1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài nghiên cứu quản lý mối hại chè và biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp cây chè shan cổ thụ tại yên bái và một số tỉnh phía bắc việt nam

13 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quản lý mối hại chè và biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp cây chè shan cổ thụ tại yên bái và một số tỉnh phía bắc việt nam
Tác giả TS. Nguyễn Thị Tuyên, TS. Nguyễn Thị Hồng Lam
Trường học Trường Đại học Nông Lâm
Thể loại Báo cáo thí nghiệm
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hái chè là một khâu quan trọng đặc thù trong toàn bộ kỹ thuật trồng chè, vì hái chè là khâu cuối cùng của biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhưng lại là khâu đầu tiên của quá trình chế biến,

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ KHOA HỌC

MÃ SỐ: ĐTĐL.CN-13/22

***

BÁO CÁO THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT HÁI CHÈ SHAN CỔ THỤ

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ MỐI HẠI CHÈ VÀ BIỆN PHÁP

KỸ THUẬT CANH TÁC TỔNG HỢP CÂY CHÈ SHAN CỔ THỤ TẠI YÊN BÁI VÀ MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Tuyên

Cơ quan phối hợp thực hiện: Viện KHKT NLN miền núi phía Bắc

Thái Nguyên, 2024

Trang 2

BỘ KHOA HỌC VÀ KHOA HỌC

MÃ SỐ: ĐTĐL.CN-13/22

***

BÁO CÁO THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT HÁI CHÈ SHAN CỔ THỤ

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ MỐI HẠI CHÈ VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC TỔNG HỢP CÂY CHÈ SHAN CỔ THỤ TẠI YÊN BÁI VÀ

MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM

TS NGUYỄN THỊ HỒNG LAM

TS NGUYỄN THỊ TUYÊN

Thái Nguyên, 2024

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam……… ……… 3

Phần 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 5

Phần 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 7

1 Kết luận 7

2 Kiến nghị 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….10

Trang 4

MỞ ĐẦU

Cây chè Shan là cây thân gỗ to, phân cành tự nhiên, bản lá to, dài và có nhiều răng cưa, búp to và phủ nhiều tuyết trắng Chè Shan cho năng suất khá, chất lượng tốt,vùng chè Shan chiếm khoảng 15% tổng diện tích chè, phân bổ ở vùng có độ cao từu 600m trở lên, tập trung ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang và Phú Thọ Chất lượng chè phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: điều kiện địa hình, đất đai; giống, kỹ thuật canh tác, thu hái; thời vụ, thiết bị và công nghệ chế biến

Hái chè là một khâu quan trọng đặc thù trong toàn bộ kỹ thuật trồng chè, vì hái chè

là khâu cuối cùng của biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhưng lại là khâu đầu tiên của quá trình chế biến, cho nên hái chè ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng và phẩm chất chè và ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây chè Bên cạnh đó búp chè Shan thường rất to nên nếu hái không đúng kỹ thuật và tiêu chuẩn sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của sản phẩm chè trong quá trình chế biến

Trong điều kiện tự nhiên sự sinh trưởng của búp hàng năm thường có 3 - 4 đợt Chỉ có búp đỉnh (mầm ngọn) và 2 mầm nách lá kế tiếp với nó chiếm ưu thế sinh trưởng, những mầm nách ở phía dưới và mầm bất định nằm trong trạng thái ngủ Hái búp đỉnh tức là phá vỡ ưu thế sinh trưởng ngọn, đồng thời cũng phá vỡ sự cân bằng giữa hai bộ phận trên và dưới đất, có tác dụng thúc đẩy sự hình thành búp mới, tăng số đợt búp trong một năm

Để sinh trưởng búp, cần có một số lớn vật chất dinh dưỡng mà lá non giữ một vai trò quan trọng trong việc quang hợp, tạo thành chất hữu cơ Khi hái, nếu để lưu số lá non lại càng nhiều thì càng có lợi cho quang hợp tạo thành vật chất dinh dưỡng cho cây Song đối tượng của trồng trọt là lá non và búp, cho nên giữa hái và sinh trưởng của cây tồn tại một mâu thuẫn nhất định Nếu hái không hợp lý, không chừa lại một số lá thích hợp thì quá trình quang hợp không thể tiến hành thuận lợi, cây sinh trưởng kém, giảm sản lượng Thực tế chứng minh rằng các phương pháp hái khác nhau (chủ yếu là để chừa lại số lá nhiều hay ít khác nhau) có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chiều cao của cây, chiều rộng của tán và sức sinh trưởng của cây

Hái búp có quan hệ rất lớn đến sự ra hoa kết quả Cây chè không có riêng cành dinh dưỡng và cành sinh thực mà mùa hạ và mùa thu cả hai loại mầm này đều có trên nách lá của cành Các phương pháp hái khác nhau, tỷ lệ ra hoa kết quả cũng khác nhau Hái chừa càng nhiều lá thì tỷ lệ ra hoa kết quả càng cao

Sản lượng của búp chè phụ thuộc vào số lượng búp và trọng lượng búp Số lượng búp phụ thuộc vào mật độ búp trên tán và số lần hái Trọng lượng búp chè phụ thuộc vào

số lá trên búp Tiêu chuẩn hái khác nhau, sản lượng thu được sẽ khác nhau Xuất phát từ

nhu cầu thực tiễn trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu hoàn thiện thí nghiệm: “

Nghiên cứu kỹ thuật hái chè Shan cổ thụ ”.

Trang 5

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

* Nghiên cứu về giống

- Đặc điểm chung giống chè Shan: Giống chè Shan chủ yếu phân bố ở miền núi phía Bắc Việt Nam, vùng biên giới Vân Nam – Trung Quốc và Miến Điện Công tác chọn tạo giống chè, nhiều nước đi theo hướng chọn lọc giống từ quần thể giống địa phương, kết quả tạo ra nhiều giống tốt gắn với các địa danh nổi tiếng thế giới

Theo phân loại của tác giả Ngô Phúc Liên (2006) có thể thấy vùng cao phía Bắc Việt

Nam có rất nhiều loài chè khác nhau như loài Camellia crassicolumna ở thượng lưu sông Hồng, hay loài Camellia sinesis thể hiện ở 3 loài phụ Camellia sinensis var Assamica,

Camellia sinensis var pubilimba và Camellia sinensis var shan đều có ở nước ta Điều

này cũng có thể hiểu không phải loài chè rừng nào hiện có ở Bắc Việt Nam cũng là chè Shan, vì vậy cần phải xác định đúng nguồn gốc giống trong quá trình chọn lọc chè Shan

- Đặc điểm sinh trưởng phát triển: Thời gian hình thành búp chè tôm 2 - 3 lá non đủ tiêu chuẩn hái dài hay ngắn phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng của búp chè; tốc độ sinh trưởng phụ thuộc vào giống, điều kiện sinh thái, kỹ thuật thâm canh; cây chè đốn, hái búp thì chính tác động này đã làm các cơ quan rễ, thân và búp được kiến tạo lại phá vỡ sự ngủ nghỉ tự nhiên của cây chè và các búp chè mới tiếp tục phát sinh phát triển, vì thế sản lượng búp thu hoạch cao hơn chè để sinh trưởng tự nhiên

- Đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè: Thành phần cơ giới và hình thái nguyên liệu búp chè phụ thuộc vào mùa vụ, giống, kỹ thuật hái; nghiên cứu thành phần hóa học chủ yếu của nguyên liệu búp chè, theo Chen Zong Mao (1994), Ngũ Phúc Liên và CTV (2006) cho biết có mối tương quan giữa phẩm chất và các chất polyphenol chè, hàm lượng theaflavin tương quan chặt hẽ đến chất lượng chè đen, đề xuất tiêu chuẩn hàm lượng một số chất chủ yếu tanin, axit amin, đường ) để chọn giống theo định hướng sản phẩm và nghiên cứu xác định các biện pháp kỹ thuật chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng chè

* Nghiên cứu về kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng chè

- Kỹ thuật nhân giống vô tính: kết quả nghiên cứu kích thước túi bầu cho giâm hom giống chè Assam: tác giả Chakravartee và cộng sự (1996) kết luận kích thước túi bầu thích hợp

có đường kính 8 cm và chiều cao 28 cm; tác giả Denis Bonheure (1990) kết luận kích thước có đường kính 8 – 10 cm và chiều cao túi 25 – 28 cm túi dày 60 - 100 micron cho kết quả tốt đặc biệt tác giả Denis Bonheure (1990) kết luận kích thước có đường kính 8 –

10 cm là chiều cao túi 25 - 28 cm, túi dày 60 – 100 micron cho kết quả tốt, đặc biệt túi có đường kính 12 – 15 cm cho phép cây sinh trưởng tốt hơn nhưng chi phí đắt hơn Với túi

có đường kính 8 cm cho số lượng tương đương 100 bầu/m khoảng 600.000 bầu/ha), mặt luống cao 10 - 20 cm, rãnh luống rộng 40 – 60 cm cho kết quả tốt nhất

- Kỹ thuật đốn chè: kết quả nghiên cứu đến chè ở giai đoạn KTCB ở Ấn Đỗ, tác giả Barbora, B C (1996) khuyến cáo khi cây được 50 – 60 cm thì tiến hành đến thân chính

và cành bên ở cùng độ cao 25 cm so với mặt đất, năm thứ 2 đốn nhẹ, năm thứ 3 tạo tán bằng ở độ cao 50 cm; tác giả Barua D N (1989) kết luận thời kỳ khô hạn không nên đốn

2

Trang 6

chè, đốn chè vào đầu mùa xuân là thích hợp nhất (tháng 1, 2); tại Gruzia khi cây chè 2 – 3 tuổi, có 2 – 3 thân hính, cành bên phát triển tốt đốn 2 lần đến lần 1 vào vụ xuân ở độ cao

10 – 15 m, sau khi đốn tăng cường chế độ chăm sóc cho cây, đốn lần 2 vào vụ xuân năm sau ở độ cao 30 – 35 cm so với mặt đất, nếu cây chè thấp hơn 30 cm thì để lại năm sau mới đốn; tại Nhật Bản, đốn chè thời kỳ kiến thiết cơ bản thực hiện làm 3 lần, đốn lần 1 ở

độ cao 15 – 20 cm vào vụ xuân khi chè 1 tuổi, đốn lần 2 độ cao 20 – 25 cm, đốn lần 3 tạo tán hình mâm xôi

- Kỹ thuật hái chè: nghiên cứu kỹ thuật hái chè, trong sản xuất chè kỹ thuật hái vụ 1 rất quan trọng, thực chất là kỹ thuật để lá chừa hợp lý cho cây chè sinh trưởng tốt Nghiên cứu kỹ thuật hải vụ 1 ở Ấn Độ, theo tác giả Anon (1986) kết luận hái vụ 1 khi búp chè đạt

độ cao 25 cm tiến hành hái búp 1 tôm 2 lá và phần chừa lại có độ cao cách mặt tán 15 cm; những lứa sau tiến hành hái kỹ và tạo tán bằng; tác giả Dumur và Naidu (1985) nghiên cứu ở Mauritius nhận thấy rằng chu kỳ hái ngắn cho sản lượng cao nhất, sản lượng và chất lượng giảm đi khi kéo dài chu kỳ hái 6 – 18 ngày, chu kỳ hái thích hợp từ 7 – 10 ngày, dài nhất không quá 14 ngày

- Kỹ thuật bón phân: nghiên cứu kỹ thuật bón phân: các tác giả Bonheure, D Và Willson, K.C (1992) công bố có 5 nguyên tố đóng vai trò luan trọng nhất cho sinh trưởng cây chè được là N, P, K, Ca, Mg, các nguyên ổ khác chiếm số lượng ít từ 8 – 3700 ppm là S C1,

Al, Mn, Na, Zn, Cu, B và Fe; tác giả Othienno (1979) nghiên cứu trên dòng chè 6/8 tại Bắc Ấn Độ có kết luận cứ thu hoạch 1000 kg chè khô thì cần lượng phân bón N, P, K nguyên chất là 40,0 kg, 4,0 kg và 19,0 kg, ngoài ra cần phải bón thêm Mg Ca và S; điều tra mức bón đạm tại 2 vùng ở Gruan, hai tác giả Sanigidze và Gelouti (1988) kết luận mức bón 300 kg N/ha vẫn có hiệu quả trong sản xuất chè

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

- Đặc điểm giống chè Shan Việt Nam: nghiên cứu về chè Shan Hà Giang đã có từ lâu đời, người Pháp điều tra thu thập các mẫu giống chè Shan Hà Giang (1918); tác giả Djemukhatze (1976) nghiên cứu sinh hóa chè Shan phía Bắc nước ta đã khẳng định

“Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam”; tác giả Trịnh Văn Loan – Nguyễn Văn Niệm (1980) đã kết luận giống chè Shan là giống chè đặc sản của Việt Nam; tác giả Đỗ Văn Ngọc và CTV (2006) điều tra tuyển chọn được 125 cây chè Shan tiêu biểu của vùng miền núi phía Bắc, trong đó có 23 cây chè shan Hà Giang; nhóm tác giả Phạm S tiến hành ở Lâm Đồng họn ra dòng chè Shan LĐ97, nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Kính và Nguyễn Đình Vinh tiến hành ở Mộc Châu đã chọn ra 7 cây chè Shan đầu dòng cho tỉnh Sơn La; nhóm tác giả Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung tiến hành ở Chợ Đồn đã chọn ra 18 cây chè Shan đầu dòng cho tỉnh Bắc Kạn

Diện tích giống cho Shan theo thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam (2010) chiếm 24,1% tổng diện tích chè cả nước, trong đó cơ cấu giống chè Shan chọn lọc chiếm khoảng 6%, gồm các giống TRI-777, TB14, LĐ97, chất Tiền, Tham Vè, 13 cây chè Shan đầu dòng Về canh tác chè Shan hiện nay đang có 2 kiểu trồng chính là trồng phân tán với

Trang 7

mật độ thưa (1.500 – 4.000 cây/ha) và trồng tập trung với mật độ dày 12,000 – 13.000 cây/ha):

- Đặc điểm sinh trưởng phát triển: nghiên cứu số đợt sinh trưởng giống hè Shan TRI-777 trong điều kiện có đốn hái và trong điều kiện tự nhiên tác già Lê Tất Khương (1997) cho thấy biết số đợt sinh trưởng tự nhiên biến động 3,4 – 3,6 đợt/năm nhưng trong điều kiện

có đốn hái số đợt sinh trưởng đạt 5,5 - 6,2 đợt/năm;

Điều tra sinh trưởng chè Shan cổ thụ ở các vùng, tác giả Đỗ Văn Ngọc và CTV (2006) kết luận chiều cao cây chè Shan cô thụ 3,4 – 9,7 m, chiều rộng tán 2,8 – 6,3 m, kích thước lá có chiều dài từ 11,3 - 176 cm và chiều rộng 4,5 – 6,4 cm, búp chè có tuyết nhưng ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào giống và từng vùng

- Đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè: Tác giả Vũ Hữu Hào, Trịnh Văn Loan ( 1988) đánh giá chất lượng nguyên liệu một số giống chè tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Yên Bái và Lâm Đồng kết luận hàm lượng tanin, chất hòa tan vào đầu và cuối vụ thấp hơn so giữa vụ; nhóm tác giả Đỗ Văn Ngọc và CTV 2006) điều tra chè Shan cổ thụ các tỉnh miền núi phía Bắc kết luận búp chè tôm 3 lá có các chỉ tiêu biến động lớn (chiều dài 7,9 – 10,5 cm, khối lượng 0,75 1,25 g, tỷ lệ tôm 3,8 – 6,6%, tỷ lệ

là 1+2 từ 25,0 – 35,4%, tỷ lệ lá 3 từ 25,8 – 4,9%, và tỷ lệ cuộng từ 240 – 35.0%, tác giả

Đỗ Thị Việt Hà (2008) nghiên cứu thành phần cơ giới búp một số dòng chè chọn lọc tại Phú Hộ kết luận khối lượng búp lớn nhất là các dòng chè Shan, nhưng tỷ lệ tôm có xu hướng thấp hơn các giống Trung Quốc hoặc giống lai

* Nghiên cứu về kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng chè Shan Việt Nam.

- Kỹ thuật giâm hom chè: Theo tác gia Nguyễn Văn Toàn (1994) nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học các biến chung chè kết luận giống chè có lá quá lớn sẽ có ảnh hưởng xấu đến

tỷ lệ sống, sự hình thành mô sẹo và tỷ lệ bật mầm; nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước túi bầu Nguyễn Văn Niệm (1994) cho viết kích thước túi bầu thích hợp cho giống chè Assam (PHI, 1A) là 12 x 18 cm, kích thước lớn hơn cho chất lượng cây con xuất vườn tốt

và tỷ lệ sống sau trồng cao hơn, nhưng tăng chi phí giâm cành chè 10 – 15%; tác giả Đàm

Lý Toa (2002) nghiên cứu giâm cành rễ trần trên nền đất cho thấy khối lượng bộ rễ phát triển tốt hơn so giâm trong bầu, tức do môi trường nền đất rộng hơn và thông thoáng hơn

so với môi trường trong bầu

Mật độ trồng chè: các nghiên cứu về mật độ trồng chè, tác giả Đỗ Ngọc Quỹ (1980), Nguyễn Thị Bình (2008), kết luận mật độ trồng giống thân bụi (Keo am tích, Kim Tuyên) thích hợp từ 1,8 – 2 2 vạn cây/ha; tác giả Đỗ văn Ngọc và CTV (2009) đã kiến nghị mật độ trồng chè Shan tập trung đối với giống chè Shan Suối Giàng tại Nậm Búng (Yên Bái) từ 8.000 – 12.000 cây/ha, giống chè Shan chọn lọc trồng phân tán ở vùng cao Hà Giang từ 3.000 – 4000 ay/ha

- Kỹ thuật đốn chè: các nghiên cứu kỹ thuật đốn chè của tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991), (2006), Đỗ Ngọc Quỹ (1980), cho biết đốn chè phụ thuộc vào giống, mật độ trồng, phương thức trồng cành hay hạt, kỹ thuật hái bằng máy hay bằng tay v.v, nhưng chủ yếu phụ thuộc vào giống; quy trình đốn chè thay đổi theo giống trồng hạt hay cành, giống Trung du trồng hạt đốn lần 1 khi cây 2 tuổi, cách mặt đất 12 - 15 cm, đốn lần 2 khi cây 3 tuổi, cách mặt đất 30 - 35 cm, đốn lần 3 khi cây 4 tuổi, cách mặt đất 50 – 60 cm; quy trình

4

Trang 8

kỹ thuật sửa đổi cho chè trồng bằng cành (giống PH1): đốn lần 1 khi cây 2 tuổi, cách mặt đất 25 m (cao hơn quy trình cũ 10 cm) đồn lần 2 khi cây 3 tuổi, cách mặt đất 35 cm; đốn lần 3 khi cây 4 tuổi, cách mặt đất 45 cm (thấp hơn quy trình cũ 15 cm); nghiên cứu cải tiến quy trình đốn KTCB cho giống chè PH1 (1985) đã thay đổi kỹ thuật đốn lần 1 có chiều cao thân chính và cành bên khác nhau (chiều cao thân chính 25 cm, nhưng chiều cao cành bên 40 – 45 cm)

- Kỹ thuật hái chè: các nghiên cứu về hái chè của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bình, Đỗ Văn Ngọc (2006) trên các giống Trung du, PH1, LDP1 cho biết áp dụng hái chè san trật có ưu điểm phẩm cấp chè non, số lứa hái nhiều hơn đối với giống chè PH1 thì công thức hái chừa cách vết đốn 10 cm, sửa tán hai lần vào tháng 4, 7 cho sản lượng cao nhất; đối với giống LDP1 hái chừa cách vết đốn 10 cm, sửa tán hai lần vào tháng 4, 7 làm giảm số lứa hải nhưng năng suất không sai khác so hái san trật

- Kỹ thuật bón phân:

Theo tác giả Lê Văn Đức (1997) nghiên cứu về ảnh hưởng của Mg đến chất lượng cây chè trên 2 giống PH1, và LDP1, kết luận bón Mg ở các liều lượng 50 kg và 70 kg MgSO4/ha làm tăng mật độ búp chè tương ứng 10,5% và 8,9%, tỷ lệ búp mù xoè giảm, trọng lượng và chiều dài búp không tăng có tác dụng tích cực đến năng suất và chất lượng chè, tăng hàm lượng đường khử, xit amin, do đó ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè; tác giả người Pháp Guinard (1962) đã nghiên cứu bón phân cho giống chè Shan trồng hạt tại trạm Blao (vùng Tây Nguyên - Việt Nam) đã kiến nghị mức bón N, P, K là 40, 36 và 75 kg/ha; tác giả Phạm Kiến Nghiệp (1984) nghiên cứu mức bón phân đạm trên hai giống chè shan TB11, và TB14 ở vùng chè Bảo Lộc, Lâm Đồng đã kết luận với lượng bón đạm đơn độc từ 100 – 400 kg N/ha cho thấy năng suất tăng theo lượng bón nhưng hiệu quả sử dụng 1 kg N lại giảm; nghiên cứu tỷ lệ bón phân NPK cho giống chè Shan TRI -777 giai đoạn đầu chu kỳ kinh doanh, tác giả sinh thị Ngọ (1996) kết luận tỷ lệ phối hợp có N chiếm tỷ lệ cao cho năng suất cao hơn

Phần 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm 7: Nghiên cứu kỹ thuật hái chè Shan cổ thụ

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 5 công thức, bố trí theo kiểu

khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, nhắc lại 3 lần (15 ô thí nghiệm) Diện tích mỗi ô 100 m2, tổng diện tích 1500 m2

CT1: Khi búp chè có 4 – 5 lá thật, hái chừa 1 lá

CT2: Khi búp chè có 4 – 5 lá thật, hái chừa 2 lá

CT3: Khi búp chè có 4 – 5 lá thật, hái chừa 3 lá

CT4: Khi búp chè có 4 – 5 lá thật, hái không chừa lá

CT5: Theo truyền thống của người dân(đ/c)

- Kỹ thuật Hái chè Shan cổ thụ

+ Áp dụng giải pháp hái san trật để làm tăng lứa hái trong năm Chỉ tiến hành hái những búp đủ tiêu chuẩn và chừa lại hợp lý (vụ xuân chừa 3 - 4 lá, vụ hè thu chừa 1-2 lá) Những búp ở đỉnh trục cành chính, thân chính có thể hái sát lá cá

Trang 9

Những nương chè yếu mới đốn trẻ lại, không hái vụ xuân, nuôi chừa để đến tháng

5 bắt đầu hái, thực hiện hái chừa lại 5 – 6 lá, bấm ngọn mù xoè, thời gian sau hái bình thường

+ Để tăng chất lượng cần phải hái non 1 tôm 2 lá vì chè Shan búp rất to, không nên hái dài nhiều lá sẽ làm ngoại hình chè thô

- Kỹ thuật bảo quản chè búp tươi

+ Nguyên liệu sau khi thu hái được vận chuyển về nơi bảo quản ngay Chè bảo quản chờ chế biến phải được rũ tơi rải trên nền sạch, bề dày lớp chè khoảng 10 cm, tránh dẫm đạp lên chè

+ Nơi bảo quản phải thoáng, mát, không bị mưa nắng hắt vào Sau 2 – 3 h bảo quản dùng sào tre hoặc dùng tay rũ nguyên liệu một lần, không dùng cào sắt để tránh làm dập nát chè

- Chỉ tiêu theo dõi

+ Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Mật độ búp/m2: Đếm số búp đủ tiêu chuẩn có trong khung 25x25cm (5 điểm theo đường chéo góc)

Khối lượng búp (g): trên ô thí nghiệm chọn 3 điểm đại diện, mỗi điểm hái ngẫu nhiên 100 búp 1 tôm 3 lá, tiến hành cân quy ra khối lượng 1 búp, theo dõi vào lứa hái chính

Chiều dài búp (cm): Đo từ điểm giữa lá 2 và lá 3 đến đỉnh búp, đo liên tiếp 10 búp lấy trị số trung bình

Năng suất cá thể (kg/cây): Chọn 5 cây/ô theo đường chéo góc, hát hết chè đủ tiêu chuẩn, cân khối lượng

Năng suất thực thu (tấn/ha): Hái hết các búp chè đủ tiêu chuẩn, cân khối lượng và quy ra tấn/ha

+ Đánh giá chất lượng chè:

Xác định hàm lượng Tanin trong búp chè tươi (%): Theo phương pháp Leventhal hoặc theo phương pháp chuẩn độ bằng Iod

Xác định hàm lượng chất hoà tan (%): theo phương pháp Voronxov năm 1946; Xác định hàm lượng đường khử (%): theo phương pháp Bectrand;

Xác định hàm lượng catechin tổng số bằng sắc ký bản mỏng theo phương pháp Djunjolia năm 1973;

Xác định hàm lượng cafein (%): theo phương pháp Cuocxanov;

Đánh giá cảm quan: theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3218-93

+ Hiệu quả kinh tế

Phần 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Búp chè là sản phẩm cuối cùng của trồng trọt, đồng thời là nguyên liệu khởi đầu cho quá trình chế biến, do vậy số lượng búp, năng xuất búp là mối quan tâm của người thu hái, còn chất lượng nguyên liệu, phẩm cấp búp và tiêu chuẩn búp lại liên quan đến chè thành phẩm sau chế biến Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

và tạo cho cây chè sinh trưởng khoẻ, bền vững Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

kỹ thuật hái chè Shan cổ thụ Kết quả được thể hiện ở bảng 1

6

Trang 10

Bảng 1: Ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất trên chè Shan cổ thụ

Mật độ búp

(búp/cây/9

tháng)

Khối lượng búp (g)

Chiều dài búp (cm)

Năng suất cá thể (kg/cây/9 tháng)

Năng suất thực thu (tấn/ha/9 tháng)

* Ghi chú: CT1: Khi búp chè có 5 lá thật, hái chừa 1 lá; CT2: Khi búp chè có

4-5 lá thật, hái chừa 2 lá; CT3: Khi búp chè có 4-4-5 lá thật, hái chừa 3 lá; CT4: Khi búp chè

có 4-5 lá thật, hái chừa 4 lá; CT5: Theo truyền thống của người dân (đ/c).

Kết quả ở bảng 1 cho thấy ảnh hưởng của kỹ thuật hái đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất trên chè Shan cổ thụ Khi búp chè có 4-5 lá thật, hái chừa 3 lá giúp cây chè cho mật độ búp cao nhất, đạt 319,2 búp/cây/9 tháng Tuy vậy khối lượng búp đạt cao nhất khi hái chừa lại 2 lá Cây chè cho năng suất cá thể (0,97 kg/cây/9 tháng) và năng suất thực thu (0,71 tấn/ha/9 tháng) cao nhất khi hái chừa lại 4 lá thật

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1 Kết luận

Qua theo dõi và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật hái chè Shan cổ thụ năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, bước đầu có kết luận như sau:

Khi búp chè có 4-5 lá thật, hái chừa 3 lá giúp cây chè cho mật độ búp cao nhất Tuy vậy khối lượng búp đạt cao nhất khi hái chừa lại 2 lá Cây chè cho năng suất cá thể và năng suất thực thu cao nhất khi hái chừa lại 4 lá thật

2 Đề nghị

Tiếp tục tiến hành theo dõi các thí nghiệm để khẳng định thêm

Ngày đăng: 05/05/2025, 14:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w