1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp ngành tâm lý học thực trạng chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não của một số cơ sớ y tế tại tp hcm

120 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não của một số cơ sở y tế tại tp hcm
Tác giả Mai Thị Hoài Thư
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Mai Trang
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Whitc, Wnlliamsvà Grccnbcrp năm 1996 đã được giới thiệu một mỗ hình sinh thái về chăm sóc bệnh nhân trong đó có quan tâm dến môi trường sinh hoạt của bệnh nhân như là cơ sở của việc chă

Trang 1

TRUONG DAI HOC SU PHAM TP HO CHÍ MIXH

KHOA TAM LY HOC

Mai Thị Hoài Thư

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TINH THÂN CHO BỆNH NHÂN SAU

TAI BIEN MACH MAU NAO CUA

MOT SO CO SO Y TẾ TẠI TPHCM

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC

Thành phổ Hỗ Chí Minh —2016

Trang 2

_ BỘ GIÁO ĐỤC VẢ ĐÀO TẠO _

TRƯỜNG DẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỖ CHÍ MINIT

Mai Thị Hoài Thư

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC

TINH THẢN CHO BỆNH NHÂN

SAU TAI BIEN MACH MAU NAO CUA MOT SO CO SO Y TE TAI TPHCM

Chuyén nganh: Tam ly hoc

Mã số: K38.611.109

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HUỲNH MAI TRANG

Thanh phé Hé Chi Minh - 2016

Trang 3

LOI CAM ON

"Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Tâm ly hoc đã tạo điểu kiện

chơ tôi thực hiên khóa luận nảy Chân thành cam om Tiến sĩ Huỳnh Mai ‘Trang

đã hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quả trinh thực hiện khóa luận

Xin chân thánh cảm ơn ban lãnh đạo Viện Y dược học Dân tộc, Phỏng

Đo tạo — Nghiễn cứu khoa học — Chỉ dạo tuyển, các anh chị bác sĩ, nhần viễn

y tế khoa Mội tìm mạch — thần kinh, các HN&NCS hệnh nhân tai biển mạch

mau no tai Viện Y Dược học Dân tộc TPIICM đã tạo điều kiện cho tôi thu số

liệu thành công

Xin chân thành bạn bẻ và tập thể lớp Tâm lý học 4B dặc biết lả các bạn

cùng làm khóa luận đã bên cạnh giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình thực hiện khỏa luận.

Trang 4

MỤC LỤC

1.11 Nude ngoai wl

1.2 Cosély luận - - - 18

1.2.1 Các khải niêm cơ bản của đề tải 13

1.22 Một số vấn đề lý luận có liên quan đến chăm sóc bệnh nhân TBMMN

19

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMIMM - 21 1.2.4 Một số phương pháp chăm sóc tỉnh thần cha bệnh nhân TBMfVN 27

Chương2 KẼI QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC

TINIL TIAN CLIO BENII NIIAN SAU TAI BIEN MACII MAU NAO 6 MOT SÔ CƠ SỞ Y TẾ TẠI THÀNH PHÔ HỖ CHÍ MINH - 32

2.12 Phương pháp nghiên cứu - 33 2.13 Công cụ nghiên cứu - 33

Trang 5

đi

2.2.1 Thực trạng nhận thức của các nhóm khảo sái - 38

2.2.2 Thực trạng đánh giá của các đối tượng về chăm sóc tỉnh thần cho bệnh

2.2.3 Thực trạng hoạt đông chăm sóc tỉnh thần cho bệnh nhân TRMMN 53

2.24 So sánh sự khác biệt theo các nhóm dỗi tượng khác nhau trong việc

23 — Dềxuẩtbiên pháp 61

Trang 6

DANITMỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết đây da

Viết tắt

Trang 7

Trang

Băng 2.2Cách đánh giá điểm thang đo 5 mức độ - 37 Bang 2.3 Cách đánh giá điểm thang đo 3 mức độ 37

Bảng 2.4 Nhận định của nhóm y tế về việc chăm sóc tính thần cho bệnh nhân

Bang 2.7 Nhan định của nhóm y tế về biểu hiện nâng cáo chất lượng cuộc

Bảng 2.8 Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện hỗ trợ nhu cầu tâm linh cho

Bảng 2.9 Nhận định của nhóm y té vé biéu hiện liên quan đến vật lý trị liệu

trong chăm sóc tỉnh thần cho bệnh nhân TBMMN - 44

Bang 2.10 Nhan dinh eta BN&NCS vé biểu hiện trao đổi với bệnh nhân

Trang 8

vi

Bang 2.13 Nhận định của BN&NCS về biểu hiện liên quan đến vật lý trị liệu

trong chăm sóc tình thần cho bệnh nhân ''RMIMIN - 4

Bảng 2.14 Sự khác biệt mức dộ nhận thức giữa nhóm y tế và BN&NCS 49

uật lý trị liệu cho bệnh nhân IBMIMN 51

Tiäng 2 18 Mức đồ hải lòng của nhóm y LỄ trong việc chăm sóc tỉnh thần cha

bênh nhân BMMIN 53 Bang 2.19 Đánh giá chỉ tiết sự hài lỏng nhóm khảo sát về những biểu hiện

Bang 2.20 Đánh giá mức độ cần thiết của các biểu hiện chấm sóc tỉnh thần

cho bệnh nhân 'ISM MB theo các nhóm khao sat 35

Bang 2.21 Đánh giá mức độ thường xuyên thực hiện việc chăm sóc tình thần

và vật lý trị liệu theo các nhóm khảo sát - - 37

Bắng 2.22 Sự khác biệt về mức độ hải lỏng theoBN®&NCS việc chăm sóc tỉnh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo thống kế của Tễ chức Y tế thể giới WHO tại Mỹ mỗi năm có

khoảng 795.000 người xảy ra đột quy, trong đó khoảng 610.000 la lần đầu

tiên Đột quy là một wong 20 nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu tại Mỹ

Đột quy do thiếu mãu não cục bộ là loại phố biến nhất, trong đó chiếm

khoảng 87%

Còn tại Việt Nam thi mỗi năm có hơn 200.000 người bị dội quy

(TBMMN)}, hon 50% trong số đó tử vong và 90% số người sống sót sau đột quy phải sống chung vửi các di chứng về thần kinh và vận động Nghiêm

trong hơn, độ tôi bị TBMIMMN đang dần trẻ hóa, từ 40 - 45 tuổi so với trước

đây là 50 - 60 tuôi

Nếu những năm 90, toản cầu có khoảng 25% số ca đột quy ở người 20 —

64 tuổi thi những năm gần đây, con số này đã tăng lên 31% Dáng lưu ý là những người ở độ tuổi 20, thậm chí trẻ hơn cũng đang có nguy cơ bị đột quy

Hiển con số thống kê cho nhóm dối tượng này khoáng 83.000 người/ năm

Một người sau TBMIMIN bị ảnh hưởng như thể nào phụ thuộc vào cơn

đột quy của họ xây ra ở đâu trên não và mức độ tổn thương của các tế bảo nãa

Vi du, một người bị 1 cơn đột quy nhỏ thì chỉ có thể chỉ bị yếu tạm thời của

một cánh tay hoặc chân Những người bị đột quy nặng thì có thể bị tê liệt vĩnh

viễn ở một bên cơ thé của hụ hoặc mắt khả năng nói Một số người hồi phục

hoàn toàn tử cơn đột quy, nhưng hon 2/3 số người sống sót sẽ có một số loại

khuyét ut

Qua nhiing théng ké trén thi ta cd thé thay, bénh đột quy hay còn gọi là

TBMIMK là một bệnh vô cùng nguy hiểm và để lại các di chứng nặng nẻ

ánh nặng của việc chăm sóc những người sau TBMMN đẻ nặng lồn vai

Trang 10

hung thực tế hiện nay trong các cơ sở điều trị phục hồi chức năng cho

bệnh nhân TBMIMN thi chỉ lập trung vào các phương pháp vật lý trị liệu như

xoa bóp, kéo năn, châm cứu mã ít quan tâm đến những biển đễn tâm lý của

bệnh nhân

Bệnh nhân sau TBÌMMIN thường phải chịu cả những mắt mát về vật chất

lẫn tính thần Bên cạnh tình trang yếu liệt, piãm cầm giác hay rỗi loạn về nhận

thức, bệnh nhân phải gánh tác động rất lớn về tâm lý Tâm lý con người có ý

nghĩa quyết định đến quả trình phát sinh bệnh, vá cá qué trinh phat triển, tiên

lượng, diéu tri va chăm sóc Để chấp nhận những tốn thương sau TRMIMN, bệnh nhân cần có hiểu biết và thời gian để thích nghi với nó Tác động của

người cán bộ y tế một cách vô tỉnh hay cố ý có thể làm thay đổi sự tiến triển

bênh và kết quả điều tri

Trên cơ sở đó, ta có thể thấy, quá trình chăm sóc tình thần cho bệnh nhân

là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả điều trị cho bệnh nhân Xuất

phát từ yếu tế trên, tôi lựa chon van dé: “The trạng chăm sóc tỉnh than bệnh nhân sau tại biển mach mau não của một sỐ cơ soy tế tại Thành Phả

Hỗ Chỉ Minh”

Trang 11

ix

2 Mục dích nghiên cứu

Xác định thực trạng chăm sóc tỉnh thần bệnh nhân sau TEMIMN ở một

số cơ sở y tế lại TP.HCM rút ra kết luận

'Từ đó để xuất một số biện pháp nhằm tăng cường việc chăm sóc tinh

thần cho bệnh nhân sau TBMIMIN

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu:

ảo sỹ, nhân viên y tế, người chăm sóc và bệnh nhân TBMMN tại một số cơ

sở y tế

ái tượng nghiên cửu:

Thực trạng chăm soc tinh thần bênh nhân sau tai biển mạch máu não

4 Giả thuyết nghiên cứu

Trong quá trình điều trị cho bệnh nhân sau TBMMN thì điều trị bằng các

phương pháp vật lý trị liệu được sử dụng nhiều hơn sơ với việc chăm sóc tỉnh

Khảo sát thực trạng chăm sóc tĩnh thần cho bệnh nhân sau TBMMN &

một số cơ sở y tế tại 'IP.HCM, trên cơ sở đỏ để xuất biện pháp tăng cường

hơn nữa việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau TBMMIN

6 Phương pháp nghiên cứu

él Phương pháp luận

-_ Quan điểm hệ thống — cấu trúc

- Quan diém thực tiễn

-_ Quan điểm lịch sử - logic

Trang 12

62 “Phương pháp nghiên cứa cụ thể

6.2.1 Phương pháp nghiên cửu lý luận

Phân tích vả tổng hợp lý thuyết về việc chăm sóc tỉnh thin cho người sau

TBMMN

Phân loại, hệ thông hỏa lý thuyết cần nghiên cứu

Tổng hợp, khai tháo ác công tình khoa học đã được nghiên cứu, thực

nghiệm đã được chứng minh

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thục tiễn

-_ Phương pháp diễu tra bằng bằng hỏi

Thu thập ý kiến về phương pháp chăm sóc tỉnh thần cho bệnh nhần sau

TBMMK của các bác sỹ, y tá, bệnh nhân, người nhà của bệnh nhân ở một số

cơ sở y tỂ

-_ Phương pháp thông kê toán hạc

Sử dụng phần mềm SP§S để xử lý các đữ liệu thu được từ việc thu thập

ý kiến bằng các phương pháp thông kế xác suất Từ dó dưa ra kết luận

-_ Phương pháp phông vấn

Phỏng vẫn một số nhân viên y Lê, bệnh nhân, người nhả về phương pháp

chăm sóc tinh thần bệnh nhân ở một số cơ sở y tế

Trang 13

Chuung1 CƠSỞ LÝ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn để

1.11 Nước ngoài

Việc chủ ý tới sự ảnh hưởng của các yêu tế tỉnh thần trong điều trị bệnh

cho các bệnh nhân đã được quan tâm từ lâu Bệnh nhân được chú ý chăm sóc

tỉnh thần đầu tiên là những bệnh nhân hắp hồi "hospice”

“TIospices” ban đầu là nơi yên nghỉ dành cho du khách trong thế kỷ thứ

4 Vào thế kỷ 19 một dòng tụ dã thánh lap “hospices” cho người sắp chết ở

Treland va London “Hospice” hién đại là một khái miệm tương đối mới được

bắt nguễn và phát triển trong Vương quốc Anh sau khi “8L Christophcr°s

hospice” được thành lập vào năm 1967 Nó được thành lập bởi l2ame Cicely 3aunders, bà được coi là người sáng lập của hoạt động “hospice” hiện đại

(44)

Mô hình truyền thông của chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ban đầu

chỉ là một mô hình thuần y tẾ, tập trung nghiên cứu tiền sử của bệnh, tim hiểu

cơ sở sinh lý của các triệu chứng, đưa ra các biên pháp để chữa khỏi bệnh,

tiến theo là đo lường kết quả Qua nhiều thập kỷ, mô hình này bộc lộ nhiều khuyết điểm

‘Theo tac gid Daniel P Sulmasy téng hop trong cuốn “Mô hình tâm sinh

lý — tâm linh cho chăm sóc bệnh nhân cuối div” (A Biopsychosocial-Spiritual

Model for the Care of Patients at the End of Life)

Năm 1970, Ramsey đã đưa ra một yếu tổ mới, ông che rằng: “Mỗi người

đều có một cái gọi là “tiễn sử tỉnh thần” (spiritual history), nỏ sẽ được mở ra

trong mật bồi cảnh tôn giáo rõ ràng Bất cứ khi nào cái “tiền sử tỉnh thần”

được khơi gợi, nó sẽ giúp định hình con người như là một cá thể hoàn thiện

Kh nào con người đó bị các căn bệnh tần công thì căn bệnh đó số ánh hướng

lên toàn bộ con người.

Trang 14

Qeorge Iingel (1977) đã đặt ra một tầm nhìn rộng lớn trong chăm sé

khỏe cho bệnh nhân bằng cách đưa ra mô hình tâm sinh lý của mình

(biopsychosocial model) Mô hình này đưa ra giả định răng sức khỏe và bệnh

tật đều là kết quã của Láo động lẫn nhau giữa oáo yếu tổ sinh học, tâm lý và

các tác nhân mồi trường, và cả 3 yếu tố đều quan trọng ảnh hưởng đến sức

khốc và bệnh tật Mô hình hướng tới cả sức khốc và bệnh tậL chứ không chỉ

tập trung vào bệnh tật như độ lệch từ một số trạng thái ấn dịnh Mô hình nảy,

nó đặt bệnh nhân thắng trong một mối quan hệ đó bao gỗm các yếu tổ tình

cảm và trạng thái lâm ly khác mả bệnh nhân dược xem như một con người, cũng như các mỗi quan hệ có ý nghĩa giữa bênh nhân và những người xung

quanh

Whitc, Wnlliamsvà Grccnbcrp năm 1996 đã được giới thiệu một mỗ hình

sinh thái về chăm sóc bệnh nhân trong đó có quan tâm dến môi trường sinh

hoạt của bệnh nhân như là cơ sở của việc chăm sóc ban đầu cho bệnh nhân

128]

Michael Balmt và những công sự đã mô tả một cách tiếp cân khác nhau

để xét bệnh nhân, đầu tiên với tư cách là một con người, trong mỗi quan hệ

với gia đình, công đồng và nơi lâm việc của họ Cách tiếp cận nảy được biết

đến như 14 một cách tiếp cận toản diện dễ dang kết hợp vào quan điểm hiện

đại về chăm sóc bệnh nhân làm trung lâm, và sáo bệnh nhãn như gác đổi tác

trong việc chăm sóc của họ Ngoài ra thì người mà trở nên không khỏe có

¡ thiện

những nhu cầu về xã hội vả tâm lý Đáp ứng những nhu cầu này sẽ

sức khóc của họ và giúp hồi phục Nhu cầu tâm lý vả xã hội của bệnh nhần

cũng cần phải được xem xét và giải quyết như là một phần của chăm sóc sức

khóc toàn diện |28| Việc chăm sóc tỉnh cho bệnh nhân còn được nghiễn cứu

ở các lĩnh vực tâm linh Sự kết hợp của tôn giáo và tâm linh vào chăm sóc

tâm lý là phù hợp với khuôn khỗ tâm sinh lý từ nhiều nhà tâm lý học hoạt

Trang 15

động Cáu quan điểm tâm sinh lý liên quan đến việc nhận ra các vẫn để của

bệnh nhân rất đa dạng, có những khía cạnh sinh học, tâm lý và xã hội (Bakal,

1999)

Cỏ gác nghiên cứu về tác động của tâm linh lên sửo khỏc tỉnh thần theo

bài viết “Vi ti ca tam link trong việc chăm sóc tinh thân cuối đời” (‘The

Place of Spirituality in Psychological End of Life Care) cd 2 táo giả Erin L

Moss và Kcith Dobson Các nhà nghiên cửu dã xác dịnh tôn giáo như lả một

biến quan trọng trong sức khỏe tinh thin (Koenig & Larson, 2001) Miột đánh

giá toàn diện của Koenig, MeCullough, & Larson (2001) chỉ ra rằng tôn giáo

có liên quan dến piãm tỷ lệ tự tử và thái dộ tiêu cực hơn đổi với hành vĩ tự tử

Bài viết cũng đề cập đến các mối quan hệ giữa tâm lĩnh và sức khỏe tâm

thần xuất hiện đặc biệt quan trọng trong trường hợp cẦn chăm sóc giảm

nhẹ Ví dụ, Brady, Peterman, Fitchett, Mo và Cella (1999) đã nghiên cứu chất

lượng cuộc sống ở các cả nhân mắc bệnh ung thư hoặc IITV đã được chẩn

đoán là tính mạng bị de dọa và thấy rằng có sự tỉ lệ thuận giữa mức độ của

tâm linh vả khả năng chu đựng đau đớn và mệt kghiên cứu nảy cũng chỉ ra

mỗi liên hệ ý nghĩa và tích cực giữa chất lượng cuộc sống và đời sống tỉnh thần Tương tự như vậy, Yates, Chalmer, St lames, Follanshee, va McKegney

(1981) nhận thấy rằng những bệnh nhân ung thư, bệnh nan y người mà có

xiềm tin vào Đẳng tối cao, sự hiện điện của thế giới bên kia, sức mạnh của sự

cầu nguyện có mức đau thấp hơn so với những bệnh nhân không có tín

ngưỡng lâm linh mặc dù cả hai nhóm có mức độ đau tương Lự

Cũng trong bài viết “Hị trí của tâm linh trong việc chăm sóc tình thần

cuối đòi” Tâm lĩnh và tôn giáo cũng đã được tìm thây có liên quan với sự lo

lắng va dau khổ ở mức dộ thấp McClain, Roscnltld, và Brcitbart (2003) nhận

thấy rằng dời sống tình thần hạnh phúc được có tương quan nghịch với những,

nỗi lo lắng cuối đời như tuyệt vọng, mong muốn cái chết và ý tưởng tự sắt,

Trang 16

Một nghiên gứu khác (Dervic và các cộng sự, 2004) đã chứng mình rằng

những cá nhân có liên quan với tôn giáo có những nỗ lực đáng kế hơn trong

việc giảm ý muốn tự tử và nhận thức được nhiều lý do để sống hơn so với các

cá nhân không oó liên quan tới tôn giáo Khi bệnh nhân ứ gần cudi cua cude

đời, một sô có thể trở nên chán nản hay mất tinh thân, bộc lệ một mong muốn

có một cái chết sớm, đo đó có thể có nguy cơ cao xây ra tự sát Các bác sĩ

phải nhận thức dược thực tẾ rằng các triệu chứng tâm lý và những nỗi lo tỉnh

thần thường là nguyên nhân dẫn đến suy nghĩ của một cải chết sớm ngay cả

khi căn bệnh dã được diều trị hồi phục (Brcitbart và các cộng sự, 2000) Gail, Charbonneau, Grant, Joseph, và Shouldice (2005) xem xét các tài liệu về mối quan hệ giữa nhận thức về Chúa, cách đổi pho va giải quyết vấn đề, định

hưởng tôn giáo, và các kết quá liên quan sức khốc khác nhau Họ báo cáo

rằng nếu nhìn nhận về (*húa như là tình yêu thương thỉ có liên quan đến việc

giải thích lại căn bệnh một cách tích cực, còn trong khi xem Thiên Chủa như

là trừng phạt thì có liên quan dén việc tăng cảm giác dau khổ khi đối mặt với

một căn bệnh [30]

Theo Học viện Bac si gia dinh My (American Academy of Family

Physicians) dinh gid tinh than như bước đầu tiên để thực hiện việc kết hợp

xem xét về tỉnh thần của bệnh nhân vào y học Các câu hồi IIOPE cũng cấp

một công cụ chính thức cỏ thể số được sử dựng trong quá trình này, Các khái

niệm HOPE bao gồm:

O-vai trò của các tô chức tôn giáo đối với bệnh nhân

P- vẫn dễ tâm linh cá nhân

kK anh hưởng của việc chăm sóc y khoa và quyết định cuối đới

[32]

Trang 17

uw

Một nghiên cứu thẩm đà dược thức hiện bởi một nhóm các nhà khua học

‘Timothy P Daaleman, Barbara M Usher, Sharon W Williams, Jim Rawlings

va Laura C Hansơn của trường đại học Bắc Carolina, My (UNC) di nghién

cứu định tỉnh bằng cách sứ dụng các cuộc phỏng vấn và phân tích chỉnh sửa

với 12 bác sĩ và nhóm y tế khác, người mà được để cử làm người chăm sóc

tỉnh thẫn bởi bệnh nhân sắp chết và người nhà của họ cho ra kết quả chăm sóc tỉnh thần cho những bệnh nhân cuối đời có 3 quá trình: trao dễi, chia sẽ (bcing

present), mé réng, thấu hiểu (opening eyes), tương tác (cocreating) Những

ệnh nhãn là

cuộc tiếp xúc, trao dỗi, chia sẽ giữa người chăm sóc tỉnh thần và

vấn đề nỗi bật, trong đó có góp mặt về sự gần pũi vẻ thể chất là yêu tố quan

trọng có ảnh hưởng đến sự giao tiếp của người chăm sóc và bệnh nhân, giúp

cho người chăm sóc có thể chủ ý tới họ một cách toản điện hơn “penning eyes” là quá trình mà người chăm sóc nhận ra và thầu hiểu những trải nghiêm

cá nhân của bệnh nhân bằng cách hiểu những quan điểm của bệnh nhân về bệnh của họ, kết hợp với quan điểm của gia đình và bạn bẻ của bệnh nhân

Cuối cùng là quá trình tương tác giữa các bênh nhân, người nhà vả người

chăm sóc để lạo ra một kế hoạch hoàn thiện giúp bệnh nhân chuẩn bị tâm lý

sẵn sàng đối mặt trước cái chết [41]

Một nghiên cứu khác được đăng trên tạp chỉ JCO (Journal of Clinical

Onoology) số 28 ra ngày 20/1/2010, nghiên cứu đượo thực hiện trên 343 bệnh

nhân sấp chết đã thu được kết quả: bệnh nhân được hỗ trợ phần lớn hoặc hoàn

toàn các nhu sầu về tính thần thì đánh giá chất lượng guộc sống cuối đời tốt

hơn so với những người không dược hỗ trợ [42]

Theo một bài viết “Chăm sóc tỉnh thần được cung cấp bởi các y tá Thải

trong các đơn vị chăm sóc dặc biệt” (Spirtual caro pravidcd by Thai narscs in intensive care units) duoc dang trén tao chi JCN (Jøumal of Clinical Nursing}

số 18, phát hành 4/2010 đã cho ra kết quả: năm vấn để có liên quan đến việc

Trang 18

chăm sóc tỉnh thần: hỗ trợ tỉnh thần, tạo điều kiện cho các nghỉ lễ tôn giáo và

tin ngưỡng văn hóa, giao tiếp với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, đánh giá

các nhu cầu tỉnh thần của bệnh nhân và cho thay sự tôn trọng và tạo điều kiện

cho sự tham gia của gia đình trung việc chăm sóo |38]

Ngoài ra, một bải ding trên tạp chí European Journal of Medical

Roscarch số ra ngày 28/6/2010 với tiêu dé “Nhu cau tinh thần của những

bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và ung thư — đánh giá bằng hối các câu hồi về

nhụ cầu tình thân" (Spiritual needs of patients with chronic pain diseases and

cancer - validation of the spiritual nccds questionnaire) d& phan tich nhan 14

của 19 công cụ tập trung vào 4 yếu tổ: nhu cẫu tôn giáo, nhu cầu thanh thần,

nhu cầu hiện sinh (ảnh hưởng/ ý nghĩa) và sự cho đi tích cực Trong mẫu

chính của bệnh nhân bị đau mẫn tỉnh vả ung thư, nhu cầu thanh than co số điểm cao nhất, tiếp theo là tự quyết định; nhu cầu hiện sinh cỏ điểm số thắp,

trong khi nhụ cầu tôn giáo chỉ ra điểm số không quan tâm Bệnh nhân ung thư

có diễm số cao hơn dáng kế so với bệnh nhân với bệnh dau mãn tỉnh ó một

sự liên kết yếu giữa sự cho đi tích cực và hải lỏng cuộc sống và tỉ lệ nghịch

với các triệu chứng Nhu cầu cho thanh thần có mối quan hệ không rõ rằng

với sự hài lòng về hiệu quả điều trị Phân tích hồi quy cho thấy các bénh tiém

ẩn có liên quan vượt trội tới các nhu cầu tỉnh thần của bệnh nhân [27]

Đặc biệt đối với bệnh nhân bị TBRMIMN thì uũng đã có các nghiên cứu

về sự thay đổi của tâm lý, các vấn để của sức khỏe tính thần sau khi bị TMMN

Học viên Joanna Briggs dã nghiên cứu các kinh nghiệm tâm lý xã hội,

tỉnh thân của các đối tượng là là người giả, chủ yêu ở độ tuổi từ 65 có ít nhất

1 lần bị đột quy cho thấy rằng giai doạn dầu sau một cơn dột quy là một kinh

nghiệm mơ hŠ vá đáng so, nd lam thay dỗi cuộc sống dối với hau hết các cá

nhân Các giai đoạn phục hỏi liên quan đảng kế đến các yếu tô tâm lý, vật lý

Trang 19

để xây dựng lại cuộc sống của họ Kết nổi với những người khác và tỉnh thần rất quan trọng trong quá trình phục hồi [26]

Theo bài viết của “7rẩm cảm và các đầu hiệu khác liên quan đến sức

khỏe lâm thần lăng ngay cơ tử vong sau đội qguợ thiếu máu cục bổ”

(Depression and Other Mental Health Diagnoses increase Mortality Risk

Afler Isuhomie Stroke}eda cdc Lac gid Linda S Williams, Sushmila Shoma

Ghose, Ralph W Swindle được in trên tạp chí Tâm thần học Mỹ (The

American Journal of Psychiatry) thang 6, 2004 d3 dua ra trong s6 51.119

bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quy thiểu máu cục bộ và sống sót vượt quả 30 ngày sau đó, trong đó có 2.405 (4,7) nhận dược chân doán là trầm

cảm (CD-9) và 2257 (4,4%) được chuẩn đoán là có rối loạn thần hoặc lạm

dựng khác trong vỏng 3 năm 8o với những người không có chuẩn doán bệnh

thỉ những người có chuẩn đoán trầm cảm hoặc các rỗi loạn tâm thần khác trê

hơn và khả năng cỏn sống thấp hơn vào cuối thời gian theo dõi [35]

‘Trong bai danh gia cia Kran Chemerinski va Robert Œ Robinson phát

biểu ring rối loạn trầm cảm và rỗi loạn lo âu đã được chứng minh là ức chế

phục hồi thể chất sau đột quy Dường như rối loạn lâm thần khác cũng ức chế

phuc hai va giới hạn chất lượng của cuộc sống Có rất ít các thử nghiệm kiểm

soát kiếm tra tính hiệu quả của phương pháp điều trị cho các rối loạn sau khi

bị đột quy |29]

Một nghiên cửu khác của trường dai hoc Helsinki cua Phần Lan đưa ra

Với nghiên cứu nảy, nếu bệnh nhân tai biến mạch máu não thường xuyên

nghe nhạc khoảng vải giờ trong ngày sẽ phục hồi nhanh chóng Kết quả nay

được nghiên cứu dựa trên thực nghiệm của âm nhạc đối với gần 60 bệnh nhân

bị đột quy Qua đỏ, các nhà khoa học đã chứng mình cho bệnh nhân bị dột

quy thấy rằng, 4m nhạc gó một tác động rất tích cực dến khu vực não kiểm

soát trạng thái tỉnh cảm, cảm xúc và ghỉ nhở ở bệnh nhân Nó giúp đây nhanh

Trang 20

quá trình phục hồi tổn thương ở những khu vực này Từ đó, đấy nhanh sự phục hồi kéo theo ở những khu vực bị tổn thương khác trong não củng với những tế bảo thần kinh bị mất chức năng do đột quy Nhóm bệnh nhân bị đột

quy này, sau 3 tháng được chọn lựa vả nghe nhạc thường xuyên đã cho thấy,

các chức năng não kiểm soát cử động, quá trình nhận thức, khả năng tập

trung ở nhóm những người nghe nhạc đã được cải thiên tới 60% Ở nhóm

điều trị bằng phương phán thông thường chỉ cải thiện khoảng 29% Với biện

pháp kết hợp với biện pháp điều trị đột quy đã cho kết quá phục hồi rất đáng

kể so với những người không được hỗ trợ điều trị bằng âm nhạc Ngoài ra, ở nhóm nghe nhạc, khả năng kiểm soát và piải quyết xưng dột của não bộ dược

cải thiện khoảng 1 7%, trong khi những nhỏm khác gần như không cỏ sự thay

dai [33]

1.12 Trang nước

Các công trình trong nước nghiên cứu về sức khỏe tỉnh thần có thể kế đến tác

giả Phạm Minh Hạc Ông dã dưa ra một số lý luận cơ bản về sức khỏe tinh

thần một cách khái quát trong bài đăng trên lap chí Lâm lý học số 1, 2008

Theo giáo sư — viện sĩ Phạm Minh ITạc, nên phân tích cặp phạm trủ “Thể chất

— Tình thần” để hiểu sâu sắc hơn về sức khỏe tỉnh thần, theo ông: “phải xem

xét con người ở mức độ nào côn người — cá thể, con người - cá nhân, con

người — nhân cách ° |4]

Nhóm nghiên cứu tâm lý học lâm sing do PGS.1S Ding Hoang Minh

làm trưởng nhỏm đã công bổ các công trình nghiên cửu oủa nhỏm mình có

liên quan đến thực trạng chăm sóc tỉnh thần tại Việt Nam hiện nay như

Nghiên cứu “Sức khỏe tĩnh thân của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu

1d nguy co” hop tac cimg PGS.TS Bahr Weiss - Truémg BH Vanderbilt va 'Th8 Nguyễn Cao Minh - Phòng ‘Tam ly hoe lam sang, Viện Tâm lý học dược thực hiện ở 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh đại diện của Việt Nam, bao gồm 1314

Trang 21

cha mẹ của trẻ từ 6-16 tuổi và 591 vị thành niên từ 12-16 tuổi đã đưa ra kết

quả ngiền cứu gợi ý rằng có từ 12-13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuôi 6-16)

gặp phải những vấn để SKTT một các rô rệt

Bài viết “Giáo đục và đào lạo súc khỏe tình thân ở iệt Nam” (Monial Hoalh

Education and ‘lraiming in Vietnam) duge im trong quyén sich “Gido duc site

khée trong bối cảnh: Một triển vọng quốc lễ của sự phát triển giáo dục sức

khỏe trong trường học và cộng dẳng dia phucng” (Health Education in

Context: An International Perspective of the Development of Health

Education in Schools and Local Communities) xudt bản bởi nhả xuất bản

Sense nim 2012

Bai viét “M6 hinh phat irién bén vững cơ sử hạ tầng của sức khỏe tỉnh thân

trễ em trong các nước thu nhập thấp: Việt Nam là một trường hợp điễn hình”

(A Model for Sustainable Development of Child Mental Health Infrastructure

in the LMIC World: Vietnam as a Case Example) do TS Bang Iloàng Minh

cùng Weiss B, Vietoria K.N và các công sự thực hiện được in trong tap chi

International Perspective in Psychology: Research, Practice, Consultation sé

1, 2012

'Thích ứng bộ công cụ ASHBA đánh giá các vẫn để sức khỏe tỉnh thần cho trẻ

tuổi học đường

Trién khai chương trình chăm sóc sức khòe Lâm thần dựa vào trường học ở

trường tiểu học Doản 'Ihị Diểm, Hà Nội và 'Irưng Nữ Vương, Dà Nẵng

Điều tra dịch tễ học các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam trên toàn

quốc

Các công trình nghiên cứu trên của nhóm nảy chủ yếu liên quan đến việc

chăm sóc tinh thần cho học sinh [47]

‘Theo bài báo cáo khoa học “Chăm sóc tỉnh thần — Van dễ mang tầm thé

kỳ" của tác giả Lê Tiồng Thái IHọc viện Hải quân được in trong tài liệu của

Trang 22

10

hội thảo quốc gia “Chăm sóc sức khỏe tình thẩm (do Hội Khoa Ic Tam Ly-

Giáo lục Việt Nam tổ chức tại Hà Tây ngày 12-1-2008) có 3 cách để giữ

được sức khỏe tỉnh thần tốt là: phát triển khả năng thích ứng của con người;

phổ biển rộng rãi trí thức về vệ sinh lao động trí 6c; giáo dục, bỗi dưỡng, phát

triển tâm năng [16]

Cũng trong hội thảo quốc gia trên, còn có các bài báo cáo khoa học liên

quan đến sức khóc tỉnh thần như

Bài viết “Sức khỏe tĩnh thân tốt - Đòi hôi tết yếu của mỗi người và

toàn xỡ hội” của G8.TS Nguyễn Ngọc Phúc đã nêu ra các luận thuyết y học

liên quan dến sức khoẻ thể chất và tỉnh thần của con người, nội dung của sức

khỏe tinh thần vả phương thức chăm sóc sức khỏe tinh thần có hiệu quả [12]

Bài báo cáo của 2 tac gid ThS Trin Thanh Nam và Thổ Nguyễn Ngọc

Điệp khoa 'Iâầm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đưa

Ta các các nguyên tắc làm việc với trễ có vấn đề về sức khỏe tỉnh thần 18]

Cũng trong hội thao, hai tác giả trên cũng đưa ra mô hình can thiệp sức khóe

tỉnh thần học đường đang được bước đầu thử nghiệm tại trường THPI' Dinh

Tiên Hoàng, Hà Nội

Nghiên cửu của tác giả Hoàng ('ấm Tú và công sự trên hơn 1500 trẻ tại

hai phường Kim Liên và Trung Tự (2000) cho thấy có tới 1,9% - 3% các em

gó biểu hiện lo âu, trằm oắm

"Trong để tải nghiên cứu “Xây dựng mô hình châm sóc sức khỏe tinh than

che hoe sink irung hoc pho thong Dong Nai” do Dác sĩ Nguyễn Văn Thọ và

cộng sự fhực hiện (1998- 2000) đã dưa ra mồ hình mạng lưới chắm sóc sức

khỏe tỉnh thần tâm thần học đường Mô hình bao gồm sự phối hợp giải

quyết vấn dễ từ 3 bên tham gia: trung tâm tham vẫn, nhà trường, gia dinh-xã

hồi Chức năng nhiệm vụ của từng bên trong mạng lưới được quy dịnh cụ thể

Trang 23

11

xố rằng, giúp cho việc vận hành mạng lưới được đạt được nhiều kết quả

quan trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý của học sinh [1#]

Trong bài việt đăng trên tạp chí Tâm lý học, số 6/2009 “Mét sd nguyên

nhân gây ra rồi loạn lo âu ở học sinh THPT chiên Quảng Binh”, táo giả

Nguyễn 1hị Hằng Phương đã nghiên cứu đổi tượng học sinh chuyên Quảng

Bình và chỉ ra rằng có khoảng 21,66% học sinh có vẫn để về rối loạn lo âu

[13]

goải các công trinh nghiên cứu về sức khỏe tỉnh thần cho trẻ em thì còn

có các dự án chăm sóc sức khốc tâm thần cho trẻ cm như

LDự án "Chăm sóc sức khoẻ tâm thân học sinh trường học thành phế Hả

Nội” được quản lý bởi Sở Y 'Tế IIả Nội Dự dn được thực hiện nhằm mục tiêu

khảo sát: đánh giá thực trạng các vẫn để sức khỏe tâm than hoc sinh Tiểu học

trên một mẫn nghiên cửu tại Hà Nội, xây dựng mạng luới can thiệp sớm,

tuyên truyền giáo dục, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ tâm thần trễ em tuổi học

đường tại các tuyến y tế cơ sở và tại Hệnh viện Mai Hương [48]

Ngoài ra, viêc chăm sóc tình thần người lao đông đã được các công ty

chú ý đến trong nhiều năm qua Các cong ly ứng dụng lâm lý như Ý tưởng

Việt Hồn Việt, WHIuimk, Sư tử trẻ, Lnity tại Thành phố Hồ Chí Minh đã

đưa ra hàng loạt các dịch vụ chăm sóc tình than người lao động, nhằm phục

vự cho ác công ty, tập đoàn Các dịch vụ này bao gầm các khóa học chăm

sóc tỉnh thần cho người lao động, các buôi báo cáo chuyên đề, du lich tâm lý,

báo hiểm tình thần, quả Lặng tỉnh thần, chăm sóc tỉnh thần trọn vẹn và nhận được nhiều ung hộ tích cực tử các công ty, tập doàn

Kgoai ra, các công ty, tập đoàn còn có các hoạt động chăm sóc tỉnh thần

cho người lao động khác như:

Tập doàn Vinamilk dã dưa ra chính sách phát triển bền vững cho tập

đoàn của mình bao gồm nhiều hạng mục, trong đó trong hạng mục người lao

Trang 24

động, tập đoàn đã đưa ra nhiều cam kết và hành động thiết thực chăm lo cho

đời sống người lao động như:

- Chăm sóc sức khỏe người lao động: thực hiện khám sức khỏe định kỉ l

lần/năm cho nhân viên nam và 2 lầnánằm cho nhân viên nữ, bảo hiểm sức

khỏe toàn điện; đối với trường hợp tử vong hoặc thương tật do tai nạn: mức

bao hiểm bồi thường lên đến tối đa 30 tháng lương gần nhát; đặc biệt tập đoàn cỏn cung cấp gói báo hiểm sức khóc cho người thân của các cẤp quản lý

- Dam bao quyén và lợi ích của người lao động: xây dựng và duy trì cơ

chế tiếp nhận thông tin và giải quyết phần ánh, khiếu nại của người lao động

trực tiếp quan các cơ quan quản lý hoặc thông qua kênh nóng nhân thông tin

trực tiếp; công đoàn, đoàn thanh niên tại từng cơ sở tổ chức các hoạt động

nhằm mang lại chơ người lao động các cơ hội vui chơi hoạt động ngoài giờ

làm việc

- Ghi nhận và bủ đấp thỏa đáng với những giá trị lao động của nhân viên:

thang lương của Vinamilk dang xây dựng theo hệ thông Mierce Năm 2013, tỷ

lệ tăng lương binh quân là 22.7%, vượt trội so với tý lệ các năm trước (2012:

18.5%; 2011: 10%)

- Dao tao va phat triển nhân viên: năm 2013 Vinamilk đã chỉ ra hơn 6,5

tỷ đồng để thực hiện các khóa đảo tạo, phát triển kỹ năng của nhân viên [49]

Ngày 5/4/2015, tại TP-HCM đã diễn ra Hội thâo khoa học với chủ để

"Mâu thuẫn trong doanh nghiệp và vấn đề chăm sóc tính thần cho người lao

động", Đây là hoại động do Tội khoa học - Tâm lý giáo dục và Liên đoản Lao

động thánh phổ tổ chức nhằm tổng hợp những mẫu thuẫn dang diễn ra trong

các doanh nghiệp và để xuất những giải pháp phủ hợp hữu ích nhất, góp phần

chăm sóc tốt hơn đời sống tỉnh thần cho người lao động Trong buổi hội thio, các bền dã di sâu phân tích và dưa ra kết luận nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn

trong đoanh nghiệp chủ yếu là ảo: nhu cầu chăm sóc tinh thần chưa được đáp

Trang 25

ứng; vai trả thực tế của công đoản và những khó khăn trong vi

đời sống tinh thin cho người lao động; các vẫn để về tiền công, tiền lương,

điều kiện ăn, ở, làm việc của người lao động [S0]

Thông qua những nghiên cứu, bài viết, thực tổ nêu trên ta có thể thấy,

việc chăm sóc tĩnh thần ở Việt Nam còn rất hạn chế Dặc biệt là chăm sóc tinh

thần cho bệnh nhân, việc chăm sóc tỉnh thần chỉ tập trung vào oác bệnh nhân sắp chết mả chưa thực sự quan tâm dến những bệnh nhân khác, và chủ yếu sử

dụng thuốc trong quá trình chăm sóc; đội ngũ nhân viên chuyên đảm nhận

việc chăm sóc tỉnh thần chu bệnh nhân chưa dược đảo tạo một cách chuyên

nghiệp Đặc biệt đối với bệnh nhân THMIMN thì việc chăm sóc tỉnh thần sau

khi đột quy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hồi phục, trở lại với

cuộc sống nhưng thực tế thì chưa được quan tâm ding mire

12 Cơsởlý luận

1.21 Các khải niệm cơ bản của dễ tài

1211 Chấm sóc

Khái niệm chăm sóc thường pắn liền với một đổi tượng nảo đó, ví dụ

như: chăm sóc trẻ em, chăm sóc khách hàng, chăm sóc da, chăm sóc cây tring chính vì vậy khai niệm chăm sóc cũng có thể được hiểu theo nhiều

các khác nhan, tùy thuộc vào đối tượng được chăm sóc Ví dụ như: chăm sóc

trẻ em cũng có có thể hiểu theo nghĩa như lả nuôi nẵng, giáo dục, bảo trợ,

chăm súc khách hảng: cũng hiểu như lảm vừa lòng khách hàng, chăm sóc da

có thế hiểu như giúp da đẹp hơn, khỏe manh hơn; chăm sóc cây trồng là giúp

ody trồng không bị chết, đạt năng suất

Chính vì như vậy, chắm sóc có nhiều cách hiểu khác nhau, tủy thuộc vào đối tượng chăm sóc Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam: “chăm sóc” là chú ý trồng goi cần thận |7|

Trang 26

‘Theo từ điển liễng Việt khải niệm “tinh thin” là tổng thể nói chung

những ý nghĩ, tình cảm, v.v., những hoại động thuộc về đời sống nội Lâm gủa con người; những thái độ, ý nghĩ dịnh hướng cho hoạt động, quyết dịnh hành

động cho con người; sự quan tâm thường xuyên trên cơ sở những nhận thức

nhất định, ý thức; cải sâu sắc nhất, cốt yêu nhất của một nội dưng nảo dó |17|

Theo Héghen tính thần là sự thống nhất piữa ý thức và tự ý thức, là quá

trình nó tự vận động, tự biểu hiện, tự nhận thức mình và đó chính là Ý niệm

đã trở lại với chính mình |ó]

"Theo tác giả Ken Wilber thi tinh thin là mức độ cao nhất và độc nhất vô

nhị của tất cả các cấp độ tên tại trong các mức độ của sự tổn tại (The great

nast qƒ being) [34]

'Theo từ điễn Thuật ngữ tâm lý học “tỉnh thần”: một mặt của xã hội thể

hiện ra ở các giá trị đạo đức, các truyền thống được kết tình trong các hình

ảnh nghệ thuật Tĩnh thần được phản ảnh trong ý thức cá nhân trở thành lương,

tâm Quá trình phát triển tỉnh thần được thực hiện thông qua truyền thống,

giáo dục tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, khai hóa Chủ nghĩa

Lénin xem tinh thần gắn bó chật chẽ với hệ tư tưởng Việt xã hội mà không cớ

hệ tư tưởng sẽ điễn ra khủng hodng về tinh thần, cụ thể là khủng hoẳng niềm

tin, mắt phương hưởng trong suy nghĩ |2]

Vay tinh thần được hiéu trong để tai nay 14 giá trị đạo đức, các vấn đề

tâm linh, niềm tin, mối quan hệ xã hội của con người

Trang 27

a

1213 Chăm súc tính thần

Việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân dựa trên cơ sở lý luận đã đưa ra

phía trên có thể được tiền hành theo các hướng sau:

Dựa theo mô hình lâm sinh ly (Biopsychosocial Model) của Œ Engel

(1977) Mô hình đặt bệnh nhân thẳng trong một mỗi quan hệ đó bao gom các

yếu tổ tình cắm và trang thải tâm lý khác mà bệnh nhân được xem như một

con người, cũng như các mốt quan hệ có ý nghĩa giữa bệnh nhân và những

người xung quanh Dau tiên bác sĩ phải tìm hiểu “như thế nào” và “cái gì”

hoặc là bệnh nhân cảm thấy và đã trải qua những gì sau đó dặt giả thuyết cho

những trạng thái đó (tại sao và cho cái gì), thứ hai: tham gia cùng bệnh nhân

trong các hoạt động thực tiễn hoặc nghiên cửu trong phòng thi nghiệm để

chứng mình giá thuyết Thứ ba lả phải khơi gợi sự hợp tác của bệnh nhân

trong các hoạt động để giảm nhẹ cẵng thing hoặc (vả) sữa chữa các nguyên

nhân dẫn đến căng thing hoặc bất lực [31]

Dựa theo danh giá van dễ tâm linh/ tôn giáo: các nhà tâm lý cần dánh piá

chính xác các hoạt động tâm linh /tôn giáo của cá nhân vả phân biệt các hoạt

xiềm tỉn/hành vị có liên quan đến vấn để hiện lại của cá nhân Đánh giá khách

quan liên quan dến việc không quy kết niềm tin tâm linh như lả bệnh lý Hơn thế nữa, kiến thức về hệ thông niềm tin của bệnh nhân có thể giúp cho các

chuyên viên y tế có thể một uách tình tế và thích hợp để đáp ứng những nhu

cầu của bệnh nhân hoặc quá trình của cải chết Bánh giả tâm linh/tộn giáo bao

gầm cdc mặt sau

Tôn giáo: xem xét thể giới quan tâm linh/tồn piảo, niềm tin, thực hành vả cam

kết, phân biệt được định hướng tâm linh/tôn giáo bên trong hoặc bên ngoải

Đặc trưng tâm linh: xem xét cảm giác cá nhân ở giả trị và tiềm năng của Đắng

tôi cao.

Trang 28

16

16 trự và cách đối phó từ tâm linh/tôn giáo: xác đình giá trị bên trong, của

bệnh nhân, cho đủ là niềm tin tỉnh thân/tôn giáo, thái độ, thực hành ảnh

thưởng đến phản ứng và đối phó với cải chết Dánh giả xem các cá nhần sử

dựng sầu nguyện, chiêm niệm/thiền, đọo kinh, hoặu là tham gix với công đồng

tâm linh/tôn giáo Xác định cá nhân được hỗ trợ nhận thức tù: cộng đồng tâm

linh/lôn giáo hoặc các Đẳng siêu việu khác

Tiểu giải quyết các vẫn dé tâm linh: xem xét phong cách giải quyết vấn dé

tâm lĩnh của bệnh nhân đối với Dắng siêu Việt khác (ví dụ: tự giải quyết, phụ thuộc hoặc hợp tác)

Hạnh phúc tỉnh thẦn: dánh giá khía cạnh hạnh phúc tỉnh thần như là một mặt

của chất lượng cuộc sống

Thu cầu tâm linh: xem xét bệnh nhân nhu câu tâm linh về: hoàn cảnh (tim

kiểm mục đích/hi vọng/ý nghĩa}: cá nhân (hỏa giải trong các mỗi quan hệ, cầu

nguyện, phân tích đạo đức và xã hội, sự tha thứ và chấm đứt), tôn giáo (hỏa

giải, tha thứ và ủng hô của Thiên Chúa, nghỉ lễ tôn giáo / rửa tội, chuyển

thăm của các giáo sĩ, văn hoc tồn giáo, và thảo luận về hiên Chúa, sự sống

vĩnh cữu va hy vọng)

Đánh giá tâm linh: xác nhận mức độ tác đông của tâm linh tới nguyên nhân

gây bệnh cho bệnh nhân

[28]

‘Theo 3 qua trinh: trao đổi, chia sé (being present), mé réng, thấu hiểu

(opening eyes); Lương lắc (coureating) Theo 3 qua trình nảy, trước tiên, người

chăm sóc và bệnh nhân cẦn ỏ những cuộc tiếp xúc, trao dỗi, chia sẻ, trong

đó cần những tương tác về mặt thể chất, giúp cho người chăm sóc có thế chủ

ý tới bệnh nhân một cách toản điện hơn Sau dé la qua uinh “Openning eves”,

người chăm sỏe cần nhận ra và thâu hiểu những trải nghiệm cá nhân của bệnh

nhân bằng cách hiểu những quan điểm của bệnh nhân về bệnh của họ, kết hợp

Trang 29

17

với quan điểm của gia đình và bạn bẻ của bệnh nhân Cuối cùng sự hợp tác

của bệnh nhân, người nhả và người chăm sóc để tạo ra một kế hoạch hoàn

thiện giúp bệnh nhân chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đối mặt trước cải chết [41]

Còn theo các định nghĩa của các tổ chức khác thì

‘Theo 1ễ chức Y tế thế giới WHO: Nâng cao sức khỏe tinh thần liên quan

đến hành động để tạo điều kiện môi trường sống va hỗ trợ sức khốc tinh thin

cho phép cả nhân tiếp nhận vả duy trì lối sống lành mạnh và làm việc hiệu

quả Chứng bao gồm một loạt các hành động để tăng cơ hội của nhiều người

trái qua sức khóc tình thần tốt hơn

Còn theo định nghĩa đưa ra bởi Sở Y tế Quốc dân Scotland (National

Tlealth Service Education for Scotland, 2009) chăm sóc tỉnh thần đỏ là sự

chăm sóc trong dó nhận ra và dap ứng các nhu cầu của tình thần cơn người

khi phải đối mặt với chấn thương, bệnh tật hoặc nỗi buôn và có thé bao aim

nhu cầu có Ý nghĩa, tự trị, thể hiện bản thân, hỗ trợ niềm tin, có lẽ trong các

dip lễ cầu nguyện hay rửa tội, hay chỉ dơn giản là một người biết lắng nghe

nhay cảm Chăm sóc tĩnh thần bắt đầu bằng việc khuyến khích sự tiếp xúc của

con người trong môi quan hệ từ bị, và dị chuyển theo bất cử hướng nh cầu

đời hỏi (NH Giáo dục cho Scotland, 2009) [26]

Ngoài ra thi trong bài báo “Chăm sóc Hnh thân trong điều dưỡng sức

khée tink thdn” (The concept of spiritual care in mental health nursing) ding

trên Tạp chí Diều dưỡng nâng cao (Jcurmal of Advanced Nursing) Số Ta tháng

3/2001 thì chăm sóc tỉnh thân có liên quan đến việc ghi nhận hiểu rõ của một

người về ý nghĩa và mục dịch của cuộc sống mà có thể hoặc không thể thé

hiện thông qua tín ngưỡng và kinh nghiệm Khái niệm về chăm sóc tỉnh thân

cũng được kết hợp với chất lượng chăm sóc cá nhân trong gid trị của sự biểu

hiện tình yêu và lòng từ bị đối với bệnh nhân [37]

Trang 30

18

Theo đó, chăm sóc tỉnh thần trong để tải này được hiểu như là hỗ trợ, tạo

điều kiện, đáp ứng các nhu cầu về tỉnh thân như nhu cầu xác định ý nghĩa của

sự tốn tại, niễm tin hiện thực, cải thiện các mối quan hệ xã hội, nhu câu đối

mặt và giải quyết các khỏ khăn trong cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc

sống cho con người

Thêm vào đó, vì đối tượng để chăm sóc tinh thin trong đề tài này lả những bệnh nhân bị TBMMN nên việc chăm sóc tỉnh thần cho những dối

tượng nảy trước tiên tập trung vào giải quyết những triệu chứng tâm lý xả

sau khi bị TPMIMN Tho bài viết “Chăm sóc tâm Tý ở bệnh nhân sau tai biễn

mạch máu não” của bắc sĩ Nguyễn Kỳ Xuân Nhị được ïn trong tạp chỉ Y học

phổ thông cho mọi người phát hành tháng 5/2014 đã viết rằng những thay đổi cảm xúc của bệnh nhân diễn ra rất phức tạp, họ có thể nhận thấy hoặc không

nhận thấy Bệnh nhân thường bị trầm cam và lo âu ở các mức độ khác nhau

[11] Như vậy có thể thấy, việc cần quan tâm đầu tiên trong việc chăm sóc

tinh thần bệnh nhân là là giám boặc ngưng các triệu chứng tâm lý như lo âu

trầm câm

Ngoài nguy cơ dễ đảng mất oáo triệu chứng tâm lý, thì các di chứng yéu

liệt khiến cho bệnh nhân suy giảm khả năng tự chăm sóc vả đa số trường hợp

họ trở nên lười biếng hơn, mắt đi động lực, niềm tin để luyện tập [11] Vi vay,

việc đáp ứng các nhu câu linh thân như tim lại niềm tin, động lực để liếp tục

tập luyện, ý nghĩa tổn tại của bản thân; nhận ra giá trị của các mối quan hệ xã

hội có thể góp phần thúc đẩy cho quá trình luyện lập hoàn thiện hơn Kết

quả tích cực của việc chăm sóc tình thần cho bệnh nhân là giúp cho ho hai

phục sức khỏe hoặc đôi mặt với cái với cát chết như một quá trình tất yêu của

cuộc đởi

Do đỏ, việc chăm sóc tỉnh thần bệnh nhân TRMIMN được hiểu trong dễ

tài này là hỗ trợ bệnh nhân, lam giảm nhẹ các triệu chứng về tâm lý như: lo âu,

Trang 31

19

trim cảm, giúp họ tìm lại niềm tin, động lực để tiếp tục luyện lập, ý nghĩa tổn tại của bản thân, nhận ra giá trị của các mỗi quan hệ xã hội, hổi phục sức khỏe hoặc đối mặt với cái chết như là một quá trình tắt yêu

1.22 Một số vẫn đỀ lý luận có liên quan đến chăm sóc bệnh nhân

TBMMN

1221 Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân

Hiện nay việc chăm sóc tình thần bệnh nhân dang dược quan tim, dic

biệt là những bệnh nhân phải đối mặt với những căn bệnh đe dọa đến cuộc

sống như ung thu, HIV, suy tim, suy thận, tiểu dường, lao, bệnh phổi lắc

nghẽn mạn tính, suy thận, Alzheimer, Parkinson Việc sử dụng các biên pháp

nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh đe đoa cuộc sống va gia định họ bằng cácb phòng ngửa, phát hiển sớm, diễu trị dau và các triệu chứng thực thể, các vấn để tâm lý và tinh thần mà bệnh nhân và gia đình họ

phải chịu đựng được Tễ chức Y tế thế giới định nghĩa là chăm sóc giảm nhẹ

[51] Có thể thấy, việc chăm sóc tỉnh thần bệnh nhãn có thể xem như là một

phan của chăm chăm sóc giâm nhẹ

Ngày 19/5/2006, Quyết định 3483/BYT của Bộ Y tế về việc ban bánh

“Hướng dẫn Quốc gia về Chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và

AIDS" Đây là bước đầu đánh đấu cơ sở pháp lý cho việc chăm sóc giảm nhẹ

cho bệnh nhân mắc các bệnh đe đọa cuộc sống Trong tải liệu này, phan cham

sóc tâm lý cho BN&NCS di nêu ra nội dung chăm sóc tâm lý một số vấn đề

như phẩm chất của người chăm sóc tâm lý, phương pháp tư vấn, xây đựng mối quan hệ hợp tác diễu trị giữa người chăm sóc tâm lý với bênh nhân Đây

có thể xem như là tài liệu chăm sóc giảm nhẹ chính quy đầu tiên tại Việt Nam

Us]

1222 Các phương pháp diều trị cho bệnh nhdn TRMMN

21.1.1 Vật lý trị liệu

Trang 32

Theo từ điển Oxford, vật lý trị liệu là điều trị bệnh, tốn thương và thương

tật bằng các phương tiện vật lý như xoa bóp, nhiệt độ và vận động hơn là

thuốc và phẫu thuật [36] Còn tu dién Merriam-Webster, thuộc Công ty từ

điển và báuh khoa thư Pritannica, thì định nghĩa vật lý trị liệu là điều trị bệnh,

tốn thương hoặc tan tật bằng các công cụ vật lý hoặc cơ học, như xoa bớp, vận

động, nước, ánh sáng, nhiệt và điện [52]

Tiến năm 2007, trong tài liệu hướng dẫn dào tạo vật lý trị liệu mức độ

đầu vào, Hội liên hiệp Vật lý trị liệu Thế giới (WCPT) quan niệm, vật lý trị liệu lả chuyên ngành y tế cung cấp các dịch vụ cho bệnh nhân và cộng déng

để phát triển, duy tri và khôi phục khả năng vận động và các hoạt động chức

năng tối đa trong suốt cuộc đời, bao gầm các can thiệp khi khả năng vận động

và hoạt động chức năng bị de doa do các nguyễn nhân tuổi tác, tổn thương,

bệnh tật, rỗi loạn, cũng như do các điểu kiện và yêu tô môi trường; trong đó

vận động chức năng được xem là vấn đề cốt lõi của sức khỏe [53]

Như vậy, trong dễ tải này, có thể hiểu vật lý trị liêu là một chuyên ngành

y tế, sử dụng các biên pháp, tác nhân vật lý tác đông đến cơ thế bệnh nhân ,

giúp họ phục hồi chức năng

2112 Các phương thức vật lý trị hiệu

Theo tải liệu Phục hồi chức năng do tác giả Nguyễn Xuân Nghiên chủ

biên thì các phương pháp ứng dụng năng lượng vật lý để diều trị thường được

áp dung trong chuyên ngành vật lý trị liệu — phục hồi chức năng gồm:

Nhiệt trị liệu: biện pháp sử dụng nhiệt độ để tác động đến cơ thể Gồm 2 loại

chính lả nhiệt nóng trị liệu (bao gồm nhiệt nóng trị liệu nông vã nhiệt nóng trị

liệu sâu), nhiệt lạnh trị liệu

Thủy trị liệu: sử dụng nước diều trị bỀ mặt dễ giải quyết giám chức năng của

cơ thể Tác dung của thủy trị liệu nhờ tính chất đặc thủ của nước (sức day: ap

lực, trọng lực riêng: tỉnh linh hoạt; nhiệt độ; hóa chất).

Trang 33

Anh sang tri liệu: bao gẫm tia cực tím và laser năng lượng thấp

Điện trị liêu: sử dụng năng lượng điện qua bề mặt cơ thể dể kích thích thần

kính, cơ hoặc cả hai bằng cách sử đụng điện cực trên bề mặt cơ thể Các kích

thích điện qua da được chúa ra thơo các loại dòng điện như sau: đông điện 1

chiều, đòng điện xoay chiếu Có các loại trị liệu từ điện như tử trường trị liệu,

ion tri liệu

TKéo giãn cột sống: sử dụng lực thích ứng dễ kéo cột sống cổ hoặc cột sống

‘Theo luận vẫn tiến sĩ y học: “Đánh gia higu qua phuc héi chire ning van

đông của phương pháp châm cải tiễn kết hợp vân đông trị liêu trên bệnh nhân

nhỏi máu não trên lều” của bác sĩ Trịnh Thị Diệu Thường thì việc châm citu

cho bệnh nhân cũng là một trong những phương pháp vật lý trị liệu [19]

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN

1.2387 Tại biển mạch máu não là gì?

Theo định nghĩa của 1ô chức Y tế thế giới, TBMIMR là những thiếu sót

chức năng thần kinh thường là khu trú xây ra đột ngội, có thể hồi phục hoàn

toàn hoặc dẫn đến tử vong trong 24 giở, loại trừ các nguyên nhân sang chắn

Nguyên nhân của nó là các bệnh lý khác nhau của mạch máu não [24,133]

Theo Hiệp hội đột quy quéc gia MY (National Stroke Association)

'TBMMK (đột quy) là một cơn dột quy là một "cuộc tấn công não" Nó có thể

xây ra với bắt cử ai ở bắt cứ lúc nào Nó xảy ra khi đòng máu đến vùng não bị

Trang 34

bộ oS

cất đứt Khi điều này xây ra, các tế bảo não bị thiếu oxy và bắt đầu chế Khi

các tế bào não bị chết trong một cơn đột quy, khả năng kiểm soát của khu vực

đỏ của não như bộ nhớ, cơ bắp bị mật [46]

Một người bị ảnh hưởng như thể nàn phụ thuộc vào cơn đột quy của hạ

xảy ra ở đâu trên não và mức độ tốn thương của các tế bào não Ví dụ, một

người bị 1 cơn đột quy nhỗ thì chỉ có thể chỉ bị yêu tạm thời gủa một cánh tay

hoặc chân Những người bị đột quy năng thì có thể bị tê liệt vĩnh viễn ở một

bên cơ thể của họ hoặc mắt khả năng nói Một số người hỗi phục hoàn toàn từ

cơn dột quy, nhưng hơn 2/3 số người sống sót sẽ có một số loại khuyết tật

'Irong loại nhận thức này, các quả trình hưng phần và ức chế xảy ra bằng

nhau, bệnh nhân có phản ứng nhanh, tiêp thu ý kiến của bác sĩ mau le, làm

điều dưỡng nhưng nông cạn, vội vã, dé bang lòng,

theo chỉ dẫn của bác

nhưng khi gặp trở ngại không phủ hợp với ÿ muốn thì dễ thay đỗi, hoang

xmang, dao động Nhưng khi được giải thích thì nhận thức nhanh chóng Bệnh

nhân nảy rất đễ tin và rất tín nhiệm thấy thuốc Do nhận thức đứng đắn, bệnh

nhân dễ nhận biết được bệnh của mình, bệnh sẽ tiến triển ra sao, kết thắc thế

nảo, bắn thân phải phẩn đấu ra sao để góp phân cùng thầy thuốc chữa khỏi

bênh cho mình Đặc biệt ở bệnh nhân này có ảnh hướng đến các bệnh nhân

khác, thầy thuốc vận dụng khả năng để tác động tâm lý đối cới bênh nhân

khác

Trang 35

Loại bệnh nhân này thường có kiểu thần kinh có quá trình hưng phần

nhiều hơn ức chế, dễ bị kích thích, quan trọng hóa tỉnh trạng sức khỏo bệnh tật của mình, dể nổi nóng, để bị kích động, để phản ứng trên lời nói, nét mặt,

đời hỏi phục vụ cao, đôi chuẩn đoán nhanh

Trong quả Irình diều trị cũng như vậy, dỏi hỏi bệnh phải dược thuyên

piảm ngay, thường chủ quan, chỉ tin ở mình nhiều hơn, thường biểu hiện quá

mức, quá đáng trong cư xử nhận xét Nhạu cảm với cảm giác đau, cô đơn,

buổn phiền, dễ mắt hy vọng, để thay đổi ở kiến, chính kiến không kiên định,

dễ hoài nghỉ, hoang mang, dao đông, tự tô đâm các triệu chứng, tô đậm tầm

nghiềm trọng của bệnh, sợ chết, sợ mất khả năng lao động để nuôi sống gia

đình, sợ đở giang công trình vả tham vọng l2o đó, rất đễ hoang mang nhưng

rất tích cực chữa bênh, đồi hỏi bác sĩ giỏi, mong muốn hết bệnh, mong muốn

nhanh chóng ra khôi bệnh viện, thức hiện đầy đủ, tích cực các chỉ dẫn của bác

Thân thức yêu, nhược nhận thức

Loại bệnh nhân nảy, thường coi thường bệnh tật, đánh giá thắp Lính nguy

kịch trâm trọng của bệnh lý, xem nhẹ các triệu chứng, tính tỉch cực giảm, it

quan tâm đến các khám nghiệm I1o không chủ ý nghe lời khuyên của các bác

sĩ, lửa dối đối với sức khỏe của chính minh, họ ưu tư, mặc cảm, khép kính, tự

giải quyết cho mình

Hân thức không én dinh, loan nhan thức

Loại nảy có thể do coi thường bệnh tật, hoặc liều lĩnh hoặc sợ hãi tính

trằm trọng của bệnh tật có thái độ phủ định bệnh tật, thường không thừa nhận

Trang 36

bệnh tật, đánh giá thấp bệnh, chủ quan, mặc kệ Nhưng có lúc lại bi quan, sợ

chết, sợ biển chứng Từ chỗ không tin minh bị bệnh đến không tin thây thuốc, nhận xét chuẩn đoán, điều trị của họ

[24]

Bên cạnh đó, do hậu quả của cơn đột quy gây ra những tốn thương trên

não, nên nhận thức của bệnh nhân TBMM biến đối như thé nao phụ thuộc vào bên não mà bệnh nhân bị tổn thương, Trong cuốn Tâm lý học sức khốc

(Health 5pychology) của tác giả Shelly E.Taylor có viết ring:

Bénh nhfn voi nfo wai bi Ldn thuong có thể gặp vẫn dễ trong rồi loạn

giao tiếp, ví dụ như khổng nói được, liên quan dén việc không hiểu người khác và bày tô ý kiến của mình

Một vấn dễ khác của rồi loạn chức năng não trải bao gỗm xáo trồn nhận

thức, giảm trí thông mình, khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ mới

Tiệnh nhân tổn thương não phải có thể +không thể xử lý hoặc sử dụng một

số loại thông tin phản hỗi trực quan Một kết quả nữa lá bệnh nhẫn bị liệt một

bên của cơ mặt Bệnh nhân có thể chỉ ăn thức ăn của bên phải của đĩa vả từ

chối thức ăn bên phải Bệnh nhân có thể có van đề ở việc đọc giờ, quay số

điện thoại bệnh nhân thường có khó khăn trong việc trì giác khoảng cách

niên thường đâm vào vật cản hoặc tường

Do những lổn thương ở não phái nên những bệnh nhân nảy không thé

hiểu những gì họ đọc hoặc chỉ có thể tri giác được phần cuỗi cùng của mỗi từ

mà thôi Nếu một người đứng phía bên não họ bị tốn thương (não phải) mà

nói chuyên thì hợ chí nghe được âm thanh chứ không hiểu được người đó nói

gì cũng như không thấy được người nói (W.A.Gorđon & Diller, 1983) [40]

Những bệnh nhân bị TBMIMN thường là những người cao luỗi (có độ

tuổi trung bình từ 45 tuổi trở lên) Kẻm theo những tổn thương do TRMMX

gây ra trên não, bản thân bệnh nhân trong độ tuổi này đã bắt đầu có đấu hiệu

Trang 37

bo ù

suy giảm về mặt nhận thức như sự giẩm tốc trong quá trình nhận thức

Nguyên nhân lảm giảm tốc quá trình nhận thức có 2 nguyên nhân: thứ nhất là

do bệnh gây ra những tổn thương trên não làm giảm lượng máu vào não Thử

bai là do ứng xử Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc thay déi

chiến lược để đáp ứng yêu cầu mới của vấn đề Dang thời, người cao tuổi còn

ra quyết định chậm lả do thói quen cẩn thận, cần thời gian cân nhắc kỹ, không

đua ra quyết định sa lắm Trí nhớ trong giai doạn này dũng bước vào thời ky

suy giảm Họ gặp khó khăn trong cả 2 giai đoạn mã hóa lẫn hồi tưởng, thuộc

trí nhớ thứ cắp |21|

1233 Đời sông tình cảm

iệnh nhân bị tổn thương não trái thường phản ứng lại những rếi loạn của

họ như lơ âu vả trầm cảm Bệnh nhãn tổn thương não phải thường thở ø với

tỉnh trạng của ho Những khác biết trong cẫm xúc bởi là vì tốn thương những

no-ron than kinh khác nhau Bệnh nhân với tổn thương não phải thường xuất

hiện chứng mắt hiểu biết (alexithymia), chứng bệnh mà có liên quan ciến việc

khó khăn trong viêc nhận dạng vả miều tả cảm xúc (Spaletta et al., 2001) [40]

Sự đột ngột mắt đi tự chủ trong sinh hoạt hằng ngày có thể trở thành nỗi

ám ảnh đau buồn đối với họ trong thời gian đài Nhiều trường hợp đưa đến

tỉnh trạng gánh nặng tài chính, khiến bệnh nhân có cắm giác tội lỗi và không

muốn tiếp lục tình trạng này nữa, đôi khi họ muốn được giái thoát Họ mất đi

những quan tâm trong cuộc sống, chán ăn, chán tập luyện Phát hiện và điều

trị trầm cảm cho bệnh nhân TRMIMN rất quan trọng Vi trim cảm có thể làm châm hỗi phục các di chứng vá gia tăng các nguy cơ bệnh lý khác, dễ dưa đến

các cơn đột quy tái phát, làm tỉnh trạng bệnh trở nên phức tạp hơn

Ngoài ra, bệnh nhân TBMfMN cón có thể xây ra cắc rỗi loạn cảm xúc Người bệnh có thể cười hay khóc mà không có một lý do rõ ràng ĐĐây thực sự

là khỏ khăn cho người thân trong gia đình hay người chăm sóc để hiểu được,

Trang 38

cần một thời gian dài để làm quen, kiên nhẫn tìm hiểu ta mới hiểu được cách lam thé nao để an ủi họ cho phủ hợp [11]

L234 Các vấn đề có liên quan đến tink than bệnh nhân TBMIMA

'Tổ chức Y tế Thể giới đã Lừng phát biểu rằng: “Không có sức khỏo nếu

không có sức khỏe tinh thân” đã giúp chúng ta khải quát được phần nảo tầm

quan trọng của sức khốc tỉnh thần oững như việc chăm sóc tinh thần đối với

sức khốc

Theo một nghiên cửu của Dại học y khoa Brown thì hầu hết người Mỹ

tin rằng các bác sĩ nên xem xót nhu cẦu Lâm linh của họ như là một phần của chăm sóc y tế cho họ 73% tin rằng họ nên chia sẽ những niềm tin tôn giáo của họ với bác sĩ của mình 66% muốn bác sĩ hỏi về niềm tin tôn giáo hay tâm lỉnh nếu bị bệnh nặng Từ 37 đến 40% tin rằng các bác sĩ nên hối về niềm tin

tôn giáo Nhưng chỉ có hơn 10 đến 20 % báo cáo rằng bác sĩ của họ thảo luận

về tôn giáo hay tâm linh với họ [25]

‘Theo bài viết của "frẩm cảm và các dấu hiệu khác liền quan dẫn sức

khỏe tâm thần tăng nguy cơ tứ vong sau đột gipy thiểu máu cục bộ” của các

tác giả Limda 8 Williams, Sushmia Shoma Ghose, Ralph W 5windle, được

in trên tạp chí Tâm thần hoc M¥ (The American Joumal of Psychiatry) thang,

6, 2004 đã đưa ra trong số 51.119 bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quy

thiếu máu oục bộ và sống sót vượt quá 3Ö ngày sau đó, trong đó có 2405

(4.7%) nhan được chấn đoán là trầm cảm (CD-9) và 2257 (4,49%) được chuẩn

đoán là có rồi loạn thần hoặc lạm dụng khác trong vòng 3 năm sau đó 8o với

những người không có chuẩn doán bệnh thì những người có chuẩn doán tram

cảm hoặc các rỗi loạn tâm thần khác trẻ hơn va kha năng còn sống thấp hơn

vào cuối thời gian thoo đối |35 |

Một số nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, việc chăm sóc tình thần cho bệnh

nhân là một điều hết sức cần thiết Trong quá trình phục hồi chức năng cho

Trang 39

bệnh nhân, nêu bệnh nhân có một sức khỏe tỉnh thần khỏe mạnh họ sẽ có đầy

đủ lý do, động lực đế vượt qua những khó khăn trong việc hoàn thành các bài

tập vật lý trị liệu, có khả năng để đổi phó với những cảm xúc tiêu cue nay

sinh trong quá trình điều trị Từ đó có thế đẩy nhanh quá trình hồi phục cho

bệnh nhân, giúp bệnh nhân tận hưởng cuộc sông,

124 Một số phương pháp chăm sóc tình thân cho bệnh nhân TBMMN

Thco Shelly E.Taylor viết trong cuốn Tâm lý học sức khốc tái bán lần

thử 6, có 4 cách trong điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMIMN:

Tam ly tri liệu bao gồm các biện pháp chữa trị cho trầm cắm

Huần luyện hồi phục nhận thức để tái tạo trí nhớ

1Iuấn luyện trong phát triển kỹ năng đặc biệt

Sứ dụng các cấu trúc, kích thích môi trường để thách thức khả năng của bệnh nhân tai biến [40]

Do tính đặc trưng của bệnh nhân TBMMTN, việc chăm sóc tỉnh thần bệnh

nhân có thể áp dụng các phương pháp sau

TỔ chức các hoạt động giải trí, vui chơi tập thể như chơi bài, chơi lỗ tô,

văn nghệ Những hoạt động vui chơi này sẽ đem lại những hiệu quả bất ngờ

"Trầm cảm, lo âu vả rối loạn khác có thế để lại những cá nhân có tác biệt trong

xã hội Giải trí trị liệu có thể cung cấp cho bệnh nhân với một cơ hội để cải

thiện chất lượng cuộc sống thông qua một cảm giác gia từng kiểm soát, Lương

tác xã hội, hỗ trợ xã hội và những khả năng hoàn thành nhiệm vụ được định

hướng Nó cũng có thể giúp đỡ những người để bị tốn thương phát triển hoặc

tải thiết lập các kỹ năng xã hội trong một mỗi trường cỏ kiểm soát

Tạo cùng nhiễu tổng CHời càng tốt Quan điểm cho rằng sự hài hước vả

tiếng cười lá tốt cho sức khỏe không phải lá mới Calman trong một nghiền

cứu về cách kế chuyện hai hước va thảo luận trên quan diểm y học về cách

hải hước cô giá trị trong việc tăng cảm giác hạnh phúc, cải thiện các chức

Trang 40

năng sinh lý và tâm lý, và thậm chí thay đổi ngưỡng đau Tiếng cười cĩ tiểm năng để giảm bớt căng thẳng ở những bệnh nhân và các chuyên gia y tế Nĩ

cĩ thể đem lại cơ hội để quên đi lo lắng và đau đớn trong một thời gian ngắn

Km các bác sĩ chia sẻ một cách hãi hước với sáo bệnh nhân, họ tạo ra những

đường thơng tin liên lạc mả làm cho bệnh nhân an tâm và cĩ thể khuyến khích

họ để thảo luận về các vấn đề khĩ khăn Tiếng cười oĩ thể đặt ộ hai bên thoải

mai trong một cách mà nhiều kiểu liên lạc chỉnh thức thì khơng thé lam được

Tổ chức các hoạt động như sảng tác, kể chuyện và đọc thơ MIỗi quan

hệ giữa sáng tác và hạnh phúc tĩnh thần cho dến này dược xem như là mội một phương thức dầy hứa hẹn cho sự hạnh phúc của bệnh nhân nĩi chung

Trong sức khỏe tỉnh thần, việc sử dựng văn bản như một phương tiện để thể

hiện những sưy nghĩ và cắm xúc cĩ thể sĩ giá trị chữa bênh Một nghiền cửu của Deurzen Smith vào năm 1997 cho thấy một sự giảm đáng kế về mức độ

trầm cắm ở những bệnh nhân được hướng dẫn để chọn đọc văn học, tiểu

thuyết hay thơ ca, so với nhĩm khơng được dọc Thơng qua thơ, truyền thuyết,

văn học dân gian, huyền thoại, lịch sử, tiểu thuyết hoặc buổi biểu diễn, câu

chuyện là một thành phần quan trọng của tất cả kinh nghiệm ofa con người

Calman mơ tả việc sở dụng các câu chuyên như lả một phương tiên cho các

bác sĩ để thiết lập mối quan hệ tin cậy với các bệnh nhân và để học hỏi lẫn

nhau những bài học cĩ giá trị Cụ thế với lý đo hài hước như một khía cạnh

quan trọng của cách kế chuyện, Calman khẳng định rang câu chuyện hễ trợ

trong việu phát triển kiển thức về cảm xúc, đặc biệt là liên quan đến việ chia

sẽ kinh nghiệm giữa các bác sĩ trong dio tao

Cho bệnh nhân nghe nhạc Miột nghiên cứu của trường đại học Helsinki

cho thấy rằng những bệnh nhân dột quy dược nghe nhạc trong vịng 1 tới 2

giờ mỗi ngày hồi phục nhanh hơn (60%) so với bệnh nhân khơng nghe (29%)

Ngày đăng: 05/05/2025, 22:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w