1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào thơ mới nguyễn bính anh thơ Đoàn văn cừ

229 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trường học Đại học Sư Phạm Tp.HCM
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Tp.HCM
Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 14,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trở về với văn hóa dân gian là xu hướng chung của lịch sử văn học và thi pháp văn học không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thể giới Trong phong trảo Thơ mới, bên cạnh các nhà thơ chịu ảnh h

Trang 2

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành

đến PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã nhận lời và hướng dẫn em tận tình Những lời góp ý và động viên chân thành của cô trong suốt quá trình em lên ý tưởng, hình thanh dé cương, viết bải hoàn chỉnh là động lực giúp em hoản thành khỏa luận

Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi cảm ơn đến cac thay cô ở thư viện trưởng Đại

học Sư Phạm Tp.HCM và thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.HCM đã giúp đỡ em trong

quá trình tìm kiểm tải liệu

Em cũng chân thành cảm ơn cô Tạ Thị Hà Thanh, là giáo viên hướng dẫn em ở

trường THPT Nguyễn Công Trử đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em dé em cỏ thê

chu toan công việc thực tập và bảo đâm viết khỏa luận đúng hạn

Em xin chic cae thay cô luôn đôi đào sức khỏe, đạt nhiều thành công tốt đẹp trong,

công việc

‘Tran trọng

Hồ Trọng Việt

Trang 3

1.1 Giới thuyết các khải niệm 2 2 22022255222215211202122e n8 19

1.1.1 Khái niệm văn hỏa iocccccooooioi #ecgsasaacssjiTÔ) 1.1.2 Khải niệm văn hóa dân gian s8a800an8aassaanasssau:21

1.1.3 Các thành tố văn hóa dân gian giới R %5 1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết 26

1.2.1 Li luận vẻ mồi quan hệ giữa văn hỏa và văn học — -

1.2.2 Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với một số tác giả văn học viết27

1.2.2.1 Đôi với một số tác giả trên thẻ giới o.-cccccccc 27 1.2.2.2 Đổi với một số tác giả ở Việt Nam i8snss-srorLÐ9

1.3 Đôi nét về phong trảo Thơ mới vả vị trí của ba nha tho trong phong trao

1.3.1 Đôi nét về phong trào Thơ mới " 38

1.3.2 Vị trí của ba nhà thơ trong phong trảo Thơ mới ¬ 1.4 Nguyên Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ - cuộc đời và sự nghiệp 43

1.4.1 Nguyễn Binh asses ceaseccocicesv cect A

Trang 4

_-(Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

1.4.3 Đoàn Văn Cửừ Rtitiiiitiiicauiuillsuidaaadiatsaasaaidaauaaa,Số:

CHƯƠNG 2 VAN HOA DAN GIAN TRONG THƠ NGUYEN BINH, ANH THO, DOAN VAN CU'NHIN TU PHUONG DIEN NOI DUNG

2.1 Tin ngưỡng đân gian lSYGM0981105415]681893840233681937G15400142408180i0:4000505 49

2.3 Lé hoi dan gian sss ancxauctib monica toes Sioscniamescborsmasteastascease TL

9.4'Nghệ thuật din gia siscsrcaiascsscrecawatntioraccncvesaccsastatianttictisteltD

2.5 Tri thức đân gian 2 22222221 22212222122 89

CHƯƠNG 3 VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG THƠ NGUYÊN BINH, ANH THO, DOAN VAN CU NHIN TU PHUGONG DIEN NGHỆ THUẬT

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ss = „101

3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ "¬ LHL 3.4 Nghệ thuật chọn lựa hình ảnh seo T26

3.5 Nghệ thuật sử dụng thê thơ ÄgoioiineifsoosGsteseonosSobssoa DO) KÊT LUẬN

Trang 5

DAN NHAP

1 Lido chon dé tai

Văn hỏa được xem như là nguồn mach sang tao va khám pha van chương Hiện

nay, do cỏ sự mở rộng trong quan niệm và các phương diện tiếp cân, văn chương không, chỉ được nhìn nhận dưới gỏc độ tư tưởng, triết học, mỹ học mả còn được đặt trong mỗi

quan hệ với văn hóa Góc nhìn vẫn hóa đỏi hỏi nhả nghiên cứu phải đặt tác phẩm không,

chỉ trên diện rộng ma con nằm ở chiêu sâu, trong môi liên hệ với các hoạt động khác nhau của con người, dựa vào các qui luật và giá trí thường hằng chỉ phổi cuộc sống con

người trong lịch sử Trên cơ sở đỏ, với việc di sâu khám phá nội hảm văn hóa ẩn chửa

trong lớp vỏ ngôn từ, các nhả nghiên cửu có thể bóc tách hết vẻ đẹp của tác phẩm từ nhiều khía cạnh khác nhau Do vậy, việc vận dụng những quan điểm và thành tựu của văn

hóa để lí giải văn học được xem là hướng nghiên cứu khoa học và khả phô biên hiện nay

Trong cuồn “7i pháp văn học Nga cô”, ĐX.Likhatrop đã lí giải vì sao phải

nghiên cửu thi pháp văn học Nga cô nói riêng vả thì pháp văn học nghệ thuật nói chung;

“Qua trình văn hỏa của mỗi dân tộc, không chỉ là quá trình biến cải, tạo nên cái mới mà

còn là quá trình giữ gìn cái cũ, quá trình tim thay cái mới trong edi cit’ Dang vay,

không riêng ở Nga, bất cử nên văn học nao trên thẻ giới cũng, đều chịu ảnh hưởng va chỉ

phối bởi nguồn mạch dân gian Các nhà nghiên cửu đã chứng minh sự ảnh hưởng của văn

hóa dân gian mỗi dân tộc đổi với các tác gia lớn trên thể giới như: Shakespeare (Anh), Tagore (An D6), Pushkin (Nga), Ngô Thừa Ân, Bồ Tùng Linh (Trung Quốc),

Kawabata (Nhật Bản) Ở Việt Nam, các tác giả từ trung đại đến hiện đại đều cỏ sự tiếp

thu một cách nhất định đổi với “vốn văn học cổ" của dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,

Hồ Xuân Hương Trở về với văn hóa dân gian là xu hướng chung của lịch sử văn học

và thi pháp văn học không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thể giới

Trong phong trảo Thơ mới, bên cạnh các nhà thơ chịu ảnh hưởng của văn hỏa Pháp thi van còn đó các nhà thơ lặng lẽ trở vẻ với ngôi làng ân sau lũy tre, với hương

` Dẫn theo Nguyễn Xuân Kinh (1992), Thi phap ca dao, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

6

Trang 6

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

thơm của đồng quê, với bên đỏ ngay mưa Họ đã học tập, kế thừa tinh hoa văn hỏa dân

tộc đề tạo nên phong cách nghệ thuật của minh Nang long hon cả là Nguyễn Bính, Anh

Thơ, Đoàn Văn Cừ Ba nhà thơ quay lại với truyền thong dân tộc trong cả nội dung sang

tác và phương thức biểu hiện Đã có nhiều công trình nghiên cứu vẻ ảnh hưởng của ca

đao với Nguyên Bính vả công nhận “Nguyễn Bính — nhà thơ của đồng quê”, “Nguyễn

Bính — nhà thơ chân quê” Tuy nhiên, chưa cỏ công trình nào đặt ba tác giả Nguyên

Binh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ trong sự đổi sanh dé thay được mức độ ảnh hưởng, xu

hướng tiếp thu va đặc điểm phong cách riêng biệt của môi nhả thơ khi củng chịu ảnh

hưởng chung nguồn mạch dân gian

Lý do thứ tư xuất phát từ nhu câu chủ quan của người viết Bản thân người viết

cũng là người nặng ân tình với vùng quê xử Nghệ của mình Có lẽ với người con xa quê,

yêu những giá trị thuộc vẻ văn hỏa truyền thông thì nghiên cứu yêu tổ văn hỏa dân gian

trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Tho, Doan Van Cừ là cơ hội đẻ dong cảm, đề được sống,

lại những khoảnh khắc tuổi thơ thật đảng trân quý Bên cạnh đó, đây cũng là ba nhà thơ

có những tác phẩm, đoạn trích được lựa chọn đưa vào chương trình Ngữ Văn cấp THCS

va THPT, nghiên cứu ba tác giả cũng là dịp đề hiều sâu hơn vẻ phong cách sảng tác của

họ, phục vu tốt cho yéu cau của thực tiễn giảng dạy

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

21 Nghiên cứu về văn hỏa dân gian trong thơ Nguyễn Bính

©_ Từ góc độ nội dung

Thơ Nguyễn Binh như chiếc giêng khơi, cảng đào sâu càng tìm được nhiêu điều

mắt ngọt Có nhiều công trình nghiên cửu về chất dân gian trong thơ của ông nhưng sự

đảnh giả của Hoài Thanh — Hoài Chan trong cuén “Thi nhân Việt Nam” (1942) đến nay vẫn được xem là ý kiến cơ bản nhất, mở đầu cho lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Binh:

“Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thay

vườn cam bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [55, 336-337] Nguyễn Binh là một nhà thơ năm

7

Trang 7

trong giai đoạn 1932 ~ 1945 - giai đoạn có sự ảnh hưởng của văn hỏa Pháp ít nhiều vào

thơ dù trong ý thức của các nhả thơ luôn muốn quay trở về với nguồn cội Hoài Thanh —

Hoài Chân cũng đã “phản nàn” vẻ điều này: “Đáng trách chăng giữa những bài giống hệt

ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới Ta thầy khó chịu như khi vào một ngôi

chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật Cái lỗi gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ

trở nên lồ lăng" [55, 338] Đây cũng là cơ sở đề ta thấy được cảm hứng tư tưởng của

Nguyên Bính, trong thơ ông luôn có sự đầu tranh: một mặt, bắt đồng với phong trào Âu

hóa vả mặt khác là ý thức trân trọng ngơi ca những giả trị văn hóa tình than Co thé noi, những nhân định của Hoài Thanh — Hoải Chân là tiền đẻ đẻ đi sâu khai thác chát dân gian

trong thơ Nguyễn Bính

Năm 1996, trong lời tựa cuôn Thơ fình Nguyễn Bính, Kiều Văn đã đặt lên bàn can

giữa Nguyên Binh và các nhả thơ trong phong trào Thơ mới để xác định bản sắc riêng

trong thơ Nguyên Bính Ông cho rằng giữa cái hảo hoa lãng tử của Thể Lữ, cải bay bỏng,

của Xuân Diệu, cải điên rô vật vã của Hàn Mặc Tủ, Nguyễn Bính “mang nang mối tình

đầm thắm với xứ quê, người quê” Tác giả cũng nhận định thơ Nguyễn Binh đã đặc tả một cách chân xác quê hương và con người Việt Nam ve: li tri lan tình cảm, tính cách nết

na lần lời ăn tiếng nói, cách sông cách yêu Nhận định này của tác giả Kiểu Văn cũng đồng thời là hướng gợi mở để người nghiên cứu dùng nếp cảm, nếp nghĩ, nếp yêu mang đâm sắc thải dân gian của người xưa đề cắt nghĩa thơ Nguyễn Bính [77, 7-8]

Năm 1996, trong bài việt Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê — chân tài, Hà Minh Đức

khẳng định thơ của Nguyễn Bính cỏ sự tiếp thu của văn hỏa dan gian Tuy cỏ nhiều chất

mộng mơ, lãng mạn nhưng không giống với cac nha thơ lãng mạn đương thời như Xuân

Diệu, Lưu Trọng Lư Cuộc sông làng qué va đề tài quê hương niu chân Nguyễn Binh:

“Thơ Nguyễn Bính ẩn chứa đằng sau những câu chữ giản dị mộc mạc theo một câu hát, một làn điệu ca dao, ân chứa đằng sau những hình ảnh thân quen, những tình ý mộc mạc

chân quê, cái hẳn quê như có tự muôn đời” [35, 115]

Trang 8

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

Trong Hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Bính (1996), Đoàn Đức Phương

cùng quan điểm với Hà Minh Đức khi cho rằng: “Đọc ¿hơ Nguyễn Binh người ta nhw

sống lại những ngày Tết cô truyền, những ngày hội xuân, những ngày hội làng, những

đêm hát chèo những buôi lễ chùa, những nét tin ngưỡng tôn giáo và những phong tục tập

quán, lớp học thay đồ, những trò vui dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, gic mơ

quan trang " [3, 219]

Trong bài viết Nguyễn Bính — thi sĩ của đồng qué (1998), Ha Minh Đức nhận xét

“Trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã miêu tả được văn hóa của làng quê

Cộng đông làng xóm tôn tại từ ngàn đời đã sản sinh ra nên văn hóa của riêng nó” Theo

ông, đỏ là “những nề nếp phong tục tập quán, thế giới tâm linh qua tín ngưỡng tôn giáo

và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người Đó cũng là nền thâm mĩ đượm màu

đân tộc, giản đị chân quê trong sinh hoạt hằng ngày, lòng hiếu thảo, giấc mơ quan trạng Tình yêu thê bôi tình cảm gia đình sâu nặng Cho đến những ngày hội xuân những đêm

hát chèo, buôi lễ chùa, lớp học thay dé Tat ca déu la những bộ phận nhỏ của văn hóa làng quê Chinh tang văn hóa này đã thâu giữ sâu kín hon qué và thơ Nguyễn Binh khai thác thành công nếp văn hóa lành mạnh, giàu chất thẩm mĩ” [3, 135]

Tac gia Doan Hương trong bài viết Nguyễn Bính ~ thi si nhà quê (2000) cũng nhận

định Nguyễn Binh: “1à người đem nhiều nhất những mã ngôn ngữ của đời sống dân dã vào thơ Liệt Nam hiện đại Những giậu mồng tơi, giảng sáng, vườn chè, trồng chèo, hoa xoan, hoa bưởi, hoa cam, cánh buôm nâu, vườn đâu, vườn cam, tắt cả đã vào trong thơ

Nguyễn Bính một cách trữ tình, duyên đáng như ca dao [35, 162] Bên cạnh đỏ, bà còn

có những phát hiện mới mẻ, đó là môi quan hệ giữa nghệ thuật vả đời sóng, giữa văn hỏa

làng xã với văn hỏa quốc gia “một mảng đề tài khác mà nhà thơ không chú tâm lắm nhưng đã đem lại bộ mặt tỉnh thân riêng cho thơ ông, đó là sự chuyên tải nghệ thuật đời sống làng quê Liệt Nam vào đời sống văn hóa chung của dân tộc” [3, 194]

Như vậy về mặt nội dung Nguyễn Binh đã đưa vào thơ những đề tải bình dị, dân

dã, cũng như cách cảm, cách nghĩ của đân gian Ông luôn có ý thức suy tôn cái đẹp thuộc

9

Trang 9

về nguồn cội như những giấc mộng đẹp cuộc tình quê đẹp, cảnh quê hữu tỉnh Ở mức độ

khai quát, các bài nghiên cửu cơ bản đã khẳng định thơ Nguyễn Binh co dau vết của văn

hỏa dân gian trên phương diện nội dung,

©_ Từ góc độ nghệ thuật

Vẻ thê thơ, năm 1968 trong cuôn Liệt Nam thì nhân tiền chiến, phần việt về tác giả Nguyễn Binh, Nguyễn Tấn Long so sánh với nguồn mạch Thơ mới và nhận ra thơ

Nguyễn Binh có “mạch thơ như nguôn nước chây tuôn, tác giả đã sử dụng thơ lục bát tạo

âm điệu nhẹ nhàng ôm địu, buôn lâng lâng len sâu vào tiềm thức, khơi đậy niềm xúc cảm

nghẹn ngào ” [30, 281]

Trong bài viết Thi pháp dân gian trong Thơ mới Nguyễn Bính (1995), Nguyễn

Quốc Tủy đã khẳng định “Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính trước hết là ngôn ngữ của ca

dao, dân ca, của thơ ca đân gian nói chung Là rộng hơn là ngôn ngữ trong đời sống

hằng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân được Nguyễn Bính chọn lọc, mài giữa và

tỉnh luyện” [35, 294]

Trong bài viết Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biêu hiện đậm đà sắc thái văn hóa

đân gian (1996), Đoàn Đức Phương đã khảo sát một cách khải quát vải đặc điểm nghệ

thuật thơ Nguyễn Binh trên các phương diện: giọng điệu thơ, thẻ thơ lục bát, thời gian

nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ đề thây sắc thải dàn gian đã tạo nên bản

sắc dân tộc đậm đà, cũng một là trong những yêu tô tạo nên sức sống thơ Nguyễn Bính Đoàn Đức Phương khẳng định: “Có thể nói, đến với Nguyễn Bính là đến với những hình

thức dân gian dân tộc, đến với những giá trị văn hóa truyền thông của quảng đại nhân

đân” [35, 315]

Lâ người rất am hiểu về Nguyễn Binh, năm 1998 trong bải viết Nhà thơ và thế

giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính, Hà Minh Đức đã tỏ ra rất tình tế khi nhận xét về

mỗi quan hệ giữa thơ Nguyễn Bính với những cầu ca dao: “Chat dan gian trong thơ Nguyễn Bính đẹp và gợi cảm Tác giả đã làm sống lại vẻ đẹp của ca dao trong nguyên

10

Trang 10

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

thể của nó và có những cách tân sáng tạo [ ] Thực ra Nguyễn Bính không trở về với ca

dao theo lỗi mô phóng, viết những cái giống như ca dao mà quan trọng hơn là tìm được

sự hòa hợp giữa hôn quê hương trong ca dao với những ý lưởng và tình cảm của cuộc

đời mới Nguyễn Bính, nếu nỏi theo cách của các nhà nghiên cứu thì đã chọn được trong

thị pháp của ca dao những đặc điêm, yêu tổ thích hợp với thời kì hiện đại” [35, 258]

Tiếp tục ý kiên của Hà Minh Đức, Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Bính — thi st

nhà quê (2000) nhận định: “Chính cải thí pháp thơ của thơ ca dân gian đã mang đến sự phỏng khoáng và sức mạnh cho bút pháp của Nguyễn Bính Có lẽ ở thể kỉ này, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ thành công lớn khi đem thi pháp của thơ ca dân gian vào trong thi ca hiện đại” [4, 200]

Chất văn hỏa dân gian trong thơ Nguyên Bính biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh,

nhiều góc độ khác nhau, cả trên phương điện nội dung lân phương diện nghệ thuật Đó là

do ÿ thức muốn tìm về cội nguồn dân tộc, vẻ những nét văn hỏa truyền thông của nhà

tho Các ý kiến đảnh giá thơ Nguyễn Binh của những nhà nghiên cứu đi trước là kết quả của tâm huyết và trí tuệ, đã gợi mở cho người viết nhiều vẫn đề khi làm đề tài nảy Tuy vấn đề văn hỏa dân gian trong thơ Nguyễn Binh đã được một số nhà nghiên cửu dé cap đến nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các tác giả chỉ mới dừng ở mức độ khái quát hoặc chưa cỏ sự so sảnh, đối chiều với những tác giả khác Do đó, người viết sẽ đi

vào tìm hiểu cụ thể vẫn đề trên

22 Nghiên cứu về văn hóa đân gian trong thơ Anh Thơ

Anh Thơ đến với làng Thơ mới với giải khuyến khích của Tự Lực Văn Doan cho

tập thơ Đức ranh quê của mình năm 1939 Nhận xét về tập thơ của bả, Nhat Linh cho

rằng: “Bức tranh quê của cô -4nh Thơ là một tập ba mươi bài thơ Bài nào cũng mười hai

câu Tác giả đã tả cảnh thôn quê từ đầu năm cho đến Tết Mùa nọ sang mùa kia Tác giả nhất định tá cảnh theo thời tiết Nhất định dùng một thê thơ giống nhau Tự đặt mình vào

con đường khó khăn, hình như để cốt tỏ rõ sự tài tình và khéo léo của mình Lối ấy làm

11

Trang 11

cho tập thơ kém về linh hoạt, thành ra nặng nễ, uễ oái từ đầu đến cuồi cứ đều đều một

giọng” [76, 52]

Hoài Thanh — Hoai Chan trong cuốn ii nhân Liệt Nam (1942) lại cho ring: “Anh

Thơ từ lâu đã chuyên lôi tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường: một phiên chợ,

một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngôi bắt chấy Thơ của người biệt hẳn ra một Iai” [55, 186] Sau này, có nhiều người cho rằng, thơ Anh Thơ chỉ toàn tả cảnh, thiêu

tỉnh Nhưng Hoài Thanh — Hoài Chân đã phản bác: “Có kế sẽ cho 4inh Thơ là người vô

tình Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuỗi mà lại vô tình?” [55, 186] Trong bài phỏng vấn với Hoảng Trung Thông, khi được hỏi vì sao trong thơ bả ít nói về tỉnh yêu, Anh Thơ

cũng đã cho ring: “Tinh yêu đâu chỉ có tình yêu nam nữ Yêu con, yêu chong, yêu quê hương cũng là tình yêu” [69, 17 — 18] Anh Thơ dạo ấy chưa chồng, chưa con nên tinh yêu với bà sâu đậm và sắc nét nhát vẫn là tỉnh yêu quê hương, yêu làng quê thôn xóm

Nguyễn Quốc Tuy trong cuốn ?hơ mới — bình mình thơ Việt Nam hiện đại (1995) khẳng định cội nguồn van hoa dân gian đã là chất liệu kiến tạo nên hồn thơ Anh Thơ: “So

đĩ các nhà Thơ mới: Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Lăn Cừ có được cái nhìn đằm thắm

tươi duyên, cái hôn hậu, phác thực của tâm hôn Liệt Nam chính là họ chịu ảnh hưởng

nhiều của văn hóa dân gian nói chung và của ca dao nói riêng " [T6, 63] Như vậy, thơ

Anh Thơ không chỉ là bức tranh quê thuần túy ma còn ẩn chửa trong đó nhiều phong tục

tập quán, hội hè, những nếp sinh hoạt văn hóa đân gian đậm chất cô truyền dân tộc

Kể từ sau Cách mạng thảng tám, cũng như nhiều nhà làm văn nghệ khác, Anh Tho chuyên từ đề tài phong tục, thiên nhiên làng qué sang dé tai phan anh hiện thực cuộc sông

nóng bỏng của kháng chiến Hàng loạt tác phẩm ra đời đảnh dẫu sự trưởng thảnh trong

ngỏi bút của ba: Ké chuyén Vit Lang (1951) Đáo Ngọc (1963), Theo cảnh chim câu

(1965) Có thể nói, Anh Thơ bén duyên với thi ca từ những vẫn thơ viết về làng quê, ân tượng ấy dé lai sau dam nên những tác phẩm sau này, mặc đủ ngòi bút của bà đã giả dặn

hơn nhưng người ta vẫn nhở nhiều hơn về Anh Thơ — thủ sĩ của làng quẻ

Trang 12

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

2.3 Nghiên cứu về văn hỏa dân gian trong thơ Đoàn Văn Cừ

Được xếp vào nhỏm các nhà thơ “z4 chẩn” cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ đã

đến với thi đản Việt Nam bằng những vần thơ đậm sắc mảu và đường nét về làng quê và

các phong tục tập quản của dân tộc Tuy nhiên, các công trình nghiên cửu một cách

chuyên sâu về tho Doan Văn Cừ nói chung cũng như về van de văn hóa dân gian trong thơ ông còn hạn chẻ Có chăng là những bài viết nhỏ lẻ, rải rác chưa cỏ hệ thông Với Đoàn Văn Cừ, cũng như Nguyễn Bính và Anh Thơ, những nhận định về phong cách của

ông trong cuồn Thỉ nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh — Hoài Chân vẫn là những

nhận định mang tính chất mở đầu và định hướng cho các bải viết về Đoàn Văn Cử sau

nảy Hoài Thanh — Hoài Chân khẳng định làng quê trong tho ông là làng qué day ray su sống và sắc màu tươi vui Có những tập tục quen thuộc của dân tộc như chợ Tết, đám

hội Hai ông cũng cho rằng Đoản Văn Cừ không chỉ biết nhận xét rất tỉnh mà hỏn thơ

ông cũng rất phong phú: “7rong các nhà thơ đông quê, không ai có ngòi bút đôi dao ma rực rỡ như Đoàn lăn Cừ" [55, 176]

Trong bài viết Cảm quan văn hóa đân gian trong thơ Tết, thơ hội hè đình đám của Doan Van Cie (1995), Cao Xuan Thử đã xác định vị trí riêng biệt của Đoàn Văn Cừ so

với các nhà thơ củng thời: “Đoàn Văn Cừ là người tiêu biểu hơn cả trong các nhà văn

nhà thơ cùng thời với mình, đã thể hiện rõ rệt nhất nhân sinh quan và thế giới quan thuần khiết của nền văn hóa dân gian đình đám, hội hè, tết nhất.” [47, 13T] Ông cũng cho rằng, tho Doan Van Cir da bén ré sau voi tang tục ngữ, thành ngữ của ngôn ngữ dân tộc như “vui như Tết”, “vui như hội”, “sang như cơm cỗ”, “đông như trấy hội” [4T,

139] Đặc biệt, ông phát hiện ra Đoàn Văn Cừ chủ ý nhiều tới đám đông, các hảnh động,

cử chỉ của các nhân vat, thi sĩ cổ gắng tạo nên nhiều người đông đúc điệu đó được tác

giả lí giải xuất phát từ ÿ thức và cảm quan dân gian “Cảm quan này trước hết lẫy sự đa

dang và phong phú của sự xuất hiện nhiều người, nhiều màu sắc, nhiều hoạt động làm chuẩn mực thâm mĩ về một cuộc sống no đủ, vui tươi, một cuộc sống đây sinh lực, mãi

mãi sinh trưởng, mỗi mãi căng đây sức trẻ ” [AT, 140]

13

Trang 13

Năm 1997, nhóm tác giả trong cuồn Văn học Việt Nam (1900 — 1945) cho rằng:

*Trong thơ Nguyễn Bính, Anh Tho, Đoàn Lăn Cừ, Hằng Phương ta thấy hiện lên cánh

đông quê xứ Bắc với những thôn Đoài, thôn Đông, những bến đò ngày mưa, gốc đa quán chợ, công làng nắng mai những mái nhà tranh, những giậu mông tơi xanh rờn, những

rặng hoa xoan tím mùa xuân, những hàng phượng đỗ mùa hạ ” [L1, 571]

Déng quan điểm với tác giả Cao Xuân Thử, trong bài viết “Ín tượng thị giác từ

thôn ca của Đoàn Van Cừ năm 2014, Ly Hoài Thu cũng khẳng định thơ Doan Văn Cừ

như một tự sự nhỏ, hướng đến tâm lí công đồng mà ít phần riêng tư, cá nhân Tác giả còn

so sảnh Đoàn Văn Cừ với hai thi sĩ đồng hương khác là Nguyễn Bính và Nguyễn Khuyến “7œ Nguyễn Khuyến nhiều tâm sự, nỗi niềm nhưng trầm mặc và lắng đọng

Đoàn Lăn Cừ là nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới, trẻ tuôi và trẻ lòng Những nét vẽ

trong thơ ông giàu cảm xúc, truyền tải phong vị dân gian thuần khiết, hồn nhiên và tươi

sáng Mỗi bài thơ là một cuốn “phím mi-ni”, một bức tranh với nhiều gam màu nỗi bật

và đường nét sinh động về cánh quê lẫn hôn quê đất Việt” Và cuỗi cùng, nhận định vị trí

ctia tap tho “Thén ca” ctia Doan Van Ct, ba cho rang: “Hon mia thé ki trôi qua kế từ ngày tập thơ ra đòi, “Thôn ca” đã lưu giữ được rất nhiều giá trị văn hóa truyền thống và

cái “nhịp nhàng " của đời sống dân quê thời xưa Chính vì vậy, trên thi đàn dân tộc nửa

dau thé ki XX, “Thén ca” có một vị trí không thể thay thé và nhà thơ Đoàn Lăn Cừ vẫn

mãi là một gương mặt độc đáo của phong trào Thơ mới và rộng hơn là thơ Viét Nam hiện

dai.” [65]

Sau khi khảo sát một số bải viết và công trình nghiên cứu của những tác giả trước

về những vấn đề có liên quan đền đề tải, người viết rút ra một số nhận xét sau:

—_ Các bài viết và công trình nghiên cửu với tính chất riêng biệt về từng tác giả đã dé

cập một cách trực tiếp sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn

Binh, Anh Tho, Doan Văn Cừ Tuy nhiên, nêu như Nguyễn Binh có số lượng công

trình nghiên cửu trước đó khả đồ sộ thì Anh Thơ và Đoàn Văn Cử lại là những tác giả mà công trình nghiên cứu về họ cỏn khá ít õi Nghiên cửu về sự ảnh hưởng của

14

Trang 14

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Binh, Anh Tho, Đoàn Văn Cử trên phương diện

so sánh cũng chưa cỏ công trinh nào trước đỏ đẻ cập đến Từ những điều trên,

người viết nhận thay de tai Yéu t6 van hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà

thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Ảnh Thơ, Đoàn Lăn Cử) là một đề

tải khả mới mẻ, góp phần giúp người đọc hiểu hơn về phong cách sảng tác của ba

tác giả, đồng thời hiểu sâu sắc hơn qui luật ảnh hưởng của văn hóa đổi với văn

học

—_ Vi vây, với những gợi ý và định hướng mang tính chất khái quát làm tiên đề của

các tác giả trước đó, người viết mong muốn góp thêm tiếng nỏi khiêm nhường

trong việc nghiên cứu các yêu tổ văn hóa dân gian trong thơ của Nguyên Binh,

Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ Tử những điểm chung, nét riêng, chỉ ra sự độc đảo của

từng tác giả trong việc kế thửa, tiếp thu văn hỏa dân gian và qui luật chung của sự

ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa và văn học

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

31 Đổi tượng

Nghiên cứu yếu tố văn hỏa dân gian trong thơ của ba nhà thơ trên hai

phương điện; nội dung vả hình thức nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- 90 bài thơ của Nguyên Binh trong cuén Thơ fình Nguyễn Bính, tác giả

Kieu Văn tuyên chọn - giới thiệu năm 1996, NXB Đồng Nai

- 146 bai tho ctia Anh Tho trong cuén Tuyén tap Anh Thơ, của tác giả Ngọc Trai sưu tâm, tuyển chon năm 1987, NXB Van hoe

- 100 bai tho etia Doan Văn Cử trong cuốn Tuyển tập Doan Van Cir, tac

giả Nguyên Bao tuyên chọn năm 1992, NXB Văn học

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tải nảy, người viết lựa chọn và sử dụng các phương pháp chủ yêu sau:

Trang 15

Phương pháp so sánh, đối chiếu đề thầy được nét chung, nét riêng của mỗi tác giả

khi cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa dân gian

Phương pháp nghiên cứu liên ngành đè vận dụng các quan điềm và thành tựu văn

hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian vào việc tìm hiểu, lí giải thơ của ba tác giả trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật đẻ cỏ cải nhìn toàn điện và sâu

sắc nhằm làm rõ vấn đẻ nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp được người việt sử dụng sau khi tiếp cận văn bản, dùng phương pháp nảy đề phân tích đưa ra những luận điểm mang tỉnh chất

tổng hợp về sự ảnh hưởng của văn hỏa dân gian với thơ của họ vả từ đó người viết

rút ra những nhận xét chung mang tỉnh khái quát, tiêu biểu về vai trỏ, tác dụng của các yêu tổ này trong tho ba nha tho

Phương pháp thông kê được người viết sử dụng đề khảo sát hiện tượng lặp lại ở

một số yêu tô văn hóa dân gian trong thơ ba nhà thơ Từ đỏ, người viết dựa vào

tân số xuất hiện của các yếu tố đó đề hệ thông vả khải quát hỏa lên thành những đặc điểm riêng biệt và én định trong thơ ba nhả thơ

Những phương pháp này sẽ được vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình

nghiên cứu

Đóng góp của khóa luận

Góp phân khảo sát và li giải một cách hệ thông, khách quan về sự ảnh hưởng của

văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn Binh, Anh Tho, Doan Văn Cử, qua đó góp

phần khẳng định cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một trong

những hướng nghiên cứu cản thiết trong nghiên cứu văn học hiện nay

Giúp các bạn sinh viên trong học tập, nghiên cứu và đánh giá về những đóng góp

của ba thi sĩ trong tiền trinh văn học dân tộc Đỏng thời, là tư liệu tham khảo cho

việc giảng dạy vẻ ba tác giả trong chương trinh Ngữ Văn THCS vả THPT.

Trang 16

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

Góp một phan tiếng nỏi nhỏ bé, khiêm nhường trong việc giữ gin vả phát huy

những giá trị văn hóa cỏ truyền của cha ông, bảo vệ sự trong sáng, giàu đẹp của

ngôn ngữ dân tộc trong giai đoạn hiện nay:

Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những vẫn đề cơ sở (30 trang)

Trong chương 1, người viết sẽ trình bảy khái quát các quan niệm khác nhau vẻ văn

hóa cũng như văn hóa dân gian, môi quan hệ giữa văn hỏa vả văn học, từ đỏ lựa

chọn cho mình một quan niệm nhất quản đề tiến hảnh khảo sát, nghiên cứu Chương 1 là sơ sở, nên tảng xác định những vân đẻ cơ sở lí luận cũng như cung

cấp một cái nhìn tổng quát về ba tác giả và ảnh hưởng của văn hóa dân gian đền

thơ của họ

Chương 2: Văn hỏa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ

nhìn từ phương điện nội dung (52 trang)

Trong chương 2, người viết tập trung tìm hiểu những biểu hiện của các yêu tô van

hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cử ở phương điện

nội dung Người viết sẽ đi vào phân tích, đánh giá, chủ ý tìm hiểu 6 yêu tổ văn hóa đân gian: tin ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, tri thức, ngữ văn trong thơ của ba nhà thơ đề từ đó có cải nhìn bao quát, toàn diện vả sâu sắc hon ve

sự ảnh hưởng của văn hỏa dân gian đến thơ của họ Qua đỏ, người viết chỉ ra tác

dụng, giá trị của các yêu tô văn hóa đân gian trong thơ của ba nhà thơ

Chương 3: Văn hỏa dân gian trong thơ Nguyễn Binh, Anh Tho, Doan Van Cir

nhìn từ phương diện nghệ thuật (6 trang)

Trong chương 3, người việt tìm hiểu yêu tổ văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn

Binh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ từ phương diện nghệ thuật Dựa trên các yếu tổ

như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết câu, ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ trong thơ

ba nhả thơ, ta sẽ có thêm cơ sở khẳng định môi quan hệ giữa văn hỏa dân gian

17

Trang 17

không chỉ với nội dung ma con trên phương điện nghệ thuật Từ đó góp phần

khẳng định được vẻ đẹp của văn hỏa dân gian trong thơ, gỏp phần nâng cao hiệu

quả nghệ thuật của câu thơ

Ngoài ra, khóa luân còn có phân phụ lục với 11 mục ( 8Š trang) thông kê sự lặp lại của các yêu tổ văn hỏa dân gian trong thơ ba nhà thơ

e_ Phụ lục 1: Bảng thông kê yêu tế tin ngưỡng dân gian trong thơ ba nhà thơ

©_ Phụ lục 2: Bảng thống kẻ yếu tổ phong tục tập quản dân gian trong thơ ba

nhà thơ

© Phu luc 3: Bang thông kê yêu tổ lễ hội dần gian trong thơ ba nhà thơ

© Phu luc 4: Bang thống kê yếu tổ nghệ thuật dân gian trong thơ ba nhả thơ

© Phu luc 5: Bang thống kê yêu tổ tri thức dân gian trong thơ ba nhà thơ

¢ Phu luc 6: Bang thống kê yêu tổ ngữ văn dân gian trong thơ ba nhả thơ

«_ Phụ lục 7: Bảng thống kẻ nhân vật cô gái ~ chảng trai trong thơ ba nhả thơ

¢ Phu luc 8: Bảng thông kê biện pháp ân dụ trong thơ ba nhà thơ

¢ Phu luc 9: Bang thông kê biện pháp so sảnh trong thơ ba nhà thơ

© Phụ lục 10: Bảng thông kê yêu tổ ngôn ngữ: thảnh ngữ, tục ngữ, ca dao

trong tho ba nha tho

© Phu luc 11: Bang théng ké hinh anh chi canh vat lang qué trong tho ba nha

tho

18

Trang 18

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

CHUONG 1

NHUNG VAN ĐẺ CƠ SỞ

1.1 Giới thuyết các khái niệm

1.11 Khải niệm văn hóa

Trên thể giới, có đến gân 500 định nghĩa khác nhau vẻ văn hóa Từ những năm 90 của thể kĩ XX, những vẫn đề văn hóa từ xác định khái nệm đến cấu trúc, loại hình và

biểu tượng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm một cách khá toàn diện Ở Việt Nam, nhiêu công trình nghiên cứu về văn hóa ra đời: Trân Ngọc Thêm viết “Cơ sở văn hóa

Việt Nam” (1995), hai năm sau đỏ Trần Quốc Vượng (chủ biên) viết “Cơ sở văn hóa Ưiệt

Nam” (1997), Doan Van Chue viét “Van hóa học” (1997), Phan Ngọc “Bản sắc văn hóa

Việt Nam” (1998), Chu Xuan Dién “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1999)

Trân Quốc Vượng quan niệm: “[ăn hóa là cái tự nhiên được biến đôi bởi con người [ ] đề từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tông quát của

con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ

đó, với hệ thống những chuẩn mực, những giá trị những biểu tượng, những quan

niệm tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [80, 35-36]

Trong “Tim về bản sắc văn hoá Liệt Nam”, Tràn Ngọc Thêm cho rang: “Van hóa

là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tình thần do con người sáng tạo và tích lữp qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường lự

nhiên và xã hội của mình ” [S§ 25]

Với hai khải niệm nay, Tran Quéc Vuong va Tran Ngọc Thêm đã đề cập đến các

gia trị ma con người đã tạo nên trong quá trình sông Tác động đến tự nhiên, con người

tạo ra các giá trị vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại) Tác động dén xã hội, con người tạo ra các giá tri tỉnh thân (tôn giáo, đạo đức, triết học, văn học nghệ thuật) Tác động den ban than

19

Trang 19

mình, con người tạo ra giả trị nhân bản (chân, thiện, mĩ) Những giả tri mả con người tạo

ra ay chinh la “van hoa”

Củng ý kiến với Trần Ngọc Thêm và Trần Quốc Vượng nhưng Phủng Qúy Nhâm nhân mạnh thêm tính dân tộc của văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vat chat

và tình thần do con người sáng tạo ra trong quả trình lịch sử và mang đậm bản sắc dân

téc” (14, 249]

Trong nhiêu năm qua, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa nhưng quan niệm

của Liên hợp quốc (Uneseo) đưa ra từ năm 1982, trong Hội nghị quốc tế được sử dụng, nhiéu hon ca: “Van hóa hôm nay có thể coi là tông thê những nét riêng biệt tỉnh thần và

vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tỉnh cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Lăn hỏa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lồi sống, những quyền

cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tin ngưỡng

Lăn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa làm cho chúng

ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dẫn thân một

cách đạo li Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự

biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản

thân, tìm tòi không biết một những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân" [80 23-24] Liên hợp quốc đã khẳng định văn hỏa không phải là một

lĩnh vực riêng biệt mà nó chính lả tổng thể những gia tri vat chat va tinh than do con

người sảng tạo ra, đồng thời văn hóa cũng là nên tảng của sự phát triển trong xã hội loài

người Như vậy, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giả khác nhau

nhưng tất cả đều chung qui nhận định: văn hóa lả nên tảng tình thản của xã hội, là sản

phẩm được sáng tạo bởi riêng con người Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh

vực hoạt động của đời sông con người: đời sông vật chất, đời sông xã hội, đời sống tỉnh

thân Mỗi công đồng người có một nên văn hỏa với những đặc tỉnh riêng phân biệt với cộng đỏng khác

Trang 20

(Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

1.12 Khái niệm văn hóa dân gian

Củng với sự xuất hiện của con người là sự hiện điện của văn hóa Văn hoa đó

trước nhất là văn hóa dân gian, văn hỏa của quản chúng nhân dân Văn hóa dân gian

chỉnh là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” của mọi nên văn hỏa Văn hỏa dân gian (quốc tế:

folklore) là một thuật ngữ có nghĩa ghép Folk: nhân dân, lore: trí tuệ, trí khôn, tri thức

Là bộ phân quan trọng của văn hóa, là kho trị thức, tri tuê vô giá của nhân dân, văn hóa

dân gian được tổn tại, lưu giữ vả thực hành trong nhân dân

Thuật ngữ văn hỏa dân gian được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà khoa học người

Anh, William J.Thomas, trên tạp chi “The Atheneum” nam 1846 Đến nay dù đã hơn một

thể kĩ rưỡi trôi qua nhưng vẫn không ngừng xảy ra nhiều cuộc tranh luận vẻ việc thông,

nhất nội hàm khải niệm Folklore

Tu dien bách khoa toàn thư Anh, 1964 xác định: “Folklore la tén goi chung thong

nhất của những tín ngưỡng, truyền thông, thiên kiến, đạo li, nghỉ lễ, mê tín đị đoan của

dân gian Những câu chuyện cố, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều

nằm trong khái niệm này, và nhờ vào việc mở rộng ÿ nghĩa của khái niệm này mà ngày

nay, nó bao gôm cả những yếu tố của văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến " ?

Tổng bách khoa toản thư Xô Viết, 1974: “Folilore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của nhân dân lao động Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khẩu, múa dân tộc,

kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sống

trong nhân dân

Dinh Gia Khanh chu y den tinh tham mĩ của văn hóa dân gian: “Văn hóa dân gian bao gôm toàn bộ văn hóa tỉnh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ"

(26, 05]

3 Dẫn theo Ngõ Đúc Thịnh (chủ biên) (1990), Quant niém vẻ /olifore, NXB Khoa học xã hội Hã Nội

È Dẫn theo Ngô Đúc Thịnh (chủ biên) (1990), Quam niệm vé folklore, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

21

Trang 21

Trần Quốc Vượng cho rằng văn hỏa dân gian không phải lả những điều xa lạ, nó

hiện hữu ngay trong những vật nhỏ bẻ nhất, gàn gũi nhất với cuộc sống của chúng ta

“Nó có thể là một ngôi đền, một cái đình mà cũng có thê là một mâu huyền thoại hay câu chuyện thần kì Nó có thể là một cái lư hương gồm sứ cô, một cỗ kiệu sơn son thếp vàng ngày xưa mà cũng có thê là một câu tục ngữ cổ, một khúe hát dân ca " Ông đã đưa ra nhận định khá bao quát: “Sáng tao dân gian bao trim mọi lĩnh vực đời sống, từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, ải lại) đến đời sông vui chơi (thê thao dân gian, võ, vật, đánh cầu, hát phét), hát hò (hát đò đưa, hò giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo), đến đời sống

nt tâm linh (giỗ, tết, lễ hội) ”” Như vây, so với các ý kiên trên, nhận định của Trần Quốc

Vượng đã mở rộng thêm các thành tó thuộc phạm trủ văn hỏa dân gian

Khái quát lại từ các nhận định trên của các nhà nghiên cứu, người viết cho rằng

khi nói đến folklore, người ta nghĩ đến các tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian như

tục ngữ, ca đao, dân ca, trỏ chơi đân gian, sân khâu dân gian, tranh dân gian, tác phẩm

điêu khắc dân gian, tác phẩm kiến trúc dân gian Folklore còn bao gồm các sinh hoạt

văn hóa dân gian, tức là các hoạt động liên quan tới việc tổ chức sáng tác hoặc những tập

quán, phong tục nhất định Hội lễ dân gian lả sinh hoạt văn hóa dân gian quan trọng nhát

Trong hội lễ cỏ thể thấy tất cả các yếu tổ của folklore, từ tập quản phong tục, thẻ lệ tỏ

chức các sinh hoạt nghỉ lễ và vui chơi giải trí cho đến điều kiện môi trường cân thiết cho việc sảng tạo và biều diễn các tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian

1.1.3 Các thành tô văn hóa đân gian

Để có thể đánh giá đây đủ giá tri, đặc trưng của văn hóa dân gian, chủng ta không

chỉ dựa trên những danh gia mang tỉnh chất chung ma can xác định, phân loại những

thành tổ cơ bản nhất của nó Bởi khi nói tới văn hóa dân gian là nói tới các thảnh tố văn

hỏa dân gian, những thành tổ này là nội dung cơ bản của văn hóa dân gian, là sự gắn bó, không tách rời, vồn nội sinh trong chỉnh thê văn hóa dân gian

Ý Dẫn theo Bài Mạnh Nhị (chủ biên) (1999), Văn học dân gian ~ những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục,

Tp.HCM, trang 16

22

Trang 22

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

Chu Xuân Diên cho rằng folklore bao gồm những thành tổ là những sáng tạo nghệ

thuật có ý thức như các tác phảm văn học dân gian, âm nhạc và múa dân gian, hội họa

dan gian cả những thành tổ là những sản phâm vừa mang tinh ich dụng vừa mang tính

thấm mĩ (kiên trúc, đồ thủ công mĩ nghệ ) và cả những thành tỏ là những gia tri van hoa

không bao hảm ý nghĩa thâm mĩ hiểu theo nghĩa địch thực của nỏ (văn hóa âm thực,

những tri thức về môi trường tự nhiên ) [9, 231]

Lê Ngọc Canh cho rằng truyền thông văn hóa là tất cả những di san văn hóa, sáng,

tạo văn hóa của quân chúng nhân dân được lưu truyền từ đời này sang đời khác Khi nói

tới truyền thông văn hóa dân tộc là nỏi tới văn hỏa tỉnh thân vả văn hỏa vật chất do nhân

dân sảng tạo ra

~_ Văn hỏa tình thân (văn hóa phi vật thê): là những di sản văn hỏa đem lại

nguồn cam hing thâm mĩ cho con người bằng những hoạt đông của các

loại hình nghệ thuật Cụ thẻ là văn, thơ, hát, múa, nhạc, sân khâu, điên

xưởng, điệu khắc, kiến trúc, hội họa nghề mỹ nghệ thủ công, lễ hội trò chơi nghệ thuật Củng với các loại hình trên là phong tục, tập quán, lễ

nghỉ, tin ngưỡng, tết, lễ, luật tục và những hương ước, định ước vả tri

thức dân gian

- Van héa vat chat (van hoa vat the): Dudi góc độ của khoa học văn hóa dân gian là tiếp cận hiện tượng văn hóa dân gian dưới góc độ thâm mĩ,

trong chỉnh thể nguyên hợp Vậy, văn hóa vật chất có tỉnh thâm mi, tinh

nghệ thuật, đỏ cũng lả một phân của đổi tượng nghiên cửu văn hỏa dân gian Những ngôi đẻn chủa, đình, miéu, điện, đẻn, tháp, lăng tâm,

những loại y phục, những chiếc thuyền, những công cụ, những đạo cụ

để phục vụ cho nhu câu đời sông của con người vả xã hội Chúng tổn tại

khách quan, cỏ ÿ nghĩa thực dụng, ích dụng trong đời sông của nhân

dân Những ngôi đình, chủa, miều, đẻn, điện là những hình thủ ngôi

nha cu thé dé sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đồng thời cũng là nơi thờ

3

Trang 23

cúng, lễ hội làng xã Chúng là nơi diễn ra hoạt động văn hóa tỉnh thân của dân chúng

Ban ve những thành tổ của văn hỏa dân gian Việt Nam, dựa trên các tiêu chỉ về đặc trưng ngôn ngữ, chất liệu câu tạo, phương thức lưu truyền, Lê Ngọc Canh đã chỉ ra

10 thành tổ cơ bản của văn hóa dân gian, bao gồm: 1 Âm nhạc dân gian, 2 Múa dân

gian, 3 Sân khâu dân gian, 4 Tạo hình dân gian, 5 Diễn xưởng dân gian, 6 Ngôn từ, 7

Hát dân gian, 8 Lễ hội dân gian, 9 Trò chơi nghệ thuật dân gian, 10 Tr¡ thức dân gian

[5, 636]

Khi nói tới các thành tỏ, ta không thẻ không đề cập đền tính chỉnh thẻ nguyên hợp của nó Nghiên cửu văn hỏa dân gian là xem xét nó trong môi quan hệ tổng thẻ liên ngành, đa chiêu trong cải này có cái kia, chúng có môi quan hệ gắn bó không chia cắt

Tuy là thành tổ của văn hóa dân gian, cùng tỏn tại vả củng phát triển nhưng các thành to

văn hóa dân gian vẫn được định hình bởi những đặc điểm, đặc tính riêng biệt mà chúng

hỏa nhập trong sảng tạo văn hỏa, mà không hỏa tan, làm mắt đặc trưng cơ bản

Đặc trưng thành tô âm nhạc Giai điệu, tiết tâu, nhịp phách, ca từ

Đặc trưng thành tổ mùa Động tác, điệu bộ, hình đáng chuyên động

trong am nhạc, trong không gian và thời

Trang 24

(Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

a Tin ngưỡng dân gian: phản ánh những ước nguyện tâm lính của con người

và cả công động, là niềm tin vào thân linh thông qua những nghỉ lễ, gắn

liền với phong tục tập quán, truyền thông,

b Phong tục tập quản dân gian: là những thỏi quen được đưa vào nếp sông hằng ngày Gồm cả hôi hè, lễ tết, trang phục, ăn uống, cưới xin, ma chay và hàng loạt các trỏ chơi giải trí

e Lễ hội dân gian: lả hoạt động văn hóa, thể hiện quan niệm và tâm linh của cộng đồng vẻ những gỉ người ta tin ngưỡng Thường tổ chức đẻ cảu xin,

cầu mong làm ăn phát đạt, sung túc; tạ ơn thân linh, tô tiên đã che chở phủ

hộ cho cuộc sống của mình

d Nghệ thuật dân gian: gồm nghệ thuật tạo hình dân gian (kiên trúc dân gian,

hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm

nhạc dân gian, múa dân gian, sân khâu dân gian, trỏ diễn )

e Tri thie dan gian: là hệ thống kiến thức được tạo ra trong quả trình lao động sản xuất của toàn công đỏng Gồm tri thức về mỗi trường tự nhiên

(dia ly, thời tiết, khí hậu ); trí thức về con người (bản thân): y học dân gian

vả dưỡng sinh dân gian; trị thức ửng xử xã hội (ứng xử cả nhân vả ửng xử

cộng đồng); tri thức sản xuất (kĩ thuật và công cụ sẵn xuất),

£ Ngữ văn dân gian: gồm tự sự dân gian (thần thoại, cỏ tích, truyền thuyết,

truyện cười, ngụ ngôn, vẻ, sử thi, truyện thơ) Trữ tỉnh dân gian (ca dao,

dan ca); loi ăn tiếng nói dân gian, tục ngữ, câu đồ dân gian

Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, văn hóa dân gian bao gồm nhiêu thảnh tó, biểu

hiện cụ thể trong nhiều lĩnh vực Các thảnh tô văn hỏa dân gian luôn có mỗi quan hệ

trong chỉnh thê nguyên hợp, trong nội sinh và ngoại sinh, một gốc có nhiều nhảnh, nhiều

cảnh Với việc khảo sát sự xuất hiện của các yêu tó văn hỏa dân gian trong tác phẩm của

ba nha tho, người viết sẽ làm rõ các yêu tỏ văn hóa dân gian trong thơ của Nguyên Bính,

Anh Tho, Doan Văn Cử trên hai phương diện: nội dung vả nghệ thuật để từ đó thấy được

sự ảnh hưởng và môi quan hê tác động giữa văn hóa đân gian vả văn học viết

25

Trang 25

1⁄2 Mỗi quan hệ giữa văn hóa dân gian với văn học viết

1.2.1 Lí luận về mỗi quan hệ giữa văn hoá và văn học

Giáo sư văn học người Nga, Mikhail Bakhtin, một trong những người tiên phong

trong xu hướng tiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa đã nhận định về môi quan hệ không

thể tách rời giữa văn hóa — văn học: “Khoa học nghiên cứu văn học phải gắn bó chặt chế

với lịch sử văn hóa Lăn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa” [1, 139]

Bất kỉ một giả trị văn học nào cũng đều thoát thai từ một môi trường văn hỏa, từ một đời sống văn hỏa nhất định Từ bao đời nay, dù chủ ý hay không, nhiều tác giả đã có ảnh

hưởng và tiếp thu sáng tạo văn hóa dân gian với sảng tác của mình Hiện nay ở nước ta,

những công trình nghiên cứu của Đồ Thị Minh Thúy — Mi quan hệ giữa văn hóa và văn

học (1997), Đỗ Lai Thủy — Từ cái nhìn văn hóa (1999), Trần Nho Thin — Van hoc trung

đại Uiệt Nam đưới cái nhìn văn hóa (2003) đã phần nào đóng góp tiếng nói vào xu

hướng nghiên cửu chung của thẻ giới

Bất cử nhà văn nào cũng đều là con đẻ của một thời đại, một dân tộc Sự sáng tạo

của họ luôn chịu sự chỉ phối bởi nhiều yêu t6, trong đỏ có văn hỏa Ở Việt Nam, tir

Nguyễn Trãi, Nguyễn Binh Khiêm, Nguyễn Khuyến đến Nguyễn Binh, Tố Hữu ta thấy

sự tác động của văn hóa dân gian với văn học viết thực sự sâu sắc kế cả khi chúng ta

đang chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp Biểu hiện của văn hóa trong văn học không chỉ ở

mat dé tai ma còn toản bộ hoạt động sảng tạo vả tiếp nhận văn chương Từ đó, nó đã tác động đến chủ đẻ, cảm hứng, môtíp, ngôn ngữ và cách đánh giá, thưởng thức tác phẩm

Có thể nói, mỗi quan hệ giữa văn hóa vả văn học là môi quan hệ sảng tạo cỏ tính qui luật,

diễn ra hết sức độc đáo vả lả cơ sở lí luận đẻ cắt nghĩa một số hiện tượng văn học cu thể

Tuy nhiên, đây không phải lả môi quan hệ một chiều Văn học là một thành tổ

quan trọng của văn hỏa, vừa chịu ảnh hưởng của văn hóa, vừa tác động đền sự phát triển của văn hỏa dân tộc Quả thật như vậy, nhiều sáng tác của các tác giả văn học viết đã

được “đân gian hóa”, khó phân biệt được đâu là thơ ca dân gian đâu là sản phẩm của các

26

Trang 26

(Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

tác giả văn học Lay Kieu, boi Kieu, van dan cae cau Kieu trong các cuộc gặp gỡ mang

tỉnh chất chỉnh trị đã minh chứng cho sức sóng và sự tác động trở lại của văn học đổi

với đời sông văn hóa

Như vậy, giữa văn học và văn hóa có mỗi quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau Van

học không chỉ là là một bộ phân của văn hóa, chịu ảnh hưởng văn hóa mà còn là phương

tiện bảo lưu văn hỏa Cắt nghĩa nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học từ các

yêu tô văn hỏa như thiên nhiên, địa li, lịch sử, phong tục, ngôn ngữ là phương thức tiếp

cân với đời sông và giúp văn học thực sự đi vào lòng người đọc

1.2.2 Anh hưởng của văn hóa dân gian đối với một số tác giá văn học viết

1.2.21 Đổi với một số tác giả trên thế giới

Từ Châu Âu đến Châu Á các nhà văn đều tìm thây trong nhân dân một nguồn tri thức đổi đảo, một luông ánh sáng mình triết, một lí tưởng thâm mĩ phủ hợp Ở Châu Âu, các nghiên cửu cho thay văn hóa dân gian đã ảnh hưởng đến văn học từ rất sớm va phát

triển mạnh mẽ vảo thời kỉ xuất hiện chủ nghĩa cỏ điên và chủ nghĩa lãng mạn Các tác giả

đã tiếp thu folklore ở các phương điện đẻ tài, mötip, từ ngữ, cảm hứng nghệ thuật Các

vở kich của tác giả viết kịch nỗi tiếng Shakespeare cũng được mô phỏng tử các cót truyện

dân gian vả bằng sự sảng tạo, ông đã làm mới chủ đẻ tư tưởng cũng như tính cách nhân

vật

Trở về Châu Ả, ta có thê kể đến một số nèn văn học lớn mả trong đó yếu tô văn hóa dân gian đã góp phản tạo nên những kiệt tác hàng đâu như văn học Trung Quốc, văn học Nhật Bản, văn học Ân Độ, văn học Nga — nén van hoc giao thoa Âu — A Van hoc Nga đã sản sinh cho thế giới nhiêu thí hảo vĩ đại, một trong số đó là Pushkin, chay trong mình “đông máu xanh” thượng đẳng nhưng suốt đời ông trọn vẹn 1a nha tho của nhân

dân Tuổi thơ êm đêm bên những câu chuyện cỏ tích, thơ ca đân gian được nghe từ bà

ngoại, nhũ mâu, lão bộc đã là nhịp cầu nồi câu bẻ Pushkin với tâm hồn Nga, ngôn ngữ

Nga ki diệu Đặc biệt, nhắc đến nhà văn tiếp thu văn hóa dân gian sâu đậm nhật không

27

Trang 27

thể không nhắc đến Esenin — “nha tho cudi cting ctia déng quê Nga”, “Nhà thơ Nga nhất

trong các nhà thơ Nga" Thủa niên thiếu Esenin đã chép tay và thuộc nằm lòng gần 4000

tác phẩm trữ tình dân gian Củng với các câu chuyện cô tích, thiên nhiên Nga với cảnh

đồng vang anh trang mia gặt, hàng bạch đương, những dòng sông, ngọn núi, những đàn

bỏ, đản chó, bảy gả luôn gần gũi như bạn bảu thân thiết đã nuôi lớn hỏn thơ ông đề trở

thành “cây đại phong cẩm ” dành hát tăng riêng cho “đồng ruộng nước Nga vàng”

Đến với Nhật Bản, người đọc một lân nữa được chìm đắm trong không gian văn hóa truyền thông của xứ sở Phù Tang trong tac phim của Kawabata Ông quay về với

truyền thông dân tộc thanh tao củng trả đạo, hoa anh đảo, thú chơi bản năng đầy dục tỉnh:

một núm vú hồng, một bờ vai cong, một cơ thẻ lõa lô Nhân vật trong sảng tác của ông lả

những con người với nét tính cách, suy nghĩ, cách ứng xử đậm nét Nhật Bản, họ luôn cỏ

ÿ thức giữ gìn những truyền thông phương Đông dủ đó là những phong tục xưa cũ Sau

những say mê đổi mới theo nhịp phương Tây từ thời kì đầu bước vao sang tac, thi vé sau

Kawabata tập trung trở về với nguồn cội, tìm đến người mẹ của tiêu thuyết và ông đã gặp

lại tâm hồn Nhật Bản Biểu tượng “me” trong sang tac cla éng là hiện thân cho tính nữ

vĩnh cửu, là sự trở vẻ, là nơi nương náu che chở theo quan niệm phương Đông Văn hỏa

Nhật cũng trở thành dòng chảy trong sáng tác của tác giả đương đại nỏi tiếng: Murakami

Có thê nói không cỏ một thành tựu văn học đặc sắc nảo của Trung Quốc lại không

được kế thừa từ những yêu tô văn hóa truyền thông Tắt cả các nhân vật trong Liêu frai

chi dj cia BO Ting Linh đều được sinh ra từ quan niêm vạn vật hữu linh trong tư duy

huyền thoại vốn xuất hiện từ thời nguyên thủy Các môtip vật biển thành người và người biển thánh vật có nguồn góc sâu xa từ trong thân thoại Nha van Bỏ Tùng Linh đã tiếp thu

vồn văn hóa dân gian của dân tộc mình đẻ xây dựng nhân vật, cốt truyện, chọn lựa các sự

kiện, không gian, thời gian và lí giải chúng theo quan niệm truyền thông của dân gian

Tác phẩm 7ây du kj cia Ngô Thừa Ân cũng là một minh chứng rõ nét cho mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Ngô Thừa Ân khẻo léo kết hợp những câu chuyên lưu truyền trong nhân dan dé tao nên cốt truyền 7y dư ký Đây cũng là điểm tương đồng với các

28

Trang 28

(Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

tiểu thuyết lớn thời Minh — Thanh Toản bộ chất liêu dân gian được các tác giả nhảo nặn,

tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực

Sau khi tìm hiểu sơ bộ vẻ sự ảnh hưởng của văn hỏa dân gian với sảng tác của một

số tác gia lớn trên thẻ giới, ta cỏ thẻ thây yêu tổ văn hóa dân gian có một vị tri quan trong

góp phân tạo nên phong cách, nét riêng cho các nhà văn lớn trên thẻ giới Mỗi nhả văn

với sự sảng tạo, quả trình sóng vả sự trải nghiệm khác nhau, phạm vi đời sóng khác nhau

sẽ lựa chọn các thành tô văn hóa dân gian khác nhau đề làm giàu cho tác phâm của mình Trở vẻ với cội nguồn là đặc tỉnh cần thiết và vốn cỏ của bất kì nên văn học nào trên thể

giới mả Việt Nam cũng không ngoại lệ

1.2.2.2 Đối với mộtsổ tác giả ở Việt Nam

1.2.2.2.1 Thời kỳ trung đại

Văn học Li Tran lay nguồn cảm hứng yêu nước va tu hao dan tộc làm chủ đạo Bên cạnh những câu văn nóng bửng nhiệt huyết đầu tranh xây dựng đất nước tự chủ, tự cường thì vẫn cỏn đó những vàn thơ lặng lẽ mả sâu sắc, ngợi ca quê hương đất nước với một nên văn hóa làng quê lâu đời Chính tâng sâu văn hóa vững bên ấy đã trở thành cội nguồn sức mạnh cho tỉnh thần sục sôi muốn “xé thit, l6t da, nuỐt gan uống máu quân

thì" (Trần Quốc Tuần)

“Lão tang điệp lạc tàm phương lận

Tảo đạo hoa hương giải chính phì

Kiến thiết tại gia bẩn điệc hảo

Giang Nam tuy lac bat nue quy”

(Quy Hing — Nguyén Trung Ngan)

(Dâu gia, la rung, tam vita chin Lúa sớm, bông thom, cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt

29

Trang 29

Dâu vui đất khách chẳng bằng về.) (Hứng trở về - Bản dịch Hoàng Liệt)

Những hinh ảnh quen thuộc với tuổi thơ tác giả lần lượt hiện lên: cây dâu giả lá

rụng, nong tằm vừa chin, lúa trỗ bông sớm thoảng hương, cua đồng đang lúc béo Có

yêu thương nảo chân thành bằng yêu thương gắn với những điều giản đơn và bình dị trong cuộc sống Nỗi lòng của Nguyễn Trung Ngạn cũng chỉnh là nội “ương #£” của

chang trai trong bài ca dao của ông cha:

“anh đi anh nhớ quê nhà

"Nhớ canh rau muống, nhớ cà đầm tương

Nhớ ai dai ning dam sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

(Ca đao)

Bên cạnh những vẫn tho chit Han (Ue 7rai thí tập) Nguyễn Trãi còn dé lai cho

hậu thế một tập thơ Nôm đỏ sộ ~ Quốc ẩm thi tập Trong tập thơ nảy, điểm thành công và nổi bật nhất chính là ở việc tác giả đã mạnh dạn đưa ngôn ngữ dân tộc, lời ăn tiếng nỏi

bình dị, những thành ngữ, tục ngữ phản ảnh nếp sóng, tập quán truyền thống của nhân

dân Việt Nam vào trong thơ một cách tỉnh tế, khiển thơ ông tự nhiên, giản dị mả sâu sắc

Do do, nhimg bai hoc giao duc, những 16i giao huan ăn dạy mà ông muôn truyền tải cũng, sông động và khó quên:

“Ở bau thi dang ắt nên tròn _Xấu tốt đều thì lắp khuôn Lân cận nhà giàu, no bữa côm

Bạn bè kẻ trộm phải dau don”

(Báo kính cảnh giới, 21)

Nguyên Trãi đã đưa vào thơ của mình nhiều câu tục ngữ: Ở bầu thì tròn, ở Ống thì

đài; Ở gần nhà giàu đau răng ăn côm/ Ở gân kẻ trộm 6m lung chịu đòn Ông chuyên tải

30

Trang 30

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

tiếng nói của cha ông xưa đến các thể hệ con cháu mai sau trên cơ sở tiếp thu chất liệu

văn hóa dân gian, trước hết là ở nội dung tư tưởng trong những câu ca dao, tục ngữ Có

được điều nảy là bởi Nguyễn Trãi được sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền

thống yêu nước, thương dân và tỉnh cảm nhân hậu rộng mở Bản thân ông cũng có những

năm tháng bôn ba, sông gân nhân dân nên ông thực sự am hiểu vẻ đời sông của họ Tỉnh

cảm gắn bỏ thân thiết với những gì gần gũi thuộc về văn hóa dân gian, những di sản của

ông cha đề lại cứ lớn dần lên trong tâm hôn của ông

Nguyễn Binh Khiêm cũng là một tác giả có những sảng tác chịu ảnh hưởng sâu

sắc của văn hóa dân gian Nhiễu bải thơ của ông vẫn giữ được chất mộc mạc, giản dị mà

ta thường bắt gặp trong những bài ca dao, những câu tục ngữ, từ trong lỗi suy nghĩ, lối

sống của cha ông Điểm đặc biệt là không chỉ chiu ảnh hưởng của văn hóa dân gian,

chính những sảng tác của các tác giả thời trung đại đã góp phần bỗ sung làm phong phú,

giảu đẹp thêm cho văn hóa dân gian Nhiều câu thơ của Nguyễn Bình Khiêm ngảy nay đã

đi vào tục ngữ

“Còn bạn côn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi”

(Bạch Lân quốc ngữ thi tap, bai 71)

“Có thuở được thời mèo đuôi chuột Đắn khi thất thế kiến tha bò”

(Bach Vân quốc ngữ thỉ tập, bài 75)

Kế đến những tac giả chịu sự chỉ phối của văn hóa dân gian, không thẻ không, nhắc đến Nguyễn Du - đại thi hảo dân tộc với tác phầm 7ruyện Kiểu — “kì quan của nên văn hóa Việt Nam” (G§ Mai Quốc Liên) Với Truyện Kiêu, thể thơ lục bát của dân gian

đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ Là “người con của bồn vùng quê”, từ nhỏ Nguyễn Du may

mẫn được tắm mình trong bâu sữa ngọt ngảo của ca dao dân ca, của những dòng sông

chở nặng phủ sa văn hóa truyền thông, Những câu hỏ, điệu vi, hát phường vải ở quê nhà,

31

Trang 31

hat doi, hat do đầu có phân bị ai nhưng hết sức trong sảng, mượt mả đã trở thành mảu

thịt của tâm hồn ông Từ hình tượng người mẹ, người chị, người con gái trong ca dao dân

ca đến người phụ nữ mạnh mẽ trong thơ Hỗ Xuân Hương, người vợ thủy chung son sắt trong Chỉnh Phụ Ngâm, người phụ nữ tài sắc chiu nhieu cay đẳng trong Truyén Kiểu là

một sự phát triển có quy luật, biêu hiển tinh thân dân chủ, nhân văn của nên văn hỏa Việt:

tran trọng, yêu thương người phụ nữ Bên cạnh đó, qua 7ruyện Kiểu, Nguyễn Du còn góp

phân đưa thể thơ lục bát của đân tộc đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Nhiều câu thơ lục bát

trong Truyện Kiéu đã trở thành mẫu mực Truyện Kiểu còn được “dan gian hóa” thành những hiện tượng văn hỏa phỏ biên như tập Kieu, boi Kieu

Bên cạnh một Nguyên Trãi, Nguyễn Bình Khiêm đây tính triết li dân gian, một Nguyễn Du trữ tình sâu sắc thì nỗi bật ở một góc trời riêng là nữ sĩ Hồ Xuân Hương —

người phụ nữ mạnh mẽ, cả tính nhưng cũng hết sức dịu đàng, đa cảm Trong thơ Hồ

Xuân Hương có những hình ảnh gợi lên sự gàn gi, thân mật giữa đôi trai gái thật phong,

phú và đặc sắc, nó được hình dung trong thể nủi, hình sông, trong dảng vẻ hang động kì

lạ, đôi khi nó được tạo thể vừa kì ảo, vừa kì vĩ: “Từng trên huyết điểm pha đầu bạc — thớt

dưới sương pha đượm má hồng” được ảm chỉ bằng một không gian và thời gian vĩ mõ,

vũ trụ *khép cánh kiền khôn ních chặt lại lông then tạo hóa mở toang ra” Cải “tục”

trong thơ bà biểu hiện một lỏi nhìn, lối nghĩ, lỗi cảm rất đặc biệt mà nguồn gốc chính là

từ nhân dân lao động, trong vỏn văn học dan gian

Thời kì văn học trung đại kết thúc với thành tựu cuối cùng rất rực rỡ của hai cây

bút trảo phủng — trữ tình Nguyễn Khuyến, Tú Xương Hai nhà thơ đền với thôn quê, gắn

bỏ với mãnh vườn, ruộng lúa, quả bầu “không phải bằng lí lẽ mà bằng tình cảm, bằng

máu xương của mình” [78, 310] Trong thơ của Tủ Xương và Nguyễn Khuyến xuất hiện

với mật độ dày đặc các phong tục tập quản, các thỏi quen sinh hoạt văn hóa của người

dân quê, những qui ước riêng của lảng xã trong các dip cúng hỏi, ma chay Đồi tượng trào phúng trong thơ hai ông cũng là những gương mặt quen thuộc cé thé dé dang bat gặp

trong kho tảng văn học dân gian Kết hợp sử dụng ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn

32

Trang 32

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

ngữ đời sóng, thơ Tú Xương và Nguyễn Khuyên đã thực sự trở thành tiếng nói tâm tỉnh

của người dân lao động Nguyễn Khuyén dùng nhiều thảnh ngữ, tục ngữ và cách nói của

dan gian: Anh em làng xóm, thừa mạ, làng ao, ô lợn con, gian nếp cái, văn hay chữ tối,

người ba đẳng/ của ba loài Trong thơ của Tủ Xương, nhiều thành ngữ dân gian được

vận dụng một cách sáng tạo Các thảnh ngữ như học đã sôi cơm, thi không ăn ới, vuốt râu

nịnh vợ, quắc mắt khinh đời, năm nắng mười mưa, thân cò lặn lội đã được ông vận

dụng khá độc đáo:

“tuốt râu nịnh vợ con bu nó Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh”

(Tự cười mình, Tú Xương)

Không chỉ các nhà thơ (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Nguyên Khuyến,

Nguyên Du, Hồ Xuân Hương, Tủ Xương, Nguyên Khuyến ) tiếp thu những tỉnh hoa

của mạch nguồn dân gian, các tác giả văn xuôi thời trung đại cũng đã khai thác một cách

có hiệu quả các truyện dân gian Từ những cốt truyện dân gian, Nguyễn Dit, Doan Thi Điểm khi viết những tác phâm truyền kỉ đã sáng tạo chúng thành những câu chuyện hoàn

chỉnh vừa có yếu tô lãng mạn, vừa có tỉnh tư tưởng sâu sắc, vừa cỏ giá trị nghệ thuật cao

Đặc biệt phải ke đến tac pham Truyén ki man lục của Nguyễn Dữ - được xem là “Thién

cổ kì bút” với khả năng hỏa trộn giữa các câu chuyên tư sự dân gian vả văn xuôi lịch sử

Cốt truyện chủ yếu lây từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp

xuat phat tir truyền thuyết vẻ các vị thần mà đền thờ hiện van còn (đền thờ Vũ Thị Thiet

ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên vả đền tho Van Di Thanh ở làng Gối, Ha Nội)

Tom lại, ta cỏ thể đưa ra mấy nhận xét sau vẻ sự ảnh hưởng của văn hóa đân gian

với sáng tác của các nhà thơ trung đại:

- Cac nha thơ lớn của trung đại đều tìm thấy ở văn hỏa dân gian một nguồn

mach trong sang, tuoi mát và dôi đảo sức sóng Họ tiếp thu vốn văn hỏa dân

33

Trang 33

gian trên nhiều phương diện: tư tưởng, ngôn ngữ, nếp tư duy, tính cách Điều

nảy có lẽ xuất phát từ sự trân trọng cải trong sáng, hỏn nhiên ở dân gian vì họ

tìm thấy nơi ấy côi nguồn đích thực sâu xa của mình Tiệm cận với tư tưởng và

ngôn ngữ nhân đân cũng là một cách đưa tác phẩm của mình đi sâu vào lỏng

quần chúng

~ Văn hóa luôn là nên tảng cho văn học, thúc đây, hỗ trợ văn học phát triển Tuy

nhiên, văn học cũng có tác động trở lại, giúp văn hóa tự hoàn thiện sinh động,

và phong phú hơn

1.222.2 Thời kỳ hiện đại

Không chỉ ảnh hưởng đền các tác giả trung đại, văn hóa dân gian còn cỏ những

ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng, tình cảm, cách thê hiện của các nhà văn hiện đại Hình

ảnh làng quê Bắc Bộ đã xuất hiện trong thơ Nguyên Khuyến, thì nay một lần nữa hình

ảnh ấy lại trở vẻ in dau trong những sảng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ

mới (1932 — 1945) Trong thơ của một số nhà Thơ mới, làng quê vẫn được cảm nhận từ

đáng vẻ cô truyền của nó:

“Trong làn nắng ứng: khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lam tam vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang ”

(Mùa xuân chín — Hàn Mặc Tử)

Đủng là nẵng xuân, chẳng phải tia nang, hat nang, chang phai giot ning ma la “Jan

nang” Chit “lan” nhu goi mét hơi thở nhẹ nhàng, nẵng như mỏng tang, mém mai trai

đều trong thơ vả trong không gian Làn nắng lại “ứng” lên trong “khói mơ fan” Cảnh sắc

nhẹ nhàng, đẹp dân đã mà huyền điệu Đúng là không đâu quê hương Việt Nam lại đẹp

vả thơ mộng như trong Thơ mới Cỏ lúc quê hương hủng vĩ, tráng lẻ “Lớp lớp may cao dim mii bac” (Trang Giang — Huy Cận), có lúc quê hương xanh mướt “lườn ai mưới quá xanh như ngọc” (Đây thôn Vĩ Dạ ~ Hàn Mặc Tủ), lúc khác lại đây mộng mơ duyên dáng,

34

Trang 34

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

qua con mắt tho day tính nữ “Mưa đô bụi êm êm trên bên vắng" (Chiều Xuân — Anh

Thơ)

Văn hóa dân gian không những là nên tảng ma còn là nguồn cảm hứng dôi dào

tiếp thêm chất liệu vả cảm hứng sáng tạo cho văn học viết Dân gian thường sử dụng các

biện pháp tu từ: so sánh, ân dụ, hoán du, nhân hóa với những sự vật quen thuộc như hạt mưa, tâm lụa đảo, thuyền - bên, cây đa để gửi gam tâm trạng thì những hình ảnh ay

cũng trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà Thơ mới sáng tác nên những tac pham mang

dau ân truyền thông:

“Người giai nhân: bến đợi dưới cây già

Tình dụ khách: thuyển qua không buộc chặt”

(Lời kỹ nữ ~.Vuân Diệu)

Bên cạnh đó, trong thơ các nhà Thơ mới, đất nước, dân tộc còn được cảm nhận và

li giải ở một phương diện khác: phương diện văn hỏa, lịch sử Truyền thuyết về Sơn Tinh, Thủy Tình; Truyền thuyết -in Dương Lương và Mị Châu — Trọng Thủy đã im dâu ân lên

thơ của Nguyễn Nhược Pháp Trong bải tho dai “Son Tỉnh - Thuỷ Tình”, dưới con mắt của Nguyễn Nhược Pháp, hành động hàng năm Thuỷ Tỉnh dâng nước lên để đòi lại Mị

Nương chính là thể hiện một tình yêu mãnh liệt khác thường của mét vi than bién: Thay’

Tình năm năm đâng nước bẽ/ Đục nước hò reo đòi Mị Nương/ Trần gian đâu có người dai thê/ Cũng bởi thân yêu nên khác thường (Sơn Tình — Thủy Tình)

Phát biểu của Hồ Chí Minh tại hội nghị cán bộ văn hoa ngay 30/10/1958: “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay mà lại ngắn chứ không “tràng giang đại hải”

đây cà ra dây muỗng Những sáng tác ấy là “những hòn ngọc quý” [36, 355] Đây là

quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về công tác sưu tầm nghiên cứu, kế thừa “yên thông

văn hóa cÐổ” của dân tộc Đặc điểm chung là các nhả văn, nhà thơ giai đoạn nảy tiêu biêu

như: Tỏ Hoải, Tổ Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bồn đều tìm đến với cội nguồn văn hóa, văn học dân gian — những giá trị truyền thống tốt đẹp mả nhân dân đã sảng tạo ra

we a

Trang 35

Những tác phâm Tiếng hát sông Hương, Trường tôi, Phá đường, Việt Bắc của Tô Hữu có

kết câu mang hình thức đối đáp của ca dao dân ca Ông đã lớn lên không chỉ bằng những, dòng sữa ngọt của mẹ mà còn bằng những khúc hát ru thân thương âm vang của văn hóa cội nguồn “Sữa nuôi phân xác, hát nuôi phần hôn” (Ngồi buôn nhớ mẹ ta xưa - Nguyễn Duy) Có lẽ vi thế mả đọc nhiều bải thơ ông, ta thường nghe thây tiếng hát ru, “điểng hát đâu mà nghe nhớ thương" (Quê mẹ — Tổ Hữu) Ta nghe tiếng à ơi của người bà ru cháu

trong bải “Cá Nước” hay tiếng mẹ ru con trong bải “Phá đường", "Đời đời nhớ ông",

“Tiéng ru”

Các nhà thơ thời chống Pháp vả chóng Mỹ đã đưa đến cho thơ ca cách mạng một

sức sống mới Gắn bỏ với cách mạng với nhân dân và thời đại, họ càng có ý thức đào sâu

vào truyền thông, nhằm khơi dậy những sức mạnh tiêm tàng của dân tộc Nhiều sáng tác của Nguyên Dinh Thi, Quang Dũng, Vũ Cao, Hữu Loan, Nguyên Khoa Điềm, Nguyễn

Duy, Xuan Quynh, Trân Đăng Khoa đều là những sảng tạo mới mẻ dựa trên cội nguồn

văn hóa dân tộc và sự tiếp thu thơ ca đân gian Họ không chỉ kế thừa vẻ mặt nội dung

thâm mĩ và phương thức thể hiện truyền thông như trước đó mà “họ đã học tập phương

thức cảm thụ thế giới của các loại hình trữ tình dân gian dưới ánh sáng tư tưởng và tình

cảm của thoi dai” (17, 272]

G mang van xuôi, ta có thể nhắc đến một số cái tên ma sáng tác của họ chịu ảnh

hưởng của văn hỏa dân gian như Vũ Bằng, nhóm Tự Lực Van Doan La nha van, nha

báo hiện diện trên van dan Việt Nam từ những năm ba mươi của thể ki XX, Vi Bang

quan tâm đặc biệt đến văn hoá dân tộc Với ông, văn hoá được biểu hiện ở những lĩnh

vực cụ thé va sông động Đó là cảnh sắc thiên nhiên của đất nước, những lễ hội thường, niên, những phong tục tập quán lâu đời, nên âm thực đa dạng và những thủ chơi tao nhã của người đam mê cải đẹp Đặc biệt, khi viết về đến chủa, lê hội và phong tục, nhà văn

cho thấy ông chịu ảnh hưởng khả sâu sắc văn hoả tâm linh của dân tộc Trong Thương

nhớ mười hai, Mơ về một cuộc chọi trâu, Hội Lim, Héi Lim đã mắt, Vũ Bằng viết về

những đến chủa cô kính ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc được khách thập phương đặt niềm

36

Trang 36

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

tin như đên Ngọc Sơn, Quán Thánh, Hàng Trồng, Quan Phước, chủa Quán Sử, Dâu, Kim

Cỏ, Trân Quốc, Bà Đá, Liên, Tràm, Hương, Vua, đỉnh Thiên Hương, Ủng Đó

là những nơi thờ Phật hay thờ thân thánh gắn với những hội lễ mang tỉnh thiêng liêng và gắn với ước mơ hoả bình, an lạc của dân tộc

Hiện nay, một trong những môi quan tâm lớn nhất của xã hội lả giữ gin, bảo tôn và phát huy những giá trị văn hỏa độc đáo của dân tộc, Văn học cũng đồng cảm với môi

quan tâm chung ay Ta bat gặp trong tác phẩm của các tác giả trẻ nhiều chất liệu của dân

gian Đó là những ngôi làng phía sau lũy tre: làng Giêng Chùa (M#ảnh đất lắm người

nhiều ma — Nguyễn Khắc Tường), làng Đông (Bến Không Chồng Dương Hướng), làng

Cổ Định (Mẫu thượng ngàn — Nguyên Xuân Khánh) ; đó là những đòng sông: sông

Bìm Bịp (Cánh đông bắt tận ~ Nguyễn Ngọc Tu), sông Cầu (Mánh đất lắm người nhiều

ma — Nguyễn Khắc Tường), sông Cái (Con gái thủy thần — Nguyễn Huy Thiệp) ; đó là những sáng fác dân gian như: truyền thuyết con Rồng chau Tién, Quan Am Thi Kinh, Nit

Óa đã trở thành chất liệu vả ý tưởng cho Vi Thủy Linh (Tín hiệu, Dấu vết) Phan Huyền Thư (Nềm nghiêng) Nguyễn Việt Hà (Khái hoàn muộn) chật liệu dân gian còn xuất

hiện ở tên tác phẩm: 7rơng Chỉ (Nguyên Huy Thiép), Xanh vo do long (Thanh Hai), Di

một ngày đàng (Nguyễn Chỉ Tình) Văn hỏa dân gian đã trở thành điểm tựa vững chắc

cho sang tác của các nhả văn, nhả thơ trẻ tuổi và góp phần định hình nên “gương mặt” cho tác phẩm của họ

Như vậy, văn hóa dân gian đã được dung nạp vào văn học việt hiện đại rất đa dạng,

từ đề tải, cốt truyện, ngôn ngữ, ý tưởng, tư duy, thi tứ, thi liệu, môtíp, thể loại việc chủ động tiếp thu các giả trị văn hóa truyền thống vào trong sáng tác không chỉ đã đem đến cho thơ ca hiện đại chiêu sâu của tỉnh thần dân tộc mả còn làm cho nó có khả năng sáng tao nên những giá trị mới, biêu hiện mạnh mẽ tỉnh thân thời đại

Tóm lại tiếp nhận văn hỏa dân gian trong văn học là một hiện tượng mang tính qui luật Từ văn học Châu Âu đến văn học Châu Á, từ văn học trung đại đến văn học hiện đại

37

Trang 37

Việt Nam, các tác giả đã khai thác vả sử dụng những giá trị văn hóa đân tộc như một sức mạnh làm nên chiều sâu và sức sống cho tác phẩm của mình

Người viết đã tìm hiểu ảnh hưởng của văn hỏa dân gian với văn học qua một số

tác giả từ trung đại đến hiện đại Đi từ góc độ lịch đại, đồng đại và hiện đại đỏ, ta có thé thấy rõ hơn giả trị đặc sắc về văn hóa dân gian trong thơ Nguyên Binh, Anh Thơ, Đoàn

Văn Cừ

143 - Đôi nét về phong trào Thơ mới và vị trí của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Doan Van Cir trong phong trào Thơ mới

1.3.1 Đôi nét về phong trào Thơ mới

Trong những năm đầu thập kỉ thử ba của thể kỉ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn Do la Tho moi (hay còn gọi là Thơ mới lãng mạn) Sự

xuất hiện của Thơ mới gan liên với sự ra đời của phong trảo Thơ mới 1932-1945 Phong

trảo Thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca”, mé dau cho su phat triển của thơ ca

Việt Nam hiện đại

Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đỏi hỏi nhất định của

lịch sử xã hội Bởi nó là tiếng nói, là nhu câu thẩm mĩ của một giai cấp, tâng lớp người trong xã hội Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản vả tiêu tư sản Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tỉnh cảm mới, những thị hiều thâm mĩ mởi củng với sự

giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dân đến sự ra đời của Phong trào Thơ

mới 1932-1945 Thơ mới được thai nghẻn từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hỏa tâu của phong trào Thơ mới Tản Đà chỉnh là “gạch

nối" của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh - Hoải Chân xếp đầu tiên trong,

số 46 tên tuổi lớn của Phong trào Thơ mới Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho

đăng bài thơ “Tinh già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu *Một lối thơ

mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của phong trào Thơ mới chính thức bắt đầu

Trang 38

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

Các nhả nghiên cứu đã phân chia các thời kỉ phát triển của Phong trào Thơ mới

thành ba giai đoạn Giai đoạn 1932-193§: Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đầu tranh giữa

Thơ mới và “Thơ cũ” Ở giai đoạn đâu, Thẻ Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào

Thơ mới với tập Mấy vần thơ (1935) Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhả thơ Lưu Trọng Tar, Nguyên Nhược Pháp, Vũ Đình Liên Giai đoạn 1936-1939: Day là giai đoạn Thơ

mới chiếm ưu thể tuyệt đối so voi “Tho cit” trên nhiều bình diện, nhất là vẻ mặt thể loại

Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuôi lớn như Xuân Diệu (tập 7hơ tho -1938), Hàn Mặc

Từ (Gái quê -1936, Đau thương -1937), Chế Lan Viên (Điêu tan - 1937), Bich Khé (Tinh

huyết - 1939) Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh

hướng sảng tác khác nhau Nguyên nhân là do cải Tôi mang máu sắc cả nhân đậm nét đã

mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thí pháp lẫn tư duy nghệ thuật Giai đoạn 1940-1945: Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đải gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dân, Dinh Hùng ; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung ; nhỏm Trường thơ Loạn có Chê Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê Có thể nói các khuynh hướng thoát lí

ở giai đoạn này đã chỉ phỏi sâu sắc cảm hứng thâm mĩ và tư duy nghệ thuật trong sáng

tác của các nhả Thơ mới

Đặc điểm nỗi bật của Phong trảo Thơ mới:

s#* Sự khẳng định cái Tôi

Nên văn học trung đại trong khuôn khô chế độ phong kiến chủ yêu là một nên văn học phi ngã Sự cua quây, bứt phá tìm đến bản ngã đã it nhiều xuất hiện trong thơ Hẻ

Xuân Hương, Nguyên Cong Tri én Phong trào Thơ mới, cái Tôi ra đời đòi được giải

phỏng cả nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chỉnh là sự tiếp nói vả để cao cải bản

ngã đã được khẳng định trước đó Ý thức vẻ cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong, phú trong cách biểu hiện Cái Tôi với tư cách là một bản thẻ, một đổi tượng nhận thức và

phan anh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học Đỏ là con người cá tỉnh, con

người bản năng chử không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước

39

Trang 39

ra “trình làng” Xuân Diệu, nhả thơ tiêu biểu của Phong trảo Thơ mới lên tiếng trước:

“Tôi là con chìm đến từ múi lạ "⁄ “Tôi là con nai bị chiêu đánh lưới” Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cô gắng cuối cùng dé khẳng định bản ngã của mình và mong được

đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại

++ Nỗi buồn cô đơn

Có thể thấy cai buồn của Thơ mới không phải là cải buồn ủy mị, bạc nhược mã là

cai buôn của những người có tâm huyết, đau buôn vi bị bể tắc chưa tìm thấy lỗi ra Cái Tôi trong Thơ mới trồn vào nhiêu nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn Nối buồn cô đơn trản ngập trong cảm thức về Tiếng /hw với hình ảnh:

“Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”

(Eưu Trọng Lư )

Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhan duge néi buon “Yao

xác gà trưa gáy ndo ming” con Xuan Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buôn nghe như máu

ứa” Nỗi buôn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn Với các nha Tho mới, nỗi buôn ây còn là cách giải thoát tâm hỏn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với

chỉnh minh

+ Cam hing về thiên nhiên đất nước và tình yêu

Cảm hứng về thiên nhiên vả tỉnh yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới Đỏ là

vẻ đẹp tươi moi, day hương sắc, âm thanh, tràn trẻ sự sóng Đây là cảnh mưa xuân trong,

thơ Nguyễn Binh:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đây”

(Mưa xuân - Nguyên Bính)

40

Trang 40

Nguyễn Binh, Anh Thơ, Đoản Văn Cử)

Và đây là hình ảnh buổi trưa hẻ:

“Budi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao

Có eu gáy và bướm vàng nữa chứ"

(Đi giữa đường thơm — Huy Cận)

“Tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam

Có thể nói, tĩnh thần dân tộc là một động lực tỉnh thàn đề giúp các nhà Thơ mới ap

ủ lòng yêu nước Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bải

thơ Đó là hình ảnh Chùa Huong trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương): hình ảnh làng sơn cước vủng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận (Đẹp xưa); hình

ảnh lảng chải nơi cửa biên quê hương trong thơ Tẻ Hanh (Quê hương) Các thì sĩ đã

mang đến cho thơ cái hương vị đậm đả của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc

của ca dao: Nguyên Bính, Đoàn Văn Cừ, Bảng Bá Lân, Anh Thơ, Hinh ảnh thôn Đoài,

thôn Đông, mái đình, gốc đa, bên nước, giậu mồng tơi, công lang nang mai, mai nha

tranh đã gợi lên sắc mảu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam

yêu nước

Tóm lại, phong trào Thơ mới (1932 ~ 1945) ra đời là kết quả tất yêu “không thé không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” (Hoài Thanh — Hoài Chân) về mặt xã hội dân đến sự thay đổi trong tư tưởng vả hình thức của văn học Cơn giỏ manh của lản sỏng Âu

hóa không chỉ khiến những tập quản sinh hoạt hằng ngảy chuyên biến mà nó còn len sâu

vảo trong đời sông tâm hồn của các nhà thơ dé ma “thay déi ca cdi nhip rung cam” Bộ mặt nông thôn Việt Nam bồng dưng thay đôi, con người ta vừa cảm thấy thích thú nhưng,

đồng thời lại xa la vả âu lo Nẻ tránh cuộc sống hiện thực, quay về với li tưởng thâm mĩ

chủ quan của bản thân lả xu hưởng chung của các nhả thơ lãng mạn lúc bây giờ Tuy

nhiên, vẫn có các nhả thơ nặng lòng với cuộc đời, luôn mang trong mình tâm sự yêu nước thảm kin, thiết tha, trân trọng vả giữ gìn giá trị tốt đẹp của văn hóa dân gian Nói như Hoài Thanh - Hoài Chân thì *?hơ eúa họ có tính cách Liệt Nam rõ rệt” Có thê kề đến

4

Ngày đăng: 05/05/2025, 22:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm