiếp cận tích hợp trong GI2MN vả để xuất biện pháp nâng cao nhận
thức của GVMN để đáp ứng tỉnh thản của chương trình GDMN với cách tiếp cận tích
hợp Nghiên cứn đuợc kháo sát trên địa bàn TP HƠM — nơi Bộ Giáo dục và Đào lao
luôn lựa chọn để thứ nghiệm hoặc thực hiện thi diém bat kì dỗi mới va tinh Binh Phước — một tỉnh miễn múi còn nhiều khu vực vùng sâu vừng xa - được đánh giá là khá
xa “mặt trời” tiên mọi vẫn để tiếp cận là con dường đài và đáng quan lâm
Nghiên cửu này điều tra nhận thức của GVMIN về cách tiếp cận tích hợp trong, GDMN mội cách có hệ thông duới cả hai góc độ định lượng và đình tính Trước hết, tôi tập hợp số liêu để tìm hiểu nhận thức, dánh giá của ŒVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp, thực tế dạy học ở các trường mẫm non và những yêu tổ ảnh hướng đến nhận thúc
của GVMN về cách tiếp cận tích hợp Tiếp theo, thu thập số liện từ phỏng vẫn sâu cán
bộ quân lý phòng GDMN, ban giam hiệu các trường mắm non cing như GVMN vá quan sát tự nhiên thực tế dạy học của GVMN Từ đó, tôi đảnh giá nhận thức cua
GVMN và thực tế đạy học của họ có như những gì họ nhận thức và có đáp ứng được chương trình GIAMN với cách tiếp cận tích hợp, những thành công vả khỏ khăn khi thực thị chương trình và ghỉ nhận những đề xuất nâng cao nhận thức của giáo viên về cách tiếp cân tích hợp của các đổi tượng điều tra Trên cơ sở đi sâu tìm hiểu thực trạng nhận thức của GVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp; những yêu lô ảnh hưởng dến nhận
thức của giáo viên cũng như thu thập những đánh giá, giải thích, ý kiến phản hồi của cáo bên liên quan, tôi phông vấu sâu 2 giông viên trường sư phạm và 3 chuyên gia
Ngoài ra, tôi sẽ lý giải thực trạng đựa trên cơ sở lý luận của cách tiếp cận tỉch hợp
Trên kết quả phân tích thực trạng và những để xuất của các khách thể khảo sát cũng,
xửuư ý kiến các bên hên quan, tôi đưa ra các biển pháp hỗ ợ GVMN nông ơno nhận
thức về tích hợp, giúp họ vận dụng vào thực tế dạy học dạt hiệu quã
Trang 36kở 3
2.2 Phương pháp tìm hiểu thực trạng
3.31 Các phương pháp thu thập số liệu
Tổ để tài nghiên cứu khoa học tăng độ giá trị, phái ái thập thông tin dinh tinh — sit
dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn và thông tin định lượng - thu thập dược từ diều tra băng bảng hỏi Các phương pháp định lượng giúp xem xét vẫn để trên điện rộng và
tổng tỉnh đại điện cho kết quả nghiên cứu Trong khi đó, các phương pháp định tỉnh
giúp chủng ta hiểu bản chất sâu xa của vấn đề vá lý giải nó Trước hết, tôi phát phiêu hôi đến 100 GVMN ở 20 trường mắm non trên địa bản tỉnh Bình Phước (4 trường đạt chuẩn, 6 trường chưa đạt chuẩn được phan bé ở 2 thị xã và 3 huyện) và TP HCM (5 trường đạt chuẩn, 5 trường chưa đạt chuẩn được phân bổ ở 4 quận nội thánh, 1 quận
vùng ven và l huyện ngoại thành) Tiếp đến, tôi tiền hành quan sát tự nhiên thực tế
day hoc 5 GVMN và phông vẫn sâu: 6 GVMN, 4 hiệu phó chuyên môn, 4 cản bộ Phỏng GDMN, 2 giảng viên trường sư phạm vả 2 chuyên gia trên địa bản tính Binh
Thước và thành phố Hỗ Chí Minh (xem bằng 2.1)
Băng 2.1 Đỗi tượng và nhương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu DSi Luong nghiên củu
hông vẫn ban giảm hiệu 4 hiệu phỏ chuyên môn
hông vẫn cán bộ phong GDMN 4 cán bộ
Phòng vẫn giảng viên 2 giảng viên trường sư phạm
Phong van chuyên gia 3 chuyên gia
Quan sát thực tế dạy học 5 lớp
Phương pháp diễu tra bằng bằng hỏi
Bang hỏi được thực hiện trên 100 GVMN của 20 trường mẫm non thuộc địa bản
TP HCM (Quận 1, 3, 5, Tân Bình, Bình Tân, huyện Nhà Bé) và tĩnh Bình Phước (thí
xã Đông Xoài, thị xã Binh Long; huyện Đông Phú, Bù Gia Mập, Bủ Đếp) Số lượng, bang hỏi được phân bể theo tí lệ 2.0-1.5-1.0-0.5 dựa trên độ tuổi của nhỏm, lớp Mục
Trang 37tiêu sử dụng bảng hỏi để tìm biểu nhận thức và đánh giá oda GVMN vé cach tiép cin
tích hợp; những thành công và khó khăn của giáo viên trong việo hiểu và thực thi tích
1 GVMN vé cách
hap 6 bic hoe mam non và những để xuất để nâng cao nhận thức
tiếp cận tích hợp trong GDMN, Bên cạnh những hạn chế (độ sâu của dữ liệu thu thập,
liên hệ với người trả lời khi cân thiết gặp khó khăn ) — được bd sung bang công cụ
nghiên cứu thứ bai, lợt thế trong việc sử dụng bằng câu hôi là điều Ira trên điện rộng với số lượng lớn khách thể (GVMN) điều tra, đó là lý đo tôi chon phương pháp nảy thay vi phỏng vần tất cả khách thể trên địa bàn điều tra D tải nghiên cứu phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định trong khóa học, do đỏ thời gian là yếu tổ quan trọng để tôi có thể sắp xếp các buôi phóng vấn với số lượng lớn giáo viên tại thời
điểm thuận lợi cho cả hai bên Trong khi sử đựng bảng câu hỏi đem lại nhiều thêng tin
và giúp tôi hình thành nhận thức tổng thể của GVMN vẻ cách tiếp cận tích hợp trong GDMN L3 thực hiện được những điều đỏ cần thực hiện các bước: thiết kế băng hỏi, 1à hoạt động khó khăn đổi với tôi - người nghiên cứu mới, phát phiêu hỗi - trước hệt phát phiếu đến một mẫu nh (Ì trường mâm nón), thủ phiếu, đọc kết quả và có thế
điều chỉnh câu hỏi hoặc nội dưng câu hẻi cho phù hợp hơn, sau đó phát bảng hỏi trên
điện rộng, tong hợp kết quả điểu tra và trên cơ sở đó phân tích, thảo luận kết quã thu được Bang boi gờm 2 phar: phan 1 là những thông un cả nhân: phần 2 gờm 10 câu
hồi khảo sát trong đó câu 1 tim hiểu xem GVMN có tổ chức các hoạt động theo hướng, tích hợp, câu 3 GVMN đánh giá mức độ
GDMN; câu 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9 thể hiện hiểu biết và dánh giá của giáo viên vẻ tích hợp,
tích hợp trong GDMN; câu 10 là một số để xuất nâng cao nhận thức của GVMN về
âu thiết tích lợp trong chương Bình
cã các cuộc nhỏng vấn diễn ra được sắp xếp chỉ có người phỏng vẫn và người được
phỏng vẫn trong dó GVMN dược phỏng vấn không phải là những người đã trả lời
bảng câu hỏi và được giới thiệu bối ban giám hiệu của trường, theo đánh giả của ban
Trang 38giảm hiệu thì họ là những người di đầu trong công tác chuyên môn và dâm nhiệm thực hiện những chuyên để mới của trường / phỏng giáo đục - thường là giáo viên giối các
cấp, liệu phô chuyên môn có 1 người không nằm trong những trường được chọn phát
phiểu hỏi và 3 người thuộc những trường có sử dụng bảng hỏi cho giáo viên Mộệt thuận lợi cho tôi là các cuộc phỏng vẫn kéo đải hơn 1 tháng do đó cô thời gian cho tôi
kiểm tra độ sâu của đữ liệu thu thập để điều chỉnh khi cân thiết Sau khi cỏ kết quả sơ
bộ đánh giả thực trạng, tôi tiến hành phóng vẫn 2 chuyên gia trên địa bản TP HƠM, trước hết đề tim hiểu cách nhìn nhận của họ về tích hợp, họ đánh giá GVMN biểu và lam tích hợp như thế nào vả ý kiến của họ về mệt số kết quả thu thập dược từ bảng, hối, phóng vấn sâu cũng như quan sát thực tế dạy học của GVMN Chính vị thể lụa
chọn phương pháp phỏng vẫn là công cụ nghiên cứu chắc chăn đem lại nhiêu thông tin
sâu và hỗ trợ rất nhiều trong quá trình phân tích kết quả nghiên cửu Mẫu phông vẫn
xem Phụ lục 2
Phương pháp quan sát
Tiên cạnh điều tra bằng bằng hỏi và phông vẫn sâu, tôi lựa chọn công cụ nghiên cứu thứ ba là quan sát thực tế đạy học của 5S GVMN trên 5 lớp (I nhà trẻ, I mâm, Ì chếi, 2 lá) Quá trình quan sát được ghi lại bằng thiết bị gbí hình và ghỉ chép xem
wong các hoạt động chắm sóc giáo dục tê GVMN có tổ chức hoạt động theo hướng,
tích hợp không, nêu có thì tổ chức như thẻ nào? Trong 5 trường hợp quan sát cả 4
trường hợp tôi quan sát được sự cho phép của ban giảm hiệu và không nằm trong,
những trường hợp trả lời bảng hỏi cũng như phỏng vấn, một trường hợp sau quan sát
thực tế day học tôi liên hệ đẻ phỏng vấn, đo đó có một trường hợp vừa là đối tượng phông vấn vừa là đối tượng quan sát, Phương pháp quan sát giúp tôi phân tích, chứng mình thực tế day học của GVMN có như những gi họ nhận thức vả trong, thực tế họ chíu ảnh hưởng của những yêu tổ nào Mẫn quan sát xem phụ lụe 3
322 Phương pháp xi tỷ số liệu
Vi sy hé two cia phan mém SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) 16.0
- céng ty IBM (Intemational Business Machines Corporation) - Hoa Ky, t6i sẽ xử lý số
Tiêu thu thập được từ phiêu hồi, từ đó phân tích kết quả số liệu và đưa ra nhận xét
Trang 3930
2.3 Két quá tìm hiểu thực trạng nhận thitc cia GVMN vé cách tiếp cận tích
hợp trong GDMN
2.431 Mật số thông tin của GVMN trên hai địa bàn điều tra
Bảng 2.2 Thông tìn của GVMN trên 2 dịa bản diều tra
% Cong tap
[Duct 5 mam
5 — 10 nam 10-15 nam
N=100
Trong miu khio sat (bang 2.2), 82% GVMN dang Jam viée tai trường mâm non công,
lap (32% TP HCM, 50% tỉnh Bình Phước) và 18% trường tư thục (TP HCM) TP
HCM đa dạng loại hình trường mẫm non từ nhóm trẻ gia định, tư thục, dân lập đến
Trang 4031
công lập nhưng nghiên cứu tập trung khảo sát GVMN làm việc tại trường mâm non
công lập vả một số ít lắm việc tại trường tư thục Mặc đủ đa dạng về loại hình nhưng
trường mâm non công lập vẫn là loại hình chiếm tỷ lệ cao trên địa bàn TP HCM và là loại hình chủ yếu tại các tỉnh thành trên cả nước bên cạnh các trường mắm non tư thục
vân tồn tại nhưng chiểm tỉ lệ không cao Theo báo cáo Ủy ban Văn hỏa, giáo dục
thanh niên, thiếu niên và nhì đồng của Quốc hội (16/09/2014) [S9], “?rường mâm non công lập hiện có là 12.400 trường, chiếm đến 87,8% tông số trường; loại hình dân lập
và tư thục chỉ có trên 1.700 trường, chiếm tỷ lệ khiêm tốn là 12,2%” Thêm vào đó,
“GLMN trường công lập chất lượng và giàu kinh nghiệm hơn GUMN trường tư thục” [45, p.217] là kết luận trong nghiên cứu của Obiozor và cộng sự Do đó, người nghiên
cửu chọn mẫu nghiên cứu với loại hình công lập vả tư thục với tỷ lệ GVMN làm việc
trong trường mâm non công lập cao hơn trường tư thục
Biểu đỗ 2.1 Trình độ chuyên môn Biểu đỗ 2.2 Thâm niên
Nghiên cứu nảy thực hiện trên 2 địa ban điểu tra trong đỏ 56% GVMN thuộc khu
vực nội thành (31% TP HCM, 25% nội thị tỉnh Bình Phước), 19% thuộc ngoại thành
TP HCM và 25% làm việc trong khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa tinh Binh
Phước (bảng 2.2) Trường mảm non được trải đều khắp cả nước từ những vùng kho
khăn đến những nơi đô thị, vì vậy mẫu đại diện trong nghiên cửu không chỉ nội thành
mà ngoại thành TP HCM, không chỉ thị xã mà còn những khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa tỉnh Bình Phước Tỉ lệ bâng hồi thu được theo nhóm / lớp tương đổi - chưa đạt
mục tiêu người nghiên cứu để ra — với 12% giảo viên lớp Cơm thường (25 — 36 tháng),