Tuy nhiên, để tránh sơ lược thỏa và khiên cưỡng vẫn đẻ, trong quả trình thực hiện dễ tài nghiên cứu, chúng tôi luôn đành sự quan tâm thée dang đến tính đặc thủ lịch sứ - xã hội, tư tướn
Trang 1
BO GIAO DUC VA DAO TAO
TRUONG DAITIOC SU PHẠM HÀ NOI
BUI THI LAN HUONG
TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC VẢ NHỮNG ĐÓNG GÓP DOI VỚI TIIỄ LOẠI TIỂU THUYET QUOC NGU DAU THE KY XX
(QUA MOT SO TAC GIA TIEU BIEU)
LUAN AN TIEN SĨ NGỮ VĂN
HA NOT - 2020
Trang 2BO GIAO DUC VA DAO TAO
TRUONG DAITIOC SU PHẠM HÀ NOI
BÙI THỊ LAN HƯƠNG
TAC GIA NHO HOC - TAN HOC VA NHUNG BONG GOP BOI
VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYET QUOC NGU BAL THE KY XX
(QUA MOT SO TAC GIA TIEU BIEU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 922 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS TS Vũ Thanh 2.PGS TS Trần Thị Hoa Lé
HA NOI - 2020
Trang 3
LOI CAM DOAN
'têi xin cam đoan đây là công trình nghiên cửu cúa riêng tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS I'S Vil Thanh, PGS L5 Trần Thị Hoa 1.8 Cac số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa dược công bỗ trong
bắt kỷ gông trình nào trước dó Các trích dẫn ý kiến cửa các nhà khoa học và
nguễn tải liệu được thực hiện nghiêm chỉnh theo đứng quy định chưng Nếu vi phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Bai Thi Lan [long
Trang 4LOI CAM ON
Lời đầu tiên, cho tôi gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo ở Khoa Ngữ
văn, Ban lãnh đạo củng toàn thể cán bộ, các thầy giáo, cô giáo Trường Đại
học Sư Phạm Hà Nội đã tao mọi điều kiện thuận lợi, tận tỉnh giảng day, déng
viên, nhiệt tỉnh giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình hoc tập
Tôi xin được bày tổ lòng biết ơn sâu sắc tới hai nhà khoa học hướng
dẫn là PG5 T5 Vũ Thanh và PGS 'TS Trần Thị Hoa L.ê 'Irong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận án, tôi đã luôn luôn nhận được sự khích lệ, động
viôn tinh thần kịp thời để tôi có thể có được thành quả như ngày hôm nay
Cuối củng, tôi xin cảm ơn người thân trong gia đình vả bạn bẻ đã động viên tôi, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Téi xin chân thành cảm ơn
11à Nội, ngày L0 tháng 3 năm 2020
Tác giả luận án
Bùi Thị Lan Hương
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu 3
1.1.2 Lý thuyết tự sự học - 11
1.3.1 Những công trình nghiên cứu về các tác giả Nho học - Tân học 18
1.3.1.1 Những nghiên cứu về tác giả Nguyễn Chánh Sắt - 18
1.3.2 Những công trình nghiên cứu thể loại tiểu thuyết giai doạn giao
Thời và tiêu thuyết Quốc ngữ của tác giả Nho học - Tân học 31
Chương 2: DIEU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH TÁC GIẢ NIIO TỌC - TÂN HỌC GIẢI ĐOẠN ĐẦU TIE KY XX | 38
2.1 ĐIÊU KIÊN HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH TÁC GIÁ NHƠHỌC —TÂN HỌC 38
2.1.1 Diễu kiện lịch sử - xã hội, tư tưởng - văn húa 38
Trang 6
2.1.1.2 Quả trinh phổ hiến chữ Quốc ngữ - 40
2.1.1.3 Sự ra dời, phát triển của báo chí và xuất bản - 42
2.1.1.4 Nền giáo dục mới với mô hinh nhà trường Pháp - Việt 44 2.1.2 Điều kiện văn học - - 46
2.1.2.1 Dịch thuật - cầu nối giao lưu văn học Á - Âu - 46
2.1.2.2 Công chứng và vai trỏ của công chúng văn học đầu thê kỷ XX 49
2.1.2.3 Sự phát triển tư duy tiểu thuyết Việt Nam: từ tự sự của tiểu thuyết
chương hồi chữ Hán đến tiểu thuyết Quốc ngữ hiện đại 30
2.1.2.4 Quả trình thay đối ý thức của nhà văn - - 56
22 DẬC DIỀM LOẠI HÌNH TÁC GIÁ NHO HỌC TÂN HỌC DẦU
DE TAI - CIT DE VA TO CINC KET CAU COT TRUYEN 71
3.1.1 Dề tài - chủ đề về đạo đức, luân lý xã hội 73
3.1.3 Đề tài - chủ đề về (inh yêu và hôn nhân gia đình - 85 3.2 TÔ CHÚC KẾT CẤU CÔT TRUYỆN - 9] 3.2.1 Kết cấu cốt truyện vay mượm 92
Chương 4: TÁC GIÁ NHỎ HỌC- TÂN HỌC VỚI TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ DẦU THẺ KY XX TREN PHUONG DIEN XÂY DỰNG TIỆ THÓNG NHÂN VẬT, GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ 104
Trang 74.1.1 Một số loại hình nhãn vật tiêu biểu - 104
4.1.1.1 Nhân vật là con người đạo dức, có tỉnh có nghĩa - 105 4.1.1.2 Nhân vật là con người tải tử mang áo mộng thoát ly 109 4.1.1.3 Nhân vật là con người bị áp bức, bóc lật đến cùng cực 113
4.1.1.4 Nhân vật là con người bị tha hóa và Lằng lớp quan lại, địa chú 115
4.1.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hinh và nhân thân nhân vật L1B
4.1.2.2 Nghệ thuật miễu Iä tâm lí nhân vật 123
4.2.1 Giọng điệu triết lí, giáo huấn 127
4.2.4 Giọng diệu hài hước, đã kích - 134
4.3.1 Xu hướng giảm dần câu văn biển ngẫu và từ Hán - Việt đến sự
4.3.1.1 Xu hướng giảm đần của câu văn biển ngẫu 137
4.3.1.2 Sự giảm dan cia luong tirngér [lin - Việt - 139
4.3.1.3 Sự gia tăng của ngôn ngữ dời sống - - 141
4.3.2 Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm
4.3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại
4.3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại nội lâm
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1.1 Lý do khoa học Văn học Việt Nam đâu thế
lịch sử văn học dân tộc, lâu nay vân được các nhà khoa học dịnh danh: là giai doạn
ý XX là một trong những giai đoạn đặc biệt của
giao thời, chuyên tiếp giữa bai thời kỳ, hai phạm trừ từ văn học trung đại sang văn học hiện đại, từ những ảnh hưởng mang tính khu vực sang những mối liên hệ trực tiếp với vẫn học thẻ giới
Trong giai đoạn lịch sử đặc biệt đó, nền văn học Việt Nam đã xuất hiện một vải loại hình tác giã mới, trong dỏ có một kiểu loại tác giả là sản phẩm của thời điểm giao thời giữa cái cũ truyền thống và cái mới, ảnh hưởng phương Tây, đó là các tác giả Nho học - 'Tân học Hiểu một cách đơn giản nhất, đó là những tác giá có sự kết hợp hai yêu tổ trong cu tric, trong ý thức hệ tư tưởng: Nho giáo và học phong của thời đại mới Họ có
thể là những người đỗ đạt trong các kỳ thi Nho học, hoặc là những người đã nhiền năm
theo dỏi chữ nghữa thánh hiển và chịu ảnh hưỡng sâu sắc của nên hợc vẫn này Song, do
xihững biển thiện của thời cuộc, trên cơ sở tiếp [hú những lư tưởng mới của phương T: hùng nhà nho này đã theo học tiếng Phép, tiếp thu văn hỏa Pháp và chuyển sang viết văn băng chữ Quốc ngữ Đội ngũ tác giả Nho hoc - Tân học là một mẫu bình tác giả nhà tho kiểu mới và họ có những đồng góp không nhỏ cho quá trình hình thành và phát triển của nền văn học Quốc ngữ giat đoạn đầu thế kỹ XX
Tác giả Nho học - Tân học Việt Nam đã có những đồng gốp quan trọng cho
sự hình thành và phát triển của văn học dương thời, dặc biệt cho sự đuy tri và tiếp Tiối những thành tựu và ảnh hướng của vấn học quá khử với nên vấn học mới, trong, một bói cảnh khi mà đa số người sảng tác dã quay lưng hoặc tim cách xóa bỏ dau vết của nên “cựu học” Loại hình tác giả này, từ trước tới nay mới được các nhà khoa học tiền hành nghiên cửu chủ yếu dưới góc dộ là những nha vin nêng lẻ, độc lập, hoặc tìm hiểu họ trên những phương diện khác mà chưa phải với tư cách là một loại hình tác giả Đôi khi những đặc diễm rang tính loại hình của họ như sự duy trì trang thai tiếp nổi truyền thống trên các phương, diện như dễ tải, chú dẻ, căm hứng,
tư tưởng hay những thủ pháp nghệ thuật, ngôn từ, cách xây dụng hinh tượng nghệ
thuật lại chí được coi là những bạn chế rơi rớt từ quả khứ MMhững thành bựu của loại hình tác giả Nho học - Tân học ở nhiều truờng hợp lại bộc lộ ngay trong sự thể hiện
Trang 9những vấn dễ tưởng như đã cũ so với thời đại Chính những thành tựu to lớn, cũng, như những vẫn để còn để ngỏ của nghiên cứu văn học dau thé ky XX da gei y cho chủng tôi triển khai đề tải về các tác giá Nho học - Tân học và những đóng góp (cũng như bạn chế) của họ cho sự hình thành và phát triển của văn học giai doạn giao thời
1.2 Lý do thực tiễn
Các tác giả trên, cũng như văn học đầu thế kỷ XX là đổi tượng nghiên cửu và
giảng đạy của chúng tôi bảy lâu trong nhà trường dai hoc Riéng sáng tác của Hồ
Tiền Chánh, Tan Dà và Ngô Tắt Tế đã từ lâu được đưa vào chương trình ngữ văn từ tậc trung học cơ sở đến bậc trung học phế thông Do vậy, đây là một đề tài rất thiết
Thực, giúp cho chúng tôi cơ hội được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn các hiện tượng vần
học quả khứ, nhật là văn học Việt Nam giai đoạn dau thé ky XX
Với những lí đo khoa hoe và lý do thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn để tài
gì_XX (gua một số tác giả tiêu biếu)" làm nội dung nghiên cửu trong luận án
2 Đỗi tượng và phạm vi nghiên cứu
21 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng luận án lựa chọn nghiên cứu là loại hình tác giả Nho học — Tân học và đồng góp của họ đối với thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ Việt Nam đầu thể ký
XX thông qua năm tác giã Nho học - Tân học tiêu biểu là: 1) Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947); 2) Iió Biên Chánh (1881-1958), 3) Tân Dà Nguyễn Kháo Liễu (1889- 1939), 4) Nguyễn Trọng Thuật (1883-1950) vá 5) Ngô Tất Lô (1894-1954) Ngoài
Ta, luận an con quan lâm đến các nhá văn đầu thẻ kỹ X3 khác cùng loại hình hoặc
có một số điểm tương đẳng như Nguyễn Bá Liọc (1857-1921), Nguyễn Liữu Tiến (1874-1941), Nguyễn Đôn Phục (1878-1954), Lê Hoằng Mưu (1879-1941) hay Bau Dinh (1898-1931)
23 Phạm ví nghiên cứu
- Trên thực tế, số lượng các tác giả Nho học - Tân học treng quy loại của chimg tôi khả nhiều song do khuôn khổ của luận án: chúng tôi chữ tập trung nghiên cứu sâu về
năm tác giả đã được chọn Thứ tự xuất hiện theo thời gian của năm tác giả, vẻ ca bản
cũng thể hiện được phần nào bước tiến, bước chuyển tiếp trên một số phương diện của
loại hình tác giả này cả về quan niệm nghệ (thuật và những (hành tựu trong sắng láo
kẻ
Trang 10
6 hé théng tác phẩm dược khảo sắt chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tit ca các cuồn tiểu thuyết của năm tác giã Nho học - Tân học trên đây Các sáng tác ở các thể lại khác của họ, cũng như sáng tác của các nhà văn khác đâu thế kỹ XX sẽ là nguồn tư liệu để chúng tôi tiền hành so sánh, đối chiếu, phân tích khi cân thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2 Nhiệm vụ nghiên cửnc 'Tập trưng tim hiểu loại hình tác giá Nho học - Tân học giai đoạn giao thời
loại Hếu thuyết, luận an đặt ra các nhiện
'vụ nghiên cứu sau đây:
- Lý giải nguyên nhân, diều kiện lịch sử - văn hỏa, xã hội và văn học ở giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ đá góp phản hình thành nên loại hình tác gia Nho học
- Tân học và những đóng góp của họ cho sự phát triển văn học đân tộc Dây sẽ là
bối cảnh có ý nghĩa quan trong, góp phan hình thành một kiểu loại nhà văn mới
xmang đặc trưng của giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kỳ, hai phạm trù văn học 'Tử đó, luận án bước đầu nhận diện một số đặc điểm mang tính loại hình quy định đến sự lựa chơn cuộc đời, sự nghiệp, pũng như oơn đường mà cá thà vẫn đến với
sáng tác tiếu thuyết Quốc ngữ; những đổi thay trong, quan niệm văn học, quan niệm
thấm mỹ của họ cũng, cho thấy sự khác biệt giữa tàc giả Nho học - Tân học so với các kiểu loại tác giá khác đương thời
- Nhận điện các sáng tác tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ của tác giả Nho học
- Tân học trên một số phương diện nội dụng và nghệ thuật cơ bán: hệ thống dễ tài - chủ
t câu cốt truyện, xây đựng nhân vật, giang điệu nghệ thuật và ngôn ngữ nẹ hệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Đổ thực hiện nội dung nghiên cửu này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Trang 1141 Phương pháp loại hình học và nghiên cứu văn học theo thể loại
Loại hình học văn học hướng tới việc xác định vả chí ra những đặc điểm chung
rang tính loại hình tác giả và thể loại tác phẩm văn học Tuy nhiên, để tránh sơ lược
thỏa và khiên cưỡng vẫn đẻ, trong quả trình thực hiện dễ tài nghiên cứu, chúng tôi luôn đành sự quan tâm thée dang đến tính đặc thủ lịch sứ - xã hội, tư tướng - văn hỏa củng
hư sự khác biệt trong cá tính sáng tạo của từng tác giả thể loại tiên thuyết quốc ngữ dầu thể ký XX.Bên cạnh dó,chúng tôi cũng luôn tuân thú những định hưởng mang tỉnh phương pháp của việc nghiên cứu thể loại đề oó những nhìn nhận về các vẫn đề của tác giả và tác phẩm tiếu thuyết quốc ngữ trong đặc mưng, nguyên tắc tổ chức của thể loại,
có sự giao thoa, tiếp nhận kinh nghiệm nghệ thuật cũa cáo thể loại khác, nhất là những giai đoạn đầu của quả trình hình thành và phát triển
4.2 Phương pháp tấp cận tự sự học
Thể loại tiểu thuyết vốn là một trong những thể loại mang đốc trưng cho loại hình tự sự Vì thể, đất vấn dé nghiên cửu loại hình tác giả Nho học - Tân học va những đóng góp của họ đối với sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Quốc ngữ Việt Nam đầu thể kỹ XX nên phương pháp tiệp cân tự sự học là một trong những, phương phúp quan trọng được vận dụng trong luận án Phương pháp tiếp cận tự sự
hoc gidp cho chứng tôi tiên hành nghiên cứu ubiimg đặc điểm của thể loại tiểu thụ) Quốc ngữ - một phương thức tự sự cỡ lớn đầu thể ký X%X trên các nội dung, nÌư kết câu cốt truyện, xây dựng nhân vật cũng như giọng điệu và ngôn ngũ nghệ thuật
4.3 Phương pháp hệ thẳng
Ở cấp dé vi mô, đất trong cái nhìn toàn điện của nên văn học đân tộc, phương tiáp tiếp cận hệ thống giúp chúng tôi có cái nhìn ở hai chiều cạnh: một là nhìn nhận loại hình tác giả Nho học - Tân học trong tương quan với các loại hình tác giả nhà nho khác
von đã được
c nhà nghiên cứu lâu nay thửa nhận (như tác giả nhà nhơ hành đạo, tác giả
hả nho ân đật hay tác giả nhà nho tải tử); hai là nhìn nhận loại hình tắc giả và loại hình tác phẩm (tiểu thuyết Quốc ngũ) của tác giả Nho học - Lăn học như một hệ thống rang tính nội lại Trong hệ thông lớn, loại hình tác giả cũng như loại hành tiểu thuyết Quốc
ngữ sẽ mang những dặc diém chung nhất định của lịch sử văn học dân tộc Nhưng cũng đồng thời, trong hệ thông nội tại đó, mỗi một tác giả Nho học - Tân học cũng như mỗi xuột sảng tác của họ lại dược nhìn nhận như những cá tính sáng lao, rhững sinh tuệnh
Trang 12nghệ thuật riêng, đồng thời tham gia kiến tạo những, diễn chung của hệ thông dó Giữa các tác giả Nho học - Tân học, cfng nhĩr giữa các tiểu thuyết Quốc ngữ cửa họ sẽ cũng nang những đặc điểm chung của loại hình tác giả, tác phẩm song vẫn có những điểm riêng it nhiều độc đáo Đây chỉnh là điểm bỗ sung cho tiếp cận từ lý thuyết cũng, như hueng pháp loại hình sẽ được chúng tôi bản kĩ hơn ở Chương 1 của luận án
44 Phương pháp sa sảnh — đỗi chiếu
8o sảnh văn học có thê đồng thời vừa được hiểu là phương pháp, vừa dược hiểu là thao tác tiếp cận trong nghiên cứu văn học Vì thể, so sánh văn học đã phát huy hiệu quả dáng kẻ trong nghiên cửu của chúng tôi ở luận án này Trong quả trinh: triển khai các nội đưng, khi cần thiết chứng tôi sẽ sử dụng phương pháp so sánh văn học để nhìn nhận tác giả Nho học - Tân học trong tương quan với loại hình nhà nho khác, so sảnh cáo tác giả Nho học - Tan học và so sánh các tiểu thuyết Quốc ngữ của các tác giả Nho học - Tân học với nhau Cứng đồng thời, trong một số trường hợp khác, khi cân thiết, chủng tôi cũng tiên hành so sánh các tiểu thuyết Quốc ngữ
của cũng inl Lic giả Nho học - Tân học để thầy được quá trình vận động của phong,
cách nghệ thuật ở mỗi tác giả Phương pháp va thao tác so sánh cừng đồng thời sẽ
kết hợp với phương pháp vả thao tác đối chiếu dễ từng, bước nhận diện và luận giải thôa đăng đặc điểm loại hình tác giả Nho học — Tân học trong tương quan với các loại hình tác giả khác; đặc điểm tiểu thuyết của họ với tiêu thuyết của các loại hình
tác giả khác củng thời kỷ,
45 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Vận dụng phương pháp này cho phép chúng tôi nhìn nhận đối tượng nghiên cứa trong mối quan hệ chặt chẽ với văn hỏa Việt Nam bối cánh giai đoạn giao thời Phương pháp nghiên cứu liên ngành duoc vận dụng dễ tiếp cận văn lọc từ góc nh văn hỏa Phương pháp này sẽ giứp chứng tôi thảy được những nên tảng hình thành và quả trình vận động, phát triển của các tác giá Nho học - Tân học trong bối cảnh lịch
sử, xữ hội vá Lư tưởng, văn hóa lúc bấy giờ Bên cạnh đó, những nội dụng được phân
ánh trong thể loại t
phản ánh sinh động, dời sông văn hóa lúc bấy giờ Vì thể, việc tiếp cận tiểu thuyết của
" thuyết của các tác giả Nho học - Tân học cũng, đẳng thời là sự
đội ngũ Nho học - Tân bọc từ góc nhìn liên ngành văn hóa — văn học sẽ giúp chứng tôi đưa ra những luận giải tường rõ hơn vẻ nội dưng cũng như nghệ thuật tác phẩm
Trang 13Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong quá trình thực hiện để tài này, chúng tôi con van dung kết hợp một số thao tác nghiên cửu khác như phân đích -
tổng hợp, thông kê - phân loại
5 Đóng góp mới của luận án
%1 Tìm hiểu đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học và những đỏng góp của họ cho sự hình thành và phát triển của thẻ loại tiêu thuyết giai đoạn đâu thẻ kỷ
XX, luận án sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đôi hệ thông,
vẻ loại hình tác giả và loại hình tác phẩm (tiểu thuyết Quốc ngữ) của các tác giả này trong quả trình vận động và phát triển của lịch sử văn học dân tộc nói chung
%2 Tiên cơ sở giới thuyết khải mệm, luận án đã bước đầu lâm sáng tỏ điều kiện hình thành cũng như đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học trong mỏi tương quan với các loại hình tác giả khác trước đỏ cũng như các loại hình tác giả khác cùng, thời gian xuất hiện vào cuối thé ky XIX, dau thé ky XX
5.3 Luan an da di sau khao sat, mé ta va luận giải các đặc điểm chính về nội dung và nghệ thuật tiêu thuyết Quốc ngữ Việt Nam dau the kỷ XX thông qua hệ thống đẻ tải - chủ đề, tổ chức kết câu cót truyện; xây dựng nhân vật, giọng điệu
nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật ở giai đoạn đâu của quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc
$4 Ngoài ra, qua kết quả nghiên cứu, luận án cũng hi vọng cung cập và ứng
dụng một hướng tiếp cận, đánh giả đối với một loại hình tác giả đặc biệt, bổ sung
kiến thức cho việc tham khảo và nghiên cứu, giảng dạy về một sỏ tác giả, tác phẩm
của văn học Việt Nam dau thé ky XX
6 Cầu trúc của luận án
Ngoài phân Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được triển khai thành bổn chương như sau: - Chương 1: Cơ sở
lý thuyết và tổng quan vẫn để nghiên cứu (3ltrang, từ trang 7 den trang 37); -
Chương 2: Điều kiện hình thành và đặc điểm loại hình tác giả Nho học - Tân học
giai đoạn đầu thế kỉ XX (33 trang, tir trang 38 đến trang 70); - Chương 3: Tác giả
Nho học - Tân học với tiêu thuyết Quốc ngữ đầu thẻ kỷ XX trên phương diện hệ
thong đề tài - chủ đề và tỏ chức kết câu cót truyện (33 trang, từ trang 71 đến trang
103); - Chương 4: Tác già Nho học - Tân học với tiêu thuyết Quốc ngữ đầu thẻ kỷ
XX trên phương diện xây dựng hệ thống nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ (47 trang, từ trang 104 đến trang 150)
Trang 14Chuong 1
COSO LY THUYET VA TONG QUAN VAN DE NGHIEN CCU
Trong chương này, chúng thôi sế điểm qua một số cơ sở lý thuyết có liên quan trực tiếp đến quả trình thực biện đẻ tải nghiền cứu, bao gỗm lý thuyết vẻ loại hình học
văn học, lý thuyết tự sự và những công trình nghiên etm đi trước có liên quan, làm cơ
sở cho việc đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYET
1.1.1 Lý thuyết loại hình học văn học
Trước khi có những giới thuyết khải quát về lý thuyết loại hình học văn học,
đó, cừng có quan hệ công đẳng vẻ mặt giá trị
Thái niệm loại hình tác giả dịng đề chỉ tập hợp những tác piã văn học có một số đặc diễm tương đồng vẻ diều kiện hình thành, sự lựa chọn con dường lập nghiệp, sự hấp thu nên học vẫn và các học thuyết tư tưởng — chính trị hay đạo đúc xã hội; hệ thông đề tai - chủ để trong sắng lác, lình tượng nghệ thuật, cáo vẫn dễ vẻ thế loại và ngồn ngữ trong sáng tác Dủ sự rạch rồi loại hinh tác giá ở đếy không phải lúc nảo cũng rảnh
xnạch như bản thân sự tổn tại vốn có của nó, seng loại hình học vẫn có nhiệm vụ tối
thượng trong việc khu biệt hoá, thánh tổ hoá họ như những dói tượng nghiên cứu đặc thù
để trmg bước nhận điện diện mạo, đặc điềm con người, văn chương cũng như vai trỏ của
"họ trong lịch sử văn học đân tộc ở một mức độ tương đổi có thế chấp nhận được
T.oại bình học (tiếng Anh: dypology, tiếng Pháp: ypalogie) là khoa học nghiên cứu về loại bình nói chung Dây vừa là một lý thuyết vừa là một phương pháp trong nghiên cửu văn học, vốn xuất phát từ rất sớm, ngay từ trong nên văn hóa có dai Hi Lap - La Ma voi cach phan chia văn học của AristoL Tuy rhiền, nhắc đến lý thuyết loại hinh học văn họo, chúng ta phải kế đền thành tụu của cáo nhà nghiên cứu văn học TNga trước đây Tên luổi cửa một số nhà nghiên cứu tiên phong có thế rắc đến rửuz
V Propp, M.B Kirapchenko hay B1 Riptn Ở Việt Nam, tư duy loại hình,
Trang 15
phương, pháp loại hình ngày cảng được nhiều nhà nghiên cửu chú ý, Trước hết phải
kể tới một số công trình địch thuật về vẫn đẻ tr đuy loại hình và phương pháp loại tình như Cá th: sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học [95] Những vẫn
đề lÿ luận và phương pháp luận nghiên cửa văn học [135], Hình thái học truyện cô
tích [290]; Cầu trúc văn bản nghệ thuật [93], Thị pháp văn học Nga cé [118] Day
là những công trình khá tiêu biểu của một số học giả, nhà nghiên cứu uy tín trên thế giới tiếp cận văn học theo lưởng loại hình và những công trình này khi dược công bố tản tiếng Việt đã trở thành những sách công cụ hữu ích cho những ai quan tâm đến
tĩnh vực chuyên ngành Nhiều vẫn đề đất ra trong đó đã được vận dụng linh hoại và
"hữu ích khi soi chiếu vào thực tiến của nên văn học dàn tộc
Tướng đến việc phân chia, phân loại các sư vật hiện tượng, các vẫn đề của
van học (trong đó có vấn đề về tác giả) để lừ đó xác định vị trí, ý nghĩa, vai trò cửa nó
trơng một hệ thống, trong cầu trúc lổng thể cũng rửnr nhận dang được điện mạo và đặc điểm của cá một hệ thông chính lá điểm nỗi bật của lý thuyết loại hình học van học Các nhà nghiên cửu, bằng nhãn quan tư duy này đã tim cách “rạch rồi hỏa” các
Về vẫn đề tác giá, loại hình học đã giúp các nhà nghiên cửu để xuất những tiêu chỉ xếp loại, xác định được đặc điểm của đội ngũ tác giả cũng rhư thời điểm hừnh thành và đóng góp của họ cho lịch sử văn học đân tộc Kế từ Trương, Tửn với trường hợp tác giá cụ thể lá Nguyễn Công Trữ, việc ừng dụng li thuyết loại hình học liên tục được kế thừa và tô ra ưu việt trong nghiên cứu đội ngũ tác giả trong văn hoc trung cận đại ở nước ta Diêu đẻ được thé hiện bằng hàng loạt công trinh mang tính khái quát của Trản Đình Hượu như: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 [90], Nho giáo và văn học Việt Nam bừng cận đại [S8] Có thể nói, bằng phương 'pháp loại hình, Trần IDinh llượu đã để xuất một hướng nghiên cứu đây tiêm năng cho văn học trung cận dại Ông dã chỉ ra Linh quy luật của dội ngũ lắc giả nhà nho và môi quan hệ giữa loại hinh táo giả nhà nho với văn chương Nho giáo thời trung cận đại Việc phân loại mãu hình tác giá nhá nho đã tạo tiến để cơ sở dễ tiến hành nghiên cửu chuyên sâu và khu biệt được những nội dung tư tưởng cũmg như đặc sắc nghệ tmậL
Trang 16sửa cáo mẫu hình nhà nho thời trung dạt Đồ là văn học nhớ no (qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bảnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Đào
Thông ); trăn bọc nhà chỉ sử - kiểu nhà nho tiếp thụ tư tưởng tư sản, tiên phong đi làm cách mạng (qua Nguyễn Thượng Hiển, Phan Châu Trinh dặc biệt qua Phan Bội
Châu ); văn hạc nhà nho tài tử trong xã hội tư sân (qua Tân Đà); văn học giai đoạn giao thời (qua sáng tác của nhiều kiểu nhà nhọ trong bối cảnh chuyển hưởng từ vẫn học Hán - Nêm sang văn học bằng chữ Quốc ngĩt đâu thé ky XX); van học hiện đại qua bước ngoặt hiện đại hỏa trong lịch sử văn học phương Dông nhìn tử góc độ tỉnh liên tue của lịch sử (qua trường hợp 7 lực văn đoàn) Tiếp nội Trần Đình
Hhrou 1a hang loạt công trinh nghiên cứu lây lï thuyết loại hình làm cơ sở để triển khai
và tạo dược đầu ân trong trường phải li thuyết loại hình ở Việt Nam Tiêu biểu nhất là công trình Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài từ và văn bọc Việt Nươn của Trần Ngọc Vương [293] Trong công trình này, ông đã phân loại mẫu hình nhà nho trong văn học Việt Nam thời trung đại thành ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho Ân đật và nhà nho rài rũ: Công trình đã mỡ ra tỉnh (mạ dung trong việc nghiên cửu loại tình tác giá cũng nhu những đặc trưng văn học của từng loại hình táo giã Công trinh
ñ cho việc ứng dụng lí thuyết loại bình vào nghiên cứu văn
đã tạo bước rgoặt và
học Việt Nam Tiếp đó là hàng loạt những cóng trình nghiên cứu mang tinh chuyén sâu vào từng loại hình tác giá như Nguyễn Hữu Sơn với nghiên cửu về đội ngũ tác gia Thién sur trong Loai hình tác phầm Thiền uyễn tận anh [189], Lé Van Tan nghiên
cửu về loại hình nhà nho an đật và đóng góp của họ đối với sự phát triển của văn học
trung đai Việt Nam [216]
Vẻ loại hình học tác phẩm, đa số các công trình nghiên cứu vẻ đôi ngũ tác giả cũng dành khả nhiều công phu trong việc nghiên cứu sảng tác của từng nhóm tác giả để tìm ra những nét đặc trưng và có tính khu biệt trong sáng tác của họ Ngoài ra, lí thuyết loại hình còn được ứng dụng để nghiên cứu từng loại hinh hay thẻ loại của văn học Việt Nam như Đặc diểm văn học trưng dại Việt Nam: Những vẫn dé vẫn xuôi tự sự của Nguyễn Đăng Xa [39], Thơ Nôm Đường lui của T.ä Nhâm Thìn [235], Ngân khúc: quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng thể loại của Ngõ Van Due [55], Van hoe tréo hứng Việt Nam thời trang đại của Trần Thị Hoa Tê [112], Loại lành văn học trung đại Viét Nam của Biện Minh Diễn [45]
Những công trình trên dây giúp chúng tỏi hiểu một cách thấu dao hơn về lý thuyết cũng như phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là cách thức
Trang 17
lựa chọn dỗi tượng và vận dụng, lý thuyết nảy trong những trường hợp cụ thể Trên thực
18, việc nghiên củu lịch sử văn học không thể không chủ ý đến vẫn đề hệ thống các loại thình, loại thể của văn học Khi tư duy nghiên cứu hưởng tới yêu cầu tổng hợp, phan loại các hiện tượng văn học dựa trên những hệ tiêu chỉ khả dĩ có thể khái quát và thâu
†óm thành một “cộng, đông thảm mỹ” nhất định, nói lên tư cách tổn tại của chúng, khi
ấy loại hình học văn học ra dời Vên dụng lý thuyết loại hình học vào dễ tài nghiền cửu được chúng tôi cụ thể hóa qua những vẫn để sau:
- Về vần đề tác giả: Loại hình học cho phép chủng tôi bước đầu nhận diện dội ngũ tác giả Nho học - Tân học Đây là những tác giả có những dic didn ching
ở sự tiếp nhận cả hai mồ hình giáo duc là mô hình giáo đục theo kiểu Nho học và
mô hinh giao duc Tay học Họ là những trị thức sinh ra trong bồi cảnh giao thoa, chuyển giao giữa hai thế kỉ, phải chứng kiến sự giao tranh giữa văn hóa truyền
đại:
- Fé van dễ tác phẩm: Vận dụng lý thuyết loại hình dễ nghiên cứu thẻ loại
thông với văn hỏa phương Tây
tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thé ky KX qua sáng tác của các tác giả này Đây vốn là xnột thể loại có quy mô phán ảnh biện thực tương đối rộng lớn trên cả hai phương, diện nội dung và nghệ thuật:
I Ở phương điện thể hiện nội đung tư tướng: lý thuyết loại hình học giúp
chúng tôi chỉ ra được sự tương đồng trong việc nhà van thé hiện méi quan tam đến hệ thống các đẻ tải, chủ để cũng như hệ thông hình Lượng nghệ thuật trưng tâm trong, sáng tác của tác giã Nho học - Tân học Mặc đủ có những điểm khác nhau mang cá tính sáng tạo riêng riưưng vẻ cơ bản, sự lặp lại mang tính phổ biển ở một số đề tài -
chủ đề và hình tượng nghệ thuật trumg tam cho thầy sự gặp gỡ của các tác giả về na
câu phân ánh hiện thực cũng như những thông, điệp nhân sinh khác mả những táo giả Tho học - Tân học muốn gửi gắm tỏi người dọc
+ Ở phương diễn thẻ hiện một số dic diém nghệ thuật: lý thuyết loại hình
giúp chúng tôi tổng hợp và từ đó sẽ chỉ ra sự tương đồng vẻ mỏ hành tổ chức kết cầu
cốt truyện, vẻ giợng điệu nghệ thuật cũng như ngôn ngữ nghệ thuật tiêu thuyết Quốc
xigữ của cáo tác giả Nho học - Tân học
Trong quá trình vận dụng lí thuyết, ri các nh nghiên cứu đi trước dã nhắc đến, việc tuyệt đối hóa hay cực doan ở bất kể chiêu hướng nào dễu sẽ đẫn đến những kết luận không thóa đáng, không phù hợp với thục tiễn của quả trình vận động, phát triển văn học
Trang 18dan téc Vi thé, trong quả tranh vận dụng, lí thuyết loại hình, chủng tôi sẽ có sự kết hợp với những lý thuyết khác nhằm lý giải các vẫn đề về loại hình tác giá và loại hình tác phẩm của tác giá Nho học - Tân học một cách xác đảng nhi lrên thực tế, loại hình tác giả Nho học - Tân học, thoạt nhìn có về thuần nhất song sự khác bị
khả rõ nét Đó cũng chính là định hướng cho chúng lôi trong quả trùnh luận giỗi cần 6 sur kết hợp giữa những phân tích đặc điểm chung và những khác biệt ở từng tác giả
Nhu vậy, sự xuất hiện của hảng loạt công trình nghiên cứu lây lí thuyết loại hình làm nên tảng đã cho thấy việc tiếp nhận lí thuyết này ở Việt Nam khả sỏi nỗi Sau gan một thẻ kỉ xuất hiên ở Việt Nam, cỏ thể nói lí thuyết loại hình hạc đã trở
thành công cụ nghiên cứu hữu hiện cho những ai quan tâm đến văn học Vì
nhất là những tiếp cận từ phương diện loại hình hợc tảc giá văn hoc Tinh dén nay,
Trước hết, cân rhấc đến thuật ngữ dự sự bọc được để cập đầu tiên là nhà
nghiên cứu T.Todorov vào nấm 1969 dễ gọi lên lĩnh vực nghiêu cửa lấy đối tượng,
căn bản là văn bân tác phẩm tư sự, với phạm vi lả đặc diểm cầu trúc văn bản, dặc
điểm trần thuật văn bản Dản thân, khái niệm tự sự vốn có nội dung khá rộng, nó
*không chỉ đừng đề chỉ một nguyên tắc trong kế chuyện tác phẩm văn học mà còn chi
phương thúc biểu đạt cửa các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, kiến trúc, điêu khắc hay âm nhạc Còn ở phạm vì nghữa hẹp, sau để xuất của T.Todorov, các nhà
=ghiên cửu, lí luận văn học dùng thuật ngữ tự sự dé chi tự sự văn học, tự sự trong vẫn
if
bắn tác phẩm văn học Tự sự văn học ở đây sẽ gắn chặt với việc nhá văn kế về
câu chuyện, một hiện tượng của đời sông xã hội, hay tư tưởng, tỉnh thần nào dé cho người nghe bằng những phương thức riêng hướng đến một hiệu quả thắm mĩ cao thất Cùng một nội dung phần ánh, cùng một câu chuyện song cách lự sự, nghệ thuật
tự sự khác nhau sẽ nang lại những hiệu ứng khác nhau với người tiếp nhận Tự sự cỏ trong các thể loại như tiểu thuyết, truyện dải, truyện ngắn vả cũng có trong cả một
số thể loại khác như thơ trữ tình hay kịch (chúng ta vẫn nói tới cái gọi là tự sự trong thơ hay kế chuyện Irong thơ chẳng hạn) Có điều, với tư cách là một phương thức lái
Trang 19hiện, phản ánh dời sống thông qua các biến cổ, các sự kiện, tỉnh tiết, suy ngbi, tam trạng của nhân vật thi ty sy vẫn được vận dụng soi chiều phổ biển hơn cả
Khải niệm /ự sự (narratology) vốn có thẻ được biểu: hoặc lá ly thuyết nghiên
cứu hình thức, quy luột vận động, tỉnh chất của các lác phẩm tự sự với các chát liệu
khác nhan, nghiên cứu năng lực tự sự của chủ thế sẵn sinh và đối tượng tiếp nhận
tác phẩm tự sự Các binh dién ma no tim hiểu bao gốm nội dung cửa câu chuyện ra sao và hình thúc trần thuật của nỗ như thể nào, trong muối quan hệ của chúng với nhau, tự sự cũng được hiểu lä một biểu đạt văn tự đổi với sự kiện câu chuyện (nghĩa
la theo hưởng này, người nghiên cửu sẽ ít quan tàm dến bản thân câu chuyện mà
quan tâm chủ yêu là diễn ngôn tự sự Như thẻ, trong hướng lập trung thứ nhất của Lit
sự học, người nghiền cứu sẽ quan tâm đến tác phẩm ty su trong tinh tron ven của chinh thể tác phẩm Cúc phương điện của nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm tự sự sẽ được quan tâm luận giải thỏa đáng trong môi quan hệ qua lại giữa chủng, Còn trong hướng tập trung thứ hai, nhả nghiền cứu sẽ hạn định sự quan tâm
gủa mình
ö biểu đại ngôn lừ (lức sẽ đi sâu vào lời văn) mà bỏ qua các yếu tổ
thuộc về ndi dung tác phẩm, thậm chỉ bẻ qua nhiều phương diện khác của nghệ
thuật tác phẩm Iủ sao thì việc cực doan một trong bai chiều hưởng nay déu khiển cho việc nghiên củu với những trường hợp cụ thế chưa thật thỏa đáng Tự sự học, thực chất là khoa học nghiên cửu cấu trúc văn bán tự sự và những ván đề liên quan xhư chúng tôi đã nhắc phía trêu Theo nhà nghiên cứu Trên Đình Sử, nhìn chúng, lự
sự học tìm cách phân biệt giữa việc kế “cải gÌ” và “kế như thê nào”, và từ đó làm
nổi bật vai trò của chủ thể trong trân thuật Lý thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta Khây sự phức tạp của cầu trúc trần thuậi “Nhà văn sẽ không bao giờ
biện điện trong tiểu thuyết như là một người kê, nguùi phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như
thống quan niệm và giá trị tong tác phẩm Túc giá thực sự xuất biện chỉ như người
trình nghiên cứu só giá trị Điều đỏ cho thấy sự khả dĩ của R thuyết này trong khoa
Trang 20thiện cima vin học về xét cho diến củng, tự sự không chỉ la kĩ thuật dơn thuần mà rõ Tảng
tiếp sống của đân
*kỳ giai doạn lich sử nào cũng chính là sự kế thửa truyền thông cũng như những tiếp thu
chứa sau những kĩ thuật hình thức chính là truyền thống văn hóa, nếp nghĩ,
c qua văn chương Những thành quả của tự sự trong văn học ở bắt
của đương thời Đó là lí do má trong quá trình hiận giải những nội đung nghiên cứu trong luận án này, chúng tôi sẽ luôn cỗ gắng chỉ ra những tiếp thu của tác giả Nho học - Tân học đổi với truyền thông tự sự trung đại Việt Nam cũng như tiếp thu truyền thẳng
tự sự phương lây đầu thể kỷ XX
Như vậy, trong luận án này, lí thuyết tự sự học sẽ giúp chúng lồi lập tung giải quyết những đặc điểm đặc sắc trong phương thức nghệ thuật loạt hinh tiểu thuyết Quốc ngữ của tác giá Nho học - Lân học như tổ chức kết câu cốt truyện,
giọng điện nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật
1.2 GIỚI THUYÊT TÁC GIẢ NHO HỌC — TÂN HỌC:
Cáo tác giả được chúng tôi khảo sát trong luận án nảy, vốn cũng có thể duy đanh là tác giá nhà nho tân học Tuy nhiên, chứng tôi cho rằng, nêu gọi họ là nhà nho tân bọc thì các tác giả này, trước hết phải là nhà nho đã Trong bỗi cảnh lịch sử
xã hội, cũng như tư tưởng văn hóa Việt Nam vào cuỗi thẻ ký XIX, dâu thế kỹ XX, khải niệm “nhà nho” đã dân mở nhạt Việc gọi những tác giả này là nhả nho có thể
đã không còn chính xác nữa Đó là lí đo chủng tôi mạnh đạn sử dụng thuật ngữ
“Tác giả Nho hạc - Tân học” để chỉ loại tác giả chịu ảnh hưởng của hai hệ tư tưởng
là Nho học và Tan học mà chủng tôi sẽ bản kĩ hơn đưới đây Thuật ngữ Nho học - Tân học, theo chủng tỏi là có thể ït nhiều tránh được sự chủ quan trong quá trình nghiên cửu dễ tải luận án này
Nhà nho (cũng có thế viết là nhà Nho - chữ Nho viết hoa) chỉ những người
theo học khoa cử chữ Hán một cách trưởng quy lẫn phi trường quy chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục, của hệ tu tưởng, giáo lý Nho giáo Những khái niệm như nhà nho, Nho học, Nho gia hay Nho giao déu có liên quan mật thiết đến ý thức hệ, tư tưởng, giáo lý, giáo dục Nho giáo thời trung đại Nhà nho là một loại hình nhân cách: của Nho giáo, mang ý nghĩa khu vực bởi sự lan tỏa ảnh hưởng, của nó từ Trung Hoa
đến các mước lần cận như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Những nhà nho này khi
sắng tác thì văn học của họ thuộc bộ phần văn chương Nho giáo (hay văn học mang
Trang 21tư tưởng Nho giáo) vá họ dược gọi là đác giớ nhà nho (dễ phân biệt với tác giá Thiên,
sử, tăng lữ; tác giá vua chúa - quý tộc )
Với loại hình tác giá nhà nho, nhiêu nhả nghiên cửu đã mặc nhiên phân loại va thừa nhận sự tấn tai bai loại hình nhà nho đại điện cho hai thế năng ứng xử cơ bản của Nho giáo là nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dậi Trong, đĩ, nhà nho hành đạo xuất hiện sớm hơn, cùng với quả trình hình thành quốc gia phong kiến độc lập Việt Nam và đội ngũ cũng, đồng đáo hơn so với nhà nho ẫn đặt, Nhà nhọ ấn dật xuất hiện xauộn hơn, vào khoảng cuối thế ký XIII, đâu thể kỷ XIV, vận động và phát triển từ đỏ cho đên hết thá kỹ XTY Nhà nho hành đạo và nhà nho ân đật được coi như một “cặp song siỦ” luy sớm muộn cĩ khác íL nhiều và họ cĩ những đĩng gop quan trong đối với quả trình hinh thành và phát triển của vẫn chương Nho giảo riêng, văn học din tộc nĩi chung thời trung cận đại Những nghiên cứu tiêu biểu theo hướng nảy cần nhắc đến chỉnh là sự gợi ý từ khả sớm của Trương Tửu Nguyễn lách Khoa trong cơng trình nghiên cứu về Nguyễn Cơng Trứ và san đĩ là một loạt các nghiên cứua của
Trần Định Huon [87], [88], [90]
Tên cạnh hai loại hình tác giả nhà nho hành đạo và nhà nho ân dật, theo nghiên cứu của Trần Ngọc Vương trong chuyên khảo Loại hình học tác giá văn học nhà Nho
tai fie va van hac Việt Nam [239], ở vào khộng cudi thé ky XVI, dau thé ky XVOL
trong lịch sử văn chương Nho giáo xuất hiện một loại hình: tác giá nhá nho thử ba mà nhà nghiên cứu gọi là nhà nho tải tử Mặc đù cịn cĩ những bản luận khác nhau về tính hợp lý, tính đơng đẳng của mẫu hình nhà nho này so với hai mẫu hình nhà nho phía trên, sơng rõ ràng, bằng những kiến giải thấu đáo, Trân Ngọc Vương đã chỉ ra những
cội rễ, căn gốc lịch sử - xã hội, văn hĩa - tư tưởng hình thành loại hình nhà nho tài tử
Đức biệt, Irong chuyên khảo của mùn, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đổi thay của văn chương nhà nho tài tử so với văn chương Nho giáo nĩi chung từ hệ thơng dễ tài chủ đề đến hình tượng nghệ thuật trưng tâm Tiếc là trang mạch nghiên cứu của minh, Thả nghiên cứu Trần Ngọc Vương lại chưa chi ra va phn lich tỉ mỉ những đặc sắc nổi bật về phương diện nghệ thuật, ngoại trừ gợi ý cho bạn dọc vẻ sự lựa chọn thể loại của
“hà nh tài tử [239]
Đến cuối thể kỹ XIX dâu thể kỹ XX, xã hội Việt Nam dã cĩ những biến động sẵu sắc, sự va chạm với văn minh - văn hỏa phương, Tây (nhất là văn mình - văn hĩa
Trang 22Pháp) làm xuất hiện các tâng lớp, giai cấp mới và đặc biệt là tầng lớp trị thức Tây học Trang bước chuyển mình của đời sống xã hội cũng như văn học, một bộ phận những nhà nho/ những người đã từng theo Nho học thức thời đã chuyến hướng sang học tập chữ Quốc ngữ, tạo thành đội ngũ các táo giá Nho học - Tân học Họ có thể là
những người từng thi cử: đỗ đạt trong các ky thi Nho hoc như Phan Bội Châu, Phan
Chủ Trmh, Nguyễn Thượng Hiền, Tân Đà, Ngô Tắt Tổ hoặc là những người đã nhiều năm theo đòi chữ nghĩa thánh hiển và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nẻn học vấn này như Nguyễn Chánh Sắt Hồ Biến Chánh Nguyễn Trong Thuật, Nguyễn Bá
Học Do những biển thiên của thời cuộc, những nhà nho này đã chuyển sung viết văn bằng chữ Quốc ngữ dưởi tác động của một quan niệm văn học mới, một phương, Thức sáng tác mới nhưng vẫn duy trì một cách ít nhiễu có ý thức những ảnh hưởng của cách viết và những quan niềm nghệ thuật truyền thông trung đại
Trên cơ sở như vậy, chủng tôi quan niệm như sau, tác giá Nho lọc - Tân học, trước hết là những nha van được hoc hanh và chịu ảnh hướng sâu sắc của tr tuéng Tho học và nên học vẫn truyền thắng Do hoàn cảnh lịch sử buối giao thời, họ đồng thời cũng được học lập va chiu anh hưởng của các hệ lư lưởng và nên học vấn ruới
ảnh hướng của phương Lây, tuy mức dộ ảnh hưởng, ở môi tác giả là khác nhau Tử dò
"hình thành một thế hệ các nhà cảm bút mới - những con người của hai thé ky, mang trang mình đặc trưng của thời kỷ quả độ, giao thời giữa cái cũ và cái mới Đây là một kiếu loại tác giả chứa đựng trong họ rất nhiều yếu tố phức tạp mang tính thời đại, Trang đặc trưng của sự chuyên giao loại hình lừ kiểu tác giã rửà nho sang tác giả vắn học hiện dại Đội ngũ tác giả Nho học - Tân học, một mặt vẫn mang những khát vọng
có phản phi thực tế như các nhà nho trước dỏ: muốn thực hiện giấc mộng “kmi: bang
tế thê" và “cải cách xã hội” băng văn chương, họ để cao vai trỏ cải tạo xã hội, thay đổi xã hội của văn chương: song mặt khác, họ cũng nhìn thây được những đỗ vỡ của tuân lý Nho giáo trong thời buối bây giờ, từ đỏ hướng ngời bút của minh dén su phan ánh hiện thực Dưởi day, chúng tôi xin dược làm rõ một số diễm cơ ban theo quan niệm cửa chúng tỏi về tác giá Nho học - Tân học như sau:
- Thứ nhất, táo giá Nho học - Tân học trước hét phải là những người theo
ho học, ở họ có sự kết hợp của hai ý thức hệ tư tưởng là ý thức tư tưởng Nho giáo
và ý thức tư tưởng mới (tiếp thu từ văn hóa tr tưởng phương Tây được truyền vào
Trang 23Việt Nam dau thé ky XX) ‘Tae gid Nho học - Tân học hiểu một cách dơn giản nhật phải bao gồm cả yếu tổ Mửo học (cựu học) và yếu tổ tân học Trong quả trình nghiên cứu, chúng tôi chọn các tác giả tiêu biểu rà yếu tổ Nho học của họ nỗi trội
hon các tác giả Nho học - Tân học củng thể hệ
ác đác
giả nhà nhơ cựu học (nhà nho chỉ theo lỗi học của Nho giáo truyền thông); đồng thời
- Thứ hat, tác giá Nho học - Tân học là sự phân biệt tương đổi so với
cũng, phân biệt với tác giá tân học hoàn toàn Ở tác giả Nho học - Tân học sẽ có sự kết hợp của cả hai yếu tổ cựu học và đân học như chúng tôi đã nhắc ở ÿ trên Dây cũng đồng thời là một trang những tiêu chí quan trọng đề chứng tôi lựa chọn tác giã
trong quy loại đễ thuc hiện các nội dung trong nghiên củu này,
- Thứ ba, trong thực tiên của lịch sử văn học dân tộc giai doạn giao thời
những năm tử 1900 đến 1930, có nhiều tác giá Nho học - Tân học song do hướng, nội dung nghiên cứu đến những đông góp của họ cho thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX nên những tác giả củng loại hình mà không viết tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ sẽ không thuộc đổi tượng lựa chọn trong để tải này
~ Thử tụ, ở loại hình tác giả Nho học - Tân hoe có những biến déi quan trong trong quan niệm văn học, quan niệm thâm mỹ, từ quan tiệm “văn dĩ tải dạo” sang quan xiệm văn học phan ảnh hiện thực, tử quan niệm coi thưởng tiểu thuyết đến sự lựa chọn
thể loại này làm thế loại chủ lực cho các sáng tác của họ Tỉnh giáo huắn là một trong
những đặc điêm chung của hai quan niệm văn học (văn học trưng đại và văn học hiện
dai), tuy ở nên văn học hiện dại đầu thể kỹ XỐC, chức năng này có phân nhẹ hơn và ít lộ diện hơn Mặc dù vậy, tinh thân, tư tưởng giáo huần vẫn sẽ là một nền tảng dễ các tác
giá Nho hợc - Tân học lây làm điểm tựa cho các sáng tác cúa mình Việc lựa chon van
xuôi và đặc biệt là ziếu fiuuyốt Quốc ngữ là một sự lựa chọn vita mang tinh thách thức,
vừa hợp quy luật, vừa thế hiện thế mạnh, song cũng lại ít nhiêu bộc lộ điểm hạn chế của các tác giả Kho học - Tân học Những diều này chúng tôi sẽ có những phân tích rõ trong các nội dung tiếp theo của luận án
- Thứ năm, da số các tác giá Nho học - Tân học đều là các ký giá (nhà bảo)
kiêm nhà văn IIẹ vốn khá nhạy cảm và hết sức quan tâm đến đời sông chính trị,
đến các vấn để xã hội, thế hiện một thái đả nhập cuộc khá quyết liệt Đây sẽ là điểm lợi thể để các tác giả Nho học - Tân bọc tiếp cận với những đối thay, biển chuyển cũng như những vấn dễ mả xã hội quan tâm lúc bấy giờ
Trang 24Trên dây là quan niệm cũng như những kién giải bước dâu của chúng tôi về loại hình tác giả Nho học - Tân học Chúng tôi sẽ có những kiận giải kĩ hơn về nội
2 - Nhận diện loại tình tác giả Nho học - Tiên học đầu thế lý XX Với quan niệm như vậy, phân tiếp theo của chương nảy, chủng tôi sẽ điểm qua những công trình nghiên củu cơ bản về loại hình tác giả Kho học - Tân học
đhng này ở chương 2, tiểu mục 2
cũng như về sự đóng góp của họ đối với quá trình hình thành, phát triển thể loại trêu thuyết Quốc ngữ dâu thẻ kỷ XX
1.3 TONG QUAN VAN Dit NGIDEN CUU
Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời là để tài đã được nhiều nhà nghiên cứu trong, và ngoài nước quan tâm trên nhiều phương, diện vả từ dây cũng dã xuất hiện nhiễu công minh khoa học đáng chú ý Nhưng nhy theo từng thời điểm, giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử xã hội má văn dễ này dược quan lâm ở mức độ này hay mức độ khác Va cling cần phải khẳng định rằng dủ đã được nghiên cửu trên nhiều khia cạnh nhưng cho đến
nay vẫn chia có một công trinh chuyên său và thật đây đủ về loại hình tác giả Nho học -
“Tân học và dóng gúp của họ cho quá trình hiện dại hóa văn học đầu thế kỹ XX Thông thường các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một tác giả (hy Tần Da, 116 Biéu
Chánh ), một tác phảm (như Ciác mộng con, Quả dua dé ), mà thiểu một cái nhìn
cặn kẽ, dây dú, thấu triệt về loại hình các tác giá Nho học - Tân học trong nên vẫn xuôi
Quốc ngữ đầu thể lỷ X% Tuy vậy, tình hình nghiên cứu văn học Quốc ngũ nói chung và
tiểu thuyết của các tác giả Nho học - Tân học nói riêng không phải không cỏ những công trình mang tính *khơi đông” Nếu nhìn từ góc độ không gim địa lý thì có thể chia
c
công trình nghiên cứu thành hai khu vực: Ở trong mước và ở nước ngoài; nều căn cứ vào
thời gian lịch đại thì có thé chia than các mốc thời gian cụ thể như sau: trước riễm 1945,
từ năm 1945 đến năm 1986, từ sau năm 1986 đến nay, nếu cấn cứ ở đối tượng nghiên cửu có thể phân chia thành: các công trình ching vẻ văn xuôi Quốc ngữ giai đoạn đầu thế kỹ X%, các công trình ngiiên cứu về tác giả và loại hình Lác giã Nho học - Tân học
va dong góp của họ dối với sự hình thánh và phát triển của thể loại tiêu thuyết Quốc ngữ đâu thé ky XX Trên cơ sở tập hợp cáo tư liệu liên quan, trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày bai vẫn dễ: 1) Những nghiên cửu về tác giả Nho học - Tan học, 1) Những công
Trang 25trình nghiên cứu về thể loại tiêu thuyết Quốc ngữ giai đoạn giao thời nói chưng và tiêu thuyết Quốc ngữ của tác giả Nho học - Tân học nói riêng
1.3.1 Những công trình nghiên cúu về các tác giả Nha học - Tân học
Do những biến chưyển cững như tỉnh đặc thủ của văn học Việt Nam giai đoạn
giao thời mà đội ngũ các tác giả văn học ở vào cuối thể kỹ XIX đâu thê kỷ X% đã có xnội sự chuyển biến mạnh mẽ, phức Lạp Cuối thế kỹ XTX, dau thé ky XX, ngoài một
số tác giả dơn thuận là cựu học dã xuất hiện một loạt các tác giả hoàn toàn tân học và những tác giả có sự kết hợp cả cựu học lẫn tân học, trơng đó yêu tỏ cựu học vẫn lần át tân học Dó chính là những trường hợp mà luận án tiền hành lựa chọn khảo sát, bao
,êm: Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Nguyễn Trọng Thuật vả Ngồ Tắt
Tó Các công trình nghiền cứu về năm tác giỗ này cũng khả phong phú Sau đây chúng tôi diểm qua một số còng trình tiêu biểu
1.3.1.1 Những nghiên cứu về tác giá Nguyễn Chúnh Sắt
Nghiên cứu vẻ Nguyễn Chánh Sắt: trước hết, phải kế đến cuốn Tiểu tuyệt Nam
Bộ cuỗi thê kỷ XIX đầu thế l XÃ (2004) do Nguyễn Kim Anh chủ biên, các tác giả cho
tăng: “dù thông thạo cả Pháp văn và Hán văn, nhưng có lE Ảnh hưởng của văn hóa
Trung Quée trong ông mạnh mẽ hơn do có mội thời gian dài tiếp xúc với các nhà nho yêu nước bị tù đây ngoài Côn Dao Vi vay khi viết tiêu thuyết, ang vẫn sứ dụng lỗi truyện chí của Trưng Quốc” [4, tr.491] Nguyễn Văn TĨà trong bài viết “Nguyễn Chánh Sat trong hành trình văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ đâu thé ki XX" cho rằng: * Bén
cạnh khưạnh hướng hiện thục, Nguyễn Chánh Sắt còn là nhà văn có khuạmh hướng buân lý Sáng tác của ông, đù ở thể lài nào cũng loái lên mội tư tưởng chưng rất nhất quản: phê phản bọn nhà giảu, quyên thế bất lương; bênh vực người nghèo khổ bị áp bức và đề cao khát vọng hạnh phúc gia đồnh, công bằng xã hội Tư tường ấy xuất phát
từ lập trường đạo đức - một thứ đạo đức có tính chất nhị nguyên, vừa mang màu sắc phong kiến vừa mang màu sắc đân gian” [7)
Trong Từ diễn Văn học (Bộ mới, Nguyễn Huệ Chỉ dua ra những đánh giá xác đáng về sảng tác của Nguyễn Chan Sắt: "2d người có vẫn Liên học sâu rộng, lại quen địch truyện Tần, sảng tác của Nguyễn Chánh Sắt ánh hướng khả rõ thể loại truyện chí
Trang 26Và dang chủ ý nhất vẻ những nghiên cửu Nguyễn Chánh Sắt là năm 2013, Hội Khoa học lịch sử tính An Giang tổ chức Hội tháo khoa học "Vhd văn nhà bảo Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947)" [16S] Hội tháo đã nhận được 55 bài tham luận của G3 tác gid va đồng tác giả được im trong tập tải liệu hội thảo tập trưng vào các nhóm chi 48: Chit dé } - Cuộc đời và sự nghiệp của rủa vần, nhà báo Nguyễn Chánh Sắt trên văn đàn miền Nam va An Giang, Chữ đề 2 - Đảnh gid dong góp văn tải của Nguyễn Chánh Sắt trong, thời kỳ đầu của nên văn học sử Việt Nam những năm đầu thể ký XX, Chi dé 3- Danh giá thêm về những tác phẩm của Nguyễn Chành Sắt trên lĩnh vực văn học vá bảo chỉ, Các tham hiận đã tập trung tìm hiểu, soi rọi tiểu truyện, những tác động và mỗi liên tưởng giữa vùng đất đến sự hình thánh Lư cách nhà văn, nhà báo Nguyễn Chanh Sa: đánh giả những dóng góp van tai của cụ Nguyễn Chanh Sat trone buổi dẫu của nên văn chương chữ Quốc ngữ trên cá bai lĩnh vực văn và bảo chỉ Bằng những, chứng có, phân: tách khoa học, phần lớn các đại biểu thống nhất danh giả Nguyễn Chánh Sắt (1869- 1947) không chỉ là cây bút tiến phong, đa đạng về thế loại sáng tác, như sáng tác tiểu thuyết, thơ, địch thuật Hán văn, viết và quản lý nhiều tờ báo lớn đương thời Nông cố mắn đàm, Lục tỉnh tân văn mà ông còn là cày bứt có văn nghiệp không, nhỏ với 15 tiểu thuyết, nhiều bài thơ và ký sự báo chí, 35 tác phẩm địch, phóng tác và hàng trăm bai bao chất lượng cao với nhân quang của tâm nhìn chiến lược Điển hình nh: tầm
nhìn về phát triển, kết liên trong, kinh đính, sinh sản, vai trò và sự cần thiết trong phóng
thích nữ giới [165] Các bài viết của Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Văn Hà, Hà Thanh
Vân, Thái Nguyễn Đức Minh Quản, Lê Tiên Dũng, Huỳnh Thị Hồng Hạnh trong Hội thảo này dêu dã cỏ những đảnh giá xác dáng vẻ kiểu tác giả, một số phương, điện
đặc điểm, giá trị nội dụng cũng như nghệ thuật tiểu thuyết Quốc ngữ của Nguyễn
Chánh Sắt Chímg tôi dẫn ra đây một số nhận định tiêu biếu vẻ Nguyễn Chánh Sắt
trong vai trò một tiểu thuyết gia đầu thế kỷ XX Đây là nhận định của Nguyễn Văn Tú:
“Nhìn chung ô Nguyễn Chánh Sai gẫn như hội tụ dược những phẩm chất của mội kiểu
u biểu hôi dầu thê kỹ XX ở Nam Bộ: rành tiếng Pháp, giỏi Hán văn, thông thạo Quốc ngũ; vừa là nhà bảo, nhà dịch thuột vừa là nhà sáng tác; linh
Trang 27trừng ác” của dân gian, viết theo lỗi văn xuối giống như lời nói thường ngày nên rất gân gũi và hấp dẫn đối với công chúng độc giả Văn chương ông có phong vi Nam
Bộ đậm đà Cái phong vị đó bàng bạc khắp các tác phâm, từ ngôn ngũ, khung cảnh, sinh hoat, phong tục đến điện mạo tính cách, tâm jý nhân vật " [L65, tr156,161]: whan dinh cia Hà Thanh Vân: “ Không sung sức, đài hơi như Hồ Biểu Chánh, không aay cần, gây tổng vang, dộng cham dén dạo dức xã hội nhục Lê Hoằng AÂưu, cũng không ngả hẳn con đường trình thám như Biến Ngũ Nhụ bay Nam Đình Nguyễn Thế hương Nguyễn Chánh Sắt để chọn cho mình một con đường đề đi vào lòng người đạc và khiên cho sách bản chạy hơn, đỏ là sảng tác những tiểu thuyết kát hợp giữa hai
6 “ly ky” và “di inh" Gitta đông đảo những tác giả viết tiểu thuyết Quốc ngữ
veut
Nam B6 déu thé igi XX, Nguyễn Chánh Sắt vẫn tạo dựng dược cho mình một điện mạo riêng, với chỗ đứng riêng” [165, tr.190-191[, còn đây là nhận định: * Ông là một trong những người đầu tiên khai sinh ra thê loại tiều thuyết thời lạ phôi thai và nâng
nả lên một bước mới là người đặt viên gạch đầu tiên nỗi liên hai đòng văn học cỗ
dién và hiện đại, giúp văn học Việt Nam tạo đựng chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân và phát triển mạnh cho đến hôm nay” [165, tr.195, 197 |; còn dây là dánh giá của Lê Tiền Dũng vẻ nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt: “hôn vật chỉnh trong tác phẩm của Nguy
Chánh Sắt, chính diện cũng như phản điện, thưởng
được xâu dựng với mục đích thuyết mình cho quan niệm ở hiển gặp lành Người hiển
lương chỉnh trực, làm điều thiện, việc nghĩa sẽ được đến bù xứng đáng về sau Côn kê
gian ác hiểm dộc, hành động phi nghĩa, bất nhân sớm muộn cũng bị trừng phạt Khuynh incéng dao dite lam cho nội dụng tư tưởng tác phẩm Nguyễn Chánh Sắt lành mạnh, trong sảng, dung dị, dễ tiến nhận đôi với số đông công chủng bình dân Nhưng
chính quan niệm này cũng là hạn chế ông tên đường đi tới chủ nghĩa hiện thực ”
I165, tr264] Tác giả Huỳnh Thị Hồng Hạnh khí đặt vẫn đẻ nghiền cứu về đặc điểm tigồn ngữ văn xudi Nam Bộ dầu thể kỳ XXX qua Nghia higp ky duyén cia Nguyén Chánh Sắt cùng di dến những khái quát xác dáng như: sự hòa trộn giữa từ vựng khẩu ngữ Nam Hộ với từ vựng sách vớ Nho học (với biểu hiện như dưa ngôn ngữ hội thoại vào văn chương những từ ngữ cũ, từ ngữ Iián Việt vẫn giữ vai trò chủ đạo trong câu văn miêu tả và trân thuật), sự hỏa phối giữa câu văn biển ngẫu với những ngữ đoạn Trang dang dấp của câu văn Pháp và sự kết hợp của kết cầu tiểu thuyết chương hồi với cách kẻ chuyên hién dai [165, t.2
-285) Nbin chung, niiing nghién cin vé
Trang 28Nguyễn Chánh Sat di dé cập khá day dé-vé than thé, sự nghiệp, vị trí của öng đổi với lịch sử nỏi chung, lịch sử văn học hỏi ròng, Tuy thể, vẫn để nhìn nhận Nguyễn Chánh
1 tư cách của một tác gid Nho hoe - 'Tân học gắn với đông góp của ông với thể loại tiếu thuyết Quốc ngữ cuối thể kỹ XTX, đâu thể kỷ XX thì vẫn còn đeng là một vấn
đề bỗ ngô cần có rửnñmtr nghiên cứu chuyên sâu hơn
1.3.1.2 Những nghiên cửu về Hỗ Biểu Chánh
Hỗ Biểu Chánh là nhà văn Nam Bộ được nhiều nhả nghiên cứu quan tâm từm hiểu nhất Phan Khôi là một trong những người đầu tiên lưu ý đến những nha van Nam Bộ bằng bài viết 7W Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Trai cho đến Nguyễn
8-1929 [94] Phan Khôi
đã chí ra một cach sơ lược bước di của văn học Nam Bộ dựa trên những tac giá mở
Chánh Sắt, Đặng Thúc liêng lrên báo Phụ nữt lân văn
đường, và những người tiếp nối kha tiêa biểu cho giai đoạn văn học nảy, Đến nằm
1931, trên bảo Phy nit tan van sé 106 ra ngày 29-10-1931, Thiếu Sơn có bài Lồi văn
phê bình nhân vật: Ông Hả Biễu Chánh Trong bài viết này, Thiên Sơn cho rằng Hồ tiếu Chánh là đại điện tiêu biếu cho lỗi văn phê bình nhân vật: “Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những dã biết do sự quan sắt mà súng tạo ra được những nhân vật dùng với cái khuôn mẫu người đời, biết cha những nhân vật dò hiệp thành một cải
xã hội sẵn giống như cái xã hội của ta ” [192, tr.7] Có thể nói, Thiếu Sơn đã có những đánh giá, nhận định khả sắc sảo về văn xuổi Quêc ngữ nhật là thể tiểu
thuyết trong cai nhin déi sánh Nam - Bac, cho đủ đó mới chỉ là những nhận định
đại lược bằng cái nhìn cảm quai: “Những lịch sử tiêu thuyết nhục của ông Nguyễn Tứ Siều ngoài Bắc, của ông Tân Lôn Tử trong Nam thì mô phòng theo truyện Tàu, mà bí một tiểu thuyết như của ông Phú Đức thủ bắt chước trông chớp bóng của Tây” [193, tr164] Vũ Ngọo Phan trong Xñè văn hiện đại (1943) đã trang trọng đặt Hỗ Biểu Chánh vào hàng Cáo tiểu thất gia thuc thé hệ mở đầu Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra những diễn khác nhau giữa uiêu thuyế
của Hoàng Ngọc Phách và Hệ Biểu Chánh:
*Tiêu thuyết họ Hoàng thiên về tả nh và giọng văn nhiều chỗ ủy mị cầu l, không tự
nhiên, còn tiểu thuyết của họ Hồ thiên về tả việc và lới văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ
như lời nói thường " và "tiểu thuyết 116 Hiếu Chánh có tính chất bình dân, bình dan ca
từ những nhân vật âng chọn đến những lời văn ông viết nữa” [130: tr 71]
Có thể thị qua Việt Nam văn học sứ trích yếu, Nghiêm Toàn là người đầu tiên dưa tiêu thuyết Nam Độ, cụ thể là tiêu thuyết Hé Biểu Chánh, vào công trình có
Trang 29tinh chat van hoc sit Những nhận định của Nghiêm Toãn cũng là một tiếp nói và làm
rõ hơn các nhận định của Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Kiểu Thanh Quê trước đó
‘Trong nghiên cửu của minh, Nghiêm Toán đã gợi cho chứng ta một cách lý giải về sự hap dẫn của tiêu thuyết Hỗ Biểu Chánh: chính là sự kế chuyện có chủ ý
sự hiến kỳ, đặc biệt nhà văn có ý thức xây dựng đời sống và lâm lý các nhân vật mà
ấp đất tạo ra
dối với dộc giá, những công chúng “công chức trung lưu, dân qué hay thuyền thợ” nhận thấy bóng dáng của mình trong do [174, t.85] 6 mién Nam, Pham Thế Ngữ
trong Việt Vam văn học sử giản ước tân biên (1965) đã nhân mạnh đến sự tiên phơng,
của văn học Quốc ngữ Nam Bộ với thế hệ học giã Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của Viết về tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1907-1932, nhà nghiên ctu di chon Hd Biểu Chánh là đại diện Theo ông, tiêu thuyết Hồ Biểu Chánh có “cốt &uyện tương
dudt, in hệt cách nói cửa miệng hình đân ( ) khiển tiểu thuyết của ông rất được
thưởng thức ở giới bình dân và phụ nữ” |L50, tr.176|
Công trình có tỉnh chất tổng kết một chặng dường dải nghiên cứu vẻ Hỗ Biểu Chanh phái kể đến chuyên khảo Chân dưng Hồ Biểu Chánh (1914) của Nguyễn Khuê
hi phân tích tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, trên cơ sở tư liệu phang phú, nhà nghiên cứu
đã xác định các phương điện nội đưng và nghệ thuật cơ bản nh hệ thông nhân vật, cảnh
vật, bỏ cục, ngôn từ, bút pháp Trong phân kết luận, nhà nghiên cửu nhắn mạnh ý hướng phong tục và luân lý vốn lả nẻn tăng tư chất con người Nam Bộ đã được phản ánh trong sáng tác, lý giãi mỗi quan bệ giữa nội đung và hình thức, trên cơ sở đỏ di đến khẳng định
địa vị Hồ Biển Chánh trong văn heo sử cả ở những đóng góp cũng nhà giới hạn mà Hồ
Biểu Chánh chưa vượt lên được: “Trong lịch sử tiêu thuyết Việt Nam, Hồ Biêu Chánh là cây bút tiên phong sáng giá nhảt của giai đoạn 1913-1932, bởi lẽ ông dã dại được nhiều
việc đưa tiểu thuyết mói từ tình trang phôi thai tần đến giai đoạn thành lập và thịnh
hành ông là nhà tiếu thuyết quan trọng bậc nhất ở giai đoạn 1913-1932" [91: tr 269 -
2701| Cũng theo hướng tiếp cận thê loại, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, lầp 1(1974) |39]
của Phan Cự Đề là một công trình đáng chú ý Tiếp nói một số công trình trước dó, viết
Trang 30vẻ tiểu thuyết Nam Bộ, nhả nghiên cứu cũng chỉ dặc biệt chú ý đền tiêu thuyết Hồ Biểu Chảnh Ngoài ra, cũng cân nêu ra ở đây là trên quan điểm giai cấp, nhà nghiên cứu đã có xnột số đành giá chua thật công bằng đối với lẻ 13iểu Chánh 136 cũng là điểm chung va cũng là giới hạn của một số công trình nghiên cửu củng thời
Tác giả Hoài Anh trơng Chân dụng văn học cũng đành những nhận định trang trọng về Hỗ Hiểu Chánh vả vị trí của ông đôi với văn học Quốc ngữ Việt Nam dau thé
ky XX Bang những phân tich ngắn gọn, Hoái Anh đã đảnh giả thể giới nhân vật của tiểu thuyết ¡1ô liểu Chánh hết sức phong phú, da dang; mỗi nhân vật đều có tính cách,
tâm lý riêng mang đặc điểm “hoàn toàn Liệt Nam Mỗi loại nhân vật lại có một kiếu
ngôn ngữ riêng, vừa phù hợp với tầng lớn, địa vị xã hội của nhân vật, vừa góp phân tô dâm tính cách, tầm lý nhân vật ” [3, tr148, 149]
Đặc biệt, năm 2007 với công trình là luận án tiến sĩ ngữ văn, chuyên ngành
văn học Việt Nam V #rí của Hồ Hiểu Chánh trong văn xuôi Quốc ngữ Liệt Nam đầu thể lý XX (1900-1936) [1U§], tác giả Hưỳnh Thị Lãnh đã có những khảo cứu công, phù nghiêm túc 18 cuốn tiểu thuyết của Hỗ Biểu Chánh viết trước năm 1932 Trên cơ
sở đó, luận án đã có những, luận giải khá tốt về sáng tác của Hỏ Biểu Chánh như các phương diện cảm hửng chủ dạo (cảm hứng vẻ đạo lý truyền thống, cảm hứng về tư tưởng tam giáo, cảm hime về thiên nhiền và con người Nam Bội, nghệ thuật tiểu
thuyết (nghệ thuật kết cần truyện, nghệ thuật xây đựng nhân vật, ngôn ngữ và lời văn
nghệ thuật) Mười năm sau, năm 2017, tác piả Phạm Thị Thu Thủy trong công trình luận án tiên sĩ “Con øgười Nam Bộ trong sảng tác văn xuôi của Hỗ Biêu Chánh, Bình
“Nguyên Lộc, Sơn Nam vá Nguyễn Ngọc Tư” cũng, đã dành toàn bộ Chương 2 của luận
ản để luận giải về hình tượng con người Nam Hộ trong sảng tác của Hỗ Biểu Chánh
Các kiến con người đạo lí, cơn người giữ gìn đạo đức cũng với một sẽ phương điện
nghệ thuật khắc họa hình trong con người trong sáng tác của Hỗ Biếu Chánh (như việc đặt nhân vật vào tình huồng éo le, kịch tính; chú trọng miêu tổ thân thể, ngoại hình, hành động, ngên ngữ nhân vật) đã được làm rõ |246| Có thẻ khẳng định, cho dén biện nay, những nghiên cứu về Hỗ Biểu Chánh khá phong phú, nhiều công trình: chuyên sâu Theo đé mà các phương, diện thân thế, sự nghiệp, vị trí văn học sử của ông cũng đã được bàn đến tương đổi sáng rõ Điểm mới trong nghiên cứu của chứng toi chinh 14 dit Ho Bidu Chánh trong tương quan của nhóm loại hình tác giả Nho học
Trang 31- Tân học dầu thế kỷ XX dễ nhịn nhận thấu dào hơn những đóng gỏp của ông cho qua trình hiện đại hóa thẻ loại tiểu thuyết Quốc ngữ đâu thế ký XS
1.313 Những nghiêu cửu về Tấn Dà Tân Đà ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn đã được người ta biết đến như xnội táo giả đặc biệt, những ý kiến đánh giá ông cũng hết sức đa chiều nhiều lúc trái ngược nhau Năm 1918, trên An phong tạp chí - số 7, Phạm Quỳnh lại dã có lời phê phan một cách nặng nễ vẻ văn chương của Tản Đã với bài điểm sách nhan đẻ "Mộng, hay mị” Trong bải viết này, Phạm Quýnh tập trung phê binh tiểu thuyết Giấc mộng con Thea Pham Quynh, nhimg gi ma Tan Da noi dén wong Gide mang con chỉ đáng xem là “mị” bởi đó chỉ là những chuyện “đâu Ngô mình Sở, khú đứt khi nối không dầu không đuối” [182] Có thê nói Phạm Quỳnh dã khá phiên điện khi phế bình tác phẩm Giấc mộng con khi không nhìn thấy những nét mới mế và đóng góp của Tan
Dã trong cuỗn tiểu thuyết nảy
ầm 1939, khi việt 77 sĩ Tản Đà, Lê Thanh mới bắt đâu quan tam dén van đề
thể loại khi phê binh các tác phẩm tiểu thuyết của Tản Đà Từ góc độ thế loại, I.ê Thanh dã chủ ra sự bắt công trong bài phê bình “cay nghiệt” của Phạm Quỳnh Cũng,
tử quan điểm thẻ loại, Lê Thanh nhận dinh cuén Gide mong lớn là “tập kỷ ức viết bằng quốc văn thử nhất của ta”, “không khác gì những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ Âu Tây” Tuy vậy, Lê Thanh đảnh giá cao thơ hơn văn xuôi của Tân
Đà Trang Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Than cứng có quan điểm như Lê Thanh khi
xem Tân Đà chỉ là mệt nhà thơ xếp củng nhóm các thí gia củng với các tác giả như Đoàn Như Khuê, Trần Tuấn Khải Còn khí nhận định về văn xuôi, Vũ Ngọc Phan đánh giá cao phan truyện ngắn của ‘Tam Da va tỏ ra “thờ ơ” với tiểu tuyết Trong
cuỗn Việt Nam van hoe str yéu, Duong Quang Ham đã đưa Tân Đà vào chương trình đạy văn ở nhà trường, đó chính là bằng chứng cho việc đánh giá cao Tan Đà Dương Quảng Hàm nhấn manh dén các yêu tố như “Giọng điệu nhẹ nhàng, Việt Nam thuần
hy, tinh ngông ở Tân Đà” |76, t.135| Nguyễn Tiên Lãng và Nguyễn Mạnh Bồng, uốn cô một danh giá công bằng hơn đổi với các tác phẩm tiêu thuyết của Tân Đà
Nguyễn Tiên Lãng cho biết ng thường, nghĩ tới những lý thuyết của I3ergson khi đọc
văn xuổi Tân Đà Theo ông, Tân Đà làm văn xuối rất dụng công mà văn xuôi của Tân
Đổ rất đổi dio từ tưởng” Ngô Bằng Giang trong Góp phẩn từn biểu Tửn Đà nhận thấy văn xuôi của Tân Ba khong chỉ là cái tài mà còn lá tâm lỏng tu thời mẫn thể, cỏ
Trang 32ích cho đời và đặc biệt cũng có lắm bài có thể sảnh với những hạt ngọc phiên nga, như những, bải văn vẫn vi cũng dụng công đếo chuốt chạm trổ kỹ cảng lắm 1rong, lời tựa cho hai tập Giấc mộng con viết năm 1941, Nguyễn Tiên Lãng quá quyết “giá
tị văn xui của Tân Đà cũng không kém gì giá trị văn van cia Tan Da” Nguyễn Mạnh Đồng trong lời lựa cho liểu thuyết Thẩn điển tái bần tháng 6 năm
1945 cũng danh giả rất cao cuốn tiểu thuyết nảy: “?hật là một thiên tiểu thuyết kiệt tác ở trong tú sách tiêu thuyết quốc văn ft” Mặc dù có thiện ý nhưng những khám phá vẻ tiêu thuyết của Tản Dã qua hai lời tựa nảy còn khả chưng chung
Nam 1963, trong giáo trình Lịch sứ văn học Việt Nam, tập TV-B, Nguyễn Đỉnh
khối mâu thuẫn lớn (1964) Vai kh’ nang bao quát, khảo sắt một khôi lượng lớn các
tư liệu, Tâm Dương đã làm sáng tỏ những mỗi quan hệ giữa văn xuôi Tan Đà với các
sảng tác của các nhà văn sau này raả trường hợp của Nguyễn Công Hoan là một vỉ dụ
tiêu biểu Nỗ lực nghiền cửu này được thể hiện rõ nhật qua hai chương, “7 ính đhẩn lang man” va “Chủ trương và tính chất hiện thực” [24] Những phân tích của nhà
nghiên cứu vẻ hình tượng người lữ khách, những giác mơ yêu đương, hình tượng
đồng tiền rong 7hẩn điển dã là những múnh chứng cho phạm v¡ ảnh hưởng của vẫn
xuôi Tản Đá đối với văn học dương thời vả sau này, Còn ở Miễn Nam, trong Việt
Nam văn học sử giãn ước tân biên - Tập 3, Phạm 'Thê Nạũ nhận thấy các tiểu thuyết của Tân Đả thực chất là những thiên ký sự, một hình thức tập đượt của văn xuỗi Quốc ngữ buổi dau Tuy nhiên đối tượng khảo sát, phân tích của Phạm Thế Ngũ ở đây chỉ chủ
Từ sau 1975 đến nay, việc nghiên cứu vẻ Tản Dà nói chung, văn xuôi của ông nói riêng có được những thành tựu đặc biệt quan trọng Xuân Diệu đã đánh giá Tất cao vẫn xuôi của Tản Đà Ông khẳng định: “phẩn văn xuối rất quan trọng dễ hiểu
được toàn bé Tan Da”, Van xudi cia Tan Đà được nghiên cửa một cách hệ thông vả
Trang 33sđu sắc hon ca lă ở những công trinh của Lrằn Đình Hượu: Văn học Việt Nam
giai đoạn giao thời 1900-1930 (1988) Trong công trình năy, "Trần Định Hượu xếp ‘Tan
tâm Dă lă một nhă nho nhưng không phải
nhă nho tai tie
sồi kinh nấu sử trong “của Không sđn Trinh”, từng đê thì tuy nhiín sau đó đê bộ chữ
Nho theo học chữ Quốc ngữ vă sảng tâc bằng thử ngôn ngữ mới năy ]90; tr.206]
ăn Đă (1993), nhă nghiín cứu Nguyễn Đình Chủ cũng đê có
ớt về cuộc đời, văn nghiệp của nhă vấn Tđn Đả Trín cơ sở
Trong 7hơ văn
những khải quât khâ sắc
'phđn tích những đặc điểm cơ sở lịch sử - xê hội, tư tưởng - văn hóa của thời đại cừng, những nĩt riíng trong xuất thđn của th sĩ, nhă nghiín cứu dê chỉ ra ở Tđn Đă sự dung hòa của câ tính độc đâo, nhđn câch thanh cao, con người của bi kịch, đang đỡ [25] Năm 1997, trong cuốn lăn học Uiệt Nam dòng riíng giữa nguồn chung, ‘Iran Ngoc Vương viết băi “Sự (hông nhất của câc mẫu thuẫn trong tư lưởng vă sâng lắc của
Tản Đă” Tâo giả cho rằng: “Sự thẳng nhất Ôö vừa lă thông nhất giữa câc mđu thuẫn
lại vừa giữ lại sự nhất quản truyền thông, tạo nín một sợi chỉ đồ xuyín suốt tư tường Tđn Đă” [294; tr.361] Sau đó, trong Chương, V của Giâo trình Văn họo Việt Nam ba
?nươi năm đầu thể kỷ XX [2
đặc điểm, nội dung, tỉnh chất của sự thếng nhất giữa câc mẫu thuần trong tư tưởng vă
tr.202], ông tiếp tục lý giải vă lđm sâng rõ căn nguyín,
Trang 34học trong sáng tác của Tân Da” cla L8 Chi Dũng, 3) “Quan miệm văn học của Tấn Pa? của Trần Định Hượu Nhìn chúng, Tân Đã về tác gia và tác phẩm, dù đã cô công sưu tâm, phân loại, trích tuyển khá đây đủ các công trình nghiên cứu vé tho van
“Tân Da song những nghiên cửu về ông trong tư cách túi sĩ (ác giả thơ trữ tình) vẫn lẫn
át những công trình nghiên cửu về Tân Đà trong tư cách của một văn sĩ (tác giả văn xuôi), Đặc biệt, dường như tư cách tiểu thuyết gia ở nhà văn có quả nhiều phúc tạp nảy còn chưa được chú ý một cách thỏa đáng
Chúng tôi chú ý đến ba bởi viết của nha nghiên cửu ‘Trin Van ‘Loan sau đầy: 1) Tân Đà - tu sữ con người và kiểu nhà (hơ giao thời (261 |, 2) Tiân Đà niền từ góc độ
thế loại [262] và 3) Tảm Đà - sâu mộng và sự hiện điện của cới tôi cá nhân [263]
Trong ba bài viết này (thục chất lá một chuyên luận ngắn) của mình, Tran Van Toán dã
có những luận giải khả thân đáo vẻ nhiều phương điện rong Lư cách nhà văn, đặc điểm
1.3.1.4 Những nghiên cửu về Nguyễn Trọng Thuật
Mặc dù viết không nhiều và cũng không thực sự đình đám vào thời diễm lúc bấy giờ, sơng tác giá Nguyễn Irọng Thuật cũng đã dành được sự quan tâm của các nhà 'phê bình, nghiên cũu đương thời như Thiển Sơn hay Vũ Ngọc Pham Trang công trình
lĩnh
Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Than nhận xét chíng về Nguyễn Trọng Thuật kl
tường như sau: “Nguyễn trọng Thuật là nhà văn có cái chí hướng và lúc nào cũng xmuốn cho văn chương Việt Nam có cải đặc tỉnh Việi Nam Pang Duong tap chi? chua có truyện đãi da người Việt Nam soạn và “Nam Phong tạp chỉ" cũng phải đợi đến kii 'Quả dựa đồ" của Nguyễn Trọng Thuật ra đời mới có truyện dài do người Vigt Nam viết để đăng báo Như vậy, trong buổi đầu thật rất có í! người Nho học lại có úc sắng kiến như Nguyễn Trọng Thuật” |174, tr 121 Còn trong Van học và tiêu thuyết, khá đề
tự hình thành và phát triển của liễu thuyết Việt Nam từ những thế kỹ trước đến đầu thể kỹ XX, tác giá Doãn Quốc Sĩ đảnh nhiều tu ái cho tác phẩm Quđ dua đó và tác giá của nó là Nguyễn Trọng Thuật khi cho rằng: “Đến Quả đưa đố” (1025) của
Nguyễn Trọng Thuật tì tiêu Huyết thật sự chào đời ” [1§5, tr140] Về Quả dựa
cập đến
kg
Trang 35do, dường như ít mang dược “sức lửa” nên cũng thiểu vắng những công trinh nghiên cứu lớn
Nhận định về giá trị của tác phim Qud dina dé, ba Pham ‘rhi Ngoan trong một luận án về Nam phong đã có riận xót chính xác: “BỐ cục theo kỹ thuật Tây phương, cuốn tiêu thuyết phiêu lưu này giới thiệu các nhân vật thật diễn hình, do đó người ta đã cøi như một luận đề tiêu thuyết cuồn tiểu huyết nàu cũng đã vượt xa những tác phẩm khác, vì diễn hình cho một loại tư trững và mội thễ văn dụng hòa cũ tân lẤn cm” [LAT: +r132] Tác giả Hoài Anh trong Chấn dung văn học (2001) có dành 13 trang viết về tác
giả Nguyễn Trọng Thuật và tiểu thuyết Qué dua đã của ông, Tuy thể, tác giả Hoài Anh,
hội của tác phẩm nên rhững đớng góp của Nguyễn
do quả chủ ý kiên giải ¥ nghi
ật ở phương điện tư duy tiểu thuyết ít được bản đến
Trọng TI
Trong cuốn Tứ điển Văm học (Bộ mới), Nguyễn Quảng Tuân cho rằng: Với Quả dưa đủ, “Nguyễn Trọng Thuật là một trong những cây búi tiểu thuyết Quốc ngữ tiên phong”, và là “câu bút viết báo buỗi đâu thê kỷ đã cổ gắng duy trì nền văn héa cỗ truyền của dân tộc, đồng thời tiếp thu nên văn hóa mới của Tây phương” [162, tr.1205J Tuy nhiên, nhận dịnh của Nguyễn Quảng Tuân cho đến nay đã dược các nhà nghiên cứu chứng mính: Quở đa đó không phải là tiểu thuyết tiên phong,
xà phải là tác phẩm Thấy Lazaro Phiên của Nguyễn Trong Quan
1.31.5 Những nghiên cứu về Ngô Tát Tổ
Một trong những yếu tố ảnh hướng đến phong cách nha van chính là hoàn cảnh sối
đến cách căm nhận của nhà văn về hiện thực cuộc sống Truyền thống gia đỉnh, quê
xuất thân của nhà văn Dây là những yếu tô tác động một cách trực tiếp
thương chỉnh là những căn rễ văn hóa sớm ảnh hưởng riến phong cách nhà văn Xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho giáo va bản thản Ngô Tất Tổ cũng, được đảo luyện nơi cửa Không sản Trình, cội rễ do dã ảnh hưởng dến trước thuật của ông Dặc điểm nay trong sự nghiệp viết của Ngõ Tắt Tổ đã được hầu hết các
nhà nghiên cứu chỉ ra Tiêu biểu nhu Kiểu Thanh Quế với bài “Phé binh Léu chang”
(bao Tri dân, số 33, ngày 23-1-1942), mục viết về Ngô Tất Tô rong Nhà vấn hiện
đại của Vũ Ngọc Phan (1942-1945), Phong Lê với bài “Agô Tát TỔ - một chân dung lớn, một sự nghiệp lớn" Ì113|, Vuong Trí Nhàn với bài “Nhà nho thức thời - ngòi
Trang 36
bát tình cảm Ngô Tắt Tế” [153], Phan Cụ Đề với "Ngõ Tất Tố sống mãi trong lang cách mạng” [39]
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài viết "AVhd nho thức thời, ngôi bút tình câm Ngô Tắt TỔ” đã nhận xét: “Giữa những dòng chữ, người đọc không cần tĩnh ý: lắm cũng đọc ra Âược nổi ngây ngất của ông đầu xứ trước quá khứ đẹp để của mình,
và có cơ sở đễ ngờ rằng mãi mỗi về sau ông còn nhằm nhấp về thí vị của nó một cách bảo hứng” [153, tr.44] Trong nhận xét này, Vương Trí Nhân đã gián tiếp đề cập đến ảnh hưởng của Nho giáo trong sáng tác của Ngô Tắt Lố Tuy nhiên, Nho giáo không đơm giân là đối tượng phân ánh khách quan của nhà văn mà theo tác giả bài viết, côn ăn sâu vào lình cảm, nhận thắc cửa Ngô Tái Tá Cũng Irong bài báo trên, khi lí giải cho sự linh hoạt của ngời bút Ngõ Lắt Tổ, Vương ‘Ini Nhan cho rằng “triết li của dạo Không vẫn có điềm tựa cho những người ham sống, biết lựa chiều cuộc sống đỀ lên tại một cách hợp Hf” Day thực chất la quan niệm về bổn phận của một kế sĩ còn phảng phất trong cách tmp xử với thời thể của Ngõ Tắt TS
Trong lời giới thiêu cho Ngô Tết TỔ todn tập xuất bản năm 1956, tác giả
Phan Cy Đệ đã bàn luận khá chỉ tiết về tư tưởng Nho giáo trong cuộc dời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nhà nghiên cứu dã tải hiện lại bồi cảnh lịch sử thời dại Ngô Tắt Tổ, quá trình diễn biển tư trống của nhà văn khi ông “vượt lên phía trước, duds kip thể
cuỗi mùa” Và nhà nghiên cứu khẳng định: “Sự phê phan của Ngô Tát Tá đối với
là trẻ thành một trong những người tiễn bộ nhất của lớp nhà nho
Không Tứ và Nho giáo không phải là sự phú định toàn điện và triệt dễ Chỗ đứng
của Ngõ Tắt 1ố vẫn là lập trường của một nhà nho trí thức” [39, tr.16] Theo Phan
Cự Đệ, chính vi xuất thân lả môn đồ Không giáo nên những tư tướng Nho giáo vẫn
vương vấn Ngô Tất Tế với những hình ảnh có phản thi vị về một thời vang bóng qua
một số mẫu hình nhà nho, một số cảnh sinh hoạt Nho học trang Léu chống và Trong
ŠL “Cây búi sắt sắc bứn của một nhà
ràng nho Nhà văn Vũ Tú Nam trong bài v
nho” cing nhận xét về phong cách của Ngô Tát Tỏ “Nếp sống của ông trước sau vẫn giữ phong cách của một nhà nho - nhưng là một nhà nho vời bản lĩnh và cả tỉnh đặc biệt, vừa nghiêm túc vui tươi, sâu sắc mà hoạt hái, trí tệ và tâm tư luân năng động, chân thành gắn bỏ với những con người và sự vậi xung quanh, cũng có ngÌĩa với vận
mệnh đất mước” |144, tr4] Trạng nhận định này, nhà văn Vũ Tủ Nam cũng khẳng định những điểm tích cực của Nho giáo trong lỗi sống, tư tưởng của Ngô Tất Tố
Trang 37Trong bài viết “A'gô Tất 16 - Cây bát cựu học giữa thời tân văn”, nhà nghiên cửa 'Vũ Tuần Anh đã phân tích và chỉ ra những, dâu vết “cựu học” còn được bảo lưa trong tư tưởng cũng như lối viết của Ngô Tất Tổ liên cạnh đó, tác giá bài viết cỏn cho thấy những biểu hiện của ““ân văn” trong hệ thêng thể loại mà ngời bút Ngõ Tất Tế lựa chon
để sáng lác Ông cho rằng tiểu thuyết Ï,Šu chống là: “cuộc chúa lay không í1 lưm luyện của nhà văn vời quả khứ của chính ông, và ở tầm vĩ mô, của văn hóa mới với văn hóa Nho giáo” Ö cấp độ khái quát hơn, tác giá Vũ Tuân Anh việt “Lồn hiểu biết phong phú về Không giáo, về sinh hoạt trường óc thị củ của một người thông hiểu Tí thụ, Ngũ kinh và
đã từng nghiệm sinh một thời lêu chống đỡ tạo nên những rang viết giàu tính tư liệu của một nhà khảo cứu và giảu tính sinh động của mội cây bửi phóng sạ [10: tr.13-20] Như vay, nha nghiên cứu Vũ Tuân Anh đã chỉ ra sự tác dộng, cứa tư tướng Nho giáo dến sáng
tất yếu Cho dù phê phan Nho học, trong sáng tác, chất Nho giáo vẫn tên tại như một "vồ thức sáng tạo” của nhà văn, điều đỏ cho thấy ông không khước từ hoàn toàn hệ tư tưởng nảy Trong cuốn giáo trình Van hoe Vide Nem (1900- 1943), Phan Cự Đệ còn tiếp tục đưa ra những nhận xét về đời sông Nho giáo trong tiểu
thuyết Lê» chống Nhà nghiên cứu dã chỉ ra ảnh hưởng dậm nét của Nho giáo trong, giắc mộng công danh, một lựa chọn lập thân bằng con dường khoa bảng song bất thành của nhà văn Không dừng lại ở đó, nhá nghiên cứu Phan Cự Độ côn khẳng định: “7.ẩu chống cồn là một lấn bị kịch của những nhà nho trí thức dưới chế độ phong kiến Đá là sự sụp
đồ thâm hại về mặt tủ: thần của những người trí thức suốt đời lậu khoa cử làm con
dường tiên thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vong” |42; tr 392)
Năm 2010, chuyên luận Vgõ ?ất Tổ - Một sự nghiệp văn học lớn về báo chỉ và
văn học của Trần Thị Phương, Lan được xuất bán 'Lrên cơ sở kế thừa và tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, công trình đã bổ sung những phát hiện và tổng hợp thành công trình nghiễn cứu toàn điện sự nghiệp sáng tác của Ngô Tắt Tả ở
bai mang én la vin hye và báo chí Đặc biệt, ở Chương TL Sự nghệ
Ngô Tắt Tố, tác giả tập trung vào nghiên cứu hai tiểu thuyết tiêu biểu của gõ Tất Tổ là Tat dén va Léu chống dễ thấy dược những dòng góp xuất sắc của ông cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1932-1945 [L04]
Có thế thấy, mỗi nhà văn lớn cân luôn được bình giá vả nhận định ở những, thời điểm khác nhan, tiếp Lục phát hiện những chêu chưa được phát hiện, tiếp tực khẳng định những diễu cần khẳng dịnh thêm Đánh giá vẻ Ngô Tất Tó qua các thời
văn chương của
30
Trang 38kỳ, nhịn chung những y kiến nhận xét, phê bình đêu nhất trí ca nggi va khang dinh đóng góp quan trọng của ông cho nên văn học và báo chí nước nhà Thực tế cho thấy thời gian là thước đo đẻ chúng ta khẳng định một Ngỏ Tất Tẻ tải năng, uyên thâm, có đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác nhau: nhả văn, nhà báo, nhà văn hóa Luận án của chúng tôi cũng không nằm ngoài mong muốn đó Đặc b
chứng tôi, tử cải nhìn loại hình học tác giả văn học Nho học Tổ, sự kết tình có thể nhìn thấy ở nhiều phương điện, từ nội dung, đến nghệ thuật, mặc đà với thể loại tiểu thuyết Quốc ngữ, so với các tác giả trong nhóm cũng như so với nhiều tiểu,
học ở những nội đìmg cụ thể trong các chương 2, 3 và 4
1.3.2 Những câng trình nghiÊn cứu thể loại tiểu thuyết giai đoạn giao Thời và tiễn thuyết Quốc ngữ của tác giá Nho học - Tân học
Trước hết, chứng tôi muốn điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về
tiêu thuyết Quốc ngữ giai đoạn giao thời đề làm định hướng cho việc khu biệt đối tượng xghiên cứu của luận ám Nhữn chưng, văn họ giai đam giao thời nói chung, liều thuyết Quốc ngữ giai đoạn giao thời nói riêng đã từ lâu trở thành môi quan tâm của nhiều nhà r;ghiên cửu văn học và đã có nhiều công trình nghiên cửu chuyên sầu
Nam 1932 trên Nam phong (số 175 và 176), Trúc l1ả trong một công trình đải
tơi có tỉnh chất tổng kết và ảnh gì một giai đoạn văn hợc dưới nhan đề Lược khẩo về
sự tiền hóa của quid
“Xót ra ngoài mười mẫy năm nay về phương điện tiều thuuất chưa nói đến các phương
diện khác, quốc văn thật đã tiền nhiều” [170], [171]
Đên năm 1943, trong 7áp san Hội khuyên học Nam Kỹ (số 1-1943), tác giả
Hai Đường có bài viết Lược khảo phong trào văn chương ở Nam Kỳ (1865-1942)
31
Trang 39Dring với tính chất của bài lược khảo, tác giả đã trình bay mét cach khái quát, giãn đơn nhất về diện mạo văn học Quốc ngũ ở Nam Kỳ trong vỏng gần 8O năm Tiếp sau, năm 1944, trường Sơn Chỉ Ung Ngọc Ky và Bằng Giang đã bắt tay vào công
việc sưu tâm tải liệu về văn học Quốc ngữ Nam Bộ Bước đâu, Trường Sơn Chí Ủng Ngọc Ky đã có bài việt Những luỗng sóng văn học trên đất Liệt trêu tuần bảo Thanh nién 36 39 ra ngày 2-9-1944, khẳng, Ảnh: “Bây giờ luỗng sóng Quốc ngữ lại
đi ngược từ Nam ra Bắc” [100] tuy nhiên, những biển động của lịch sử khiến cho các ông không thực hiện tiếp những dự định ban đầu
Tinh hình nghiên cứu tiếu thuyết giai đoạn nay còn được tiếp tục trong công, trình của một số nhà nghiên cứu có lên Mỗi sau: “Bản về báo giới và tiêu thuyết" (Ihiểu Sơn, PÄê bình và cáo luận - 1933), Ba mươi năm văn học (Mộc Khuê - 1942),
“Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan - 1942), la người thợ cần mẫn (Lê 'Lhanh - 1943), Vigt Nam vin hoc sw yéu (Duong Quảng Liàm - 1944) Trong Phê bình và cáo luận (1933), với lối phê bình chân đụng, Thiên Sen tập trung vảo một số gương mặt nhà văn và tiếu thuyết tiêu biểu như Hỗ Biếu Chánh, Phan Huản Chương, Nguyễn Trong Thuật, Nguyễn Thới Xuyên |I93| Mộc Khuẻ (Kiểu Thanh Qué), trong cong win
có tỉnh chất tổng kết Ba mươi năm văn học (1942) cũng chỉ dừng lại ở công việc
“tính sở” và “điểm mặt” các hiện tượng tiểu thuyết Phú Đức, Bứu Định, Phan Huấn Chương, Nguyễn Thới Xuyên [180] So với công trinh của Thiéu Son va
Than, dù chỉ ở mức sơ lược nhưng Ba mươi năm văn học đã cũng cấp một đứt liệu
đáng tin cây về tên tuổi nhà văn và tác phẩm văn học những năm dau thé ky XX
Điều quan trọng hơn, qua những trang viết của Kiều Thanh Qué, tiểu thuyết của hai vùng Nam - Bắc lẫn đầu tiên được đặt trong sự đối sánh nhau, giúp ta nhận rõ phẩn
nao dién mao phong phú của tiếu thuyết Viét Nam dau thé ky XX
Sau 1975, dat nước hoàn toàn thẳng nhật Cùng với những biên chuyến trong đời sống sáng tác, dời sống phê bình cũng khởi sắc với nhiều thành tưu đáng ghỉ
e biệt là công việc tổng duyệt lại văn học quá khứ từ sau đổi mới Những,
Trang 40Minh, công trình dã dược các tác giả sửa chữa, bỗ sung tải băn gồm 4 tap G Tap 2:
“Vn học - Báo chí - Giáo dục” [65], trong, bài viết Văn học chữ quốc ở Sài Gòn Gia Định cuối thể l XIV đầu thể lý XX của Tâm Vụ, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y,
các tác giả đã nêu lên một mảng thư tịch đồ sộ về văn học miễn Nam trong thời kỷ này, nhắc đến các lên tuổi lớn cửa văn học Nam Bộ thời bấy giờ nhục Trương Vĩnh Kỹ, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Kguyển Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Nguyên Chánh Sất
và điểm qua một số tác phẩm nổi bật của nhả văn này, Ngoài ra, cuốn địa chí cỏn in Thụ mục văn học (Sài Gòn và Nam 136 ti 1866 dén 1930) tia Boi Due Tinh tập hợp hơn 1122 tác phẫm văn học, trong, đó tiểu thuyết và truyện ngắn là 276 cuỗn Có thé ndi đây là những chỉ dẫn hết sức quý giá đề các nhà nghiên cứu sưu tầm đề từ đó đánh: giả hết giá trị văn văn hoc Nam Hộ dõi với tiên trình phát triển của văn học Việt Nam
Trong Chân dụng văn học [3], Hoài Anh cũng phác thăo một số chân dung các
cây bút văn xuôi như: Liễ liễu Chánh, kguyển Chánh Sắt, Tản Dà, Tân Dân Tử,
Thạm Minh Khiêm, Bửu Đình, Phú Đức Những vẫn đề của văn xuôi thời kỳ này còn được để cập đến trong các bộ 7ứ điền tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ đầu thể kỳ! ALN dén dầu thế ký XÃ |9|, Từ diễn văn bọc bộ mới [162|, Văn học Việt Nam thê kỷ
XX do GS Phan Cự Độ [41] chủ biên xuất bản năm 2004 Ngoài ra, củn công trình Những bước đầu của báo chỉ, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932) của tác giả Bùi Đức Tịnh [249] cũng là một dạng như vậy Cuốn sách này được Bùi Đức
Tỉnh xuất bản lần đâu vào năm 1974 với tên Phẩn đóng góp của văn học miền Nam
những bước dâu của bảo chỉ, Hều thuyết và thơ mới (Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn),
Đảng, chủ ý nhất là công trinh của tập thể các nhà ng hiên cửu Viện Khoa học
xã hội tại Tp Hỏ Chi Minh: 778 thuyết Nam Hộ cuỗi thể ký XIX đầu thể ký XX [4|
đo Nguyễn Kim Anh chủ biên Trong công trình này, các tác giả thông nhật nghiên
cứu cả mảng “đoản thiên tiểu thuyết” (hay truyện ngắn) song song với “tiểu thuyết”
Cie lav gia da dé một số lượng lớn các nhà văn tiêu biểu ở Nain Bộ giải đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thể kỹ XX như: Bứu Định, Hỗ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử, Lê Hoằng Mưu, Đạm Phương nữ sử, Đảo Thanh Phước, Cẩm Tâm, Đào
Thanh Phước, Ioảng Minh Tụ, Nam Dinh Nguyễn Thế Phương, Trương Quang
Tiển, Việt Đông, Gabriel Võ Lộ, Huỳnh Quang Huê, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Nguyễn Thành Long, Trần Quang Nghiệp, Ngọc Sơn, Phan TÌn Bạch Vận, Phú Đức Đây
có thể nói là công trình nghiền cửu công phụ nhất từ trước dén nay vé mang vin học
33