1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam

119 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới, phụ nữ và trẻ em tại Thái Lan, Campuchia và Việt Nam
Tác giả Cathy Zimmerman, Ligia Kiss, Nicola Pocock, Varapom Naisanguiansri, Xaus Solersymam, Nisakar Pangrungsne, Killiphan Siisup, Iabsl Kohlre, Doon Thuy Dung, Nguyễn Vân Anh, Roll Dickson, Roslyn Borland, Poonam Dhawan
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London
Chuyên ngành Sức khỏe cộng đồng, Nghiên cứu xã hội, Bảo trợ xã hội
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề quan trọng là nghiên cứu này đã được những cán bộ, nhân viên cửa các cơ sở dịch vụ tại các nước thực hiện dự án tham gia tích cực và hợ đám bảo đối xử tôn trọng và ân cần với nh

Trang 1

Sức khỏe và nạn Buôn bán

người tại Tiểu vùng sông

Mê-Kông mở rộng Kết quả Nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại

Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam

Trang 2

Sức khỏe và nạn Buôn bán

người tại Tiểu vùng sông

Mê-Kông mở rộng

Kết quả Nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại

Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam

d anesvad

Trang 3

Nghiên cứu về nạn Buôn bản người (BBN), Bóc lột và Lạm dụng tại

Tiểu vùng sỗng Mê-Kũng mở rộng (STEAM)

"Tác giá của báo cáa

“Cathy /imrmerman, Ligia kiss, Nicola Pocack, Varapom Naisanguiansri, Xaus Solersymam, Nisakar Pangrungsne, Killiphan Siisup, Iabsl Kohlre, Doãn Thùy Dung, Nguyễn Vin Ant, Roll Dickson, Roslyn Borland va Poonam Dhawan

"Đổi tác thực hiện Dự án Nghiên cứu

“Trường Đại học Về sinh dịch tễ và các Bảnh Niiệt đới London |ISHTM),

"Tổ chức Bi cư Quốc tế [(OM)

Tài trợ

Dự ản nghiên cứu này được tải trợ từ Quỹ Anesvad va Quỹ Phát triển của Tổ chức Di cư Quốc tế

"Đội ngũ nghiên cứu STEAM

Trường Đại học Vệ sinh dich

‘Varaporn Haisanguansti, Tre lý Dự ủn cuo cốp

Nisukorn Pongruingsee, Trợ lý nghiên cửu

Kittiphan Sirieup, Trợ lý nghiên cứu

IOM Campuchie

Bratt Dickson, Quần lý dự án

Suos Soksreymom, Diều phối viên nghiên cửu

Keo Kerindeth, Cẩn bộ phông vẫn vũ nhập sở liệu

Hun leang Ay, Cần bộ phẳng vốn và nhập số tiêu

IOM Việt Nam

lohst Koebler, Giám đi: Hộ phận thương trình và tự ớn

Doãn Thùy Dung, Điều phối vig ter dv

Hà Huệ Chỉ, Điều phối viên nghiên cửu

Nguyễn Vân Anh, Trợ lý nghiên cửu

Nguyễn Quang Ninh [CHữ), Cán bộ nhập sổ tiêu

IOMI Khu vực

Rasityme Borland

Dich sang tiếng Viật:

7S Nguyén Huy Quang

Higu dinh bản tiểng Việt

Doãn Thùy Dung Vũ Anh Nga, lê Cẩm Văn

Trang 4

Sức khỏa và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md rong

Lời cảm ơn

Những người đóng góp nhiều nhất cho nghiên cứu này là những nạn nhân của nạn buôn bán người đã tham gia trả lời phẳng vấn nghiên cứu Hạ đã dành nhiều thời gian để chia sẻ những câu chuyên của mình với nội dung mô tả những nỗi

đau, nỗi lo sợ, và sự thất vọng lớn Chúng tôi thật sự hy vọng và sẽ cế gắng đảm

bảo rằng những chia sẻ về nhu cầu của người tham gia nghiên cứu sẽ được gửi đến những nhà hoạch định chính sách và các cơ sở dịch vụ để giúp giảm bớt số người sẽ phải chịu đựng các hình thức bác lột cực đoan, và những người đã chịu đựng bóc lột có thể nhận được sự giúp đỡ cần thiết

Vấn đề quan trọng là nghiên cứu này đã được những cán bộ, nhân viên cửa các

cơ sở dịch vụ tại các nước thực hiện dự án tham gia tích cực và hợ đám bảo đối

xử tôn trọng và ân cần với những đối tượng nghiên cứu cũng như đáp ứng nhu cầu sử dụng dich vụ của những đối tượng này:

Các đơn vị đã đồng góp cắn bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên cứu tại Campuchia bao gồm:

» _ Văn phòng Tổ chức Di cư Quốc tế tại Phnồm Pênh- bà Sous Soksreymom, ông

Keo Korindeth, Hun Leang Ay

» Ban Bao vé Quyén Tré em Campuchia (CCPCA) - ba Ny Channary

» Trung tim Chm séc Sure khée cho Tré em (HCC) tai tinh in Koh Khong - ống Sak Somnang

» Trung tm Chăm sóc Sức khỏe cho Trẻ em (HCC), Trung tâm Một ngày tốt (GDC) tại tỉnh Kandal - bà Suon Miis

> _ Dại diện cha Phụ nữ trong hoàn cảnh khó khăn (AFESIP Campuchia) - Tiển sỹ Maly

»_ Kokieyo Naki Kodomotachi (KNK) - bà Kheav Sokhoeun

> _ Trung tâm Trung chuyển Poi Pet (PTC}- ba Chea Manith

Các đơn vị đã đồng góp cần bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên

cứu tại Thái Lan bao gồm:

> _ Vụ Phát triển và Phúc lợi Xã hội, Bộ Phát triển Xã hồi và An ninh con người - bà Saowanee Khomepatr

» Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghề nghiệp Kredtrakara ~ bà Somjit Tantivanichanon, bà Porntip Nentawong, và bà Nussara Konsai;

»_ Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghề nghiệp Paturmthani cho nam giới - ông

Suwan Prompol, ông Punnaphot Khamenketkarn, và bà Tawan Ngao-sri;

» Trung tâm Bao trợ và Phát triến Nghề nghiệp 5ri Surat - bà Somluck Khanom,

va ba Suppamon Chotisut;

« Nhà tiếp nhận bé trai Pakkred; Gng Somdech Surawat và bà Kanoknop Kerdwattana

Trang 5

Cac don vi đã đóng góp cán bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên

cứu tại Việt Nam bao gồm

~ _ Trung tâm Hỗ trợ Phụ nữ và Trẻ em có Hoàn cảnh Khó khăn tình Cần Thơ

» _ Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Lạng Sơn

» _ Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Lão Cai

» _ Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Hà Nội

» _ Trung tâm dạy nghề, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quang Ninh

Các cố vấn kỹ thuật của LSHTM

Sujit Rathod, Heidi Sroekl và Mazeda Hiossain

© Trường Đại học Vệ sinh dịch tẾ và các Bệnh Nhiệt đới London, Tổ chức Di cư

Quốc tế 2014

Teich din:

Zimmerman C, Kiss L, Pocock N, Naisanguansti V, Suos S, Pongrungsee N, Sirisup

K, Doan D, Dickson B, Borland R and Dhavan F, 2014 Sức khỏe vờ non BBN tại Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng Các kết quá nghiên cứu nam giết, phụ nữ, và trễ em tại Campuchio, Thải Lan và Việt Nam Tổ chức Di cư Quốc tế và Trường Dai học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh Nhiệt đới London

Quan điểm đưa ra trong bảo cáo thuộc về các tác giá và không phản ánh chính sách chính thức của bất kỳ tổ chức hoặc cơ quan nào liên quan đến nghiên cứu này

Dự án nghiên cửu này được tồi trợ từ Quỹ Anesvad và Quỹ Phát triển của Tổ chức

Di cư Quốc tế, cùng với hỗ trợ bổ sung của Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội của Anh quốc

Trang 6

Sức khỏa và nạo Buôn bín người tại Tí vùng sông Má-Kông mở rằng

Phương phán nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mẫu khảo sal

Thu thập và phân tích thông tin

Tiêu chuẩn đạo đức

Tổng Quan về các dịch vụ hỗ trợ và chuyển tuyển hau BBN ở

Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam

Qua trình chuyển tuyến

Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiên cửu

Bạo hành trước khi di cv

Bạo hành thể chất trước dĩ cư

Bạo hành tỉnh dục trước khí bị buôn bán „

Trang 7

Lam dung tinh duc

Quãng thời gian bị buôn bán

Điều kiên sống và làm việc của những NBBB Thu nhập khi bị buôn bán

Giấy từ cá nhân và giấy từ thẳng hàni 5 Tiếp cân chăm sóc sức khỏe trong khi bị buôn bán Nhận được chăm sóc y té trang khi bị buôn bán Mang thai và nạo phá thai trong khi bị buôn bán Thoát khởi tinh trạng bị buôn bái

quá khứ bị giam giữ

Giai đoạn hậu buôn bán

Các triệu chứng của sức khỏe thể chất

Phỏng vấn lần hai - Các triệu chứng về sức khỏe thể chất Các triệu chứng về sức khỏe tỉnh thần:

phóng vấn fin 1 và lần 2

Các mối quan tâm sau khi bj budn bán Thay đổi từ T1 đến T2

Hàm ý của các phát hiện đổi với chính sách và thực tiễn

Trang 8

Sức khỏa và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md rong

Bảng 1: - Khái quát về các cơ sở địch vụ tham gia ớ

Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

Bảng 2: Giới tính của người tham gia

Bằng 3: _ Độ tuổi của người tham gia (trẻ em / người lớn)

Bằng 4: _- Giới tính của người tham gia theo nhóm tuổi

ời lớn và trẻ em) ín = 1.102)

Bảng 5: Nhóm tuổi của người tham gia theo giới tính (n = 1.102) - Bang 6: Đặc điểm của người tham gia sử dụng dịch vụ theo nước .26

Bảng 7: _ Tỷ lệ người tham gia tính theo nước xuất phát 28

Bảng 8: _ Trình độ học vấn của người lớn và trẻ em a0 Bảng 9: _ Tình trạng hôn nhân trước khi di cư của các đối tượng

Bảng 10: Tỷ lệ cá nhân được chuyển tuyển các dịch vụ theo

Bang 11: Nhận thức của người tham gia nghiên cứu về

Bang 12: Kẻ mà các đối tượng tham gia nghiên cứu cho là

chịu trách nhiệm về tình trạng buôn bán người gần đầy nhất tính của

ho theo nữ giới, nam giới và tất cả

Bang 13: Bạo hành thể chất hoặc tỉnh dục trước khi ra di

tảng 14: - Tỷ lệ bạo hành tình dục trước khi rời quê nhà tính theo độ tuổi

(tré em / người lớn), Bang 15: Ty IB của các đổi tượng tham gia nghiên cứu bjbóc lột ở

các nước đến khác nhau

Bang 16: Tỷ lệ đối tượng tham gia cho biết bị bóc tột trong các lĩnh vực

lao động khác nhau theo giới trong số người được đưa đến đích (n=1.015]

Bảng 17: Tỷ lệ các cá nhân làm việc tại Thái Lan và Trung Quốc theo

Bằng 22: - Tỷ lệ các đối tượng tham gia chia theo loại hình bạo hành cụ thể,

trong số những người đến được nơi định đến (n=1015)

Bảng 23: _ Số giờ làm việc trung hình hàng ngày theo ngành nghề

hoặc loại hình bị bác lột

Trang 9

Bảng 35:

Bằng 36

Bằng 37 Bảng 38:

Bing 39:

Bang 40 Bằng 41:

Bằng 42:

Bằng 43:

Bằng 44:

Bằng 45:

Số đổi tượng theo lĩnh vực nghề nghiệp trả lời ho

“khẳng baa giờ" hoặc “hiểm khi” được tự do làm việc họ, muốn hoặc đến nơi họ muốn khi đang bị buôn bái

Tân suất sử dụng rượu khi ở tình trạng bị bóc lột Nguy hi về sức khóe nghề nghiệp trong quá trình bị huôn bán Các trang bị bảo hô được cung cấp khi làm việc

Tân suất sử dụng bao cao su với khách hàng trong đối tượng

Đối tượng cho biết sổ lần họ từng bị chấn thương nghiệm trạng

do công việc hay tai nạn nghề nghiệp Thời gian trong tinh trang bị buồn bán theo lĩnh vực Các điều kiên sống và làm việc -

Tỷ lệ các đối tượng thoát khỏi trình trạng bị buôn bán thông qua nhiều cach

Tỷ lệ đối tượng bị tạm giữ ở nước đến chính (a=257)

Các triệu chứng về sức khảe thể chất của đối tượng tham gia nghiên cứu (n=1.102)

Tỷ lệ phụ nữ độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi)“ đang mang thai tại

thời điểm phóng vấn và bị/hông bí bạo hành tình dục 6a

Tỷ lệ trầm cằm, lo du va PTSD trong những đối tượng tham gia

và Việt Nam (a=389)

Tỷ lệ có các triệu chứng liện quan đến rối loạn sức khỏe tỉnh thần

ở những phụ nữ bị buôn báa để lầm mại dâm (n=328) và phụ nữ

bị buôn bán làm trong các lĩnh vực lao động khắc (n=241}*

Tần suất của các triệu chứng “Ít”, “Khá nhiều" hoặc

“Rất nhiều” theo Bắng kiểm trầm cám flopldn-25

Tân suất các đối tượng nêu các triệu chứng trong

Bộ câu hỏi Harvard về Sang Chẩn (HTQj của những người

sử dụng dich vy hé tre sau BBN

Tỷ lệ số đối tượng có các triệu chứng theo Bảng kiểm Hopkins-25 về lo âu

Những mổi quan tâm thường gắn về: tương lai của những

Trang 10

Sức khỏa và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md rong

Bang 46: Tỷ lệ đối tượng lo sợ bị lẻ BBN hăm hại bản thân hoặc gia đình 72

Bảng 42: Tỷ lệ đối tượng tham gia với dự định ở với ai El

Bang 49: Hy vọng vào tương lai chia theo người trưởng thành và trẻ em .74 Bang 50: Phóng vấn lần 2: Số lượng người không tham gia

phỏng vấn lần 2 theo quốc gia

Bang 51: Các triệu chứng về sức khỏe thể chất của các đối tượng trong

lần phẳng vấn 1 và 2

Bang 53: So sánh giữa các đối tượng tham gia và không tham gia T2 78

Bang 54: Bạn mang muốn sống với ai sau khi rời khỏi nơi tạm lánh "-

V18 28

41

Biểu đồ 1: Các giai đoạn trong qua trinh BBN

Biểu đỗ 2: Phần trăm số người tham gia nghiên cứu theo nước xuất phát

Biểu đồ 3: Sự chính xác của thông tin về tỉnh hình nai đến trước khi xuất phái

Biểu đã 4: Tỷ lệ các đấi tượng bị bạo hành thể chất và/ hoặc tỉnh dục

trong khi bị buôn bán

Biểu đồ 5: Phần trăm số đối tượng phải làm việc cả 7 ngày trong tuần

Siểu đồ 6: Số giờ làm việc trung hình hàng ngày theo ngành nghề/

42 46

Biểu đồ 7: Số đối tượng theo lĩnh vực nghề nghiêp trả lời họ

“không bao giờ” hoặc “hiếm khi” được tự do 48

Siểu đồ 8: Đổi tượng với triệu chứng hiểu hiện trầm cảm, lo Au va PTSD 65

Trang 12

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

ME Tom tat

Buôn bán người (BBN) là sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, thường liên quan đến các hình thức bóc lột và xâm hại cực đoan Người ta bị buôn bán vì những hình thức bóc lột khác nhau, bao gồm những ngành nghề lao động chân tay có kỹ năng thấp và bóc lột tỉnh dục Trong những tình trạng nhu vay, NBBB phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro về sức khỏe, bao gồm bạo hành, thiếu thốn

và các nguy hại nghề nghiệp nghiêm trọng Các mối nguy hiếm này thường dẫn

đến mắc các bệnh cấp tính và mãn tính - và đôi khi dẫn tới tử vong Đại đa số những người đã từng trải qua hoàn cảnh bị buôn bản cần được chăm sóc y tế về

tâm lý và thể chất

Tính tới nay, các nghiên cứu sâu về hậu quả sức khée do BBN gây ra còn rất hạn chế và theo nhóm tác giả, chưa có khảo sát nào được tiển hành liên quan đến nhu cầu sức khỏe của những người đã từng bị buôn bán vì mục đích lao động khác nhau trong khu vực Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (GMS)

Để giải quyết các hạn chế về bằng chứng về sức khỏe và BBN, một nghiên cứu

tiến cứu, cắt ngang được tiến hành trên nhiều địa điểm với các đối tượng hưởng

dịch vụ hỗ trợ sau buôn bán người nhằm xác định những nguy cơ rủi ro về sức

khỏe và các nhu cầu ưu tiên chăm sóc y tế của NBB8 tại các cơ sở dịch vụ hỗ trợ

tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

Các kết quả nghiên cửu thu được từ phỏng vấn 1,102 người từng bị bóc lột và sẵn sàng chia sẻ các trải nghiệm và nói về những mối quan tâm đối với sức khỏe của họ Những phát hiện này cho thấy một bức tranh toàn cảnh về việc lạm dụng con người, nhưng cũng hy vọng sẽ có cơ hội hiếu, đáp ứng với việc bảo vệ sức

khỏe và các cơ chế đáp ứng tốt hơn trong tương lai

Bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu này được xây dựng dựa trên khung khái niém vé BBN và sức khỏe, qua đó, nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn về sức khỏe tại từng giai đoạn của

quá trình di cư và tầm quan trọng của từng giai đoạn này đối với tình trạng sức

khỏe tích lũy của các những NBBB.1 Nghiên cứu này cũng nhìn nhận những điểm còn hạn chế trong định nghĩa BBN, đặc biệt là việc thiếu rõ ràng về mức độ “bị bóc lột” của một người để được xác nhận là “đã bị buôn bán” Vì lý do này, để tránh việc đội ngũ nghiên cứu tự định nghĩa “ai là N8BB,” và vì những lý do quan trọng về đạo đức, quần thế nghiên cứu được định nghĩa là “những người sử: dụng dịch vụ hỗ trợ sau BBN” Như vậy, quần thể nghiên cứu trong dự án này là một mẫu được chọn theo tiêu chí là người sử dụng dịch vụ (khách hàng), và mục địch của nghiên cứu là để cung cấp thêm thông tin cho cơ sở dịch vụ hỗ trợ NBBB

về các nhu cầu hỗ trợ của khách hàng.

Trang 13

Tom tất

Phuong phap

Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu này về sức khỏe của những người đang sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sau BBN là một nghiên cứu quan sát cùng đối tượng trong một

khoảng thời gian dài Báo cáo chủ yếu trình bày các tần suất được tính toán dựa

trên kết quả của lần phỏng vấn thứ nhất (nghiên cứu cắt ngang lần đầu) Ngoài

ra còn có báo cáo số liệu của đối tượng nghiên cứu được tiếp tục theo dõi trong

30-60 ngày sau phỏng vấn lần đầu, mặc dù trong quá trình thực hiện nghiên cứu,

có nhiều đối tượng không tham gia lần phỏng vấn tiếp theo (mất dấu)

Mẫu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tổng cộng có 1.102 nam giới, phụ nữ,

và trẻ em từ 10 tuổi trở lên, là những người đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau khi

bị buôn bán tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam Có 15 cơ sở hỗ trợ (6 cơ sở ở Campuchia, 4 ở Thái Lan, và 5 ở Việt Nam) được chọn theo tiêu chí nhóm khách hàng đa dạng, có quan hệ hợp tác với phái đoàn IOM ở nước sở tại hoặc Quỹ Anesvad, Việc thu thập số liệu được tiến hành từ năm 2010 đến 2013 trong số các cá nhân sử dụng dịch vụ hỗ trợ của các cơ sở

Các đối tượng nghiên cứu đại diện cho một mẫu liên tiếp những cá nhân sử dụng, các dịch vụ và được mời tham gia phỏng vấn trong vòng 2 tuần đầu (từ 0 đến 14 ngày) sau khi được nhận vào cơ sở hỗ trợ Những cá nhân đạt đủ các tiêu chuẩn

sau được mời gặp mặt phỏng vấn trực tiếp:

(a) Người sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại một trong các cơ sở đối tác cung cấp dịch

vụ hỗ trợ sau BBN, bắt đầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ từ dưới 10 ngày trước

khi phỏng vấn;

(b) Từ 10 tuổi trở lên, và

(c) Sức khỏe tỉnh thần và thể chất đủ điều kiện tham gia phỏng vấn (theo đánh

giá của cán bộ tư vấn hỗ trợ),

Bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên công cụ nghiên cứu trước đây tại châu Âu đối với nạn nhân bị buôn bán với mục đích bóc lột tình dục và

được chỉnh sửa cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu khác (cho các mục đích

lao động khác) và phù hợp với địa phương.2 Bảng câu hỏi được dịch sang tiếng Khmer, tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng H'Mong và tiểng Lào, theo các bước: dịch thuật chuyên nghiệp từ tiếng Anh sang tiếng nước sở tại, dịch thuật theo nhóm

và thảo luận với cán bộ phòng chống BBN của IOM, thử nghiệm, chỉnh sửa cho phù hợp, dịch thuật lại, và điều chỉnh lại

Thu thập và phân tích số liệu Nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013 Nhân viên tai 15 cơ sở dịch vụ hỗ trợ tại ba nước tham gia nghiên cứu tiến hành phỏng vấn Phải đoàn IOM tại các nước điều phối công tác thu thập và nhập số liệu dưới sự giám sát của trường Đại học 'Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London (LSHTM)

Trang 14

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

Tiêu chuẩn đạo đức Tiêu chuẩn đạo đức và an toàn được tuân thủ chặt chẽ

theo Khuyến nghị về vấn đề Đạo đức và An toàn của Tổ chức Y tế Thế giới đối với

Phỏng vấn Phụ nữ bị buôn bán." Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới

London và hội đồng đạo đức tại nước sở tại ở Campuchia (Bô Y tế), Thái Lan (Bộ

Phát triển Xã hội và An ninh Con người) và Việt Nam (Trường Đại học Y tế Công

Công) xét duyệt tiêu chuẩn đạo đức của nghiên cứu này

Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Dac điểm của quần thể nghiên cứu

Tỉ lệ trả lời Tỉ lệ trả lời là trên 98% tại cả ba nước Đối tượng nghiên cứu bao

gồm 1.102 nam giới, phụ nữ, và trẻ em từ 10 tuổi trở lên, đang sử dụng dịch vụ

hỗ trợ sau khi bị buôn bán tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam

Giới và độ tuổi Đối tượng nghiên cứu gồm 637 nữ (57,8%), 465 nam (42,2%) và

387 thanh thiếu niên (35,1%) từ 10-17 tuổi Cụ thể hơn là 27.9% từ 15-17 tuổi

(308 em), và 7,2% (79 em) từ 10-14 tuối Phần lớn trẻ em tham gia phỏng vấn là

nữ (81,7%)

Đặc điểm mẫu của từng quốc gia Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nhiều nhất

là ở Thái Lan (40,3%, 444 người), sau đó là Việt Nam (35,3%, 389 người), và

Campuchia (24,4%, 269 người) ở Việt Nam và Thái Lan, phần lớn đối tượng

trong mẫu là nữ (lần lượt là 72,5% và 73%); ở Campuchia mẫu gồm hầu hết là

đối tượng nam giới (88,5%) và ở Thái Lan 2/3 số đối tượng là trẻ em (67,3%)

Quốc gia quê quán Quê của đối tượng nghiên cứu là: Việt Nam (388 người,

35,2%), Campuchia (312 người, 28,3%), Thái Lan (156 người, 14,2%), Myanma

(128 người, 11,6%), Lào (116 người, 11,6%), và Trung Quốc (1 người, 0,1%) và

một người không biết nguồn gốc quốc gia quê quán của mình

Trình độ học vấn Dưới một phần ba (30,8%) người lớn và 43,7% trẻ em đã hoàn

thành trung học cơ sở (lớp 6-8) Một số lượng nhỏ người lớn (59 người, 8,2%)

đã học xong lớp 10-11 Gần một phần năm số người lớn (19%) và 8,8% chưa qua

trường lớp đào tạo chính quy nào

Nghề nghiệp trước khi đi Gần một phần mười (9,7%) người tham gia phỏng vấn

chưa từng đi làm có trả lương trước khi đi Nông nghiệp hoặc làm ruộng là ngành

nghề phố biến nhất trước khi đi (42,7% trên tống số đối tượng) Một phần năm

(20,A%) đối tượng dưới 18 tuổi là học sinh trước khi đi

Tình trạng hôn nhân Một phần năm (21,6%) đối tượng (trên 15 tuổi) đã kết hôn

và đang sống cùng vợ/chồng trước khi đi

Người trả lời phỏng vấn đã từng kết hôn và có con Trong số 287 đối tượng đã

'từng kết hôn, 80,8% có con

Trang 15

Tom tất

Chuyển gửi Đối tượng chủ yếu được các cơ quan nhà nước, cảnh sát, và cán bộ xuất nhập cảnh (85,9%) giới thiệu chuyển gửi đến các cơ sở dịch vụ

Giai đoạn trước khi đi

Nhận thức về BBN Dưới một nửa (44,1%) đối tượng tham gia nghiên cứu (đi

từ nhiều nước khác nhau) nói rằng họ đã từng nghe nói đến nan “BBN.” Nguoi Thái Lan có tỷ lệ số người đã từng nghe nói về “BBN” cao nhất (65,4%), sau đó là người Campuchia (46,2%), người Lào (39,7%), người Việt Nam (38,9%) và người Myanmar (32,8%)

8ị lừa tuyển dụng Một phần ba (34,2%) số người tham gia phỏng vấn nói rằng người môi giới phải chịu trách nhiệm vì đưa họ vào tình trạng bị buôn bán Hơn một

phần tư (26,5%) số người nói rằng người thân hoặc người lẽ ra phải được tin cậy (ví

dụ như cha mẹ, người nhà, bạn bè, đồng nghiệp, người yêu, hàng xóm, vu ) phải chịu trách nhiệm về việc họ bị buôn bán Có 26 người nói họ bị “lừa ban.”

Bạo hành trước di cư Trong số đối tượng là người lớn, 15,1% đã từng chịu bạo hành về thể chất hoặc tinh dục ít nhất một lần trước khi di khỏi nhà Gần một phần năm (22,0%) số trẻ em đã từng chịu bạo hành về thể chất hoặc tình dục, Số lượng phụ nữ (20.6%) bảo cáo chịu bạo hành về thể chất hoặc tình dục trước khi

đi ở mức độ cao hơn so với nam giới (14,6%).'

Các thông tin nghề nghiệp trước khi đi Gần một nửa số đối tượng nghiên cứu (44,8%) nói rằng thông tin họ nhận được trước khi đi “hoàn toàn không đúng

sự thực",

Giai đoạn bị bóc lột

'Địa điểm đến Tổng công có 9 quốc gia được tính là địa điểm đến Bộ phận người tham gia nghiên cứu bị bóc lột lớn nhất là ở Thái Lan (40,7%), sau đó là Trung Quốc (30,0%), và Indonesia (11,7%) Trong tổng số 1.102 người tham gia nghiên

cửu, 87 (7,9%) người nói rằng họ không tới được nước định đến Số liệu về giai

đoạn bị bóc lột chủ yếu phản ánh 1.015 người (92,1%) đã tới nơi và bắt đầu làm việc

Ngành nghề lao động Các đối tượng bị buôn bản vào 15 lĩnh vực ngành nghề khác nhau, với hai phần ba (67,2%) bị bán vào 3 [ĩnh vực: mại dâm (29,9%), đánh bắt cá (25,0%) và làm việc trong nhà máy (12,3%) Hơn một nửa các đối tượng dưới 18 tuổi bị bán để làm mại dâm (51,9%)

` 6 iệu Về bạo hành trước di cư chỉ được tính che 877 rong tổng số 1103 người Tại Việt Nam, bạo hành trước di cự cho 225 người / tổng số 38 (57.8%) không đáng tin cậy v lý do cơ sở dữ liêu đến ngày 20 tháng '8nm 2012 mới được sửa Dữ iệu này của Việt Nam được mã hóa là không cổ (n=225) cho tới ngày 20 thắng {8 năm 2012 Dữ liệu về bạo hành rước di cư của Việt Nam chỉ bao gôm n=164/389 (42.2%) đội tượng có số liệu được nhập sau ngày 20 tháng 8 năm 2012, khi đội ngữ nghiên cửu có thế kiểm chứng là dữ liệu đăng tín cây

Trang 16

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

Bạo hành tại nước đến Khoảng một nửa số nam giới (49,3%) và phụ nữ ở độ tuổi trưởng thành (60%) bị bạo hành về tình dục và/ hoặc thể chất tại nước đến

Có 36,2% trẻ em từ 10-14 tuổi và 35,3% thiếu niên từ 15-17 tuổi phải chịu bạo

hành

Bạo hành theo ngành nghề Những ngành nghề chịu nhiều bạo hành về thể chất và/hoặc tình dục nhất theo khảo sát là làm cô dâu/làm vợ (88,5% (n=46/52), đánh bắt cá (68,4%, r=188/275), mại dâm (50,8%, n=167/329), hầu hạ trong nhà (60,5%, n=23/38) và ăn xin (36%, n=9/25)

Bao hành tình dục Trong số những đối tượng đã tới nước đến và trả lời câu hỏi

về bạo hành tình dục (n=1009), gần một phần sáu đối tượng (n=204, 20,2%) bị cưỡng bức quan hệ tình dục trong khi bị buôn bán Trong số 204 người bị lạm dụng tình dục, 198 (97,1%) là nữ và 6 (2,9%) là nam

'Ðe dọa Khoảng một nửa số đối tượng (n=467/1015, 46%) bị đe dọa bạo hành với bản thân trong thời gian bị buôn bán

'Ngày/giờ làm việc Hơn hai phần ba (67,5%) số người tham gia phỏng vấn phải

làm việc 7 ngày một tuần và thời gian làm việc trung bình một ngày là 13,8 giờ (ĐLC*=6.6) Người làm nghề đánh bắt cá phải làm việc nhiều giờ nhất (18,8, ĐLC 5,9), sau đó là làm việc nhà (15,2, ĐLC 6,6)

Hạn chế tự do Hơn hai phần ba (67,9%) đối tượng “không bao giờ” hoặc “hiếm khi” được “đi đến nơi họ muốn hoặc làm những việc họ muốn”, với hơn một nửa (68,7%) đối tượng “không bao giờ” được tự do N8BB làm việc nhà (86,8%) và đánh bắt cá (80,4%) thường “không bao giờ” được tự do làm những việc mà họ

muốn hoặc đi tới nơi họ muốn

Hạn chế tự do và bạo hành Trong số những người tới được nước đến, đối tượng bị hạn chế thường nhiều khả năng bị bạo hành hơn Cụ thể, 60,1% số đối

tượng “không bao giờ” được tự do còn bị bạo hành về thế chất và/hoặc tình dục,

so với 13,9% số đối tượng “luôn có tự do” và bị bạo hành

Bị cưỡng bức sử dụng ma túy Một số đối tượng bị cưỡng bức sử dụng ma túy, với 6.1% đối tượng bị ép dùng ma túy hoặc thuốc điều trị trong thời gian bị buôn bán Tỉ lệ bị ép sử dụng ở đối tượng trẻ em (8,4%) là cao hơn ở người lớn (4,9%)

Sử dụng rượu bia Một số lượng nhỏ (3,2%) đối tượng nghiên cứu có uống rượu bia hàng ngày

Nguy hại nghề nghiệp Tinh theo ngành nghề bị bóc lột thì những nguy hại nghề nghiệp thường gặp nhất là: “liên tục cúi gập người hoặc khuân đồ” (n=389,

44,6%), “nhấc đồ năng” (n=347, 39,8%), “dùng công cụ sắc nhọn” (n=263,

20,1%) Hơn 90% người đánh bắt cá phải làm việc “trong thời gian dài ngoài trời

*_ Độ lệch chuẩn (ĐLC) ĐLC đo lường số lượng biên thiên hay phân tắn từ giá trị trung bình.

Trang 17

Sử dụng bao cao su, TỈ lệ phụ nữ không bị bạo hành “luôn luôn” dùng bao cao su cao hơn hai lần so với tỉ lệ phụ nữ bị bạo hành (75,5% so với 35,8%)

Các chấn thương liên quan đến công việc Hơn một phần năm (21,9%) đối tượng nói là bị thương nghiêm trọng ít nhất một lần trong khi làm việc, ví dụ

như bị vết cắt sâu và dài, tổn thương về da, hoặc bị thương ở lưng hoặc cổ Gần

một nửa số NBBB để làm nghề đánh bắt cá (n=128/275, 46,6%) và 26% (n=5/19)

làm nghề xây dựng bị thương nghiêm trọng ít nhất một lần Có 7 người tham gia

phỏng vấn (3,2%) mất một bộ phận cơ thể Chỉ có 62 trong số 222 người được

chăm sóc y tế sau khi bị thương

Thời gian chịu cảnh buôn bán Đối tượng chịu cảnh bị buôn bán trong khoảng thời gian trung bình là 115 ngày (MAD - Độ lệch trung vị tuyệt đối"=92,5) Ngành

nghề có thời gian bình quân với BBN nhiều nhất là: đánh bắt cá (487,3 ngày;

MAD 350.3), làm cô dâu/làm vợ (183 ngày; MAD=122) va làm việc nhà (122; MAD=107)

Điều kiện sống va làm việc Hầu như tất cả những người tới được nước đích (n=1014/1015, 99,9%) đều chịu một số điều kiện sống và làm việc kém Các điều kiện bất cập thường được nhắc tới là: “không có hoặc hiếm khi được nghỉ” (56,1%); sống/ngủ trong phòng quả chật chội (44,6%); và không có chỗ ngủ hoặc phải ngủ dưới sàn nhà (36,4%) Gần 200 đối tượng (19,5%) bị 'ở trong phòng bị khóa”— nhiều nhất là các đối tượng bị buôn bán để làm mại dâm, làm việc nhà,

và đánh cá Hơn nữa, hơn một trong năm người không cỏ đủ đồ ăn hoặc nước uống trong khi làm việc

Chỉ trả tiền mặt Ít người (n=380/1022, 37,4%) được trả công bằng tiền mặt

Giấy tờ cá nhãn và thông hành Phần lớn (69%) đối tượng không có giấy tờ cá nhân và thông hành, và trong số đối tượng có giấy tờ, 39,4% (n=124) đối tượng

bị người khác giữ giấy tờ của mình

Chăm sóc y tế Hơn một phần ba đối tượng (n=414/1015, 40,8%) cần được chăm sóc sức khỏe trong thời gian bị buôn bán Nhiều trẻ em (51,7%) hơn người lớn (35,2%) cần được chăm sóc sức khỏe, và nữ (49,2%) nhiều hơn nam (30%) Trong số các đối tượng cần được chăm sóc y tế, gần ba mươi phần trăm (29,7)

ˆ*_ Độ lệch trung vị tuyệt đối (MAD), đo lường biến số một mẫu đơn biến trong số liệu định lượng,

Trang 18

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

không nhận được sự chăm sóc nào (n=414), một phần ba (33,7%) cỏ được khám bác sĩ và 20,8% gặp y tá, trong khi 23% nhận được thuốc uống từ chủ lao động Thai sản và kết thúc thai nghén trong thời gian bị buôn bán 35 (7,5%) đối tượng có thai trong thời gian bị buôn bán (ví dụ như người hành nghề mại dâm, n=15; làm cô dâu/làm vợ, n=11) và 12 người phá thai

Thoát khỏi tình trạng bị buôn bán Khoảng một nửa đối tượng (43,3%) nói rằng

họ không bao giờ tìm cách thoát khỏi tình cảnh này Những lý do của đối tượng

về việc không tìm cách thoát là: “tôi đang kiếm được tiền” (44,7%), “tôi sợ bị lạc" (33,3%), “tôi sợ bị bắt giữ” (n=143/445, 32,1%) và “tôi không có giấy tờ cá

nhân” (n=120/466, 27%) Phần lớn các trường hợp (71,1%) trổn thoát nhờ sự hỗ

trợ của cảnh sát, bộ đội biên phòng hoặc cán bộ nhà nước, trong khi 28,9% bỏ

trốn hoặc trốn thoát mà không có ai giúp, thì 15,4% được hỗ trợ từ các tổ chức

phí chính phủ

Giam giữ Khoảng một phần tư (24,1%) đối tượng bị giam giữ Tỉ lệ nam bị giam giữ (28,5%) nhiều hơn nữ (20,7%) và người lớn (30,3%) nhiều hơn trẻ em (12,2%)

Giai đoạn sau khi bị buôn bán

Sức khỏe thể chất 15,6% số đối tượng có sức khỏe “kém”, thường là đối tượng

bị buôn bán để làm nghề danh bắt cá (26,9%) và làm việc nhà (18,4%) Phần lớn

các đối tượng (64,3%) đều chỉ ra ít nhất một bộ phận trên cơ thể mà họ bị đau hoặc bị thương Các bộ phận trên cơ thể thường bị đau hoặc bị thương là: đầu (26,2%); bụng (19,5%) và lưng (13,6%)

Chăm sóc y tế sau khi bị buôn bán Gần một nửa (49,6%) số đối tượng bị đau,

bị thương, hoặc có vấn đề sức khỏe nói rằng họ muốn đi khảm bệnh vì vấn đề

sức khỏe này

Thai sản 21 phụ nữ (4,5%) trong độ tuổi sinh sản đang có thai tại thời điểm

phỏng vấn Trong số 21 phụ nữ có thai thì 14 (66,6%) từng chịu bạo hành về tình dục

Sức khỏe tinh thần 59,7% đối tượng có triệu chứng bị trầm cảm 35,6% đối

tượng có dấu hiệu rối nhiễu stress sau sang chan (PTSD), và 41,9% đủ tiêu chí của triệu chứng rối loan lo âu Tỉ lệ người lớn có triệu chứng liên quan đến các rối loạn cao hơn trẻ em dưới 18 tuổi Đối tượng nữ có dấu hiệu trầm cảm nhiều hơn

nam, trong khi đối tượng nam có dấu hiệu rối nhiễu stress sau sang chấn và rối

loạn lo âu nhiều hơn Mặc dù số lượng đổi tượng nghiên cứu có giới hạn, nhưng, qua so sánh giữa các ngành nghề, có thể thấy dấu hiệu trầm cảm xuất hiện nhiều nhất trong đối tượng bị buôn bán để làm công nhân nhà máy (n=92/136, 67,7%),

Trang 19

Tom tất

làm việc nhà (n=31/38, 81,6%) và xây dựng (n=15/19, 79%) Rối loạn lo âu xuất hiện nhiều nhất trong các đối tượng bị buôn bán để làm việc nhà (24/38, 63.2%)

và nông nghiệp (n=36/58, 62.1%) Rối nhiễu stress sau sang chấn xuất hiện nhiều

trong đổi tượng bị buôn bán để làm nông nghiệp, làm việc nhà, xây dựng, và làm trong nhà máy (52,2% đến 65,8%)

'Ý nghĩ tự tử Một phần sáu đối tượng (n=164; 14.9%) có “suy nghĩ về kết thúc cuộc đời” (ý định tự tử) trong 1 tuần trước phỏng vấn

Những mối quan tâm thường gặp sau khi bị buôn bán Mối quan tâm thường gặp nhất của đối tượng sau khi bị buôn bán là: “vấn đề tiền nong trong gia định” (44,6%); vấn đề sức khỏe trong gia đình (43,1%) và cảm giác mặc cảm tội lỗi (41,2%)

Nỗi sợ kẻ buôn người Khoảng một nửa số đối tượng (43,1%) cảm thấy rằng họ

vẫn còn khả năng bị nguy hiểm từ kẻ buôn người kể cả sau khi thoát khỏi tình trạng bị buôn bán, 34,3% tin rằng họ vẫn còn bị nguy hiểm, và 8,8% không chắc bản thân mình có còn trong tình trạng nguy hiểm hay không

Cách gia đình và cộng đồng đối xử với người trở về Hơn một nửa số đối tượng (56,3%) lo lắng về cách người khác đối xử với họ khi họ trở về nhà Người chịu bạo hành tỉnh dục trong khi đang bị buôn bán (n=158/211, 74,9%) cỏ nhiều lo lắng hơn người không phải chịu bạo hành tình dục (n=459/883, 52%)

Nơi ở sau khi trở về nhà Khi được hỏi là sẽ sống với ai sau khi ra khỏi cơ sở hỗ trợ thì 79,6% người tham gia trả lời phỏng vấn nói họ sẽ về sống với cha mẹ hoặc người nhà

Chia sẻ sau khi bị buôn bán Một nửa sổ người tham gia phỏng vấn có ý định

chia sẻ với người khác trải nghiệm bị buôn bán của mình (n=465/1102, 42,2%),

và một nửa thì không (n=497/1102, 45,1%) Phụ nữ bị buôn bán để làm mại dâm

ít muốn (n=98/328, 29,9%) chia sẻ hơn là phụ nữ bị buôn bán cho những mục đích khác (n=105/241, 43,6%) hoặc nam giới (n=262/533, 49,2%)

Hy vọng về tương lai Không ngạc nhiên là khi được hỏi về hy vọng cho tương lai, phần lớn các đối tượng, cả nam và nữ (60,5%) đều nói rằng mình hy vọng “có công ăn việc làm” Nhìn chung các đối tượng đều giữ được hy vọng cho tương lai Chỉ có một số ít (5,1%) nói rằng họ không có hy vọng gì cho tương lai

Trải nghiệm phỏng vấn Khi người tham gia phỏng vấn được hỏi rằng họ cảm

thấy cuộc phỏng vấn khó hoặc dễ như thế nào, phần lớn (70,2%) nói phỏng vấn

là “dễ”, trong khi 20,5% nói “hơi khó,” và 9,1% thấy “khó.”

Trang 20

số 1 (T1) và Thời gian số 2 (T2], những phát hiện này hy vong sẽ cung cấp thêm

hiểu biết về các nhu cầu của người đã từng bị buôn bán sau khí các nhu cầu cần

bản của họ đã được đáp ứng đầy đủ và đã có thời gian để hồi nhục sức khỏe và cần nhắc về tương lai

Tổng cộng có 353 trong số 1102 (32%} đổi tượng từ mẫu ban đầu tham gia

phỏng vấn lần hai Tại Thái Lan, 48,5% {n=215) đối tượng tham gìa phóng vấn lần hai; tại Campuchia, 39% (n=105) tur số đổi tượng ban đầu; và tại Việt Nam có 8,5% (n=33} trong tổng số đối tượng được phóng vấn lần 2 Đối với phần lớn các nghiên cứu khác thì đây là lệ mất dấu đáng kế, nhưng đối với đối tượng nghiên cứu là quần thể có tính di biển động cao như trong nghiên cứu này thì tỉ lệ duy trì là tương đối hợp lý

Ip âu (từ 37,3% xuống 26%) và một phần ít trơn giảm rối nhiễu stress sau sang

chẩn (từ 28,5% xuống 23,7%) Không thể khẳng định được yếu tổ nào có thể đã ảnh hưởng đến các thay đổi này,

Trang 21

Tom tất

Sơ lược các khuyến nghị cấp vùng

Khuyến nghị tổng quát

(a) Buôn bán người cần được nhìn nhận là một vấn đề sức khỏe.“

(b) Công nhân quyền được chăm sóc sức khỏe của những người đã bị buồn bán

Khuyến nghị cho các quốc gia

Chính phủ nói chung và các nhà lập pháp Đặc biệt là những đơn vị có trách nhiệm trong phòng chống buôn bán người

{a) Cac quốc gia trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) cần xây dựng,

hiệp định cấp khu vực về quyền sức khỏe của phụ nữ, nam giới và trẻ em bị buôn bán,

(b)_ Quốc gia cần xây dựng các cơ chế chuyển tuyến trong nước và xuyên quốc

gia) qua đó đảm bảo sức khỏe của NBBB luôn được đặt lên hàng đầu trong suốt quá trình chuyển tuyến và chia sẻ thông tin y tế để nạn nhân luôn nhận được sự chăm sóc mà họ cần Các cơ chế chuyển tuyến cần tuân thủ quy định về sự đồng thuận và bảo mật và riêng tư cho NBBB

(c)_ Chính phủ các nước cần có những sửa đổi cần thiết về pháp luật và quy

định quốc gia, theo đó bổ sung quy định bắt buộc chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân bị buôn bán Chính phủ cần cấp ngân sách và lồng ghép công tác chăm sóc sức khỏe NBBB vào chiến lược hoạt động của các đơn vị chủ lực trong phòng chống buôn bán người Cần bổ trí dịch vụ chăm sóc phù hợp từng độ tuối và giới tính, chăm sóc trên cơ sở tự nguyện với sự đồng thuận của nạn nhân Cụ thể như sau:

(i) Đảm bảo NBBB có thể tiếp cận dịch vụ y tế do nhà nước hỗ trợ ở nơi

họ đề nghị

(ii) Cung cấp dịch vụ y tế chất lượng do các y bác sĩ đã được tập huấn về

chăm sóc NBBB đảm nhiệm

(ii) Dành ngân sách từ kinh phí phòng chống buôn người quốc gia hoặc từ

ngành Y tế để trợ cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho NBBB

(iM)_ Cho phép các nạn nhân sử dụng dịch vụ y tế phục hồi sức khỏe do

chính phủ trợ cấp tại nước đến, nước trung chuyển và nước trở về

Quyền thụ hưởng dịch vụ này cần được cụ thế hóa thông qua công cụ pháp lý phù hợp, bất kể tư cách pháp lý và năng lực chỉ trả của nạn nhân

Trang 22

(vii)

Sức khỏa và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md rong

Đảm bảa phối hợp giữa các cơ quan liên quan tai nước gốc và nước

đến đề đáp ứng tốt nhu cầu chăm sác sức khỏe của nạn nhân bị buồn

Không trao trả NBBB tử nước đến hoặc nước trung chuyển về nước

xuất phát mà không cung cấp cho họ những hỗ trợ y tế trước mắt cần

thiết

Thiết lập quỹ hỗ trợ để cung cấp các dịch vụ y tế dành riêng cho nan

nhân bị buôn bán, bao gồm nạn nhân bị buôn bán trang nước cũng

như NBB8 ra nước ngoài, tại những địa điểm chưa có đủ dịch vụ đáp

ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho họ, dù chơ họ có khả năng chỉ trả

hay không Thiết lập quỹ quốc gia hay quỹ Bộ Y tế dành riêng cho chăm

sóc sức khỏe nạn nhân bị buôn bán

Nạn nhân bị buồn bán trong nước hay từ nước ngoài trở về phải được

hưởng quyền sử dụng dịch vụ y tế của chính phủ tương tự những công

dân khác của nước đó, bất kể họ đã ở nước ngoài bao lâu

Công nhận các quyền về sức khóe, an toàn và lao động của NBBB nhấm

tầng cường các biên pháp bảo vệ trong các ngành lao động trong pháp

luật quốc gia, bao gồm cơ chế bồi thường những tổn hại, thương tích

hay đau đớn; đồng thời hỗ trợ họ tiếp cận quỹ hễ trợ phục hồi để giải

quyết hậu quả về mặt sức khảe do bị lạm dụng trong thời gian bị buân

bán

(ii) Thực hiện công tác vận động nhằm hỗ trợ nạn nhân tiếp cận quỹ hỗ trợ

phục hồi và đền bù cho những tốn hại, thương tích hay đau đớn thông

qua các cơ chế cấp khu vực, các hiệp hội lao động và cộng nghiệp quốc

gìa cũng như các cơ sở ý tế,

(xiv] Các nước cần thức đấy sự phối hợp giữa ngành y tế cũng như các cơ

(wy

quan, đơn vị chủ chất về nhàng chống buôn bản người để cá biện

pháp ứng phó về khía cạnh sức khỏa của nạn buôn người

Các nước cần thông qua luật lệ che phép thanh tra chuyên ngành và

định kỳ về sức khóe và an toàn đối với những ngành thường xảy ra

bóc lệt người lao động và buôn bán người Bổ sung các biện pháp hữu

hiệu để bảo vệ người lao động kèm theo hình thức xử phạt mạnh tay

đối với kế bóc lột Cán hộ thanh tra cần được tập huẩn để phát hiện và

chuyển tuyển những đối tượng có dấu hiệu bị buôn bán

(swi] Tầng cường ưu tiên đổi với ý tế trong các dy ban về phòng chống buôn

người quốc gia và khu vực cũng như các nhóm cổng tác để họ hiểu rã

vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác chắm sóc nạn nhân, nhằm

có các biện pháp để phát hiện và đáp ứng những nhu cầu y tế của

NBBB Đảm bảo có đại diện của cấp cao ngành y tế và các dich vụ đặc

a

Trang 23

biệt phù hợp (v.d những người hoạt đông ứng phó bạo hành dựa trên giới, nhân viên tiếp cận cộng đồng, các bộ quản lý nơi tạm lãnh, wv ) (vi) Các nước cũng cần thiết lập bộ chỉ sổ theo dõi sức khỏa, tối thiểu là:

(1] những rủi ro về sức khỏe cửa các đối tượng được xác định là nạn nhân của buôn bán người, (2) những hậu quả về sức khỏe do nạn nhân tự khai báo hay được chấn đoán; (3) những dịch vụ y tế mà nạn nhân được nhận Số liệu thu được cần giữ kín danh tính nạn nhân, được lồng ghép vào các cơ chế thu thập số liệu quốc gia cũng như khu vực, và được công hổ cổng khai

(viii) Bam bio cdc co quan, don vị chú chết chỉ đạo công tác phòng chống

buôn hân người nhìn nhận các đơn vị y tế là đơn vị tuyến đầu trong

sảng lọc và chuyển tuyến những người có dấu hiệu bị buôn bán và

đảm bảo cần bộ y tế được tham gia vào cổng tác lập kể hoạch chiến

lược và hoạt động tập huấn về phòng chống BBN

Trang 24

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

Những phát hiện trong khảo sát này thu được từ 1.102 đối tượng đã bị bóc lột và

sẵn sàng chia sẻ những trải nghiệm và nêu lên những quan tâm về sức khỏe của

họ Người tham gia trả lời phỏng vấn đóng góp chia sé trải nghiệm của mình với mục đích giúp các cơ sở hỗ trợ và nhà hoạch định chính sách dùng những bằng

chứng này để tìm ra phương án bảo vệ người khác khỏi bị bóc lột và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người bị sa vào hình thức bóc lột cực đoan này Mặc dù cuộc khảo sát phát hiện ra rất nhiều hình thức bóc lột ngoài sức tưởng tượng, và trên thực tế còn nhiều hình thức bóc lột hơn nữa, cuộc khảo

sát này đồng thời cũng cho chúng ta một bức tranh hy vọng với cơ hội để hiểu

và đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe và cơ chế đáp ứng tốt hơn trong tương lai

Báo cáo này cung cấp kết quả định lượng hiếm hoi về những hình thái nguy

cơ, những lạm dụng, nguy hại nghề nghiệp và những hậu quả về sức khỏe của những NBBB vào các lĩnh vực lao động khác nhau Số liệu trong cuộc khảo sát

được trình bày theo số liệu thống kê — phan tram của tổng số 1.102 đối tượng

~ nhưng cuối cùng thì mỗi cá nhân đều có trải nghiệm riêng của mình Do đó,

chúng tôi khuyến nghị độc giả cũng nhìn và suy nghĩ về con số thực tế những con người (số “n=”) phải chịu những nạn này Con số dữ liệu về những con người này cho ta thấy một ấn tượng kinh hoàng về những cuộc đời bị hại ~ đôi khi bị hủy hoại ~ chỉ trong nhóm đối tượng nghiên cứu này Và, như đã nói, đây chỉ là

một phần rất nhỏ trong số những người lao động di cư bị bóc lột trong khu vực

này, và tất nhiên đó chỉ là một phần tí hon trong số những người bị bóc lột trên

toàn cầu

Như chúng tôi được biết, từ trước tới nay có rất ít các nghiên cứu khác cung cấp đầy đủ các phát hiện dựa trên số liệu về đề tài sức khỏe và nạn buôn người ở tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng như thế này Các phát hiện của nghiên cứu có

Ý nghĩa rộng và quan trọng đối với lĩnh vực y tế và nhiều ĩnh vực khác Những kết quả nghiên cứu này cũng là một lời kêu gọi hành động khẩn cấp.

Trang 25

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

BBN là một sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, thường liên quan đến các hình thức lạm dụng cực đoan Những NBBB phải chịu đủ mọi nguy cơ về sức khỏe, bao gồm bạo hành, tinh trạng thiểu thổn, và những mối nguy hại nghề nghiệp nghiêm trọng Những mối nguy hiểm này thường xuyên dẫn đến mắc

bệnh cấp tính và lâu dài, và đôi khi dẫn đến tử vong Phần lớn những NBBB phải

hứng chịu hậu quả về thể chất và tâm lý kéo dài nhiều năm, và đối với một số người là phải chịu đựng suốt đời

Mặc dù đã có nhiều cuộc đối thoại và tài liệu quốc tế về lạm dụng và bóc lột

nghiêm trọng trong các vụ BBN, nhưng đáng thất vọng là có rất ít bằng chứng về

tình trạng sức khỏe của người đã bị buôn bản và các dịch vụ chăm sóc tâm lý và y 'tể mà họ cần Trên thực tế có rất ít các nghiên cứu kỹ lưỡng về đề tài hậu quả sức khỏe sau BBN, và theo chúng tôi biết, chưa từng có nghiên cứu về nhu cầu chăm

sóc sức khỏe của người đã bị buôn bán ở Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng

Phần lớn các nghiên cứu cho tới nay đều tiến hành tại châu Âu, chủ yếu về phụ

nữ bị buôn bán, bóc lột mại dâm, trong khi cỏ rất ít chủ ý tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người đã bị buôn bán ở những vùng miền hoặc ở ngành nghề khác

Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng là khu vực có tỉ lệ người bị lâm vào tỉnh trạng

lao động cưỡng bức, thường là do bị nạn BBN, cao đáng kể Phụ nữ, nam giới, và

trẻ em trong vùng bị buôn bán và cưỡng bức vào đủ thể loại lao động, trong đó

có mại dâm, đánh bắt cá, giúp việc nhà, làm nông, chế biến thực phẩm, dịch vụ,

ăn xin đường phố, và việc công xưởng Họ bị kẻ BBN, chủ lao động, và cả đồng nghiệp bạo hành và lạm dụng, trong điều kiện có thể bị hàng loạt rủi ro nghiêm

trọng về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp cũng như điều kiện sống tồi tệ Người lao động bị buôn bán thường phải làm việc rất nhiều giờ đồng hồ mà hiếm được nghỉ ngơi, hầu như không được đào tạo hoặc đào tạo bằng ngôn ngữ mà họ không hiểu Người bị bóc lột hiếm khi được cấp thiết bị bảo hộ lao động nhưng

thường xuyên trong môi trường công việc không có giám sát kiểm tra an toàn lao

động Trong môi trường làm việc nhiều rủi ro này, những NBBB phải chịu nhiều vấn đề sức khỏe thể chất và tỉnh thần cấp tính và mãn tính và cần được tiếp cận nhiều dịch vụ chăm sóc y tế Cần có ngay các bằng chứng nghiên cứu để cung cấp thông tin về can thiệp y tế và chính sách đáp ứng vùng miền, nhằm đảm bảo NBBB có khả năng phục hồi sức khỏe tốt nhất

Để khắc phục các thiếu hụt với bằng chứng về sức khỏe của người đã bị buôn bán, một cuộc nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, đa quốc gia đã được thực hiện dé xác định các nguy cơ rủi ro về sức khỏe và nhu cầu chăm sóc thiết yếu của NBB8 tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam Công tác thu thập số liệu được tiến hành

từ 2010 đến 2013 với đối tượng là phụ nữ, nam giới, và thanh thiếu niên dang as

Trang 26

16

Bối cảnh

sử dụng dịch vụ của các trung tâm hỗ trợ sau BBN Bay la mot dự án nghiên cứu

cả tính đột phá được LH5TM và IOM thực hiện với tài trợ của Quỹ Anesvad va

Quỹ Phát triển IOM, và sự hợp tác cúa các tổ chức hỗ tro’ sau BBN tai địa phương (Xem Bảng 1) và bản thân những người đã bị buôn bán trở về,

Ngoài việc phát hiện các ảnh hưởng đến sức khảe trong các giai đoạn khác nhau của quá trình di cư, nghiên cứu này còn thừa nhận các “vùng tối" ~ những điều

chưa rõ ràng và phức tạp khi định nghĩa BBN Cụ thể là nghiên cứu này nhận thấy

có sự thiếu rõ rằng trong định nghĩa “bóc lột," một trong những khái niệm cốt lõi trong phần lớn những định nghĩa BBN, nên chưa rõ một người phải bị hóc lệt đến mức độ nào mới được xem xét là đã “bị buôn người” Vì lý đo này, để tránh việc nhóm nghiên cứu tự quyết định chủ quan “si là NBBB/ và vì lý do đạo đức (để tránh phòng vấn những người vẫn đang trong tình trang bị buồn bán), nhóm đối tượng nghiên cứu được định nghĩa là “các cá nhân đang sử dụng dịch

vụ hỗ trợ sau BBNZ Bằng cách này, nhém đổi tượng nghiên cứu được lựa chọn

từ nhóm người sử dung địch vụ, và mục đích cúa nghiên cứu là cung cấp thông

tin cho các trung tâm hỗ trợ về nhu cầu của người sử dụng Các phát hiện của

nghiên cứu chỉ 4p dụng với đối tượng nghiên cứu đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ trong thời gian nghiên cứu, và không chắc chắn có thế áp dụng với toàn bộ số người sử dụng dịch vy hé tre sau khi bj BBN Tuy nhiên, đội ngũ nghiên cứu hy vọng rằng các phát hiện của nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin về các hình thái nguy cơ rủi ro sức khỏe, kết quả, và nhu cầu hỗ trợ cho các cơ sở dịch vụ hỗ trợ

và chính sách cho NBB trong cho các mục đích khác nhau trong và ngoài Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng

Báo cáo này trình bày các kết quả nghiên cứ chính và đưa ra những khuyến nghị

mà đội ngũ nghiên cứu hy vong sẽ giúp cho việc phát triển những chính sách y tể phối hợp để có những đáp ứng, chiến lược cho các dịch vụ chăm sóc y tế chuyên

và chăm sóc có tính cá nhân cho NBBB ở Tiểu vùng sông Mẻ-

Trang 27

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

EM Mục Tiêu Nghiên Cứu

Mục đích

Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng và hình thải sức khỏe, mô tả những yếu tổ nguy cơ về sức khỏe của người dĩ cư bị bóc lột lao động trong số những người sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau BBN tại các nước Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng: Thái Lan, Campuchia và Việt Nam

Mục tiêu

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là (a)_ Cung cấp tư liệu về hậu quả sức khỏe của NB88 trong suốt quá trình BBN; (b)_ Xem xét các thay đối theo thời gian về sức khỏe thế chất và tính thần;

(c) _ So sánh những điều kiện sống và làm việc, chỉ số giữa bạo hành và sức khỏe

phân loại theo mức độ bóc lột, quốc gia, nhóm tuổi, và giới tính;

(d)- Mô tả về phản ứng xã hội (ví dụ như cảm giác tội lỗi, xấu hổ, trao quyền, kỳ

chứng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe

Báo cáo nghiên cứu này trình bày về tần suất hậu quả sức khỏe và tình trạng bóc lột, bao gồm những điều kiện sống và làm việc, bạo hành, phản ứng xã hội và những nhận thức của cá nhân về những nhu cầu chăm sóc

Nhận thấy rằng di cư thường là một phần của quá trình mà NBBB trải qua, báo

cáo này trình bày những phát hiện theo giai đoạn di cư: trước di cư và bị lừa

tuyển dụng; nơi đến và quá trình bị bóc lột; và hòa nhập hay tái hòa nhập sau khi thoát khỏi nạn buôn người.

Trang 28

Mục Tiêu Nghiễn Cửu

Khung Khái Niệm

Biếu đồ 1: Các giai đoạn trong quả trình BBN

di cư khỏi bị nguy cơ rủi ro.

Trang 29

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

Phương Pháp Nghiên Cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu về BBN, Bóc lột và Lạm dụng ở Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (STEAM) là một nghiên cứu quan sát cùng đối tượng trong một khoảng thời gian dài Báo cáo này chủ yếu trình bày các tần suất được tính toán dựa trên kết quả của lần phỏng vấn thứ nhất (nghiên cứu cắt ngang đầu tiên) Ngoài ra còn có báo cáo số liệu của đối tượng nghiên cứu được tiếp tục theo dõi trong 30-60 ngày sau phỏng vấn lần đầu, mặc dù trong quá trình thực hiện nghiên cứu, có nhiều đối tượng không tới tham gia lần phỏng vấn tiếp theo

Mẫu khảo sát

Các đối tượng nghiên cứu là nam giới, phụ nữ, và trẻ em từ 10 tuổi trở lên

(n=1,102) đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

Mẫu được chọn theo hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu, các dịch vụ hỗ trợ sau BBN được lựa chọn có chủ đích theo quốc gia (6 dịch vụ ở Campuchia, 4 ở Thái Lan, và 5 ở Việt Nam ~ theo Bảng 1) dựa trên sự đa dạng của người sử dụng, quan hệ đối tác với văn phòng IOM tại các nước và Quỹ Anesvad, và thỏa thuận với các cơ quan của chính phủ các nước nếu có Các trung tâm hỗ trợ nhiều NBBB (nam giới, phụ nữ, và thanh thiếu niên) vì nhiều mục đích khác nhau (ví dụ như bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức, ăn xin) và được nhận hỗ trợ tại Tiểu vùng sông Mê Kông sau khi bị buôn bán.

Trang 30

20

Phương Pháp Nghiên Cứu

Bảng 1: Khái quát về các cơ sở dịch vụ tham gia ở Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM),

Phnôm Pênh, hỗ trợ nam giới,

phụ nữ, và trẻ em bị buôn

bán tự nguyện trở về

Trung tâm chăm sóc sức khỏe

cho Trẻ em (HC) ~ Trung

'tâm Một Ngày tốt — các tinh

Kandal và Koh Kong

Trung tâm Bảo vệ Quyền Trẻ

em Campuchia (CCPCR) thông

qua nhà tạm lánh ở cắc tỉnh

Svay Rieng va Siem Reap

Đại diện cho Phụ nữ trong

hoàn cảnh khó khăn (AFESIP

Trung tâm Bảo vệ và

Phát triển Nghề nghiệp

Kredtrakam - phụ nữ và trẻ em

Trung tâm Bảo vệ và phát triển nghề nghiệp cho nam giới - nam giới

Trung tâm Bảo vệ và Phát

triển Nghề nghiệp Srisurat

và phi chính phủ, hoạt dong tại các vùng khác nhau của Việt Nam, đó là:

Trung tam hỗ trợ phụ nữ 'và trẻ em trong hoàn cảnh

khó khăn tỉnh Cần Thơ (AT)

Trung tâm hỗ trợ xã hội tỉnh Lạng Sơn

Trung tâm dạy nghề, Hội

Liên hiệp Phụ nữ tỉnh

‘Quang Ninh Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lào Cai

Trung tâm phụ nữ và phát triển (Ngôi nhà bình yên)

Trong giai đoạn chọn mẫu thứ 2, mẫu tiếp theo gồm các đối tượng nghiên cứu được mời tham gia phỏng vấn trong vòng 2 tuần (0 đến 14 ngày) sau khi được nhận vào cơ sở dịch vụ hỗ trợ Tất cả các cá nhân đạt đủ điều kiện sau được mời

phỏng vấn trực tiếp:

(a)_ Người sử dụng dịch vụ của trung tâm hỗ trợ sau BBN, trong vòng 10 ngày

hoặc trước khi tham gia phỏng vấn;

Trang 31

Số lượng đối tượng nghiên cứu được tính toán để ước tính tỉ lệ cúa ba kết quá

nghiên cứu: trầm cảm, lơ lắng, và bạo hành Đội ngũ nghiên cứu cũng đã xem xét

kỹ việc cần có dữ liệu ở cấp quốc gia

Tỉnh toản mẫu che thấy mỗi nước cần phỏng vấn với cỡ mẫu là 384 người đế đủ

đạt mực tiêu nghiên cứu

Phỏng vấn lần hai được tiến hành trang vòng 30-90 ngày sau lần phỏng vấn đầu

tiên

Bang cau hi

Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên công cụ được sử dụng trong một nghiên

cứu trước đây ở châu Âu cho NB8B vì mục đích mại dâm”, sau đó được chỉnh sửa

hơn bởi đội ngũ nghiên cứu chính tại LSHTM và có tham vấn với nhóm của IOM,

nhóm chỉ đạo nghiên cứu STEAM và các chuyên gia về nạn BBN trong vùng và

quốc tế Báng cầu hói bao gồm câu hỏi về điều kiện kinh tế xã hội, tiếp xúc trước

khi bị buôn bán, điều kiện sống và làm việc trong khi bị buôn bán, bạo hành, tình

trạng sức khóe, những kế hoạch và mối quan tâm sau khi bị buôn bán

Tình trạng sức khỏe tỉnh thần được đảnh giá bằng sử dung bảng câu hỏi sàng

lọc về trầm cảm và rối loạn lo âu (Bảng kiếm các Triệu chứng Hopkins-25), và rối

nhiễu stress sau sang chin PTSD (Bang câu hỏi Sang chin Harvard) Các công

cụ này được dùng để phát hiện mức độ triêu chứng liên quan đến các rối loan

này, nhưng không phải là công cụ chẩn đaán Các phát hiện trình bày các triệu

chứng tiên quan đến các rối loạn nhưng không phải là chẩn đoán lâm sàng

Phần liên quan đến bạo hành được dựa trên cầu hỏi về hành vì của Tổ chức Y

tế Thế giới v8 bạo hành thể chất và tình dục.* Các câu hỏi này miêu tả các hành

vì bạo hành mà đối tượng nghiên cửu có thể phải chịu trước và trong quá trình

buôn người Phần này được bẩ sung với các hành vi mà NBBB thường báo cáo

khi str dung dich vụ hỗ trợ và nhà tạm lảnh Câư hỏi về quan hệ giữa kẻ buồn

người và đấi tượng nghiên cứu được hải riêng đối với bạo hành thể chất và hạn

hành tình dục Đội ngũ nghiên cứu cũng hỏi các đối tượng về việc bản thân họ,

hoặc gia đình về người thên của họ bị đe dọa

Bằng câu hỏi được chuyên gia dịch thuật và đội ngữ phàng chống BBN của IOM)

tại các nước dịch sang tiếng Khmer, Thái, Việt, và Lào Bản dịch được rà soát lại

trong quá trình tập huẩn và thử nghiệm bảng câu hỏi, Cuối cùng bản dịch lại

được địch ngược sang tiếng Anh và hoàn tất sửa đổi lần cuối, a

Trang 32

2

Phương Pháp Nghiền Cửu

Thu thập và phân tích số liệu

Vì lý do đạo đức và hậu cần, cán bộ của các trung tâm hỗ trợ tại ba nước đã tiến hành phẳng vấn Văn phịng [ƠM tại các nước đã điều phối thu thập và nhập số liêu dưới sự giám sắt của trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London (LSHTM)}

Nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm

2013

Nhập số liệu lần đầu và lần hai đã được trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London hop nhất và làm sạch Số liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 13

Trong báo cáo này, đội ngũ nghiên cứu chỉ trình bày thống kê mơ tả từ nghiên cứu, Chúng tơi đã khơng trình bày những kiểm định độ tín cây về những so sánh được mơ tả trong báo cáo, vì những phân tích sâu hơn sẽ cĩ trong các ấn phẩm sau này về các chủ đề cụ thể

Cần chú ý rằng các giá trị bị thiếu được đưa vào trong mẫu thức cho số liệu được trình bày trừ khi được trình bày khác đi

Tiêu chuẩn đạo đức

Quy trình chặt chẽ về đạo đức và an tồn được soạn thảo và thực hiện theo

Khuyến nghị về vấn đề Đạo đức vừ An tón của Tổ chức Y tế Thế giới cho Phỏng vấn Phụ nữ bị buơn bĩn (tác già của khuyến nghị cũng là một trong các nhà nghiên cứu chính của dự án này) (uy trình đạo đức bao gồm hướng dẫn về chấp thuận được cung cấp đềy đủ thơng tỉn, tính vơ danh, bảo mật, và riêng tư, giải quyết tình huống khĩ xử, khi nào nên kết thúc phỏng vấn, và quy trình chuyển gửi Việc phê duyệt vấn đề đạo đức được Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London và hội đồng đạo đức tại nước sở tại tiến hành, Ở Campuchia, việc phê duyệt do Hỏi đồng Đạo đức quốc gia về Nghiên cứu Sức khĩe {Bộ Y tế]

Tại Việt Nam, Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Cơng Cộng và ở Thái

Lan, các chuyên gia của Bộ Phát triển Xã hội và An ninh Con người đã xét duyệt tiêu chuẩn đạo đức của nghiên cứu này,

Trang 33

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiếu vùng sông Mé-Kéng md rong

HE 6g Quan vé cac dich vu hé tro va chuyén

tuyến hậu BBN ở Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam

Quá trình chuyển tuyến

vụ cung cấp hỗ trợ trực tiếp và thực hiện tải hòa nhập, tìm kiếm gia đình cho trẻ

vị thành niên không nơi nương tựa, và đào tạo nghề

Các cơ quan chính phủ khác có tham gia là Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế, các đại sứ quán và lãnh sự quán ở nước ngoài có liên quan, làm việc với chính quyền địa phương và các cơ quan quốc tế tại các nước đến để xác định và hồi trả nạn nhân người Campuchia bị buôn bản trở về Campuchia

Thái Lan

Tại Thái Lan, các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về chuyển tuyến gồm Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan (Cục Phòng chống BBN- AHTD), Bộ Tư pháp (Cục điều tra

đặc biệt - DSI), Cục xuất nhập cảnh, và Bộ Phát triển Xã hội và An Ninh Con Người

(Cục Phát triển xã hội và Phúc lợi - DSDW) Quá trình chuyển gửi các nạn nhân của nan BBN ở Thái Lan được thực hiện thông qua các “Đội đa ngành” (MDT) về chống BBN MDT bao gồm một nhóm các cán bộ chuyên môn đến từ các lĩnh vực khác nhau để tiến hành đánh giá toàn diện và tư vấn về tất cả các vụ BBN Nhóm này bao gồm các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở cấp địa phương, quốc gia

và song phương, làm việc ở mỗi giai đoạn của quá trình, bao gồm việc tiếp nhận/

báo cáo các sự vụ, giải cứu, xác định nạn nhân, trợ giúp pháp lý, bảo vệ, cho đến

việc hồi hương trở về và tái hòa nhập Tại Thái Lan, cách tiếp cận MDT được phản ánh thông qua việc lập các biên bản ghi nhớ giữa các cơ quan liên quan, vị dụ, giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phil (NGO)

Trong khuôn khổ của MDT, khi các nạn nhân bị buôn bán được cảnh sát, cơ quan

xuất nhập cảnh hoặc các tổ chức phi chính phủ phát hiện hay giải cứu, họ sẽ

được chuyến gửi đến DSDW để hỗ trợ thêm.

Trang 34

2a

Việt Nam

Tại Việt Nam, các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm chuyển tuyến các nạn

nhân của BBN bao gồm Bộ Công an, cụ thể là Cục Xuất Nhập Cảnh {CXNC) và Cảnh sát hình sự; bộ đội Biên phòng; Bộ Ngoại giao, cụ thể là các cơ quan đại diện của Việt Nam tại các nước đến; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LBTBXH), cụ thể là Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội (CPCTNXH) Tùy theo nhu cầu

của NBBB, cá nhãn những NBBB đó sẽ được chuyển đến Trung tâm Bảo trợ Xã

hội của Chính phú hoặc các dịch vụ cúa các tổ chức phi chính phú, hoặc nhận

được hỗ trợ tại cộng đồng.

Trang 35

Sức khỏe và nạn Buôn bản người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md ring

HE © ac diém cua cdc đối tượng tham gia

nghiên cứu

Tỷ lệ trả lời của các đối tượng tham gia nghiên cứu là rất cao ở tất cả các dịch vụ

hỗ trợ được đề cập, trên 98% cho tất cả ba nước Chúng tôi tin rằng sự sẵn lòng của người được phỏng vấn tham gia nghiên cứu có liên hệ _đến các bối cảnh trong đó cuộc phỏng vấn được thực hiện (các cơ sở dịch vụ hỗ trợ là nơi các đối

tượng tham gia nghiên cứu đang ngụ cư) và quen thuộc với người phỏng vấn

(nhân viên phục vụ) Không có khuyến khích vật chất khi tham gia nghiên cứu,

và người phỏng vấn nói rõ rằng sẽ không có hậu quả tiêu cực nào từ việc từ chối phỏng vấn

Phụ nữ, Nam giới và Trẻ em

Có 637 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu này, chiếm 57,8% của toàn bộ mẫu Có

465 nam giới, chiếm 42,2% số người tham gia Xem Bảng 2

Bảng 2: Giới tính của người tham gia

Giới tính Số lượng %

465

Hơn một phần ba (35,1%) số người tham gia là trẻ em (dưới 18 tuổi) Xem Bảng 3

Bang 3: Độ tuổi của người tham gia (trẻ em / người lớn)

_Nhóm tuổi _N- Số lượng |

Tré em (<18 tudi) 387 35,1 Người lớn (>=l8 tuổi) | — 715 64,9

Có 79 trẻ em (7,17%) ở độ tuối từ 10 đến 14 và 308 trẻ vị thành niên ở độ tuổi tir

15-17, chiếm 27,9% tổng số mẫu Cứ 5 trẻ em thì có 4 là nữ (80,5%) Người tham gia phỏng vẩn trẻ nhất là 10 tuổi Xem Bảng 5

Trang 36

"Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiền cứu

Ba phần tư phụ nữ dưới 28 tuổi và 75% nam giới đều dưới 32 Ngược lại, trong

số các đối tượng tham gia dưới 18 tuổi, phần lớn (90%) là trên 14 tuổi, với tuổi

trung bình là 15,8 (ĐLC = 2,0) Tỷ lệ theo giới tính và độ tuổi khác nhau giữa các địa điểm nghiên cứu Ở Campuchia, 88,5% số người tham gia là nam giới, trong khi phần lớn các đối tượng tham gia cỏ nhận các dịch vụ hỗ trợ ở Thái Lan

(73,0%) và Việt Nam (72,4%) là nữ Các tỷ lệ này phản ánh một mức độ lớn các

nhóm đổi tượng đích tham gia các dịch vy hỗ trợ sau BBN Ví dụ, từ 2011- 2012, IOM - Campuchia thấy số các trường hợp nam giới bị buồn bán để lao động hồi

hương thông qua các chương trình hồi hương trong khu vực có xu hướng lớn

hơn so với nữ giới, thường là những người giúp việc gia đình trở về từ Malaysia

Tai Thái Lan, hai trong số bốn dịch vụ của Thái Lan đưa vào nghiên cứu dành

riêng cho phụ nữ và trẻ em, và một nơi ở tạm lánh dành riêng cho các bé trai

Một phần lớn các đối tượng tham gia trong nghiên cứu này nhận các dịch vụ

ở Thái Lan (40,3%, n = 444), tiếp theo là Việt Nam (35,3%, n = 389), sau đó

là Campuchia (24,4%, n = 269) Ở Campuchia, số người lớn chiếm 92,2% mẫu

và phần lớn là nam giới (88,5%) Tại Thái Lan, chiếm phần lớn của mẫu là trẻ

em (67,3%) và nữ (73,0%) Ở Việt Nam, chiếm phần lớn của mẫu là người lớn (82,8%) và nữ (72,5%) Xem Bảng 6

Bang 6: Đặc điểm của người tham gia sử dụng dịch vụ theo nước

Trang 37

Sức khỏe và nan Buôn bản người tại Tiểu vùng sông Mê-Kðng mở rộng

thiểu hụt cả về thể chất và tâm lý có thể ảnh hưởng đến người lớn khác với trẻ

em, thường liên quan đến giai đoạn phát triển cụ thể của một đứa trẻ Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tách kết quả theo độ tuổi và giới tính khi thấy phù hợp, để phản ánh sự khác biệt tiềm tàng trong kinh nghiệm, tiếp xúc và hệ

quả của đối tượng tham gia

Nước xuất phát

Các đối tượng trong nghiên cứu này có thể đã và đang được tiếp cận các dịch vụ (a) & nước quê hương sau khi đã trở về; (b) ở nước đến đang chờ được trở về hoặc được thả; hoặc (c) ở một nước trung chuyển, trong trường hợp họ không

đến được nước đích

Migrant Smuggling and Labour Tratficking to Thailand

UNO0C, Đánh giá mỗi đe dọa của tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức -khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, 2011

Trang 38

"Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiền cứu

Hơn một phần ba (n = 388, 35,2%) số người tham gia sử dụng dịch vụ trong nghiên cứu này là công dân Việt Nam, và hơn một phần tư (n = 312, 28,3%) là công dân Campuchia, hợp thành hơn một nửa số người tham gia (63,5%) Chỉ có 14,2% là người Thái Lan Xem Bảng 7

Trong số các đối tượng tham gia nghiên cứu có nhận các dịch vụ hỗ trợ ở Thái

Lan (n = 444, 40,3% tổng số mẫu) - chủ yếu là điểm trung chuyển khu vực hoặc

điểm đến ~ tỷ lệ lớn nhất là công dân Thái Lan (34,7%) và khoảng một phần

tư từ mỗi nước láng giềng như Myanmar (28,8%) và Lào (26,1%), và 10,1% từ

Theo giới tính và độ tuối, phần lớn đối tượng nữ của nhỏm mẫu đến từ Việt Nam (44,1%); hơn một nửa số nam giới tham gia nghiên cứu là người Campuchia

(65,9%); và hơn một phần ba số trẻ em là người Thái Lan (37,5%)

Biểu đồ 2: Phần trăm số người tham gia nghiên cứu theo nước xuất phát

VietNam Cambodia Thaland Myanmar Lao People's

Democratic Republic

china

Trang 39

Sức khỏe và nạn Buôn bản người tại Tiểu vùng sông Mé-Kéng md ring

Học vấn

Trình độ học vấn trung bình của các đối tượng tham gia trong nghiên cứu này dường nhưià thấp, đặc biệt khi so sánh với các mức trung bình của quốc gia theo như báo cáo.' Tuy nhiên, không có nghĩa là tất cả những NBBB thất học hay ít học đều có nguy cơ bị buôn bán Đáng chú ý, một số người tham gia nghiên cứu cho

'Ở người lớn, chưa đến một phần ba (30,8%) đã hoàn thành bậc trung học cơ sở,

trong khi 43,7% trẻ em cho biết đã hoàn thành trung học cơ sở (lớp 6-8) Một số

lượng tương đối nhỏ những người lớn (n = 59, 8,2%) đã hoàn thành lớp 10-11

'Gần một phần năm số người lớn (19,0%) và 8,8% trẻ em cho biết đã không tham

gia bat kỳ bậc học chính quy nào

Bốn NBBB tham gìa nghiên cứu có trình độ đại học Điều đó cho thấy không chỉ những người có học vấn thấp nhất là những NBBB

Bảng 8: Trình độ học vấn của người lớn và trẻ em

Trang 40

"Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiền cứu

Nghề nghiệp trước khi di cư

Có rất ít người trong nghiên cứu này là những người hoàn toàn không có một nguồn thu nhập nào trước khi bị lâm vào cảnh bị buôn bán Đó là chỉ có tỷ lệ

nhỏ (ví dụ 4,6% người lớn và 19,1% trẻ em) nói rằng họ đã không có việc làm ăn

lương trước khí rời khỏi quê nhà

Nông nghiệp hoặc làm ruộng là nghề nghiệp phổ biến nhất trước khi ra đi, theo như bảo cáo của 42,7% số người tham gia nghiên cứu, tiếp theo là số người không làm việc (9,7%) và là học sinh (9,0%) Sáu người tham gia nghiên cứu

(0,5%, tất cả là phụ nữ) cho biết đã hoạt động mại dâm trước khi di cư

Chỉ có một phần năm (20,4%) trong tổng số trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi nói

rằng họ là học sinh trước khi rời khỏi quê nhà, với 24,6% trẻ em tham gia làm

nông nghiệp và 19,2% không làm việc Trẻ em từ 10 đến 14 tuổi, 31,7% cho biết

họ đang đi học trước khi rời khỏi quê nhà

Tình trạng hôn nhân

Các đối tượng tham gia nghiên cứu trên 15 tuổi được hỏi về tình trạng hôn nhân

của họ trước khi rời khỏi quê nhà Hầu hết (67,4%) những người từ 15 tuổi trở lên còn độc thân trước khi di cư, Chỉ có 21,6% người tham gia cho biết họ đã kết hôn và sống chung với bạn đời của mình trước khi rời khỏi quê nhà Ba mươi hai người phụ nữ và 12 người nam giới cho biết đã ly dị, ly thân hoặc góa bụa Xem Bảng 9

Trong quá trình di cư, 7,5% số người tham gia đã thay đổi tình trạng hôn nhân Trong số 77 trường hợp thay đối tình trạng hôn nhân, hơn một phần năm (n 18/77, 23,4%) bắt đầu sống độc thân va sau đó kết hôn rồi sống chung với bạn

'Đã cưới, nhưng không sống cùng bạn đời 46 45

Ngày đăng: 05/05/2025, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng và  biểu  đồ. - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
Bảng v à biểu đồ (Trang 6)
Bảng  5:  Nhóm  tuối  của  người  tham  gia  theo  giới  tinh  (n - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 5: Nhóm tuối của người tham gia theo giới tinh (n (Trang 36)
Bảng  7:  Tỷ  lệ  người  tham  gia  tính  theo  nước  xuất  phát - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 7: Tỷ lệ người tham gia tính theo nước xuất phát (Trang 38)
Bảng  13:  Bạo  hành  thế  chất  hoặc  tình  dục  trước.  đi - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 13: Bạo hành thế chất hoặc tình dục trước. đi (Trang 44)
Bảng  15:  Tỷ  lệ  của  các  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cửu  bị - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 15: Tỷ lệ của các đối tượng tham gia nghiên cửu bị (Trang 46)
Bảng  17  chỉ  tiết  hóa  tỷ  lệ  các  đối  tượng  nghiên  cứu  bị  bóc  lột  theo  các  lĩnh  vực - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 17 chỉ tiết hóa tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu bị bóc lột theo các lĩnh vực (Trang 48)
Bảng  20:  Tỷ  lệ  các  đối  tượng  bị  bạo  hành  trong  thời  gian  di  chuyến  đến  địa  điểm  đích - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 20: Tỷ lệ các đối tượng bị bạo hành trong thời gian di chuyến đến địa điểm đích (Trang 51)
Bảng  23:  Số  gid  lam  việc  trung  bình  hàng  ngay  theo - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 23: Số gid lam việc trung bình hàng ngay theo (Trang 56)
Bảng  24:  Sổ  đối  tượng  theo  lĩnh  vực  nghề  nghiệp  trả  lời  họ  “không  bao  giở”  hoặc - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 24: Sổ đối tượng theo lĩnh vực nghề nghiệp trả lời họ “không bao giở” hoặc (Trang 58)
Bảng  31:  Các  điều  kiện  sống  và  làm  việc - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 31: Các điều kiện sống và làm việc (Trang 66)
Bảng  34:  Các  triệu  chứng  về  sức  khỏe  thế  chất  của  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu  (n=1.102) - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 34: Các triệu chứng về sức khỏe thế chất của đối tượng tham gia nghiên cứu (n=1.102) (Trang 71)
Bảng  48:  Hy  vọng  vào  tương  lai  theo  giới - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 48: Hy vọng vào tương lai theo giới (Trang 82)
Bảng  50:  Phỏng  vấn  lần  2: Số  lượng  người  không  tham  gia  phỏng  vấn  lần  2  theo  quốc  gia - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 50: Phỏng vấn lần 2: Số lượng người không tham gia phỏng vấn lần 2 theo quốc gia (Trang 84)
Bảng  51:  Các  triệu  chứng  về  sức  khỏe  thể  chất  của  các - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 51: Các triệu chứng về sức khỏe thể chất của các (Trang 84)
Bảng  52:  Sức  khỏe  tỉnh  thần  ớ  T1  và  T2 - Báo cáo sức khỏe và nạn buôn bán người tại tiểu vùng sông mê kông mở rộng kết quả nghiên cứu nam giới phụ nữ và trẻ em tại thái lan camphuchia và việt nam
ng 52: Sức khỏe tỉnh thần ớ T1 và T2 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm