1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể Ở Địa bàn quận sơn trà thành phố Đà nẵng

51 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Công Tác Kiểm Kê Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Ở Địa Bàn Quận Sơn Trà Thành Phố Đà Nẵng
Trường học Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn Hóa
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 845,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là một thành phố có tốc dộ phát triển kinh tế, cũng như đô thị hóa nhanh nhất cả nước, Đà Nẵng dang phải đối mặt với nhiều mặt trải không mong muốn của sự phát triển là những, biến dỗi,

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÁ NẴNG

SO VAN HOA, THE THAO VA DU LICH

BAO CAO

CONG TAC KIEM KE DI SAN VAN HOA

PHI VAT THE TREN DIA BAN _

QUAN SON TRA, THANH PHO DA NANG

Đà Nẵng, thúng 12 năm 2015

Trang 2

3 Phương pháp kiểm kê

CHUONG I: TONG QUAN vẺ CÔNG TÁC KIẾM KÊ DI SẢN VĂN

CHUONG I: DANH GIA CHI TET TUNG LOAI HINH DI SAN VAN

1 Nhận diện từng loại hình di sản văn hóa phi vật thể 6

a) Ngữ văn dân gian „6

1 Đánh giá thực trạng ởi sản văn hóa phi vật thể - 39

2 Giá trị của đi sản văn hóa phi vật thé 43

CHƯƠNG TV: GIẢI PHÁP BẢO TONY VA PHAT HUY GIA TRIDI sAN

1 Định hướng trong công tác bảo tốn di sản văn hóa phi vật thể trên địa bản

2 Các giải pháp cụ thể trong công tác bảo tổn và phát huy giá trị đi sản văn

hóa phi vật thé đã được kiểm kê sản :

47

Trang 3

MỞ ĐẢU

1 Lý do kiểm kê

Văn hóa phi vat thé (hay văn hóa vô thể, văn hóa ấn) là một bộ phận quan

trọng của một nền văn hóa, là sự kết tỉnh cao độ những giá trị mang bản sắc của

mỗi dân tộc, mỗi vùng miễn Văn hoa phi vật thế nim Trong trí nhớ con người và

thể hiện trong các hành đồng phong tục, tập quản, nếp sông, cách ứng xử, các loại hình văn học nghệ thuật Ngày nay, vai trỏ của văn hóa phi vật thể trở nên quan trọng hơn, trước những thay dổi nhanh chóng, mang tỉnh thời đại ở các phương diên kinh tế - xã hội Kinh nghiêm xây dựng và phát triển văn hóa — xã

hội ở nhiều nước cho thấy: dân tộc nào giữ được vốn văn hỏa phi val thé thi dan

tộc đó giữ được bản sắc văn hóa của minh

Những năm gần dây, do hiểu được tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước ta đã có chú trương đầu tư kinh phí và chất xám cho hoạt dông sưu tầm và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể Điều này được cụ thể

hóa ở mục tiêu TV của Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa

Trong công tác quản lý văn hóa xã hội, việc nắm bắt được thực trạng

cũng như tiêm năng văn hóa nói chung, văn hóa phi vật thể nói riêng một cách

cụ thể và hệ thống sẽ đem lại căn cử khoa học để các nha quan lý có thể điều chỉnh, tác động tích cực đến quá trình xây dựng đời sống văn hoa cho nhân dân một cách hiệu quả hơn Riêng đối với thành phó Da Ning, van dé văn hóa phi

vật thể dược đặt ra một cách cấp bách hơn là một thành phố có tốc dộ phát triển kinh tế, cũng như đô thị hóa nhanh nhất cả nước, Đà Nẵng dang phải đối

mặt với nhiều mặt trải không mong muốn của sự phát triển là những, biến dỗi,

tác động lớn đến diện mạo và cấu trúc của gác giá trị văn hóa truyền thông,

Công tác kiểm kế di sản văn hóa phi vật thể sẽ giúp các tổ chức, cá nhân lảm công tác quản lý đi sản vả các chủ thể văn hóa có thể nâng cao nhận thức về

di sản và tầm quan trọng của nó đối với các cả nhân và công đồng sở hữu, quần

lý, Bên cạnh đó, có kế hoạch bảo về khẩn cấp đối với các di sản văn hoá phi vật thể dang bị mắt dần và lựa chon các đi sản tiêu biểu có giá trị để lập hỗ sơ để

nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sẵn văn hóa phi vật

- Ngữ văn dân gian,

- Nghệ thuật trình diễn dân gian,

Trang 4

- Tập quán xã hội,

- Lễ hội truyền thống,

- Nghề thủ công truyền thống;

- Tri thức dân gian

_ Ưu tiên kiểm kế đi sẵn văn hỏa phi vật thể đang bị mai một cần bảo vệ

khân cấp

b) Phạm vi kiểm kể

Về phạm vi kiểm kê, chủ trọng khảo sát điểm, lựa chọn các địa bản dược

đánh giá giàu trữ lượng di sẵn văn hóa ở quan Son Tra để triển khai kiểm kê

3 Phương pháp kiểm kê

Phuong pháp liên hành kiểm kê: Thu thập, nghiên cứu và phân tích cáo tài

liệu hiện có (sách, báo, tạp chí, chuyên luận ) liên quan đến từng loại hình văn hoá phi vật thể trên địa bản; khảo sat điền đã, phỏng vấn, ghi chép, tư liệu hóa các thông tin thu thập được trong quả trình điền đã; thống kê, phân loại và phân tích tài liệu thu được tại thực địa từng địa phương (bang, biểu phỏng van, băng ghi âm ghi hình ); đồng thời tổng hợp, so sánh, đổi chiêu, tư liệu hóa, hệ thống

hóa, thư mục hóa các thông ti, các phiêu kiềm kê và các tài liệu, tư liệu có liên

quan đã thu thập được

Trang 5

CHƯƠNGI

TONG QUAN VE CONG TAC KLEM KE DI SAN

VAN HOA PHI VAT THE Với sự nỗ lực, cỗ gắng của toàn đôi ngũ cán bộ kiểm kê và sự phối hợp

chặt chế nhiệt tỉnh tham gia của cán bộ Phòng Văn hóa — Thông tin các quận,

cán bộ văn hóa các phường trên dịa bàn quận Sơn Trà và dại diện chủ thể di sẵn văn hoá, công tác kiểm kê đã đạt được một số kết quả khã quan Tổng số phiếu kiểm kế thu dược là 28 phiếu Trong các dối tượng kiểm kê, có nhiều di sán văn hóa tồn tại như lả một phức thể văn hỏa với nhiều yếu tổ, nhiều loại hình di sẵn

văn hỏa cùng xuất hiện, dẫn đến việc phân chia về mặt loại hình có Linh phức tạp Với những trường hợp đó, tủy vào tính chất trội của một mặt, một yếu tố nảo đó, để chúng tôi xếp chọn vào loại hình di sản văn hóa phd hop nhất

- VỀ luại hình ngữ văn dân gian

Ngữ văn dân gian là mệt bộ phận quan trọng của văn hóa dân gian, nó

vừa có tính bản địa sâu sắc, vừa có sự tiếp thu ảnh hướng từ bên ngoài Loại

hình này vốn hinh thành, tén tai thông qua hình thức truyền xmiệng và trí nhớ của

nhân dân, nay chỉ cỏn rải rác trong dân gian Củng với quả trỉnh đồ thị hóa đã và

đang én ra hết sức mạnh mẽ, các câu ca đao, tục ngữ, câu đổ, truyện dân

gian đã bị mai một Ngoài ra, dân cư trên từng địa bản quân không dn định, có

sự đi cư của các bộ phân người lao động từ nơi khác đến, gây ra sự xáo trộn và

An di san văn hỏa phi vật thể Số phiểu thu được ở loại hình này chỉ có I3

nhiều

- Về loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian

Nghệ thuật trình điễn dân gian là một trong những thành tổ của di sản văn

hóa phi vật thể Đé là hình thức hoạt động của con người thông qua âm thanh,

ngôn ngữ, diễn xướng để chuyển tái một thông điệp nào đó đến khán giá

Trong phạm vi kiểm kê, loại hinh này thu được 02 phiêu, đó là: Hát bã trạo của

ngư dan ven biển và hat Bai choi

- Vé Inai hình tập quán xã hội

Đây là loại hình mang tính phổ biến nhất của đi sản văn hóa phi vật thể

trên địa bản quận Sơn Trả nói riêng vả thành phố Đá Nẵng nói chung, báo gdm

các luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghỉ lễ vả các phong tục khác

Những phong tục tập quán xã hội này vừa mang những điêm chưng vừa có nét đặc trưng riêng của vùng đất, con người nơi đây

Trong tập quản xã hội, tập trung chủ yếu vào nghỉ ]Ễ cúng tế và các phong

luc trong lao động sán xuất, đời sống sinh hoạt của người dân lao động Số phiêu thụ được ở loại hình nảy là 17 phiếu

- Về laại hình lễ hội truyền thông

Trang 6

Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ hội truyền thống chiếm một vị trí rat quan trong trong sinh hoạt làng xã, nó biểu

hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng Lễ hội được tổ chức định kỳ hàng

năm và diễn ra một cách khả trang nghiêm, sùng kính

Trên địa bản quận Son Tra, chi yếu là loại hình: Lễ hội tín ngưỡng ngư

nghiệp, số phiếu thu được về loại hình này là 03 phiếu

- Về loại hình nghề thủ công truyền thống

Số phiếu kiểm kế thu được về nghề (hủ công truyền thống là 01 phiếu

- Về loại hình tri thức dân gian

Tn thức dân gian (còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như trì thức

ban địa, trí thức địa phương), đó là toàn bộ những hiểu biết cúa sông đồng về

thiên nhiên, đời sêng con người, lao động sản xuất, y được học cổ truyền, ẩm

thực, trang phục và các tri thức dân gian khác được tích lấy trong một thời gian

đài qua kinh nghiệm của bản thân cộng đẳng đó Số phiếu kiểm kê thu được là

02 phiếu, trong đó tập trung vảo trì thức y học cỗ truyền và trí thức về nghé biển.

Trang 7

CHƯƠNG II

DANH GIA CHL TIET TUNG LOAL BINH DI SAN

VAN HOA PHI VAT THE

1 Nhận diện từng laại hình di sản văn hóa phi vật thể

3) Ngữ văn dân gian

- Chuyện tình Bãi But (hường Mân Lhái, quân Sơn trả, Tp Dà Nẵng)

Nhu chuyến ra khơi của bả con ngư dân trở về lay trang Những con sóng dữ luôn lật úp từng chiếc thuyền khi ra khơi Chưa kể, mỗi năm ba con jing chiu hàng chục cơn bão biển cần quét vùng quê nghèo Cuộc sống | luôn diễn ra trong

sự nghẻo khó, túng thiểu Trong lảng có một gia đình trẻ, chẳng làm nghệ chải lưới, vợ ngày ngày lên núi đến củi, chăm lo vườn tược Họ sống với nhau rất

hạnh phúc, êm ấm 'Thế rồi, vàn một ngày cũng như thường lệ, người vợ ra bến

tiễn chồng cùng một số dan 6 ông trong làng Jén tau đi đánh cả Chẳng đi được vài

hôm, ở nhá, trời bỗng nhiên đỗ mưa to, sắm chớp dùng dùng, những cơn giỏ làm ngọn sóng tung lên cao trắng xóa Đoản chuyện chẳng lảnh xây ra với chồng, người vợ đội mưa gió ra bến đợi chồng về, Nhưng nàng đợi ngày này qua ngày

khác mà chỗng vẫn không trở lại Trong nỗi dau khổ tột cùng khi người chồng,

không bao giờ trở về, nàng đã tìm đến cái chết I1iểu được nỗi đau khỔ của nàng,

bụt đã hiện lên nói rằng sắm chớp là lỡ vô thường của cối nhân sinh và khuyên

nảng nên bình tâm trở lại Sau đêm gặp bụt tại bãi biển, nàng trở về nhà, thu xếp quân áo tôi tìm đến ngôi chùa gần đó để đi tu Có một điều lạ là, từ ngày but xuất hiện trên bãi biển và nghe lại câu chuyện của người đàn bà trễ, dan lang liên tục được mủa cá, cuộc sống yên âm, mưa thuận gió hỏa Biết ơn đôi vợ chồng trẻ, người dân đặt tên bãi biển nơi nảng đửng chờ chồng là Bai But va

truyền tai nhau câu chuyện tình đẹp và thiêng liêng này

Xung quanh khu du lịch Dãi Bụt còn có một tích khác kế lại rằng, vào thời

vua Minh Mạng, dân chải nơi đây đã phát hiện một Lượng Phật trên bãi cát ben lập am thờ tự Và rời, Ngài Quán Thể Âm cứu khổ cứu nạn xuất hiện cứu con người vượt kiếp trầm luân, song yén biển lặng, dân chải yên én làm ăt ăn Tử đó, nơi đây có tên gọi lá Bãi Đụt, hay còn gọi là Cõi Phật giữa chến trằn gian Theo

quan niệm của người dân, “bãi” tức là bãi biển, “Bụt' tức là Phật

Câu chuyên ẩn chứa giá trị nhần văn cao cả, đó là ngợi ca tỉnh yêu, sự

chưng thủy và ước nguyên của nhân dân về cuộc sống yên ám, mưa thuận gió

hòa, sóng yên biển lặng, dân chải yên ôn làm ăn

- Chuyện tinh Tiên Sa (Phường Thọ Quang, quận Son ‘Iva, Ip Da Ning)

Xu: Sơn Trả là nơi có thắng cảnh tuyệt đẹp và ngày nào các nảng tiên

cũng xuống trần gian để tha hồ ngắm nhìn núi đồi hùng vĩ, biển xanh bao la, say

6

Trang 8

sưa nghe tiếng chim kêu, đừng chân sat bãi biển để nghe sóng vỗ, dõi theo cánh bay của những con chim yên đi làm tế, hướng về các bờ đá chênh vênh, thăm những con suôi thơ mộng bên chân núi, nước triểu lên xuống đều đặn hàng triệu

nấm bảo mòn và lau sạch những tảng đá chồng chất ven bờ, ngắm nhỉn những

bãi cát vòng quanh bản đảo sạch sẽ và mạn mảng Khi đã thưởng thức mê say

về đẹp của Sơn Trà các nàng tiên cới những đôi cánh của minh ra để trên bờ, trên những phềnh đá và dấm mình xuống, dòng xanh, mát lạnh của biển, các

nảng nô đùa với cảnh thiên nhiên sông nước Khi chiều về các nảng tiên đắm say, mê mẫn cảnh trần gian lưu luyến không muốn về

Có một chang trai chải lưới mình trần, ngực đỏ, khi nhin thấy các nàng tiên tắm, trong lòng cảm thấy xôn xao, rao ruc Chua bao gid trong đời, người thanh niền này lại thấy những người phụ nữ đẹp đến như vậy và cử thể khi chiều

về, chẳng lại ra nấp sau các ghênh đá để lén ngắm nhỉn các nảng tiên tắm và anh

đã nghĩ cách chờ lúc các nang tiền dang say sua nd daa, anh vôi lẫy một đôi

cánh đấu vào hang dá Đến lúc mặt trời sắp lăn, các nảng lắp đôi cảnh vào dể bay về trời, chỉ còn một nàng tiên không bay vẻ được vì không tìm ra dôi cánh của mình, dành phải ở lại với trần gian, với chàng trai chải lưới và hai người

sống với nhau rắt hạnh phúc

Sau một thời gian sống hạnh phúc bên nhau, một hôm, nảng được Ngọc Hoàng cho người đến báo rằng nâng phải trở về với Thiên đỉnh, nếu không, Ngọc Hoàng sẽ không để cho trân gian yên ốn Tin đã được truyền đi nhưng chở mãi vẫn chưa thấy con trở về, Rgọc Hoàng đã thật sự nỗi giận Ngài cho sâm

chớp, bão giông, làm cho hạ giới đỗ nát, diều tàn T.o sợ trước cơn thịnh nộ của

vua cha, nàng tâm sự với chồng “Fim là điên, chàng là người trần tục, chúng ta

không thể ở mãi bên nhau diego Em phái trở vỀ tiến giới theo lệnh vua cha, néu

không chàng và tắt cá trần gian sẽ £ phải chịu nhiều lại ưng” Dù không muôn

chia xa nhưng rỗi nang cũng phải trở về với trời Chàng dau khổ, nhớ thương vợ

không nguôi, ngảy ngày ra ngồi bên tăng đá chờ đợi người vợ của mình trổ lại

Chờ mãi, chờ mãi đền khi sức tản lực kiệt, chàng hóa thành ting da rất đẹp, vẫn đứng đợi chờ mãi không thôi Từ đó, trần gian trời yên biển lặng Đề tưởng nhớ đến mỗi tỉnh chung thủy của hai người và tạ ơn nàng tiên đã hy sinh hạnh phúc của mình để mang lại cuộc sông thanh bình, sung túc, nguời ta đã lập làng, đặt tên là Vĩnh Yên (sau này đổi thánh Xiân Quang), xây một am thờ bên tảng đá gọi là Am Ba

Chuyện tình Tiên 8a lả câu chuyện tỉnh rất đẹp vá lãng mạn thể hiện tinh yêu chân thành, mộc mạc của chàng trai chải lưới với tiên nữ trên trời Tuy ring, cau chuyện được sáng tạo theo tâm thức dân gian mang nhiều đường nét hư cầu huyén 4 ảo, phần nào thỏa mãn trí tò mò của người đân đối với thiên nhiên xung quanh minh, song đó cũng chính là khát vọng về hanh phúc lứa đôi, ước nguyện

về cuộc sống 4m no, binh yên, hạnh phúc của người đân nơi đây

Trang 9

- Sự tích Miều Ông Chài (Phường Miân Thái, quận Sơn Trà, thành phố

Da Ning)

Sự tích về miễu Ông Chải có từ lâu và tần tại đến nay trong nhân dân Chuyên kể rằng, ngày xưa có một người dân ông lam nghề chải lưới góa vợ từ rất lâu, nhưng ông ở vậy dé nuôi dưỡng dứa con gái của vợ chong ông sinh ra

Tân trong vùng không ai biết biết quê quán, nhà cửa ông ở đâu, ngay cá tên họ

cũng không biết, chỉ thấy hằng ngày ông thưởng đến bãi Đá đánh cả Nên người đân quanh vùng gọi ông là ông Chài

Cô con gái của ông, ngày càng lớn khôn xinh đẹp và hiểu hạnh Cuộc đời

của cha con ông Chài tuy sống đạm bạc đơn côi, nhưng rất tôn trọng dạo lý can thường Tỉnh phụ tử, lễ piáo và hiểu hạnh luôn được dễ cao, gắn bó Một hôm,

dang ngồi trong lêu chờ cha dánh lưới trớ về, trời bỗng nổi giông tố sấm séi,

mua trút xuông xối xã Bị mưa ớt gió lạnh, ông Chải vội ving, về lều Ngồi

trong lều thay cha ướt lạnh run ry, động lòng (hương cha, bất chập mura to gió

lớn, cô liền vụt chay ra diu cha Trước hai chuyên động ngược chiều, cô con gái

ông Chài từ trên đôi chạy xuống, ông Chài bị trượt ngã chồm đến trước, bat ngo tay ông chạm mạnh vào “nhũ hoa” con gái mình và lam sút nút cài, để phô bộ ngực nỗn nà của đửa con gái yêu quý của ông Khi về nhà ngồi nhin con minh, 6ng Chai vô củng, xấu hỗ và day đứt Ông bèn nói đổi với con gái rằng ông lên đổi có công chuyện Cô con gái chờ mãi không thây ông trở lại lều, bẻn đi từm cha, thi ôi thôi, thấy cha cô đã đập đầu vào gốc cây chết thê thảm Dau đớn tột củng, cô ôm cha vào lòng khóc than khôn xiết

Sau đó không lâu, người ta không còn thấy cô có mái Lóc đài mượt mà,

mà thay vào đó đầu cô trùm kin bởi chiếc mũ vải Và cũng kể từ đấy, biển biệt không thầy cô trở lại viễng mộ cha Cẩm động và thương xót cha con ông Chải, người đân quanh vùng đã lập miếu thờ tại nơi ông mắt Miếu này hiện nay vẫn cỏn trên núi Son Trà

Sự tích miễu ông Chải, dề cao những truyền thống tốt dẹp vốn có lừ bao

đời của ông cha ta, đó là: tình phụ tử, lễ giáo, hiểu hạnh và sự gắn bó

b) Nghệ thuật trình diễn dân gian

- Hát bã trạo cửa ngư dân ven biển (Phường Mãn Thải, quận Sơn Trả,

Thành phố Đà Nẵng)

Hát bả trạo là hinh thức điễn xướng dân gian xuất phat tir tin ngưỡng thờ

cá ng (Dai Die Neu ông) của ngư đân ven bién “Ba” 14 nim chic, “trao” là mái chẻo Hát “bá trao” 1a hat ving tay chéo theo động tac chéo thuyén Hát bả trạo còn dược gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: hát chèo bả trạo, chẻo cầu ngư, chẻo cạn, hò rước Ông

Hình thức diễn xướng nảy được tổ chức theo tục lệ hàng năm trong, lễ hội cau ngư, hoặc trình diễn nhân địp đưa tang cá Ông Dây là loại hinh nghệ thuật trình diễn dân gian mang tính nghỉ lễ của ngư dân ven biển

Trang 10

- Đội hát bá trạo, gồm có:

+ Tổng mũi (tổng thuyền}: Dứng trước mũi thuyền, người chỉ dường, hai tay cầm cặp sanh để gỡ chỉ huy đôi hát bã trạo từ đầu đến cuối buỗi điễn

I Tổng khoang (tổng thương): Đứng ở khoang thuyên, khi thuyền neo lại

thì canh gác, tay cầm cần cầu vả gảu tát nước

+ Tổng lái (tổng hậu): Đứng cuối duôi thuyền, bai tay nắm chèo lái để điền khiển con thuyền đi dúng hướng

Trước năm 1975, trang phục của ba ông "Tổng tất đơn giản, chỉ là áo đài đen, quần trắng, chân đi tất Hiện nay, để buổi biểu điễn trở nên sống động, trang phục cũng mang nhiều màu sắc hơn Ông Tổng mũi: trang phục áo dải mau xanh, cé tay bop mau tim, lưng thất đây màu tím, quần tim, đầu đội mio,

chân quấn xa cap, di gidy vai Ong Lỗng khoang: mặc áo ngắn màu xanh nước biển viền cổ trắng xanh, lưng thất dây màu xanh, quần màu xanh nước biển, chân quan xa cap, di gidy vải, dầu đội nón lá Ông Tổng lái: dầu đội mão, áo dai mau tim nhạt, viễn áo mu xanh nước biển, hmng thắt đây màu xanh nước biển,

quần dai mau tim, chân quấn xả cạp, mang giảy vải Khuôn mặt của ba ông

Tổng dược vẽ như trong hát Tuông

+ Con trạo: gồm 12 đến 16 người, tùy theo biên chế của tùng địa phương

"Trước năm 1975, con trạo thường, lá thanh niên còn trẻ, từ 17 đến 20 tuôi, có sức

khỏe, chựa vợ Hiện nay, con trạo lá các em nữ, độ tuổi từ 13 đến 15 tuổi Con

trạo mặc áo xanh lá cây, dầu dội nón lá, lưng thất dai xanh, chân mang xà cạp, tay cầm mái chẻo đài 1,2m som dé, vàng,

Trong buổi biểu diễn, ông Tổng mũi sử dụng cặp sanh điều khiển cả đội Theo hiệu lệnh, các cơn trạo có sự phổi hợp nhịp nhàng, các con trạo nghiên mình tư thể giống như đang chèo thuyền, via hat vừa múa mái chẻo Ba ông 'Lổng thì xưởng theo cdc lan: than, lụy, ngâm, bình thơ, nam ai Còn các tay

chèo thì xô theo hiệu lệnh của ông Tông,

- Dân nhạc cụ biểu điển gồm có: trồng, chiêng, kèn, dan cò, sênh

* Hat bd trae trony lễ hội Cầu ngư, diễn ra theo trình tự sau:

Trong lễ Nghình thần, còn gọi là lễ rước thần Nam 1Hải về tham dự lễ

hội Cầu ngư, sau khi ba vị chữ tế thực hiện xong nghỉ lễ, đội hát bà trạo theo

hiệu lệnh tiếng sênh của Tổng mũi tiến vào biểu diễn Nội dung của buếi điễn là

ca ngợi công đức của Ngư ông và nghĩnh Ông vệ tham dự lễ hội cùng ngư đần Sau đó, đội hát tham gia vào đội hình rước Ông, về tham dự lễ Câu ngư

- Khi lễ tế chính vừa kết thúc, là chương trình nghỉ lễ của dội hát bả trạo

Ông chánh tổ đứng lên niệm hương xin phớp cho đối hal ba trạo vào trình diện

Sau khi 3 ông Tổng thấp hương làm lễ, đội bát theo hiệu lệnh bằng tiếng sênh

của Tổng mũi, chạy xoắn Ốc ra giữa sân, mái chẻo đựng đứng sắp thành 3 hang

dọc, 3 ông Tổng đứng hàng giữa theo vị trí: Tổng mũi đứng đầu, TỔng khoang,

a

Trang 11

đứng giữa, Tổng lái cuối củng, cơn trạo đứng hai bên, tạo thành hình chiếc thuyền giữa biển khơi Tiếng sanh của Tổng mũi gõ 2 tiếng vang lên, toàn đội

quỷ lạy Ông 3 lạy Nội đung của buổi biểu điễn có kịch bản rõ ràng, gốm 3

đoạn: Ra khơi, bủa lưới đánh cả; Thuyền gặp bão tổ bị tai nạn được Ông củu giúp, Kế về công đức của Ông vá cầu mong Ông luôn cứu giúp ngư dân bình an

Nội dung hát bá Irạo trong lễ Cầu ngư nhằm ca ngợi công đức của ef Ông

dối với ngư dân hoặc mô tả quá trình lao đông vat va của ngư dân giữa biển

khơi, đồng thời ca ngợi sự giảu có của biển, sự đoàn kết của bạn chẻo vươn tới

- Lễ tang ma ở Sơn Trà (Quận Sơn Trả, thành phố Đà Nẵng)

Một lễ tang ma có đầy đủ các nghỉ lễ chính như: Khâm liệm, thân phục, di

quan, hạ huyệt Các vùng Thọ Quang, Nai Hiên Dông và An Hải Tây chỉ khác

nhau về một số hỉnh thức và quan niệm:

Khi gia đỉnh có người mất thỉ phải cử người đi xem thây dé chọn giờ tốt, ngày tốt khâm liệm, động quan, thần phục, di quan và hạ huyệt Xem được ngày

giờ rồi báo với chính quyền địa phương Chính quyền sé hop loan dân lang dé

phân công trách nhiệm phục vụ việc tang lễ

Gia đình nhờ (hoặc thuê) một người chuyển liệm xác để liệm cho người

đã mắt Trúc liệm để 7 hại gạo 7 hal mudi vào miệng (nếu người mắt là dàn ông}

hoặc Ø hạt gạo 9 hạt muỗi (nếu người mất là dan bả) Có lúc người ta bỏ gần

người chết 50 hoặc 100 ngan tiền thật cơi như là lộ phí đi đường cho người đó

Từ lúc người đó mắt đến lúc khâm liệm phải chc bàn thờ tổ tiên trong nhà lại

Sau khi triệu tổ xong mới mở và thắp hương trên bản thờ Sau đó, những người

đại diện làng đứng ra tố chức lễ cúng cáo Thành hoàng làng ở đình

'Lừ lác liếm cho đến khi động quan, người ta thắp 4 đĩa dầu đưới 4 chân giường (đưởi quan) Người chết dầu quay vào trong, chân quay ra ngoài (người chết bất dắc kì tứ thì ngược lại) lúc di quan mới quay dau di ra trước với quan

niệm là đỄ người chết nhìn lại nhà và người thân Người chết khi liệm mặc áo trắng vải thô, cột hai cẳng chân, bụng (có cả 2 tay) lại với nhau Biên trong quan

tài để trà, bông gòn hoặc đất ở bên trong Bên ngoài quan, hai phần đầu đuôi

dùng ba vòng lạt đẻo cột lại và có đóng néo

Liäc đi quan, dập vỡ một hủ sảnh hoặc một tràng pháo nễ (ưa) hoặc tạt

một ca nước vôi tử trong nhà (nơi để quan) ra Người đân quan niệm làm như

vậy dễ hồn người chết di theo x4c Di quan có ba lần nghĩ giữa dường (nếu nghỉ

ở địa phân làng khác thì phải cúng tế độ trung, cỏn nếu nghỉ ở địa phân làng

10

Trang 12

mình thì không cúng) Dén huyệt, đặt quan xuống nghỉ, đúng giờ thì hạ huyệt

Ba ngày sau thì mổ cửa mã

Nhạc cễ dùng trong tang lễ có thể là của làng hoặc thuê từ làng khác Âm

công: do làng sắp đặt

Người mới chết không được thờ chung với bản thờ tổ tiên mà thường được lập một bàn thờ riêng Đến hết 49 ngày, mới làm lễ rước bát hương lên bản

thờ tổ tiên Có nơi tập tục lại quy định sau 100 ngày, thậm chỉ có những gia đình

lại để sau giỗ đầu mới rước bát hương người mơi mắt lên bản thờ tổ tiên

Hing ngày, tính từ ngày đã an táng xong, người nhả dễu dặn thắp hương,

cơm, canh vào các bữa chính, trước khi gia đình ăn cơm, hoặc những món ăn mà

Tac còn sống người chết thích ăn, mời người chết về cùng hưởng thụ

Lễ tang ma là sự thể hiện tỉnh câm của công, đồng làng xã, của người thân

trong gia đỉnh đổi với người mắt Đổi với người sông, lề tang ma có sự giún đỡ,

piúp sức cúa cộng đồng người dân sống trơng khu vực dỏ Đỏ là tỉnh đoán kết, gắn bó, mang tỉnh qua lại

- Tập tục cưới hỏi ở Sơn Trà (Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) Dung ve ga chẳng là một vấn dé trong dai của cuộc đời mỗi con người

Chính vì vây, mọi người ai cũng coi trọng và tuân thủ theo những kinh nghiệm

từ trước đến nay của ông bả di trước, nhăm cầu mong diều may mãn, niễm vui,

hạnh phúc

Sau khi bản bạc kĩ lưỡng, gia đình nhà trai đến chơi nhà gái và xm phép ngày nảo đó gia đình nhà lrai sang nói chuyện cưới xin Dũng ngày, nhà trai mang sang 1 chai rượu, 1 dĩa trầu cau bàn bạc chọn ngày, lễ vật như thé nao Một số nhà muốn đơn giản hoặc do diễu kiện gia đình khó khăn thì có thể gốp

cá đám cưởi và đám hồi vào cùng ] ngày Gia dính nhà trai đưa cho cô dâu

tương lai một số liền nhất định để mua sắm áo quần và nữ trang

Dén ngay cudi ngoai các công việc phụ như rạp, âm nhạc, mời họ hàng, bạn bẻ thì quan trọng nhất vẫn là lễ xin dâu và rước đâu về nhà chồng Nhà trai cử ] số người đến rước dâu ở nhà gái, số người đi phải chẵn và không quan niệm 1 cặp phải là 1 nam 1 nữ, mà cỏ thé lả 2 nam hoặc 2 nữ thững người đi

xin đâu lả họ hàng thân thiết của chú rễ, nhất thiết phải có cha Nếu cha mắt hoặc bị bệnh tật không đại điện được thì chú hoặc bác hoặc ông nội, ông ngoại của chú rễ thay mặt Người nảy dẫn dẫu đoàn xin dâu và có trách nhiễm mỏ lời

xin, đẳng thời giới thiểu vị trí những người di củng nhà gải rõ Những người khác không yêu cầu phải song toàn nhưng nhất thiết không bị tản tật

Lễ vật xin dâu gồm 5 khay, trên có phủ vải đỏ, bao gồm: trầu, rượu, bánh, chả nem, trả Tất cả nhãi dủ dôi chứ không dược lẻ

Sau khi giới thiệu 2 bên gia đinh, đúng giờ thì rước dâu Người đân ở đây

quan niệm cô dâu rang bầu trước khi cưới thì không được đi vào nhà bằng cửa

11

Trang 13

chính mà ing cửa phy và không được thắp hương trên bàn thờ tổ tiên Ba mẹ

cô dâu sẽ đến nhà trai sau khi đoàn dẫn đã rước đâu về nhà trai

Sau khi làm lễ cúng bái gia tiên, chúc rượu mọi người, hôn lễ coi như kết

thúc Ba ngày sau, cô dâu củng chồng mới cưới về lại mặt ba mẹ, lễ vật mang,

theo la trần, rượu, bảnh trái Trường hợp ở xa thì cỗ dâu, chú rẺ dược miễn “lại mặt”

Dám cưới ngảy nay thường điễn ra ở nha hang Moi thử có sẵn và thủ tục hết sức đơn giản Vi vậy, lớp trẻ ngây nay, it biết đến các nghi thức cưới hỏi truyền thống, Đó lả do sự phát triển kinh tế kéo theo sự giao lưu văn hóa làm

thay déi quan niệm của người dân

- Nghỉ thức truyền thông định làng Tân Thái (Làng Tân Thái, phường Man Thai, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)

Dinh Tân Thái thuộc khối Tân An, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, lả

ngôi dinh cỗ ghi đấu nhiều sự kiện lịch sử và là nơi sinh hoạt vẫn hóa của nhân

dân địa phương Đỉnh là nơi thở phụng Thanh hoang củng các vị tiền hiển và

cũng nơi sinh hoạt tín ngưỡng cúa nhân đân địa phương,

Hằng năm, vào ngày mồng 1 tháng Chạp là ngày Tảo mộ Tiền nhân, ngay

20 thang 6 4m lịch dân làng tô chức lễ cầu an tại đình

Trước khi tổ chức lễ cầu an, mọi công tác về người, địa diễm, lễ vật, thời

gian đều được chuẩn bị kĩ lưỡng Kinh phí do dân làng đóng góp Lễ cau an

lớn hay nhỏ Lủy vào kinh phí đóng góp hằng năm

Trước một ngày, tập trung cúng và thấp hương ở ở đình đề mời thành hoàng

bến xứ về dự Sau khi mọi công tác chuẩn bị về rap, người, âm thanh, ban nội trợ xong xuôi thỉ sáng ngảy 20, khoảng 8 giờ, lễ tế và sầu an sẽ bắt dầu

Ông chủ tế (do dân bầu) đứng ra chịu trách nhiệm cúng bái và đọc văn

tế Dài văn tế này do một người cao niên trong làng chuyên việc soạn vin tế

soạn ra Nội dung của nó là cầu mong sự chứng giám của thân linh, báo cáo tình hình làng xã và mong một vụ mùa bội thu, sức khỏe đôi đào, xóm làng yên ôn

Nếu năm nào tô chức lễ lớn thi sé có sự góp mặt của đội ngũ học trò gia lễ Nhạc

cỗ như trông cái chiêng (chinh), lệnh (thanh la) của làng đã có sẵn và sẽ do

người trong làng đánh Còn các loại nhạc cụ như kèn, trắng nhỏ phải thuê ở

nơi khác dến

Lễ vật dâng củng thần bao gỗm heo, gà, vịt, hương hoa Lễ vật do làng

mua sông về và tự làm đề không bị ô uễ

Nghi lễ truyền thống đình làng Tân Thái đã trở thành tỉn ngưỡng van hoa

ở làng quê, yếu tô tầm linh từ ngàn xưa không thể tách khỏi cộng đồng sinh hoạt

lang xã Đây là một cách để ông cha la ké lai cho con cháu nguồn gốc, lịch sử, cũng như các giá trị văn hóa, xã hội của làng Ilơn nữa dây còn là dịp để nhân

12

Trang 14

dân trong lắng thể hiện sự đoàn kết, gin bỏ, đùm bọc lẫn nhau, củng nhau phát

huy những giá trị truyễn thống tốt đẹp của cha ông ta để lại

- Nghi thức truyền thống lăng Âm linh Mân Thái (Lảng Tân An,

phường Mần Thái, quận Sơn Trả, thành phố Đả Nẵng),

Lăng Âm linh phường Mân Thái được xây đựng năm 1903 là nơi thờ những chiến sĩ vô danh đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vả những

người chết biến vô đanh Tại đây, hằng năm người dân làng Tân Thái, Cỗ Mân

(xưa) và Tân An, Tân Thái, phường Miân Thái (ngày nay) đều tố chức các hoạt đông lễ hội truyền thống mang, dam ban sắc văn hóa đặc trưng của vùng, biến

Sơn Trả như: Lễ cầu an nhằm cầu cho mưa thuận pió hỏa, quốc thái dân an, ding thời cũng là dịp để tưởng nhớ đến những công lao của các anh hủng liệt sĩ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng lăng Âm linh

Hằng năm, vào ngày 15 tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cúng tại lăng

âm linh Kinh phí do nhân dân đóng góp Lễ cúng lớn hay nhỏ từy vào kinh phí đóng góp hãng năm

Phan nghi lễ gồm

- Lễ Nghỉnh thần Sáng sớm ngày 15/3, những người trong ban tế lễ, đi nghỉnh rước các vị thần hoàng bền xứ về tại lăng Gồm lễ nghĩnh tại bãi Bắc và ghê, nghĩnh các sở tại địa phương, nghĩnh Hà bả

- Lễ Vọng và lễ tế chiến sỹ

- Lễ Chánh tế: Có học trò diễn lễ, có chánh tế và bồi tế, đọc văn tế có hô, xướng đi nhịp nhàng theo đội hình Nhạc cỗ như trống cái, chiêng (chỉnh), lệnh

(thanh la) của làng đã có sẵn và sẽ do người trong làng đánh Củn các loại nhạc

cụ như kèn, trồng nhỏ phải thuế ở nơi khác đến Thời gian cúng lế khoảng Ï

tiếng rưỡi Lễ vật dang cing tai lang bao adm heo, ga, vit, huong hoa I é vat

do ling mua song vé va Ur Him dé khong bi 6 ué Ông chú tế (do dân bầu) đứng

ra chịu trách nhiệm làm lễ vả đọc văn tê Bài văn tÊ này do một người cáo miên

trong làng chuyên việc soạn văn tế soạn ra Nội dung của nó là cầu mong sit

chứng giám của thần linh, báo cáo tỉnh hình làng xã và mong mội vụ rnùa bội

thu, sức khỏe đồi dào, xóm làng yên ẩn và tưởng nhớ đến những công lao của các anh hùng liệt sĩ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng lăng Âm linh

- Lễ xây chầu — hát lễ (hát Tuồng cổ): Diễn ra trang nghiêm, người được chọn xây châu phái lả người song loàn, giờ xây chầu cũng phải chọn giờ tối Sau

lễ xây chầu là biểu diễn tuông oổ, hảt phúc, lộc, thọ

ot Lễ tạ: Đốt văn tế, sau đỏ chủ lễ và các lễ sinh cùng ban tế lễ, đân làng

thắp hương và bái

Nghị lễ truyền thống tổ chức tại lăng âm linh đã trở thành tín ngưỡng văn

hóa, yếu tổ tầm linh của cộng đồng làng ngư nghiệp nơi đây

18

Trang 15

- Nghi thức truyền thống đình làng Cổ Mân (Làng Cổ Miân, phường Man Thai, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)

Vào thể kỹ 17, khu vực Cỗ Min là vùng đất cát bằng phẳng, các bậo tiền

nhân đã dừng chân tại đây định cư và lâp nghiệp Đình làng Cổ Mân dược xây dựng bằng phên tre mái lá để có nơi thờ tự những vị thần linh, cầu mong trời dat cho mưa thuận gió hỏa, sẵn xuất phát triển Ngôi đỉnh là nơi các họ tộc, nhân dân trong làng tham gia sinh hoạt Qua thời gian, ngồi dình làng dược xây dựng,

trùng tu lại bing vật liệu kiên cổ: gach, da, ngói, vôi, cát, sạn, mật đường Đây

còn là địa điểm thuận lợi để cán bộ cách mạng hội họp, triển khai xây đựng cơ

sở cách mạng trong những năm chông Pháp và chẳng Mỹ Định làng Cỗ Mãn là

một trong tám ngôi đỉnh ở khu vực phía đông sông Hản thường gọi khu Déng

Với ước nguyên cầu mong trời đất cho mưa thuận gió hò

triển, hằng năm, vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, tại dinh Cổ Mân, dã

trung tu bd phan mộ, thắp hương tưởng niệm, Lỗ chức nghị lễ đón Tết Nguyên

đán, treo cờ, cắm phướn, dựng nêu, chọn người hiền xông đất đâu năm, chuẩn bị

lễ vật, hoa, cây trái, bánh chưng, bánh tét bay cúng trong 3 ngày Tết, tổ chức văn hóa, vui chơi giải trí, dân làng mến mộ nhất là loại nghệ thuật tuồng, hát bội

Ngoài ra, đến ngày 16/3 âm lịch làm lễ cầu an, 16/8 làm lễ tế thu, trùng với

lễ cúng cơm mới, dây là những kỷ lệ được tổ chức trang nghiêm tại đỉnh làng, thể hiện nét đẹp văn hoá truyền thông “uống nước nhớ nguồn” của đân tộc Những năm có kinh phí, làng cỏn tổ chứu thôm phần hội

- Nghi thức truyền thống đình làng Mân Quang (Lang Man Quang,

phường Thọ Quang, quận Sơn rà, thành phô 13â Nẵng}

Binh Tang Mân Quang hiện thuộc tổ 33, phường Thọ Quang, quận Son

Trả, thành phố Đã Nẵng Tương truyền làng Mân Quang được khai phá vào nữa

cuối thế kỷ 15, đo các cư đân người Việt ở vùng Iloan, Ái đi cư vào, trong đó những người được coi là có công ¢ đầu là các cụ Lê Phước Tho, Trần Văn Mỹ, Võ Vin Linh, Thái Công Xạ, Nguyễn Văn Thanh va Dinh Van Khang Củng với việc khai phá lập làng thì ngôi đỉnh làng được dụng lên để thờ thần thành hoàng

và nhiều vi than khác trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Sau nảy, nhiều

vị tiền hiền, hậu hiển, những người có công với làng cũng được nhân dân dia

phương thờ tại đình làng

Trắng năm, tại khu đi tích đỉnh làng, Man Quang diễn ra các hoạt động

cúng tế, lễ hội do nhân dân địa phương tổ chức, gồm

Trang 16

Đặc biệt vào hai ngiy 15, 16 thang 3 (Am lịch), nhén din Man Quang lai

tể tựu về đỉnh để tổ chức lễ hội đình làng Trong suốt hai ngày này, các nghỉ thức tế lễ va các hoạt động diễn xướng, trò chơi dân gian của người dân địa phương diễn ra liên tục trong đại điện và trước sẵn đình Trước khi tổ chức lễ hội, dân lang họp trước một thang để bản bạc xem xét tổ chức lễ như thế nảo, kinh phí đóng góp bao nhiêu, lễ vật ra sao, ai làm việc gì

Chiều 15/3, tai sin dinh, din làng đặt bản án với các lễ vật như cơm,

xôi, gà, vĩ, heo, bánh trái, hương đẻn, cháo trắng, hạt nổ, vàng bạc để làm lễ

vọng củng âm linh

Ngày 16/3, 4 giờ sáng, dân làng tổ chức lễ chánh tế trong dinh với dầy

đủ các nghỉ thức dâng trả, rượu, hương, bái lạy với sự tham gia của chánh tế, bồi

tế, và đội ngũ học trò gia lễ

Tây là địp con dân của làng bày tỏ sự ngưỡng vọng, lòng trị ân đến thánh

thân và các bậc tiền nhân đã phủ trợ, giúp đỡ dân làng xây dựng quê hương Dằng thời, thông qua đó lễ hôi đình làng còn có tác dụng thắt chặt mỗi quan hệ

tình làng nghĩa xóm, cũng như việc gia giữ và phát huy các giá trị vin hoa

truyền thống của địa phương

- Nghi lễ truyền thông đình Án IHHãi (Phường An Iai Tay, quan Son Tra,

Thành phố Đà Nẵng)

'heo như lời kể của cụ Lê Dức Ngọ, người có công đầu trong việc khai

phá lập lắng An Hải là một phụ nữ có tên gọi là Bả Thân đên của hà trở thành dia danh cho một vùng dat sát ven sông Hản, về sau gọi chệch thành Hà Thân gây nay, tại phường An Hải Tây, có mội ngôi chợ người đân thường gọi la chợ

Ba Thân hoặc IIà Thân) Bả là một lưu dân từ phía Bắc vào lập làng từ thời vua

Lê Thánh Tông lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam (năm 1471) Năm 1830, nhân

dan lang An Idi góp của và trích quỹ ruộng hương hỏa cho xây dựng ngôi đình mái lợp tại địa điểm như hiện nay Thời vua Tự Đức thứ 30 (1877), đình được trùng tu lần thứ nhất va cach đây hơn 40 năm (vào năm Giáp Thin) stra chữa lần

thứ hai Dình làng được vua Tự Dức ban tặng 4 chữ lớn tại búc hoảnh “Thién

Tục Khả Phong” nghĩa là nếp sống an lành đáng khen

Tự ngắn xị u tổ tâm linh cús người dân Việt Nam không thể

cuộc sống hàng ngày lrong mỗi con người Ngôi dinh làng tr (hành thiết chế tin

ngưỡng văn hóa ở làng quê Mỗi làng đều dung một ngôi đình làng để có nơi thờ

cúng, sinh hoại văn hóa, hội họp Từ khi xây dựng đỉnh làng, nghỉ thức lễ cúng,

truyền thống đình An IIải đã được nhân đân duy trì vả gìn giữ đến ngày hôm

nay

Lễ chỉnh đình An Hải dược tÊ chức vào ngày 10/8 âm lịch, gọi là l‹ tế thu

cầu an Fang năm, lễ dược tổ chức đưới dạng “trung TẾ”, thông lệ 3 năm tổ chức

lễ lớn một lân Kinh phí chủ yêu do nhân dân đóng góp, chính quyền chỉ hỗ trợ

về mặt an ninh, trật tự

15

Trang 17

Trước lễ chính 10 ngảy, các chư phái tộc trong làng hop lại để thảo luận, phân công nhiệm vụ Vào ngày 9/8 âm lịch, nhân dan đã tụ tập tại đình để dọn

đẹp, trang trí chuân bị cho lễ chính Tôi ngày 9/8, tô chức lễ Vọng ngoài sân

đình

Khoảng 8h ngày 10/8 ẩm lịch, lễ tế chính thức được din ra với các chạm

phúc Ban nghỉ lễ gồm có 1 vị chủ: Bái, 2vị Đài bái, 1 v tư ET 1vị “xướng l va

12 học trò gia lễ Trang phục của ban nghỉ lễ đình làng gồm:

- Chủ tế: mũ đỗ, áo đỗ sau lưng có hình con rằng, quần trắng,

- 02 vị bỗi bái: áo lam, quần trắng, mũ hia mâu xanh

- 01 vị tư lễ, 01 vị xướng lễ áo đen, quần tring, mii hia mau den

- 12 học trò lễ: áo lam, quần trắng, mũ hia màu xanh

Đồ cúng thường là gà, thịt, trái cấy, rượu, trà

Ngoài ra, đình làng An HHãi còn có các ngày lễ

- Ngày mùng 2/3 âm lịch, ngày giỗ tiên hiển

- Ngày mùng 6/6 âm lịch, giỗ hậu hiền, đồng thời kỹ niêm ngày mắt danh

nhân Khâm sai thống chế Thoại Ngọc Hầu

Lễ nghỉ đình lang An Hai nhắc nhở mọi người tuôn tự hảo về quê hương, đất nước Đây cũng là dịp để nhân dân trong lang có thé gp g&, giao lưu, giáo dục con cháu biết gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thông

- Nghi lễ Cầu ngư truyền thông (Phường An Hải Tây, quận Sơn Trả,

Thanh phé Ba Nang)

“1 ăng Ông vạn tứ chánh Nam Hải” của An Hai Tây được xây dựng hơn

100 năm Tăng thờ vị thần Nam Hải cùng với những vị chư thần biển, các vị tiễn bối hậu bối đã sáng lập ra nghề biển tại vủng dất nảy Củng với sự hình thành

lăng Ông, nghỉ thức lễ oảu ngư đã được nhân dân duy tri va gin gift cho đến

ngây nay

Hàng năm, nghỉ thức cầu ngư truyền thống được tổ chức vào ngày 20

thing 02 âm lịch Lễ được tổ chức đưới dang "tiểu lễ”, với sự tham gia của các

ngư dân Phường An Hải lây Diều hành lễ cúng gồm có: 01 vị chủ bai va 02 vi

văn hiển Irang phục của chủ tế: quần do gm đỏ, mũ hia đô, 02 vị văn hiển

quần áo gấm xanh, mũ xanh Thức cúng thưởng là hoa quả, heo, pà vả trà rượu

Ngoài ngày lễ chính, trong năm còn có 2 ngày lễ

- Ngày 25 tháng chạp: lễ thương cờ

- Ngày 7 tháng giếng: lễ hạ cờ

16

Trang 18

Lễ cầu ngư là một tập quán cĩ ý nghĩa Từ bao đời nay, ngư dân vũng An lIải Tây vẫn giữ và lưu truyền nĩ với mục đích truyền ti ước vọng tâm linh Nhung hign nay, với qua trinh chuyển đỗi cơ cấu ngảnh nghề, lực lượng ngư dân làm biển đã giảm đi rất nhiều Theo thống kê của phường, sơ lượng tàu cá kể cả

lớn nhỏ chỉ cịn lại khoảng 40 thuyền Dây chính là ¡ nguyên nhân chính lam cho

lễ cầu ngư truyền thống khơng cỏn sức sống trong cộng đồng,

- LỄ tang cá Ơng của ngư dân di biển (Phường Mãn Thái, Thọ Quang,

ại LHên Đơng, quận Sơn Trả, thành phd Đà Nẵng)

Quân Sơn rà là địa phương ven biến, người dân sinh sơng chủ yếu bằng

nghề dánh bắt thủy, hãi sắn Cá quân cĩ hơn 60% dân số trực tiếp sống về nghệ

biển Ngồi ra, số cịn lại làm các địch vụ liên quan đến nghệ biên như: cung cap lưới, làm các cơng cụ đánh bắt, buơn bán lơm cá Ngư dân đánh bắt rong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch vả tấp nập nhất lả từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch

Cơng đồng ngư dân quan niệm cá voi như là thần biển rất linh thiêng và

gợi một cách tơn kinh là cá Ơng, cá Ơng Voi hay Ngài Ngư, Dức Ngư Ơng

‘Theo quan niệm của họ thỉ Đức Ngư Ơng luơn theo sát người dân di biến, trong,

lúc bão giỏ ngồi khơi để cứu vớt người dân, Và họ tin rằng cá Ơng (cá vọ)

chính là sự hiển linh của thần biển cĩ mặt ở biển khơi và xuất hiện khi cĩ bão tơ

để cửu độ dan chai Vi thé, din chai quan Son Tra rat tan sting cả Ơng, coi cá Ơng như là phúc than cia din chai Khi đi biển gặp cá voi, họ coi đĩ là điềm lành báo hiệu ngày dĩ di biển đánh bất sẽ dược nhiều Đang giăng lưới dánh bắt

ở ngồi khơi, nều gặp cá voi họ thu lưới tránh đường cho ngải đi, với niềm tin và

nghiệm thấy làm vậy hơm đĩ đánh bắt được nhiều rõ rệt

Gấp cá Ơng lụy (cá vợi chết) ngư dân ở đây coi dé là diễm lành, chẳng,

những dỗi với người nhìn thấy dầu tiên, mả cịn dỗi với cả vạn chải, cả làng, cả

xã, khơng những năm ấy mà cịn nhiều năm sau nữa dân chải trong vùng vẫn dược mùa dánh cả Người dân tìm cách đưa cá Ơng lên bờ vả tiến hành mãi

tang, hay cịn gọi là lễ tang cá Ong

khi gặp cá Ơng bị chết trên biển hay trơi dạt, ngư dân tìm cách dìu thi hai

cá Ơng vào bờ Nếu trường hợp cá Ơng quá to, khơng đưa lên bờ được thi dung

ding quây lại, cử người canh giữ cho dến khi thịt rữa hết dưới nước, rửa sạch

hài cốt để mai táng Người đầu tiên phát hiện được xem như là người được

cơng, tín nhiệm và vĩnh dự làm “trưởng nam”, tức là thân chủ thay mặt dân

lảng bịt khăn tang bằng vải diéu dé, chịu tang trong vàng 100 ngày Theo phong tục, nếu phụ nữ mà phát hiện cá Ong luy thi phải nhanh chĩng đi thơng bao cho

một người dan ơng khác trong làng để người đĩ đứng ra chịu tang,

Sau khi đưa cá Ơng vào bờ, dân chài cắm một lá cờ thần trên bãi biển báo

hiệu cho moi người biết Khơng khí tang lễ khơng phải ai ốn, bi thương như đám ma của người bình thường mả rất hề hởi, vui vẻ Việc tổ chức chơn vào

ngảy, giờ nào, ở dâu phải được bàn bạc trước dé khi người ” được Ơng” trình

12

Trang 19

vạn tại nhà, có mời chỉnh quyền địa phương và các bạn chải Lễ mai tang cá Ông được tiễn hành theo trình tự như sau:

- Ngày thứ nhất: Lập tang chủ, dùng vải điểu đồ và rượu trắng lau rữa

sạch sẽ đề tiến hành liêm Những tắm văt đố lớn khẩm liệm thi thể ngài cẩn thân trước khi mang chôn Khiểu người còn dùng giấy bãn thắm nước miễng (dãi)

một iL dịch nước mắt, rồi sau đó phơi khô, gấp lại làm Lư và cho vào một miếng,

väi mới khâu lại thành lá bùa, đeo vào cổ trễ em để chống lại ma quỷ, bệnh tật

Ngư dân tiền hành nhập quan, lập bàn thờ, lập bài vị ghi ngày tháng phát hiện cá

Ông lụy trên giấy điều

- Ngày, thứ hai: ngư dân tổ chức cúng tế, đốt nhan trên bản thờ, người

“trưởng nam” túc trực trong suốt quả trình mai táng Mọi ngư dân ai cũng đến

thắp hương vái lay eau an, cau phúc Ngay cá các ngư dân, vạn chải ở làng khác

nghe tin nơi nào có cá Ông “lụy” vào, dù xa xôi đến đâu cũng mang hương hoa

trên có bảy đề thờ như bát hương, bình hoa, chén

Sau ba ngây tố chức đám tang, tiến hành lễ mở cửa mã Sau đó, ngư dân

tiến hành cúng tuần 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày Đúng 100 ngày thì lâm

lê dỡ bỏ tang phục cho vị trưởng nam thân chủ Đủ ba năm tiên hành lễ cải tảng,

ngư dân dảo mộ cá Ông lên, rốc thịt lầy xương, dùng nước lạnh, sau đó là rượu

trắng rửa sạch, xếp thứ lự vào và dựa vào để trong khám của lăng Đến lúc nay,

người “được Ông” coi như mãn lang (rong thời gian phục tang, người này

không phải kiêng kì gì cả)

Hàng năm, vào ngày phát hiện cá Ông lạy, ngư dân đều tổ chức ngày ky Ông

Nghi thức tang cá Ông vừa bày tỏ lòng biết ơn đối với đức Ngư Ông linh

thiêng, vừa hàm chứa niềm ước vọng sủa những người làm nghề sông nước,

mong một mùa bội thu tôm, cá Đây cũng là dịp thể hiện tính gẵn kết cộng đồng, củng nhau hợp sức chống chọi với thiên nhiên, xây dựng tình làng nghĩa xóm,

giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn

- Tễ tắng ôn của ngư đân di biển (Phường Man Thai, Tho Quang, Nai

Tiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)

18

Trang 20

Đây là một nghỉ lễ nằm trong điễn trinh lễ tế Âm linh của hầu hết các làng

biển Đà Nẵng, còn gọi là lễ “tống cói hạ kỳ” hay “ “tống ( ôn đưa khách” Tủy theo

phong tục của từng địa phương mà lại tổ chức lễ tế Âm linh vào những ngày khác nhau, cụ thể như: lăng Âm linh Mân Thái ngảy 15/3 ÂL, lăng Ông Nại

Hiên Dông ngảy 12/7 AL

Lễ tống ôn thường diễn ra ở lăng Ông hoặc lăng Âm linh của địa phương

ất dầu vào lúc sáng sớm, ydm 2 nghị lễ liên hoàn là 18 nhương ôn và lễ tống

ôn

- Lễ nhương ôn nhằm khao mời ôn hoàng dịch lê, vong hồn Cô bác và các

“khách” Bên cạnh đỏ, côn mang ý nghĩa giải hạn cho làng vạn Các bản án của

lễ nhương ên dược bài trí từ trong lăng ra dến ngoài hiên, sân Thường có ba bản dal theo hing doe ở gian tá của lăng Âm linh (nhìn từ trong ra ngoài) Trước bàn nhương ôn đất bẻ [ong Chú, Vật phẩm đăng cúng ở 3 bàn án khá giống nhau,

gồm: trâu, rượu, hoa quả, kim ngân, thanh y, xôi chẻ, tôm, cua thịt (cá gọi là gồi,

gà gọi là chừn), Ngoài những thứ đó ra, bản cũng Cô bác và nhường ôn còn

thêm bông nỗ, bánh trái, khoai sin, com canh, rau sống, mắm cải, bánh trắng củng rat nhiều giấy vẽ hình nhân thế mạng

Lễ nhương ôn bắt đầu sau 3 hổi chiềng trống Vị chủ tế của làng, sau khi

thấp hương cúng các bản hương án của pian chánh diện, lẫn lượt đến các bản án

cúng Thánh Hoảng, Tiền hiển và Hậu hiển, Cô báo/ Ẩm linh và bản nhương ôn Lời khẩn tải bản súng Thành Hoang và Cô bác giống nhau, đại thể lá cầu xin sự

hộ trì cho làng vạn cá năm làm ăn tân tài tân lợi, ghe thuyền ra khơi vào lông an

toàn Còn đến bản nhương ôn, vị chủ tế khẩn ôn hoảng địch lệ, những ma Mọi,

ma Rợ mời về hưởng lễ, xin đùng quấy làng phá xẻm

Nghi thức cứng nhương ôn hoàn tất, toản bộ thức cúng của bản nhương ôn

và các đồ mã của bàn Cô bác dược để hết vào các khoang của I.ong chu tông,

tiễn Long Chu là chiếc bẻ dược làm bằng tre, đán gấy, dặt trên một chiếc bè trơ

hoặc bẻ chuối Vì là phương tiện chuyển chỡ ôn hoàng địch lệ Lổng ra biển, cũng

là phương tiện tiễn đưa Cô bác và Người khuất mặt về cõi địa phủ nên Long

Chu phấn đẹp, phái vững để trôi nhanh ra biển Kích thước Long Chu dài từ

1,6m — 1,8m, cao va réng khoảng 40 đến 80cm Tiếng chiêng lại vang lên, lễ tổng ôn bắt đầu Trước khi tống tiển, Long chu được khai khoang điểm nhãn và tẩy nế Xưa kia, người làm việc này là thầy pháp, cén ngày nay phổ biến ở các làng là ông chủ tế của làng thực hiện

Sau đó, bè long Chu dược 04 thanh niên khóe mạnh khiéng ra biển

Trong đoàn còn só đuốc lửa, trồng chiêng, cờ xi, và đông đáo bả con trong làng tham đự Vào thời điểm tổng Long Chu, mọi nhà không mở cửa, không chạy ra

đường, Nếu làm trái, ma quỷ sẽ quay trở lại tìm nơi trú ngụ, quậy phá làng vạn

Đến biển, đám người khiếng Long Chu chạy ào xuống, trên bờ, chiêng đánh liên hỗi kỳ trận ITọ thực sự an tâm, phần chắn khi thấy Long Chu trôi nhanh ra biển Bởi sự kiện này đồng nghĩa với những điềm lảnh trong năm Năm nào mà Long

19

Trang 21

Chu không trôi nhanh, bị nghiêng ngả, nhất là bị lật úp xuống biển thì bdo hiệu điều xấu, không may sẽ đến với làng Lễ tống ồn đến đây coi như là hoản tất

Mục đích lễ tổng ôn là để tống tiễn xua đuỗi ôn hoảng dịch lê, đồng thời

để đặt nguyên vọng của công ding dân biển được các thần linh và các vị đã

khuất phù hộ để có cuộc sống bính an

- Một số nghỉ lễ liên quan đến công cụ và phương tiện đi biễn (Quận

Sơn Trả, Dà Nẵng)

_ Quan Sơn Trả là dựa phương ven bid nhân dân chủ yêu mưu sinh bằng

nghề dánh bắt hãi sắn Cá quân có hon 60% dan số trực tiếp sống về nghề biển

Ngoài ra, số còn lại làm các địch vụ như cung ấp chải lưới, làm các công cụ

đánh bắt, buôn bán tôm cá Ngư đân đánh bắt trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và tấp nập nhất là từ tháng 4 đến tháng 6 âm lịch

130 cuộc sống phụ thuộc vào biển cả, vì vậy người dân ven biển DA Nẵng,

luôn có ước nguyên làm cho biển cả trở nên hiển hòa hơn, con thuyén và những vật dụng dánh bắt khác trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu trong quá trình tiến ra

biển

Một số nghỉ lễ liên quan đến phương tiện, công cụ của nghề biển:

- Lễ phạt mộc: Giống như lễ dộng thể khi làm nhà cửa, lễ phạt mộc tiễn hành sau khi hủ thuyền dã cơi tuổi, coi ngảy, giờ tốt dễ bất bắt dầu dóng một con thuyền mới Lễ vật cũng như nhiều nghỉ lễ thờ cúng khác gồm Trầu rượu,

hoa quả, vàng mã đặc biệt trên giấy hàng mã có vẽ các bà Kim, Mộe, Thuý

Việc cúng các bả có liên quan đến chất liệu sử dụng để đóng thuyền và môi trường hoạt động của thuyền Sau khi thấp hương cũng cáo ba bả, mời cô bác, chủ thuyền dùng rùi phạt vào gỗ ba lần Dăm gỗ được giữ lại một ít gói vào vải điều nhỏ để tổng đi khi hạ thuyên

tổng mộc đưa dăm Lễ tẩy uề thuyền trước khi hạ thủy Lễ cũng gầm

2 mim |

bdi bai va cô tác Miâm lễ cúng bả Mộc nhất thiết phải một chiếc thuyền nhỏ

lam bing giấy, đặt trên chiếc bè chuối nhỏ Bốn góc bẻ cắm bốn cây cờ xéo nhỏ

bằng giấy Ở giữa lòng đặt một gói đăm bào (được chủ thuyền cất ở lễ phạt mộc), bên cạnh lả một đĩa trầu cau (một lá trầu và một quả cau), một con cá nướng đặt trên đĩa, xung quanh là ảo mũ cúng cô hén Lễ được tiễn hành với nghỉ thức “khoản bủa” của thầy cing, Sau ( đó thắp hương tôi vái tứ phương xin

hành lễ, Tiếp theo chủ thuyền buồng bè xuống biển

1, một để trên mũi thuyền để cúng bà Mộc, một đặt trên bờ để cũng

- Sau cùng là lễ “hành thuyền phóng thủy” tức “đẩy thuyền xuống biển”

Chi thuyền cho thuyên chạy ra cửa hoặc chạy cách bờ một quảng đường vải cây

số LỄ hành thuyền được coi là chuyến đi đầu tiên, mở mản nên gọi là “đi mở hàng”

- Lễ nhủng lưới, được tiến hánh vào dầu xuân thường là ngày chẵn tháng, Giêng âm lịch Địa điểm nhúng lưới có thể ngay tại bến hoặc cửa biển Tại

20

Trang 22

những nơi nảy, người ta thấp hương khắn vái bà Thủy, ông Ngư, cô bác rồi sau

đó vãi hết vật củng xuống biển

- Sau một mủa đánh trên naư trường, các công cụ vả phương tiện đi

bién dem về thường dược cất ở trên cao, những nơi khô ráo Trước khi tiến hành

lấy các công cụ để chuẩn bị cho một mùa đánh bắt mới, ngư dân phải lâm lễ

cúng tại nhà để câu mong một mùa đánh bắt bội thu, sau đó mới được mang các

công cụ, phương tiện di biển xuống thuyền

Đình Nại Hiên được xây dựng bằng mái lá dơn sơ vào năm 1657 Năm

1945 - 1954, đình là nơi hội tạ của lực lượng vũ trang Khu Đông Đà Nẵng, nơi

giữ hòm thư mật để chuyển tài liệu cách mạng ra các lâu đậu ở vịnh Đà Ning

Năm 1947, giặc Pháp đốt chảy, phá nát toản bộ ngôi đình 1950 ngôi đình

được xây dựng lại tranh tre, năm 1957 đình được Xây dựng kiên cổ bằng gạch

ngói, xi măng Đến năm 1994, nhân dân đóng góp tiền của, công sức trùng 1u lại

đình

Nghị lễ đình Nại Hiển bất dầu từ khi có đỉnh làng và vẫn tiến tục dược

nhân dân duy trì và gìn giữ đến ngày hôm nay Một năm, đình Nại Hiên có 2 ngày cúng chính, gồm có LỄ cầu an ngày 12/2 AL, 18 té Am linh ngay 12/7 AL

- Lễ cầu an ra tại đình Nại Hiên, do điều kiện kinh phí nên chỉ tổ chức đưới dang “tiểu lễ” Ban tổ chức nghi lễ họp nhân dân trước 20 ngày để phân công nhiệm vụ, vận động kinh phí Lễ vật cúng gồm có: gà, trái cây, đặc biệt có con heo sống chưa qua chế biển (chưa nâu chín), còn được gọi là “wể

mao huyét” (hiện nay chỉ duy nhất nghĩ lễ truyền thông đỉnh Nại Hiền là còn lễ vật cảng đặc biệt này) Lễ có dây đủ các nghỉ thức truyền thống: dâng rượu, dâng trả, dọc văn tế Nội dung bải văn tẾ ca ngơi công đức của các vị tiên hiển,

hậu hiền đã có công khai khẩn lập nên vùng đât Nại Hiên ngày nay, báo cáo tỉnh

hình làng xã và mong một vụ mủa bội thu, sức khốc đổi đáo, xóm làng yên ổn

- Lễ tế Âm linh diễn ra tại sở Âm linh, nhằm cầu siêu cho các vong linh

những người chết đường, chết trân, chết không có cơn cháu thờ tư Nghỉ thức lễ cũng tương tự như lễ cầu an đình làng

Ban nghỉ thức lễ nhiệm kỳ 3 năm bầu 01 lần, vị chủ bái phải là người

thuộc 07 họ lớn trong làng (Truong, IIuynh, Lê, Trần, Nguyễn Công, Nguyễn

Văn, Mai), gia đỉnh không mắc tang, không tật nguyễn, vợ chồng song toán, được nhân dân tin tưởng Trang phục của ban nghỉ lễ gồm có

+ Vị chủ bài: Áo màu xanh, dội mão, chân di tất trắng

21

Trang 23

I 02 vị tâ, hữu phân hiển: áo màu xanh đậm, quẦn trắng, chân đi tất trắng Nhạc cễ như trắng cái, chiếng (chính), lệnh (thanh la) của làng đã có sẵn

và sẽ do người trong làng đánh Còn các loại nhạc cụ như kẻn, trống nhỏ phải

thuê ở nơi khác đến

Ngoài ra còn có các ngày giỗ tiền hiền 20/8 AL, ngây dựng neo 25/12 AL,

hạ neo 07/01 AL

Nghỉ thức lễ đình Nại Hiển nhằm cầu quốc thái dẫn an, mưa thuận gió

hỏa, làm ăn được mùa Đây là một trong những nghỉ lỄ truyền thống, biểu hiện

doi sống, tâm lĩnh tín ngưỡng của công đồng cư dân

- Nghi lễ cầu an đình Mỹ Khê (Phường Phước

phd Da Ning)

Đình Mỹ Khê được xây dựng khoảng từ 300 — 400 năm, ban đầu đình chí

được xây dựng đơn giản bằng tranh tre để làm nơi hội hop, thờ cứng Trải qua

một thời gian dai bj tan phá, nhân dân đóng góp tiên của, công sức để trùng tu đình vào những năm 1913, 2013 Đình thờ tiên hiển, hậu hiền vả 12 tôn tộc cùng

xây đựng nên làng Mỹ Khê Các tộc hạ có công khai phá đất đai lập lắng Mỹ Khê gồm có: tộc Dam {ông Dàm Văn Lên có công khai phá nén ving dat M¥ Khê), và trở thành tiền hiển của ling, về sau còn các tộc Nguyễn, Hỗ, Huỳnh, Đình, 1rần Lê, Dương, Ngô là hậu hiển của làng

Lễ cầu an, cầu ngư đình Mỹ Khê được lỗ chức vào ngày 24/01 ÂL, tủy thuộc vào kinh phi đóng góp của người dân mà tổ chức dưới dạng “tiểu IẾ”,

“trung lễ", “đại lễ" Nghi thức lễ được diễn ra theo trình tự sau:

quan Son ‘Ira, thanh

vọng: Khoảng 5h tại sân đình, ban nghỉ lễ tổ chức lễ Vong dé mai

các vị tiễn hiền, hậu hiển về tham dự lễ củng với người dân

L đầu khoảng 8h Ban thực hiện nghi lể gồm có: 01 vị chủ bị

hữu văn hiến, vị xướng lễ Nếu lô chức lễ lớn thì có thêm đội học trỏ gia lễ Lễ

vật cũng chủ yêu là gà, (hịt hoe, cá, trái cây đều do người dân tự chế biến LỄ

có đầy đủ các nghỉ thức truyền thống: ding tra, ding rượu, đọc van tế Nội dung văn tế là ca ngợi công đức của các vị tiễn, hậu hiền, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, nhân đân làm ăn phát dat

Đối với làng Mỹ Khể, ban nghĩ lễ dược bầu 5 năm/1 lần, 01 vị chủ bái

được bầu phải là người có chữ tín trong làng, gia đình song toàn, không có Lạng,

Ngoài ra, đình còn có các ngày lễ truyền thông khác: lễ ky yên ngày 16/6

AL, tat nién ngay 25/12 AL

22

Trang 24

Đình là nơi nhân dân tổ chức các hoạt động tín ngưỡng của nhân dân Mỹ

Khê Trong suốt những năm chiến tranh, do điều kiện kinh tế khó khăn, người

dân chỉ thắp hương vào ngày lễ Sau chiến tranh, nhân dân đã khôi phục lại lễ cầu an và duy trị, phát triển đến ngay hôm nay

- Nghi lễ cầu ngư truyền thống (Phường Phước Mi, quận Sơn Trả,

Thành phố Đà Nẵng)

Trước đây, làng Mỹ Khê vên là làng chải, người dan chủ yếu sống bằng

nghệ đi biến Lăng Ông được xây đựng hoang sơ bằng đá núi, san hỗ vào những

năm đầu khai hoang, lập nghiệp rong những, năm chiến tranh, lăng, bị đập phá,

hư hại nặng nề Vào những năm 90, trước sự xuống cắn của lăng, dược sự hỗ trợ

của Ủy ban nhân dân thành phố Đã Nẵng, nhân dân làng Mỹ Khê đã huy dộng

sự đóng góp tiền bạc, sức lực xây dựng lăng Ông hoàn toàn mới dựa trên nên kiến trúc của lăng cũ

Lãng Ông vừa có chức năng tín ngưỡng lại vừa là nơi tổ chức lễ cầu ngư hàng năm Phần lễ được tiến hành một cách đơn giản nhưng đầy không khí trang nghiêm ( thành kính Nghỉ lễ nhằm bay t6 long thành kinh của ngư đân vùng biến

với cá Ông, cầu mong sự che chớ, tốt lành bội thu và cũng như dể xua di mọi

điền xấu

Trước đây, lễ cầu ngư được tổ chức hàng năm vảo ngày 18/5 AL Sau

năm 2000, vùng đất Mỹ Khê được giải tỏa, ngư dân có sự chuyển đổi cơ cầu

ngành nghề, nhân din lam nghề đánh bắt thủy, hải sản chỉ còn lại khoảng 20 đến

30 hộ Việc duy trí nghỉ lễ câu ngư truyền thong trẻ nên khó khăn về cả kinh phí

lẫn nhân sự Trước tình hình đó, ngư dân đã thông nhất thực hiên nghỉ lễ chung

với lễ cầu an đình Mỹ Khê, vào ngày 24/01 AL

Vào sáng sớm ngày 24/01, ban nghỉ lễ tổ chức lễ tại lăng Ông Mỹ Khê để

mời thẦn Nam Tải và các vị tiền bối, hậu bối nghề biển về tham, dự lễ Sau nghỉ

lễ tại lăng Ông, ban nghỉ lễ về đỉnh làng Mỹ Khê để cứng tế, nhằm bay tổ lòng thành kinh của ngư dan ving bién với cá ông, cầu mong su che chỏ, tốt lành bội thu va cũng như để xua đi mọi điều xấu Lễ vật cúng: ôm: trái cây, gà, xôi, thịt

va áo giấy Sau khi ban nghỉ lễ cầu ngư thực hiện lễ xong, ban nghỉ lễ đình ling My Khé moi tiến vào đình để thực hiện nghỉ lễ cầu an tại đình

Bạn nghỉ lễ cầu ngư là những ngư dân cón hành nghề biển, déu là những

người lớn tuôi, có đạo đức, được nhân dân tin tưởng và trọng dựng Những vị

trong ban nghỉ lễ sẽ giữ chức vụ đến khi tuôi cao không đảm nhiệm được nữa thi

mới bầu một vị mới lên thay

- Kiêng kị khi di biển của ngư dân quận Sơn Trà (Quận Sơn ‘Ira, DA Nẵng)

Quận Sơn Trà là địa phương ven bién, người dận sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy, hải sắn Cả quận có hơn 60% din số trực tiếp sống về nghề

23

Trang 25

biển Ngoài ra, số còn lại làm các địch vụ liên quan đến nghề biển như: cung cấp

lưới, lâm các công cụ đánh bắt, buôn bản tôm cá

"Trước đây, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, các phương tiên dự báo thời tiết không có, dụng cụ đánh bất rất thô sơ, ĐỂ dự báo thời tiết trên biển, ngư đân chỉ căn cứ váo dầu sóng, sự thay đỗi “nếp sinh hoạt” thường ngày của cá,

tôm, sự biến đổi của ráng mây, bầu trời Họ chỉ có thể dựa bằng vốn sống v

kinh nghiệm thực LẺ chữ hoàn toán không có cơ sở khoa học Chính vì thể mà

không biết bao nhiễu con thuyền củng với những sinh mạng bị nhấn chìm dưới

đáy biển Từ đó, người La bắt đầu tín vào sức mạnh vô hình thiên nhiên nảo đó,

họ vừa sợ hãi, vừa mong sợ che chở

Với những thách thức từ biển cả nên họ đã trang bị cho mình những ứng

xử riêng trong mối quan hệ xã hội và với biển, hay nói cách khác, họ đã hình

thánh riêng một smh hoạt, phong tục dặc trưng của cư đân vưn biển trước như

cầu của cuộc sống Và trước hết là những kiêng ky trong cuộc sống và sinh hoạt

trên biển

* Những kiêng ky trong ngôn ngữ;

- Người đi biến nói chung thường tránh nói đến một số từ ngữ liên quan đến nghề nghiệp Người 'Việt miền Trưng kiêng nhắc đến từ “ “sóng” Sóng to gió

lớn là nỗi kinh hoàng của những con tàu đánh cá nhỏ nhoi lênh đênh ngoài khơi

De vậy, thay vì gọi là “sóng”, người ta đủng “nhóc” (khi ở trong lộng) vả “tb” (khi ở ngoài khơi) Người ta cũng kiêng gọi tên các loại ngư cụ, chỉ dùng những

từ ngữ chung chung như “bộ nghề”, “mang nghề” hay “dọn nghề” trong những ngữ cảnh cần thiết Sợ xúc phạm đến thần Nam Hải và sợ những chuyến đi biến sau không số cá, ngư dân tránh dùng những từ như “đánh”, “bat” ma thay thé

bằng * “múe”, không dám gọi thẳng tên những loài cả lớn, họ dùng những tử như

“ “mdi” dé thay thé [Ding những cách nói như “no rồi” hoặc “chững dòng”

thay cho “thôi”, “ ấy” khi cá dã dầy khoang, không đánh bắt nữa bởi họ cho

rằng, từ “thôi” có thể số làm cho chuyến di biển sau không đánh bắt dược gì và

thậm chí “thêi” được hiểu là không báo giờ ra biển nữa Trong cuộc sống hàng

ngày, người ta rất ky nói đến những liếng liên quan đến tai họa của nghề biển

“at”, “chim”, “be”

- Cư dân ven biển rất coi trọng việc thờ cúng cá vơi, người ta không gọi là

cá voi, sợ xúc phạm đến thần mà gọi là Mgư Ông, Đức Ngư Ông, bộc lộ sự

- Những người có tang (24 tháng) thì không được ngdi trước mũi thuyên

24

Ngày đăng: 05/05/2025, 22:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w