Việc tiếp tục hệ thống hoá, làm sáng tổ các khía cạnh chưa được khẩu cứu dầy di về cầu tạo, ÿ nghĩa, vai trỏ của ĐNNT là thiết thực góp phần vào việc nghiên cứu lí thuyết về thành phần
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẢN THỊ MỸ HẠNH
ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIÉNG VIỆT
(QUA MỘT SÓ TÁC PHẢM VĂN XUÔI VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIÊN SĨ NGỮ VĂN
NGHE AN - 2021
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS PHAN MẬU CẢNH
2 TS NGUYÊN HOÀI NGUYÊN
NGHE AN - 2021
Trang 3LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan luận ứn tiến sĩ đề tài "Dịnh ngữ nghệ thuật trong Tiếng Việt
(qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)” là công trình nghiên cứu cũa riêng
tài Các sổ liệu, kết quả nêu trong luận ân là trưng thực và chứa tùng được ai
công bồ trong bái kì công trình nào khác
Nghệ 1n, tháng 0i năm 2021
Tác giả luận án
Trang 4LOI CAM BOAN
Mục dịch, nhiệm vụ nghiên cứu
Déi tugng và phạm vi nghiên cửu
7 Kết cầu của luận án
CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
Li THUYET CUA DE TAL
1.1 Tổng quan về tỉnh hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ # nghệ th thuật
1.1.1 Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước
1.1.2 Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam
1.1.3 Tình hình nghiên cứu định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
1.2.1 Câu và cụm tử tiếng Việt
1.2.2 Một số khải niệm lí thuy
ngôn ngữ nghệ thuật 1.2.3 Dinh ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
1.3 Tiểu kết chương I
CHƯƠNG 2 CÁCH THỨC TỎ CHỨC CỦA DỊNH NGỮ NGHẸT THUẬT
TRONG TIỀNG VIỆT (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUOI
VIỆT NAM)
2.1 Cách thức tổ chức ngữ pháp của định ngữ # nghệ thuật trong tiếng Việt
2.1.1 VỊ trí của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh từ
2.1.2 sé lượng các định ngữ nghệ thuật trong cụm đanh từ
Trang 5ii
2.1.4 Các đạng biểu hiện của định ngữ nghệ thuật trong cụm danh tir
2.1.5 Cấu tạo của cụm danh từ chữa dịnh ngữ nghệ thuật
2.2 Cách thức tô chức ngữ nghĩa của dịnh ngữ nghệ thuật trong tiếng, Việt
2.2.1 Chức năng ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật
2.2.2 Cách thức tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật
2.3 Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3 VAI TRO CUA ĐỊNH NGU NGIIE THUẬT TRONG
TIENG VIỆT (QUA MOT S6 TAC PHAM VAN XUOT VIET NAM)
3.1 Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong cum danh tt
3.2.1 Vai trỏ của định ngữ nghệ thuật đối với cầu tạo câu văn nghệ thuật
3.2.2 Vai trỏ của định ngữ nghệ thuật đối với nội dung ngữ nghĩa của
3.2.3 Vai trẻ của dịnh ngữ nghệ thuật đối với nhạc điệu của câu văn
nghệ thuật
3.3 Vai trò của định ngữ nghệ thuật với tác phẩm nghệ thuật
3.3.1 Định ngữ nghệ thuật góp phân thể hiện đặc điểm phong cách
chức năng van ban
3.3.2 Định ngữ nghệ huật góp phần th thể hiện dic diém sử dụng ngôn
ngữ của nhà văn
3.3 Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BÓ CỦA TÁC GIÁ CỎ LIÊN
QUAN DEN LUAN AN
NGUON NGU LIEU TRICH DAN
PHY Lyc
95 97
Trang 6ông từ
Dịnh ngữ nghệ thuật Tinh tir
Trang 7v DANH MUC CAC BANG
Bang 2.1 Thống kê các vị trí của ĐNNT 40
Bang 2.2 Thống kê các từ loai đứng trước ĐNNT và sau IYT' 4I
Bang 2.3 Bang thống ké phan loai cdu tao NNT trong cum DY 43
Bang 2.4 Bang thống kê các kiểu cầu tạo từ của PNNT 44
Bang 2.5 Bang thống kê các từ loại của ĐNNT keo TỔ, Bang 2.6 Bảng thông kê dạng cầu tạo của các DINNT là tiểu cụm từ 50
Bang 2.7 Bảng thống kế phân loại Liễu cụm chỉnh phụ làm ĐNNT ST Đăng 2.8 Bảng tổng hợp các kiểu cầu tạo cia NNT a tiểu cụm từ 53
Bang 2.9 Bang thống kê phân loại các cụm DT có ĐN đứng trước DTTT 58 Bảng 2.10 Thống kê các thành tổ phụ sau DNNT trong cụm DT tiếng Việt 61
Bảng 2.11 Thống kể các kiểu quan hệ với ĐNNT của các thành tổ phụ sau 62 Đăng 2.12 Bảng tổng hợp các ý nghĩa do chức năng thẩm mỹ biểu thị 69
Bang 2.13 Bang tổng hợp các cách thức tổ chức ngữ nghĩa của ĐNNT 73 Bang 2.14, Bang thông kê phân loại các biên pháp ẩn dụ ta tử trong DNNT 77
Bảng 2.15 Bang thống kế các kiểu so sánh trong ĐĐNMT" - 84 Đăng 3.1 Bảng tổng hợp các ĐNNT theo thể loại 125
Trang 81 Lá do chọn đề tài
1.1 Mỗi ngôn ngữ có những quy ước, lạo thành những quy tắc nhất định
để sử đụng các đơn vị ngôn ngữ thành đơn vị giao tiếp, trong đó có đơn vị câu
âu)
và các thành phần phụ; việc phân loại các kiểu câu về mặt ngữ pháp cơ bản là
dựa vào các thành phần đó Thành phần chính giữ vai trò quan trọng, quyết định
và chỉ phổi sự xuất hiện của các thành phần phụ trong câu Thành phần phụ với
u tạo ngữ pháp, câu trong tiếng Việt gồm thành phần chính (nông cốt
vai trà bỗ sung thông tin nhưng trong nhiều trường hợp nó có khả năng lam biến
đối ở nghĩa, nâng cấp chất lượng thông tin và tình thái của câu Định ngữ (DN) trong tiếng Việt là một trong những thành phần phụ có vai trò như vậy Tìm
hiểu, khảo sát định ngữ theo hướng gắn liền với sự hành chức trong thực tế giao tiếp vừa góp phần vào việc phân tích ngữ pháp vừa làm rõ sự hoạt động của các
đơn vị ngôn ngữ trong hoạt đông giao tip x
1.2 Trong tổ chức lời nói, nội dung thông báo thường được thể hiện r
các thành phần chỉnh, việc bổ sung, làm rõ nội dung nảo đó cho vị trí trung tâm
thường là do các thành phần phụ đâm nhiệm Trong tác phẩm văn học, câu văn
có xu hướng mở rộng thảnh phần với nhiều cách diễn đạt linh hoạt, sinh động,
có tính thẩm mĩ Một trong những thành phần mở rộng thể hiện rõ tính thẩm mĩ
trong tác phẩm văn học là định ngữ nghệ mật (ĐNNT)
Có thể nói, ĐNNT là một trong những yếu tô đã góp phần làm nên về đẹp
văn chương, thể hiện một phần phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách
tác giả mỗi giai đoạn của văn học Việt Nam, chúng ta đều có thể nhìn thấy các
dấu ấn sang tao của các nhà văn thông qua việc sử dụng ngôn lử và dịnh hình
phong cách tác giả
1.3 Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp, dịnh ngữ được xếp vảo
thành tố phụ của từ hoặc thảnh phần phu của câu, là thành phần mở rông nằm
ngoài trung tâm kiến trúc của câu Khi phân tích thành phần câu từ góc độ phong
cách học hay từ góc nhin lý luận phê bình văn học, tên gọi “định ngữ”, “định
Trang 92
ngữ nghệ thuật” cũng lã một trong những thuật ngữ được nhắc đến để phân tích, bình giá Như vay, cd thé thay, HIN (trong do có ĐNNT) trong tiếng, Việt vẫn là
một vẫn đề thủ vị cần được tiếp tục tìm hiểu, phân tích thấu đáo để thay rổ hơn
vai trỏ chuyển tải thông tin, tính chất nghệ thuật của đơn vị thông báo
Việc tiếp tục hệ thống hoá, làm sáng tổ các khía cạnh chưa được khẩu cứu
dầy di (về cầu tạo, ÿ nghĩa, vai trỏ) của ĐNNT là thiết thực góp phần vào việc
nghiên cứu lí thuyết về thành phần câu và trong một phạm vi nhất định, còn giúp
ích cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ văn chương và phong cách tác giả
'Thêm nữa, tìm hiểu về ĐNNT còn gop phan vao viéc thuc hanh tiếng Việt, tập
làm văn và dạy họu ngữ văn Irong nhà trường
Từ các lí do chính trên đây, chúng tôi mạnh đạn chon để tải luận án
Định ngữ nghệ thuật trang tẳng Uiệt (qua một số tác phẩm văn xuõi Việt Nam}
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mue dich nghién cra
Nghiên cửu định ngữ nghệ thuật nhằm làm rõ các đặc điểm về ngữ pháp,
ngữ nghĩa và vai trỏ của thành phần này trong câu văn tiếng ViệL
2.2 Nhiệm vụ nghiễn cứu
Để đại được mục tiêu nghiên cứu, luận án để ra các nhiệm vụ cụ thé như sau
4) Tổng quan tình hình vả kết quả nghiên cứu về DNMI, làm rõ cơ sở lí
luận vả hướng tiếp cận của để tải,
b) Phân tích, miễu tả cách thức tổ chức cầu tạo và cách thức tổ chức ngữ
nghĩa của ĐNNT trong tiếng Việt,
©) Phân tích vai trò của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các định ngữ nghệ thuật trong
tiếng Việt
3.2 Phạm vị nghiên cứu
Các ĐNNT trong tiếng Việt sẽ được tìm hiểu ở các phương điện ngữ pháp
(câu tạo, từ loại), ngữ nghĩa va vai trò của nó trong tiếng Việt Dơn vị làm đối
Trang 10tượng phân tich và miêu tã của luận án giới hạn trong phạm vị là các câu có cụm
danh từ chứa ĐXNNT trong tiếng, Việt (khảo sát trong một số tác phẩm văn xuôi
Việt Nam)
4 Nguôn ngữ liệu
Định hướng lựa chọn ngữ liệu của luận án là những tác phẩm văn xuôi
cỏ xu hưởng thiên về lỗi văn miễu tả (tiểu thuyết, truyền ngắn) và piảu tỉnh
biểu cảm (tùy bút, kỷ) Vì số lượng tác phẩm rất lớn và đa dạng về phong
cách, nên trong luận án, chứng tôi chỉ khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu,
thống kê những câu văn có chứa ĐNNT làm dẫn chứng phân tích, miêu tả đối
tượng nghiên cứu Các câu văn có cụm IDT chứa ĐNNT trong 14 công trinh
thuộc các thể loại như sau
a Thể loại tiểu thuyết
Luận án khảo sát các tác phẩm của các tác giả: Nguyễn Minh Châu, Ma
Vin Khang, Lé Luu, Bảo Ninh Cụ thể là các lác phẩm
1 Nguyễn Minh Châu, Dầu chân người lính, xuất bản năm 1972
2 Ma Văn Kháng, Cới củi giữa cảnh dời, xuất bản năm 1089
3 Lê Lựu, ?hời xa vắng, xuất bản năm 1986
4, Bao Ninh, Ndi buôn chiến tranh, xuất bản năm 1990
b Thể loại truyện ngắn
Tiêu biểu là các tác giả: Nam Cao, Nguyễn Tuần Tô Hoải Nguyễn Thi dược tập hợp vào các tập truyện ngắn sau
1 Nam Cao, Tripện ngắn trước 1945, xuất bản năm 2016
Ra 'Tô Hoài, Truyện 7ây Bắc, xuất bân 1953
Nguyễn Khải, AZø lạc, xuất bản 1960,
Bow Nguyễn Thị, Truyện vả kí, xuất bản năm 1978
5 Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân tuyễn tập, xuất bản năm 2012
œ Thể loại tùy bát, bút ki
Tiêu biểu là các tác giả: Vũ Băng, Lưu Quý Kỷ, Nguyễn Tuân, Nguyễn
Trung Thanh, Hoang Phú Ngọc Tường với các tác phẩm
1 Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, xuất bản năm 1956
Trang 114
t2 Nguyễn Khái, Tháng ba ở Tâu Nguyên, xuất bản năm 1976
Lara Quy Ky, Song mứi còn dây, xuất bản năm, 1973
Bow Nguyễn Trung Thành, Trên qué hương những anh hùng Diện Ngọc,
xuất bản năm 1969
a Tloang Phủ Ngọc Tutmg, Ai dif dit ién cho dong sdng, xual ban nim 1986
Việc lựa chọn các tác phẩm trên lắm cần cứ khảo sát xuất phát từ những lí
do sau:
- Hầu hết, các tác giã đã dược piảng dạy trong nhà trường phổ thông hoặc
đã đạt giải thưởng về văn học nghệ thuật
- Cae lac phẩm tiểu biểu cho sáng lác của các nhà văn và cho thể loại
được kháo sat
- Các tác phẩm được khảo sát đự doán có thể xuất hiện nhiều định ngữ
Phương pháp này dùng để miêu tả đặc điểm của ĐNNT xét trong ngữ
cảnh những câu văn thống kê từ các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại trên
các bình diện cấu tạo (vị trí, số lượng, cầu tạo và khã năng kết hợp ) và binh
diện chức năng - ngữ nghĩa (mỗi loại đầm nhiệm một! một vài chức năng nhất
định nào đó, có ý nghĩa gì trong câu) Đề vận dụng phương pháp miêu tả đồng
đại hiệu quả, có thể sử dụng một số thủ pháp di kém pằm thủ pháp phân tích ngữ
nghĩa, thủ pháp phân tích ngữ cảnh, ngôn cảnh, thủ pháp thử nghiệm như: thay
thế, lược bỏ, cãi biển, so sánh, đối chiếu, thủ pháp phân tích thành tổ trực tiếp
(phân tích cấu trúc câu và cụm từ theo so dd giá nến),
3.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn xem tác phẩm văn học lả văn bản hoàn
ác đơn vị trong văn băn thánh các thành tố,
chỉnh, trong dó có thể phân xuất
chúng được trích xuất, trừu tượng hoá để thống kê, phân loại, phân tích các loại
Trang 12ĐNNT xuất hiện trong cầu, đoạn văn, tác phẩm; xem xót vai Irỏ, hiệu quá, các mối liên hệ, tác động qua lại của EìN với các thành phần khác cũng lấy các tác
phẩm, với tư cách là các diễn ngôn độc lập để đánh giá Cơ cầu hành chức của tổ
hợp từ chứa ĐNM'L cũng xuất phát từ tác phẩm để rút ra đặc điểm và ảnh hưởng
của đặc điểm đó đến hệ thông chưng
5.3 Thi pháp thông kê - phân loại
Thủ pháp thống kê - phân loại dùng để thống kê các ngữ liệu thu thập,
nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận án Các ngữ liệu có nguồn gốc,
xuất xứ và độ tỉn cậy cao, được mô tả và phân tích thông qua những tiêu chí rõ
ràng, cụ thể Sau khi thống kê, các ngữ liệu sẽ được phân loại và tập hợp theo một
hệ thống nhất định đề sử đụng cho từng chương, tùng luận điểm của luận án
6 Đồng góp của luận án
Nghiên cửu về DNNT ở các lĩnh vực ngữ pháp và ngữ nghĩa sẽ góp phần
giải quyết những vấn đề lí luận vả thực tiễn sau
61 Vê mặt lí luận
- Xác dịnh rõ các đặc diém về hình thức, nội dung và vai trỏ của ĐNNT
trong tổ chức của cụm từ tiếng, Việt, làm rõ mối quan hệ giữa fINNT với câu văn nói riêng, trong tác phẩm văn học nói chung
- Góp phần bỗ sung những khía cạnh lí thuyết về DN và DNNT trong
hành chức; nều rõ các giá trị và hiệu quả nghệ thuật của ĐXNT trong tác phẩm văn học
62 Vẻ thực tiễn
- Nguằn ngữ liệu ĐNIT sử dụng trong luận án được chọn lọc và phân
loại đựa trên những tiêu chí nhất định đủ tin cậy để phân tích, miều tá đặc điểm
của ĐNNT, là nguồn tham khảo tin cây dễ có thể thực hiện các công trình
nghiên cứu tiếp theo;
- Kết quả nghiên cứu ĐNNT có thể ứng dung vào việc dạy học ngữ văn
trong trường phổ thông: các giờ tiếng Việt (thực hảnh viết câu văn, phần tích
ngữ pháp) vả các liết học đọc - hiểu (phân tích tác phẩm, tìm hiểu phong cách
ngôn ngữ văn chương và phong cách tác giả) trong các nhà trường,
Trang 137 Kết cầu của luận án
Ngoài phần Mở dâu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận án gềm có 3 chương
Chuong 1 ‘lng quan tinh hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của để tải
Chương 2 Cách thức tê chức của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt
(qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)
Chương 3 Vai trỏ của định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt (qua một số
tác phẩm văn xuôi Việt Nam),
Trang 14CHƯƠNG1
TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYET CUA DE TAL
Tinh hinh nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước
học, liên quan dến việc miễu tả cấu tạo ngữ pháp, phân loại và phân tích thành
phần câu Trong các công trình của Ngôn ngữ học đại cương và Ngữ pháp học,
định ngữ là một khái niệm được nhiều tác giả bản tới, đánh giá về cương vị ngữ pháp của nó trang tổ chức cũ pháp của câu Nhưng có thể thấy, cho đến nay, các
nhà nghiên cửu con có những ÿ kiến khác nhau về định ngữ; nhìn chưng, các ÿ
kiến mới chỉ dừng lại ở vài nhận xét sơ giản, mà chưa dành nhiều quan tâm như
các thành phân khác Qua các tải liệu mà chúng tôi có được, tuy chưa đầy đủ
nhưng có thể nêu tổng quan mẫy điểm chính về tình hình và các kết quả nghiên cứu ngữ pháp có bàn đến định ngữ theo mây hướng sau đây
Các nhà ngồn ngữ học Nga (như A.A Potebnja, A.A Shakhmatov, FL
Buslaev ) cho ring thanh phan câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ, bd ngữ, trạng ngữ, vị
ngữ phụ thuộc và định ngữ Khi để cập đến thành phần phụ của câu, người ta
xem trạng ngữ là thành phần bị dẫn tiếp, bố ngữ là thành phần bị chế ước còn
định ngữ là thành phần bị hợp dạng [Dẫn theo 163, tr 11- 12] Ho phân biệt hai loại cú pháp: Cú pháp học câu nghiên cứu thành phân chính trong mối quan hệ
với câu và trong mỗi quan hệ tương hỗ với nhau; còn Củ pháp học từ tổ chủ yếu
nghiên cứu các thành phần phụ của câu trong mỗi quan hệ với các thành phần
chính và cũng đặt trong mối quan hệ tương hỗ với nhau [Dẫn theo 163, tr L5]
JU.X Xtepanop, khi bàn về cấu trúc cú pháp ở bậc câu trong tiếng Nga có
nói đến hai loại u: kết cấu hướng tâm (từ tổ có thành phần chủ yếu,
cầu li tầm (từ tổ không có thành phần chủ yêu) Kết cấu hướng tâm là loại từ tổ
được mở rộng thành phần chính, klú vận động theo hướng ngược lại thi kết cầu
được rút gọn cho đến tận thành phần chính Mô hình: AtN -> N (rong dé, A:
tính từ - định ngữ, N: danh từ |178, tr 436]
Trang 15Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Đức, Anh thco quan điểm ngữ pháp quan hệ,
ngữ pháp chức năng về sau này chủ yếu quan tâm dến thành phần chính (đặc
biệt là vị ngữ), họ không hoặc ít quan tâm đến các thành phần phu, thậm chí không nói đến định ngữ Tổng hợp các tải liêu [66], [54] có liên quan đến nội
dung đề tài, chúng tôi thấy giai đoạn sau này, khoảng những năm 80 của thé ky
XX, khi xu hướng nghiên cứu ngữ pháp chủ trọng đến ngữ nghĩa vả chức năng,
phát triển, bàn về thành phần câu, người ta có đề cập đến thánh phần định ngữ
M Halliday cho rằng trong cấu trúc kinh nghiệm của danh ngữ tiếng Anh có
một sễ yếu tố, trong đó phai ké dén tink ngit (epithet) va phdn loại rổ
(classifier) Trong d6, Linh ngữ là “ chỉ ra một phẩm chất nào đó cua LiỂu tập
hợp, như, old (già/ cũ), long (đãi lâu), blue (xanh da trời), fast (nhanh)”, phân
loại tổ lại “chỉ ra tiểu lớp của sự vật | |, xí đụ, clectric tram (tàu điển),
passenger train (tau khách), wooden train (tàu bằng gỗ)” [59, tr 315, 316]
Trong khi phân loại chức năng các thành tố phụ trong danh ngữ, M
Halliday không xét đanh ngữ trong hoạt động hành chức cũng như trong mỗi
quan hệ với ngữ cảnh (cä đối ngôn vả hiện thực bên ngoài ngôn ngữ) Mặc đà không trực tiếp nói ra, nhưng ông đã xem xét chức năng của các thành tổ phụ
trong tiếng Anh (trong đó có các thành phần định ngữ) trên bình diện ngữ nghĩa
Ngoài chức năng tính ngữ và phân loại tố, chúng ta có thể thấy còn các chức
năng như hậu chí trõ Đây là một trong những gợi ý để chúng tôi, khi xern xét
chức nang cia DN nói chung và ĐT nói riêng và phân loại chúng trên bình
diện ngữ nghĩa ở mục nói về chức năng định ngữ tiếng Việt
'Irong một công trinh khdc, Beatrice Warren [205] cũng có mục nói về
các thành phần phụ thuộc của câu, trong đó có định ngữ Theo tác giả, ngoài
chức năng miều tả, phân loại, định ngữ côn có chức năng dinh dang Khi xem
xét chức năng này, tác giả đặt định ngữ trong tình huống sử đụng cụ thế của nó
(tức là trong hoạt động giao tiếp cụ thể) Bả viết: “Chúng ta hãy giá sử rằng,
i 4 5 At cuẩn cá Ân có trên một cnế người A muôn người B đưa cho anh ta một cuôn sách Nêu có trên một cuỗn
sách ở gần, A phải nhận dạng cuốn sách nào anh ta dòi hỏi Một cách tự nhiên
lâm điều này là bể nghĩa cho đanh từ bằng một tính từ chỉ ra đặc điểm có thể
Trang 16
y nhất đối với sự biểu đạt có ý định trong
ứng dựng được - hoặc ít nhất là để
những sự biểu dạt có thể của sách trong những tỉnh huồng cụ thể Ví dụ: - Hãy
đưa cho tôi cuốn sách màu đồ!" [205, tr 98] Rõ rang, chirc ning miéu ti va phân loại của ĐN trong những ngữ cảnh nhất định thường được dùng để “giúp
cho việc nhận dạng” sự vật được nói đến trong ngữ cảnh Điều này giúp chủng
ta nhận ra vai trỏ cần thiết và quan trọng trong việc phan loai DN
1.1.2 Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam
Khoảng dầu thế kỷ XX một số tác giả (như: Trần Trọng Kim, Hỏi Kỷ, Lễ
Văn Lý) tiếp thu lí thuyết của ngân ngữ châu Âu vào nghiên cứu tiếng Việt
Riêng ở lĩnh vực ngữ pháp, giai doan dầu (những năm 40 thé ky XX), cde nha
nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu vận dụng lí thuyết các trường phái ngôn
ngữ phương Tây vốn phủ hợp với các ngôn ngữ biến hình dễ phân loại từ và câu
tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập Giai đoạn tiếp theø (những
năm 70), ngữ pháp tiếng Việt đã có những thay đổi theo hướng nghiên cứu câu
tiếng Việt trên nền tảng của các lí thuyết mới của phương Tây, bám sát vào cầu
âu trúc ngữ nghĩa Từ những nắm 90 của thê kĩ XX, các nhà
trúc củ pháp và
Việt ngữ học tiếp cận ngữ pháp từ bình điện chức năng, quan tâm đến ngữ nghĩa
ngữ dụng của câu trong hoạt động giao tiếp Khi đề cập đến cầu trúc câu, một
trong những vấn để trọng tâm mà các tác giá bản tới là các thành phần câu, trong
đó nhiều tác giả để cập đến thành phần ĐN Các nhà nghiên cứu đễ dàng xác
dịnh ĐN có cương vị ngữ pháp khá đặc thủ so với các thành phần khác (như chú
ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ) trong câu nhưng đặc điểm và vai trò của nó thì lại có
nhiều hướng nhìn nhận, phần tích đánh giá
1.1.2.1 Dịnh ngữ trong mỗi quan hệ với câu
Hiện nay có hai loại ý kiến phân tích về ĐN tiếng Việt Loại ÿ kiến thử
nhất xem ĐN thuộc thành phần của câu, nhưng quan niệm ĐN thuộc thành phần
câu cũng khác nhau và có phân biệt về thứ bậc, tôn tỉ Phan Khôi (1955) xác
định câu tiếng Việt gồm 6 thành phần, xếp vào ba nhóm: thành phần chủ yếu
ö túc ngữ) và thành phần
(chủ ngữ và vị ngữ), thành phần liên dới (lân ngữ,
phụ gia (hình dung phụ gia ngũ và phó từ phụ gia ngữ)
Trang 1710
Các tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992) xem
định ngữ là “một loại thành phần phụ có thể dứng trước nông cốt câu hoặc chen
vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về
tình thát hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” [163, tr 304] Ví dụ: -
Đội nhiên, Tô nẫy ra Ý định muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bấy giờ ra
sao (Nam Cao), - BỖng dùng một cái, tôi nghe tin anh chết (Nam Cao); - Vậy thì
hắn đích thực là một con người hay lật lọng (Nam Cao) Các định ngữ, theo
quan niệm của hai tác giả, có thể để dàng thay dỗi vị trí mà không làm thay dỗi
hay mất đi ý nghĩa của toàn bộ câu văn Trong công trinh viết chưng 7hành
phân câu tiếng Liệt (1999), hại tác giá phân chia thành phần câu Liệng Việt làm
hai loại: Loại thành phần chủ yếu của câu gềm: vị ngữ, chủ ngữ và bễ ngữ; loại
thành phần thứ yếu của cầu pm: khởi ngữ, tỉnh thái ngữ, dịnh ngữ câu và trạng,
ngữ Như vậy, định ngữ là thành phần có hai vị trí: đứng trước nòng cốt câu
hoặc chơn giữa chủ ngữ và vị ngữ, bễ sung ý nghĩa về mặt tỉnh thải (khách quan
hay chủ quan) cho câu [163, tr 328, 330]
Loại ý kiến thứ hai xem ĐMN không có cương vị là thánh phan câu má là
thành phần phụ thuộc của từ (từ tố, cụm từ) Nhiễu ý kiến của các nhà Việt ngữ
học theo hướng nay Iloang Tuệ (1962) xem ngoài các thành viên chính của câu
là chủ ngữ vả vị ngữ thì có thành viên thứ yêu bố ngữ, cỏn địmh ngữ (bễ sưng ý
nghĩa cho danh tử) là loại thành viên không nằm củng hàng với chú ngữ, vị ngữ
và hỗ ngữ [174, tr 346] Nguyễn Kim Thân (1964) xác dịnh các thành phần câu
gồm: thành phần chính của câu (chủ ngữ, vị ngữ), thành phân thứ yếu của câu
(trang ngữ, khởi ngữ), còn bổ ngữ và định ngữ là thành phần thứ yếu của từ tổ
“Thành phần thứ yếu của câu thì phụ thuộc vào cả câu, còn thành phần thử yếu
của từ tổ thị “phụ thuộc hắn váo một từ nhất định” |145, tr 207| Các tác giả L8
Taustrov, Nguyễn Tải Cần, N.V Stankevich (1975) xem các thành phần phụ khi
ở trong doân ngữ (cụm từ, từ tổ) là “thành phần phụ thuộc”, diễn hình là định
ngữ [l6, tr 134] Cao Xuân I1ạo (1999), khi xác định câu trúc của câu tiếng Việt
âu tric eo ban
thea quan điểm ngữ pháp chức năng đã chia thco thứ bậc: Đậc
của câu, gồm phần chỉnh (đề - thuyết) và phần phụ (trang ngữ) và các thành
Trang 18phan khac ngoai cau tric co băn của câu gồm: khởi ngữ, hỗ ngữ, thành phần chuyển tiếp và thành phần chủ thích Định ngữ và bễ ngữ không phải là thành
phần cầu mà thuộc cầu trúc của ngữ “Ngữ làm các thành phần chức năng trong câu có cấu trúc gồm một từ trung tâm va các định ngữ (ngữ danh từ), các bỗ ngữ
(ngữ vị từ) của nó” [68, tr 70, 71] Trong cấu trúc ngữ danh từ kiểu như cới áo cuối cùng, cải áo đẹp nhất thì cuối cùng, đẹp nhất là định ngữ | 66, tr 33]
Tom lại, các nhà ngồn ngữ học nước ngoài hay trong giới Việt ngữ học
khi bản dến cấu tạo ngữ pháp của câu tiếng, Việt dều để cập dén thành phần câu,
miêu tã các thành phần cầu Về ĐN, các tài liệu của các nhà ngôn ngữ học nước
cập
đến đối tượng này hoặc viết rất sơ lược khi xem xét DN trong mối quan hệ với
ngoài nghiên cứu về tiếng Việt hay cáo nhà Việt ngữ học thậm chí không
câu Từ đó, có thể phân thành hai loại ÿ kiến: hoặc là xếp ĐN vảo thành phần
thứ yếu của câu hoặc không xem nó là thành phần của câu mà thuộc tố chức của
cụm từ (hay từ tổ, đoãn ngữ)
Trong luận án, chúng tôi theo quan niệm coi DN là thành phần phụ
trong cum đanh từ (còn gọi là danh ngữ - DN), có chức năng và ý nghĩa phụ
thuộc, liên quan trực tiếp đến danh từ trung tâm
1.1.2.2 Dịnh ngữ trong mỗi quan hệ với cum danh tir
Khi xem xét cụm từ, các nhả nghiên cứu ngữ pháp đã bản thảo phân tích,
miêu tả cáo thành tế trong cựm danh từ Sau đây, chúng tôi Lóm lược một sễ ÿ
kiến xác dịnh cương vị, vai trỏ của ĐĐN trong cụm từ tiếng, Việt
a VỊ trí của định ngĩ trong cụm Ảanh từ
Khi bàn đến ĐN, việc đầu tiên, người ta xác định vị trí của nó trong cầu
tạo của cụm danh từ Từ cách xác định trung tâm, các nhà nghiên cứu phân tích,
chỉ ra các phần phụ trước vá phần phụ sau trung tâm (gọi là định tế, định ngữ,
bể tế, ) Trong mô hinh ngữ danh từ của MB EZmeneau (1951), ông gọi thánh
phần đứng sau danh từ trung tâm là định ngữ (attrihute) Trong tiếng Anh,
attribure được hiểu là đặc tính, thuộc tính của một vật, một người nảo đó Như
vậy, dinh ngữ long quan điểm của MĐ Emencau chỉnh là thành phần bé sung
thêm những thuộc tính nào đó của đanh từ đứng trước nó trong ngĩ danh tù
Trang 19Nguyễn Tài Cẩn (1975) nêu các định tố đầu (rước phần trung lâm) và định tố cuối (sau phần trung tâm) Ông nhận xét trong tiếng, Việt không có "loại dinh tố
nảo có trật tự tự đo, khi thì ở trước, khi thi sau” [20, tr 203] Dai Xuan Ninh
(1978) xem xét các cụm từ trong tiếng Việt, ngoài phần danh từ làm chính tố, đã
gọi các thành phân đứng trước hoặc sau chính tổ là oác bổ tô Cũng trong công
trinh của mình, tác giả Đái Xuân Ninh phân tích cấu tạo, xác định sự phần bố
của các bố tô trong cụm danh từ [126, tr 235] Tuy nhiên, cách gọi “bố tố” trong
cụm danh từ có thể làm cho người dọc nhằm lẫn giữa thành phần phụ của cụm
danh từ với cụm động từ và cụm tỉnh từ trong tiếng Việt Ilơn nữa, việc phân
ca các cầu true
loại bỗ Lỗ của tác giả cũng chưa triệt để và có thể
lâm thành phần phụ trong “cụm danh từ” Các tác giả trong cuốn Mgữ pháp tiếng
Việt (1983), bản dén vai trò của danh ngữ: “đanh từ không trực tiếp lảm yếu tố
cấu tạo của câu, mà chỉ đanh ngữ có tính xác định mới đóng vai trò đó” [H7ó, tr
103] Các yếu tổ thuộc khu vực sau danh từ trung tâm là phụ tổ; đồng thời, chia
phụ tế thành hai loại: phụ tổ hạn định sự vật bằng đặc điểm của nó (81) và phụ
16 chi định vị trí của sự vật trong không gian, thời gian (S2) |176, tr 113
Nguyễn Thiện Giáp (1997) đưa ra khái niệm cú đoạn “bao gầm hơn một từ và không có cầu trúc chủ vị tiêu biểu cho cú [ ] Có những kiểu cú đoạn như: củ
đoạn danh từ, cú đoạn động tử, cú đoạn tính từ và cú đoạn giới từ” [52, tr 205]
Tuy nhiên, trong công trình nảy, éng không đưa ra mô hình cụ thể của oáo củ doạn trong tiếng Việt mà chỉ đừng lại ở việc pọi tên cho nó
b Lễ vai trà của định ngữ trong cụm danh từ
Đây là nội dung các nhà nghiên cứu bản luận và phân tích khá chỉ tiết, xác
định Nhiều nha Việt ngữ học thống nhấi quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cần
(1975) coi ĐN là “thánh phần phụ bổ sung ý nghĩa cho DTTT trong cụm DT”
[20, tr 237] Các tác giả Nguyễn Văn Tu, Diệp Quang Ban (1984) coi ĐN là
“thành phần phụ” [6, tr 215], “trung tâm hạn dịnh” [48, tr 91] có "quan hệ phụ
thuộc” với thành phần chính [đẫn theo 179, tr 89] Iloàng Trọng Phiên (1980) coi
DN “là thành phần phụ thuộc trong tổ chức câu” vả “quan hệ của BN là một Irong
những quan hệ bên trong khu biệt với các quan hệ bên ngoài” là “quan hệ thuyết
Trang 20định và được thuyết định” [132, tr 141] Tản đồng ý kiến của Nguyễn Tài Cần, Diệp Quang, Ban (1992) con bé sung thêm quan diém coi ĐN là “phần phụ sau chủ yếu
dùng chỉ mặt chất lượng của sự vật nêu ở trung tâm” [8, tr 24] Như vậy, các nhà
nghiên cứu Việt ngữ, khi quan tâm đến thành phần ĐM đứng sau IZLLT đã chú ý đến
chức năng làm “thành phần phụ” bễ sung ý nghia cho DTTT trong cum DT Tac gid
Nguyễn Kim Thin |144| cho rằng ở phần cuối cụm TT (vị trí T2 - TTMH), còn cớ
các ĐMN ở ba vị trí: vị trí !3, !4 là “định tố” sở thuộc và “định tổ” đại từ, còn lại là các ĐN ở vị trí —2 Đó là các ĐỜN: +2a “có tác dụng phân biệt chẳng loại của danh từ
được hạn định”, I2b “chỉ tiết hóa đặc điểm của sự vật", | 2c “cd tac dung chủ yếu là
miêu tả sự vậi” Sự phân loại trên cho thấy, trên bình điện ngữ nghĩa, cách xác định
các chức năng của DN là n định và nhất quản
Nhóm tác giá Đùi Tất Tươm Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm
(1997) xác định DM chỉ loại dựa vào nghĩa của DN trong cụm LYT độc lập nhưng
khi xác định định ngữ chí đặc trưng và định ngữ trang trí lại dựa vào việc xét
cum DT trong méi quan hệ với ngữ cảnh, mục đích sử dụng cụ thể của người nói
(dễ xác định sở chỉ và dễ “làm dẹp cho trung idm) (175, tr 199, 202]
Có thé thay, du hét cdc tac gia di phan ra duoc mot sé loai DN 6 nhiing điểm khác biệt nhau rõ rệt về mặt chức năng nhưng các Liêu chí phân loại và
nhận điên chưa nhất quán, ranh giới phân loại của các DN chưa rõ ràng Nhóm
táo giả Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoang Xuan Tim |175| cho DN chi dặc trưng có tác dụng “hạn dịnh cho danh tử trung tâm”, nhưng diều đó không,
làm cho loại ĐN đó khác với định ngữ chỉ loại, vì dinh ngit chi loại (như nên
hương trong ba kí nếp hương) không phải không có tác dụng hạn định Tương,
tự, khi tác giả Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha [39, tr 25] đưa ra khái niệm dinh ngữ tiểu cú không hẳn là xét ĐN trên bình điện chức năng (như dịnh ngữ
hạn định, định ngữ trang trí ) mà chính 14 xét trên bình diện cấu trúc
'Irong luận án tiến sĩ Định tổ tính từ trong tiếng Liệt (in thành sách [125]), Nguyễn Thi Nhung đề cập đến loại định tố (định ngữ) đo tính từ đầm nhiệm trong
danh ngữ Tác giá dã miễu tả khá chỉ tiết vỀ cấu tạo và ngữ nghĩa của định tổ tính
từ tiếng Việt Về ngữ nghĩa, tác giả chia thành hai loại: định tổ có chức năng hạn
Trang 2114
định và chức năng miễu tã Tác giả cũng nói đến bình diện ngữ dựng của định tố tính từ (biểu đạt thông tin, biểu thị hàm ý, trang trí ) Tuy công trình này chỉ giới
han tìm biểu loại định tế tính từ, và một vài điểm còn chưa minh định (chức năng
trang trí lại đưa vào ngữ dụng) nhưng có thể xem đây lả một hướng nghiên cứu
sát nhật về định ngữ, là tư liệu bễ ích chứng tôi tham khảo khi thực hiện để tải
Tóm lại, thành tổ phụ sau của cụm IDT (vị trí 1 trong sơ dé cum DT cita
Nguyễn Tài Cần) phong phú về số lượng, đa đạng về kiểu cấu tạo và ngữ nghĩa
nên việc phân loại chúng không hề đơn giản Để có thể có được sự nhất quán
trong cách phân laại, trong các phần tiếp theo của luận án, chúng tôi sẽ lần lượt
phân loại ĐWN trên các bình diện cấu trúc và chức năng, Lừ đó, làm cơ sỡ cho
việc tìm hiểu cầu trúc và chức năng của DNNT trong các tác phẩm văn học
1.1.3 Tình hình nghiên cứu định ngũ nghệ thuật trong tỗng Việt
a Từ góc độ thì pháp hạc, văn học
Hiện nay, công trình nghiên cửu của các nhà lí luận, phô bình văn học để
cập đến DNNT chưa nhiều, khái niệm hay tên gọi DNNT chỉ được nêu ở từ điển
hay một vai phân tích tác phẩm văn học liên quan đến ngôn từ tác phẩm hay
phong cách ngôn ngữ tác giả nào đó
Khái niệm ĐNNT được nhắc đến trong công trình nghiên cứu của tác giả
"Trần Dinh Sử (1998) khi ông trích dẫn nhận định của A.N Veclovsk: “Lịch sử
của định ngữ nghệ thuật là lịch sử của phong cách thi ca dưới đạng rút gọn” |dẫn
theo 138, tr 171] Trong cuỗn 7z diễn thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Tl4n, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2004) nhận xét, định ngữ nghệ
thuật là kết quả sụ phát hiện của nhà văn “Tuy nhiên, cũng có những định ngữ
nghệ thuật thông đụng (như: cả chậu chim lằng, màn trời chiếu đất) [S0, tr 120]
Mat sé bai viết phân tích ngôn từ trong tác phẩm, cỏ thể người ta không
gọi tên chính đanh định ngữ nghệ thuật, nhưng qua phân tích, có thể thấy rõ vai
trỏ của nó trong việc "tu sức” cho cầu văn Chẳng han, Trần Đỉnh Sử (2002), khi
nói về Thi pháp truyện Kiểu, đã đề cập đến các biện pháp từ chương học thịnh
hành, các phương thức tu tử thống nhất trang chức năng biểu hiện nội dung thé
hiện tải năng Nguyễn Du như là một nghệ sĩ ngôn tù Tác giả đã phân tích đặc
Trang 22điểm ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiểu qua việc miều tả, chỉ tiết hoá hàng loại dẫn chứng trên cơ sở mô hình danh từ và các yếu tố phụ di kèm Chẳng hạn, khi
nói đến màu sắc trong 7ruyện Kiểu, Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Du nỗi bật
khuynh hướng dùng màu sắc để tạo thành các hình tương có nội dung khái quát rộng lớn, giàu giá trị thẩm mĩ (Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dim kia/ Bạc phau cầu
bá, đen rằm ngắn mây) |139, tr 254, 257] Ông nêu dic diém ngôn từ ý tượng,
(hình ảnh nảy sinh trong tâm tưởng, không phải hình ảnh sao chép thực tại, có
cầu tạo riêng, hoà quyên khách quan với chủ quan) là một phương diện cơ bản
của ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiểu Nói tới giọt nước mắt thì nói gio? ngọa,
giọt châu, giọt tương, nói tới giấc ngũ thì là giấc xuân, giấc mai, giắc hoẻ; nói
tới chén rượu là cñé? xuân, chén quỳnh; nói tới bóng trăng là bóng nga, bong
nguyệt [139, tr 310] Tác giá nhận xứt rằng, Nguyễn Du đã phát hiện được các
quy luật ẫn kín của tiếng Việt để giải cầu trúc ngôn từ thực dụng và tái cầu trúc
những biểu đạt mới, “đập vỡ” cấu trúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn
ngữ nghệ thuật [139, tr.308, 312]
b Từ góc độ ngôn ngữ học
Khi bàn đến vai trò của JĐNNT, tác giả Nguyễn Cao Đảm (2005) nhân mạnh chức năng thấm mỹ của nó: “Định ngữ nói chung có khi Lần tại như một
yêu tổ bắt buộc, làm tăng sắc thái ý nghĩa, tạo hình nghệ thuật, gợi ý bóng bẩy,
én cho câu văn Có loại tuy về nguyên tắc có thể lược bỏ, nhưng lại
Thi Ly Kha Tuy nhiên, các tác giã lại chưa có sự thống nhất trong cách xác
định vị trí đâm nhiệm chức năng này trong danh ngữ Chức năng thấm mỹ của
+ĐNNT thể hiện bằng việc tạo hình nghệ thuật, mang lại những hiệu quả nghệ
thuật và góp phần †ạo nên nhạc điệu cho câu văn
Trước hết, các ĐNNT góp phần (ạo hình nghệ thuật cho câu vẫn, tạo nên
những “khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo những tác
Trang 2316
phẩm nghệ thuật” Chúng còn tạo ra “giá trị rực quan độc lập | | lám cho
người ta có thể ngắm nghía và thưởng ngoạn” [60, tr 99] Hơn thể, “qua chất
liệu của mình, nó biểu hiện những cảm nghĩ nhất định của con người, thể hiện
cách nhận thức và đánh giá của con người đối với cuộc sống” [17, tr 35], đó
chính là nghệ thuật biểu hiện, một trong những vẫn đề mà văn chương nói chung
và ĐNNT nói riêng hướng tới
Tỉnh nghệ thuật trong ngôn ngữ văn chương được “thể hiện ở cấu tứ độc
đáo, miều tâ sinh dộng, kết cấu tài tình, ngôn ngữ gợi cảm, gây Ấn tượng dic
biệt, tạo thành sức thuyết phục và lôi cuốn của tác phẩm” [60, tr 238] Tính
nghệ thuật cho phóp người viết tạo ra những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo và
người đọc cấm nhận đối tượng được nói đến theo cách riêng, tùy thuộc vào trí
tưởng tượng và khả năng cảm nhận của mình ĐNNT dược cấu lạo từ các từ,
cụm từ (có thể là cụm chủ vị) nên khả năng tao hinh của nó còn thế hiện ở việc
tạo nên nhạc điệu (nhạc tính), những bình ảnh được miều tã trong câu góp phần
†ạo nên sự gợi cảm của ngôn ngũ, sự sinh động trong việc miều tả hình tượng
trong tác phẩm nghệ huật
Khi phân tích phang cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, nhiều người
đã nêu rõ vai trò của ĐNNT tong bài văn, câu văn Đình Trọng Lạc đã chỉ ra
các hình thức tu từ, trong đó có việc đúng các định ngữ nghệ thuật Irong từng
dẫn chứng để thấy được vé đẹp oủa ngôn ngữ văn học Trong đoạn văn “ẩm
thanh thành phổ
thể, sống động: tiếng thing nước va vào nhau loảng xoảng, tiếng ve kêu rên r1
, dng viết: “Mỗi thử tiếng đều kẻm theo một dinh ngữ rất cụ
tiếng cỏi tàu £hé? lân Chính những định ngữ giàu tính hình tượng này đã làm
cho đoạn văn miêu tả sinh động Những từ phụ bạn định nảy đều có một nét nghĩa chung, dưa đến cách hiểu là các âm thanh này đều mạnh, sắc, chỏi tai, khó
chịu Mỗi âm thanh được diễn tả bằng một danh từ với định ngữ của nó, đều
được tách riêng ra thành một sâu riêng biệt” Khi phân tích câu văn trong tác
phẩm Tranh làng Hồ: “Ip đã đera vào cuộc sống một cách nhìn thuần phác,
cảng ngắm cảng thấy dam dà, lánh mạnh, hóm hỉnh và tươi vui”, ông chỉ ra năm
tính từ lắm định ngữ (cho “cách nhin”) có tính nghệ thuật (vì vậy gọi là định ngữ
Trang 24nghệ thuật được liệt kê tiếp nối nhau (tuẩn phác, đậm đà, lành mạnh, hỏm hình, tươi vui) có tác dụng tăng cường ấn tượng về những phẩm chất của lối cảm
thụ chất phác, mộc mạc, dí đốm, lạc quan, yêu đời của những người vẽ tranh đân
gian” [88, tr 23, 71]
Đỗ Việt Ilùng, Nguyễn Thị Ngân IIoa (2004) cũng nói đến vai trỏ của ĐNNT trong việc cụ thể hoá nghĩa biểu vật của từ, lảm cho cầu văn có tính hình
tượng, hình ảnh Cách để có định ngữ nghệ thuật là: dùng các từ ngữ miều tả đi
kém để tạo cụm từ Ví dụ: “Người trẻ tuổi đưa mất nhìn Bính từ dầu tới chân
cặp mắt lờ đò nhưng long lanh, cặp mày không tỉa, chiếc khăn vuông mạng mây
miếng nhớ” (Nguyên Hồng) Các dịnh ngữ miêu tä trong các cụm tử trên có táo
dụng cụ thể hoá sự vật, hiện tượng, nều rõ các đặc điểm, tính chất của sự vật,
hiện tượng Các tác giá nhận xét: các từ ngữ miễu tã di kèm các danh từ (thường,
được gọi là các định ngữ) và các từ ngữ đi kèm động tử và tính từ (thường được
gọt lả các bể ngữ) không chỉ giúp cho sự chiều vật được thực hiện rõ ràng mà cũn
có giá trị là tăng tính cụ thế, tình hình tượng cho câu văn, đông thời thể hiện cách
quan sat, cách nhận thức hiện thực của lác giả văn học 80, tr 213 Một số bài
viết khác khi tìm hiểu về ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ văn chương cũng đã chủ ý
đến ĐNNT Đặng Luu [102], Nguyễn Thị Mai [106] đã phân tích ĐNNT ở lĩnh
vục thơ ca cũng như văn xuôi hiện đại Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ
dừng lại ở một táo giã văn học (Nguyễn Tuân) hay một đạng tử loại (tính tử) rà
chưa chú trọng dén tinh da dang về cấu trúc và chức năng của các ĐNNT' ở các
nhà văn Như vậy, các công trình nghiên cứu chủ yếu là những nghiên cứu riêng
lẻ về ngôn ngữ tác giả, mà ở đó, ĐNNTT được coi là một trong những yếu tố làm nên đầu ân phong cách của các nhà văn, nhà thơ
Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu ở trên, chúng tôi nhận thấy cần tiếp tục
có những nghiên cứu đầy đủ hơn về ĐNNT đối với quá trình sảng tác cũng như
tiếp nhận các tác phẩm văn chương, Vì vậy, trong luận án nảy, chúng tôi sẽ xem
xét ĐNNT một cách hệ thống cả về cấu trúc lẫn chức năng (rên cả bình điện
ngữ nghĩa và binh diện phong cách) Các kết quả nghiên cứu sẽ gủn phần khẳng
định DNNT là loại định ngữ không chỉ lâm rõ hơn về ý nghĩa cho danh th ma
Trang 2518
củn có vai trỏ tác động, ãnh hưởng đến cá hệ thống ma no hiện hữu trong các tác phẩm văn học và thể hiện giá trị thẩm mi cla tác phẩm
1.2 Cơ sử lí thuyết của đề tài
Luan án chúng tôi nghiên cứu để tải ĐNNT dưa vào cơ sở lí thuyết của
ngành Ngôn ngữ học, trong đó hưởng tiếp cân cụ thể là từ góc độ Ngữ pháp học
và Phong cách học để làm rõ các đặc điểm và vai trò của ĐNNT tiếng Việt (qua
khảo sắt một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam)
1.2.1 Câu và cụm từ Hễng Việt
1.3.1.1 Cầu trong fiéng Việt
Tí thuyết về cầu rẮt phong phi da dang, nhiều phương điện rất rộng, ở
đây, trong phạm vi của đề tải, chúng tôi chỉ chọn lựa những cơ sở lí thuyết về
cầu có quan tâm đến khái niệm và vai trỏ của định ngữ hay có liên quan đến định ngữ
a Uễ khái niệm câu
Câu là gì? Dến nay đã có hàng trăm định nghĩa về câu nói chung, về câu
trong tiếng Việt nói riêng Tựu trung có thể nêu tôm tắt cách xác định khải mệm
câu tiếng Việt theo mấy xu hướng sau đây
- Về phương diện giao tiếp, câu là đơn vị nhỏ nhất thực hiện chức năng,
giao tiếp; các đơn vị nhỏ hơn (như: tử, cụm từ, hình vị) không có chức năng này,
đơn vị lớn hơn (như văn bán) là đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh được hợp thành bởi
các câu Nhiều định nghĩa đã khẳng dịnh diều này: “Câu là ngôn bản (văn bản)
nhề nhất” [65, tr 12]; lay: “Câu là lời nói diễn đạt một ý tương đối trạn vẹn”
[#8, tr 49], “1 don vi co ban của lời nói, câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhật, là
ngôn bắn nhỏ nhất" [57, tr 83]
- VỀ phương diện cầu tạo và nội dung: lả một hướng quan trọng để xác
định khái niệm câu Nhiều chuyên gia khi định nghĩa câu đã nhân mạnh các đặc
diễm này Hoảng Trọng Phiến xác dịnh: “Câu là dơn vị của lời nói có tổ chức
riêng và mang thông tin nhất định ” [133, tr 180] Diệp Quang Dan nêu khái
niệm câu ở hai phương điện: “1 Về mặt cấu lạo: Câu lá dơn vị cú pháp rộng lớn
nhất về mặt cầu trúc trong tễ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được coi là cùng
Trang 26với từ làm thành hai đơn vị cơ bắn trong việc miêu lá ngữ pháp: 2 Về mặt chức
năng: Câu là đơn vị lớn nhất về cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn
ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị
tổ (vị từ) và được dùng để diễn đạt một sự thế” [13, tr 83, 84]
Cao Xuan Tao nhân mạnh cầu tao câu: “Câu là đơn vị được cầu tao bang
những thánh tổ ngữ phản Nếu không hiểu cương vị vả cấu trúc của câu, không,
thể nảo hiểu được những đơn vị ngôn từ lớn hơn, mà cũng không thể biểu được bất
cứ diều gì về những đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó” [70, tr 12] Tác giả phân tích rõ
hơn về các thành tố trong cấu Tạo câu: Câu không được cầu tạo bằng những đơn vị
ngôn ngữ (từ, hình vị, âm vi) ma bằng những dơn vị chức năng gọi là ngữ doạn
Ngữ đoạn là đơn vị có chức năng cú pháp trong câu: là chủ ngữ, vị ngữ của câu, là
bổ ngữ cho ngữ doan nào, định ngữ cho ngữ đoạn nảo |0, tr 17- 18]
- Về hướng nhìn nhận câu là một đơn vị có tính tổng hợp, nhiều nhà Việt ngữ học đã dựa theo định nghĩa của Viện sĩ V.V Vinogradov: “Câu đỏ là đơn vị
lời nói hoàn chỉnh, được hình thành về mặt ngữ pháp theo qui tắc một ngôn ngữ
ad
nhất dịnh làm phương tiện quan trọng cấu Lạo, biểu thị và truyễn đạt tư
tưởng Câu không chí biểu thị sự truyền đạt về hiện thực mà côn cả mỗi quan hệ
của người nói với hiện thực” [21, tr 115], “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn,
đửng ngữ mà cấu tao nên trong quá trình tư duy, thông báo, nó có nghĩa hoàn
chính, có cấu Lạo ngữ pháp và có tính độc lập” |176, tr 167|
Nhiều ý kiến và cách diễn đạt khác nhau, nhưng có thể hiểu diễm chưng,
nhất về câu, đó là đơn vị giao tiếp có tính thông báo, có cầu tạo ngữ pháp và ngữ
nghĩa nhất định
b, Các loại câu và thành phân câu
- Về phân loại câu, các nhả ngữ pháp thưởng căn cứ vào nông cốt chủ ngữ
- vị ngữ để phân chia thành các loại gồm: câu bình thường và câu đặc biệt, câu
đơn, câu phép và câu phức Căn cứ vào các thành phần trong câu, có tắc giá chia
thành: câu không mở rộng và câu mở rộng “Câu đơn, trong đó chỉ có hai thành
phần chính (chủ ngữ vả vị ngữ), mỗi thành phần được cầu lao chi bing lit Cau
don hai thành phần mở rộng là câu đơn trong đó ngoài hai thành phần chính còn
Trang 27đơn có thành phân phụ của câu đi kẻm nòng cốt câu [12, tr 166]
- VỀ thành phần của câu, như dã trinh bảy ở trên (mục 1.1.2.1 Định ngữ
trong mỗi quan hệ với cân), các nhà Việt ngữ học khi đề cập đến câu tạo ngữ
pháp của câu đều nói dến các thành phần câu Tuy hiện còn có nhiều ý kiến khác
nhau về việc phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa nhưng nhiều nhà nghiên cửu
(Hoang Trọng Phién [132], Diệp Quang Ban |12|, 1ê Xuân Thai [142] và nhiều
tác giá khác) đều cho rằng: câu tiếng Việt gồm có các thành phần: chủ ngữ và vị
ngữ là hai thành phần nông cốt của câu Các thành phần phụ của câu, nằm ngoài
nông cốt câu, gồm: thành phần than gọi, thành phân chuyển tiếp, thành phân chú
thích, thành phần tỉnh huống, thành phần khỡi ý [176, tr 189] Diệp Quang Đan
và một số nhà ngữ pháp, tuy gọi bằng tên gọi khác, nhưng nội dung lại tương
đồng, cho phần phụ mổ rộng cầu êm: trạng ngữ, Š ngữ, phụ ngữ, giải ngữ, liên
ngữ [8, tr 168] [6E, tr 65] Ngoài việc mở rộng bằng các thành phần phụ như
trên, câu đơn mở rộng còn có kiểu mở rộng bằng thành phần phụ của từ “Thành
phần phụ của tử là từ ngữ phụ thêm vào một từ hay một cụm từ đang giữ một
chức vụ cú pháp náo đó trong cầu (kế cả trung lâm cú pháp chỉnh cũa cầu đơn
đặc biệt” [10, tr 1B0] Có thể thấy, ngoài nông cết câu (chủ ngữ, vị ngữ), câu
còn có thành phần phụ và thành phần biệt lập
e VỀ ngữ nghĩa của câu
Trong ngữ pháp học hiện nay, việc nghiên cứu câu được quan lâm ở cả ba bình diện: kết học, nghĩa học vả dụng học Kết học ở bậc câu gọi là củ pháp,
gồm có hai bộ phận: cú pháp câu và cú pháp cụm từ Đây là lĩnh vực được
nghiên cứu từ rất sớm, có nhiều thành tựu với các kết quả xác định trong việc
An tích xà miên tả cễ ay ok Moh 4# bắc câu khê phân tích và miêu tả cầu tạo câu, câu tạo cụm từ Meifa học ở bậc câu không
chỉ nghiên cứu nghĩa của từ riêng lẻ mà nghiên cứu cả nghĩa của câu, của văn
bản “Ngoài nghĩa từ vụng, còn phải nói đến nghĩa ngữ pháp, nghĩa trong sử
Trang 28dụng ngôn ngữ” Phần nghĩa long câu gồm: nghĩa miêu tä (các sự vật, hành
dộng, các vai nghĩa, ), nghĩa tinh thái (tỉnh thái của hành động nói, tỉnh thái của
phát ngân) Dựng bạc nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với ngữ cảnh xã hội, coi trọng ¥ nghĩa của câu xuất hiện trong các ngữ cảnh của
tình huống ” [10, & 86, 87] Lê Quang Thiêm cũng nói về nghĩa: “Nghĩa là
nội dung xác định hình thành nhờ chức năng, song không phải là chức năng,
riêng rễ trong hoạt động mà là loại chức năng thể hiện qua văn cảnh Trong
phạm vị nghĩa từ vựng là các loại hình chức năng từ vựng ngữ nghĩa, trong
phạm vi ngữ pháp, ngữ dụng cũng là khái quát loại chức năng ngữ pháp và
dung hoc” [155, tr 2|
Câu là đơn vị giao tiếp, có tính thông báo, thể hiện một nôi dung nào đó,
có như thế cầu mới có lí do tổn tại là một đơn vị trong hoạt động hành chức của
ngôn ngữ (còn gọi là phát ngôn) Vi vậy, củng với phân tích, miều tá cú pháp thì
đồng thời, như cáo lĩnh vực nghiên cứu trên đã xác định, không thể tách rời việc
phân tích và miều tả ngữ nghĩa của câu và cụm từ
Từ những nội dung trinh bảy về khải niệm câu ở phần trên, có thể tóm tất
mây điểm chính
- Về khái niệm: câu là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất có tính thông bảo, đa từ
cầu tạo nên theo quy tắc ngữ pháp nhất định Câu trong lời nói hay câu trong văn
băn đều có những đâu hiệu hình thức xác định, vừa có Linh độc lập Lương đối
vừa có mỗi quan hệ ngữ nghĩa với ngữ cảnh và văn cảnh mà nó dang tồn tại
- Về các loại câu trong giao tiếp, xét về cấu tạo gồm có: câu đơn, câu
phép; về dung lượng: câu tối giản, câu mở rộng (cầu đải/ cầu ngắn) Có những,
câu bình thường, có những câu đặc biệt (câu bình thường/ câu đặc biệU, nhưng
cũng có những câu đải do mở rộng, khai triển cầu bằng các cụm từ hay các
thành phần khác Đối tượng của luận án chính 1ä những câu có hiện tượng mở
rộng khai triển các thành phần câu, trong đó, trọng tâm là loại mở rộng từ trưng,
tâm của cụm đanh từ trong câu
- Về thành phần câu, thành phần câu được phần loại thành: nóng cốt câu,
các thành phần phụ của câu và thành phần phụ của từ (lập thành tổ chức cụm
Trang 292
từ) Mỗi thành phần cầu giữ một chức vụ củ pháp nhất định, đảm nhiệm một chức năng nhất dịnh trong câu
Muốn tìm hiểu các thành tế, các đơn vị trong tổ chức của câu thì nhất
thiết phải hiểu được cấu tao ngữ pháp của câu, điều này đúng như Cao Xuân
Tao đã xác định: “Nếu khẳng hiểu cương vị và cầu trúc của dâu, không thể nào
êu dược hất cứ
hiểu được những don vị ngôn từ lớn hơn, mả cũng không thé
điều gi về những đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó Câu không được cấu tạo bằng
những đơn vị ngôn ngữ (từ, hình vị, âm vị) mà bằng những đơn vị chức năng gọi
là ngữ đoạn Ngữ đoạn là đơn vị có chức năng củ pháp trong câu: là chủ ngữ, vị
ngữ của câu, là bỗ ngữ cho ngữ đoạn nào, định ngữ cho ngữ đoạn nảo |65, tr 12,
17, 18] Cùng với phân tích, miêu tả cứ pháp thì đồng thời, như các lĩnh vực
nghiên cứu trên day đã xác dịnh, không thể tách rời việc phân tích và miều tả
ngữ nghĩa của cầu và cụm từ
Trở lên là những luận điểm rất cơ bản, quan trọng, làm cơ sở chỉ dẫn,
định hướng cho việc tìm hiểu cầu tạo của thành phần định ngữ sẽ được trình bày
ở các phần tiếp thco trong luận án
1.2.1.2 Cụm từ trong tiếng Việt
a Khái niệm cụm từ
'theo Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, cụm từ côn được gi là
âu củ pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên
“ngữ” - “là một kết
cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phù hợp, chỉ phối hay liên
hợp" Cụm từ bao gồm cựơ ừ chính phụ (có một từ trong cụm đóng vai trò chủ
yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp goi là thành tô chính và các từ phụ thuộc vào
só quan hệ chính phụ với nhau) Cụm từ chính phụ
nó gọi là thành tố phụ, Lức
pm có 3 loại: cụm danh tử (do danh từ làm thành tế trung tâm), cụm động tử
(do động từ làm thành tổ trung tâm) và cụm tỉnh từ (do tính từ làm thành tố
trung tâm) Cụm tir cha vi lA cum mà các thành tổ trong cụm có mối quan hệ chủ
- vị Cựơm rừ đẳng lập gồm các thành tố có quan hệ bình đẳng, ngang hàng với
nhau (179, tr 176] Như vậy, cụm từ theo nghĩa rộng là một tổ hợp tử tư do,
gồm có ba loại quan hệ: chính phụ, chủ vị và đẳng lập
Trang 30Nhưng cũng cĩ quan niệm chỉ coi những tổ hợp cĩ quan hệ chính phụ giữa
các thành tổ mới là cười từ (những tên gọi khác: từ tổ, dộn ngữ, ngữ đoạn, ngữ)
Nguyễn Tài Cần gọi đoản ngữ là “tổ hợp tự do” “một trung tâm nổi liên
với các thành tổ phụ bằng quan hệ chính phụ” [20, tr 147] Tương tự, các nhà nghiên cứu như Định Văn Đức, Hồng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha cũng đồng
tình với quan điểm gọi tổ hợp này 14 dodn nei [39, tr 25] Ngưyễn Thiên Giáp
gọi tê hợp từ này là cú đoạn “bao gồm hơn một tử và khơng cĩ cấu trúc chủ vị
tiêu biểu cho củ ( ) Cĩ những kiểu cú doạn như: củ đoạn danh tử, cú doạn
động tử, cú đoạn tinh từ và cú đoạn giới từ" [52, tr 205]
Các tác giá Đỗ Hữu Châu, Bủi Minh Tốn gọi tổ hợp tự do này là cụm tử
“Loại cụm từ này cĩ kết cầu chặt chế - kết cầu đĩng Nĩ cĩ một thành tố chính
(hạt nhãn, trung tâm) và các thành tổ phụ dửng quây quần xung quanh thành tổ
chính, phụ thuộc vào thành tố chính và bễ sung hoặc hạn định ý nghĩa cho thành
tố chính” (27, tr 32]
6 Pễ cầu tạo của cụm danh từ
Cum tit cé dang diy dủ nhất gồm ba thành tổ: thành tố chính (trung tâm),
thành tố phụ trước, thành tố phụ sau Thành tố chính đĩng vai trị quyết định về
ý nghĩa, cấu tạo và chức năng của tồn bộ cựm từ Do đĩ, người ta gọi tên sụm
tử căn cứ vào thành tố chính Tiếng Việt cĩ ba loại cụm từ cơ bản: cụm đanh từ
(danh ngữ), cụm động từ (động ngữ), cụm tính từ (tỉnh ngữ) Xuống đưới, chúng tơi tổng hợp các ý kiến liên quan đến cụm danh từ
Nguyễn Tài Cần nêu cấu tạo dạng đầy đã của danh ngữ tiếng Việt (cụm
danh từ) bằng sơ đồ 7 vị trí [17, tr 27] như sau
- Vị trí trung lâm của cụm danh tử, Nguyễn Tài Cẩn là người xác định rõ
vị trí (0) chính là vị trí trung tâm trong doan ngữ danh từ do danh từ dâm nhiệm,
nhưng “khơng phải chỉ cĩ một từ trưng tâm (trung tâm đơn) mà là cĩ cả bệ phận
trung tâm ghép gỗm hai trung tầm T1 và 'T2” [20, tr 215] Trung tâm đơn (cáo danh từ như: ngửyu, trí mộ (những ngày này, mỘt trí tệ siêu phàm) hoặc trưng,
Trang 3124
1am ghép (gồm T1 và T2, trong đỏ T1 là trung lâm về mặt ngữ pháp, chỉ đơn vị
tính toán, do lường (như: đøn, cải, chiếc), 12 là trung tâm về mặt ý nghĩa từ
vựng, chỉ sự vật được đem ra tính toán đo lường (cá, bàn, 14) Diép Quang Ban (1992), nhóm tác giả Miai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoảng lrong Phiến
(1997) phát triển quan điểm của Nguyễn Tài Cần và đưa ra mô hình với 6 vị trí,
trong đỏ, vị trí (1) và (0) của Nguyễn Tài Can dược các tác piá pọi là “thánh tố
chính” [32, tr 276] Các tác gid Cao Xuan Tao (1998), Iloảng Dũng, Nguyễn
TThị Ly Kha (2000) lại xem loại tử (ở vị trí TÍ trong sơ đồ Nguyễn Tài CÂn) mới
là trung tâm, còn danh từ đứng sau laại từ (T2 trong sơ đồ Nguyễn Tài Cần) là
các dinh ng& han dịnh “có tác dụng thu hẹp ngoại diễn của danh từ trung tâm
bằng cách thêm vào nghĩa của nó một số định tính riêng tạo thành một tiểu loại
trong cái chúng loại do TYTTT biểu thị” |66, tr 377]
- VỊ hí các thành tô phụ trong cấu tạo của cụm danh từ, từ cách xác định
trung (âm, các nhà nghiên cứu phân lích, chỉ ra cáo phần phụ trước va phần phụ
sau trung tâm (gọi là định tố, định ngữ, bỏ tố ) Nguyễn Tài Cẩn nêu các “định
16 đầu” (rước phần trung tâm) và “định Lỗ cuối” (sau phần trưng tầm) Ông nhận
xét trong tiếng Việt không có “loại định tố nào có trật tự tự do, khi thì ở trước,
khi thì ở sau” [20, tr 203] Diệp Quang Bạn (1992), nhám lắc giả Mai Ngọc
Chir, Vũ Dức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997) gọi vị trí (1) là “thành tố phu
sau danh ngữ” |32, tr 2790| và xác định “về cấu tạo, có thể là một từ hoặc môt tổ
hợp tử ( ) có thể gặp ngữ cố dịnh” [32, tr 2#0] Đái Xuân Ninh (1978) xem
cụm từ trong tiếng Việt, ngoài phần danh từ làm chính tố, tác giả gọi các thành
phần đứng trước hoặc sau chính tế là các bỗ tố Tuy nhiên, các gọi “bố tố” trong, cụm danh từ có thể làm cho người đọc nhầm lẫn giữa thành phần phụ của oụm
danh từ với cụm động từ vả cụm tính tử trong tiếng Việt Hơn nữa, việc phân
loại bễ tố của tác giả cũng chưa triệt để và có thể tiếp cận đến tất cả các cầu trúc
làm thành phần phụ trong “cụm danh từ”
Các tác giả trong cuốn Ngữ pháp tiêng Liệt (1983), khi xem xét vai trò
của danh ngữ, khẳng dinh: “danh từ không trực tiếp làm yếu tố cấu tạo của câu,
ma chỉ đanh ngữ có tính xác định mới đóng vai trò đỏ” [176, tr 103] Các yếu tố
Trang 32thuộc khu vực sau danh từ trung Lâm là phụ tổ Đồng thời, chia phụ tố thành hai loại: phụ tế hạn dịnh sự vat bang dic điểm của nó (S1) và phụ tổ chỉ định vị trí
của sự vật trong không gian, thời gian (52) [176, tr 113] Nguyễn Thiện Giáp (1997) đưa ra khái niêm củ đoạn “bao gồm hơn một từ và không có cấu trúc chủ
vị liêu biểu cho cú [ ] Có những kiểu cú đoạn như: cú đoạn đanh từ, cú đoạn
dộng từ, cú đoạn tính từ và củ doạn giới từ” |52, tr 205| Tuy nhiên, trong công,
trình này, ông không đưa ra mô hình cụ thể của các cú đoạn trong tiếng Việt mả
chỉ dừng lại ở việc gọi tên cho nó
Từ những ý kiến và kết quả nghiên cứu trên, chứng tôi hiểu: Cụm đanh từ là
mội cụm lừ do danh từ làm thành (Ô trung lâm, có cầu lạo ở dạng dây đủ gồm:
thành tố phụ trước, thành tô chỉnh, thành tổ phụ sau, được phân bô thành 6 vị trí:
Trung tâm cụm danh từ có thể là một danh từ dơn Ứng, Zhời gian) hoặc
một đanh từ phức (con ?nèo, cải bàn), Các thành tổ phụ trước có ba vị trí, có vai
trỏ bê sung cho thành tế chính: (-3) ý nghĩa về tổng thể, (-2) ý nghĩa về số lượng
và (-L) ý nghĩa chỉ xuất, chúng đều không phức tạp về từ loại vả cấu tạo; các
thành tổ phụ sau, vị trí (2): ý nghĩa chỉ dịnh, khép lại cụm danh từ Dang chủ ý
nhất, sát sau thành tố chính là vị trí (1), là thảnh phần định ngữ, đa dạng và phức
tạp vỀ ý nghĩa và cầu tạo, là đối tượng của luận án Cụm từ không tin tai độc lập
như từ và câu mà luôn là một thành phần của câu (loại câu mở rộng), dang tối
giản của cụm từ là một từ, giữ một chức vụ cú pháp nào đó trong câu
1.22 Một số khái niệm lÍ thuyết về Phong cách học và phong cách
ngôn ngũ nghệ thuật
1.2.2.1 Phong cách học
a Khải mệm phong cách học
Phong cách học (nước đây gọi là Tu từ học) là một bộ môn của ngôn ngữ
4 nhia “Nhiên ot Z xe điểm của xsê 3 cử
học, có nhiệm vụ “Nghiên cứu những đặc điểm của việc lựa chọn và sử dụng
Trang 33dụng chúng ở những phạm vi giao tiếp khác nhau Phong cách học nghiên cứu
các phong cách của văn bản và các biện pháp tu từ sử dụng để tạo ra các phong
cách đó” [57, tr408] Theo Nguyễn Thiện Giáp, những thập niên gần đây, người
ta đã áp dụng những kĩ thuật phân tích của ngôn ngữ học vào việc nghiên cửu
các tác phẩm văn học và khảo sát các bình điện mĩ học của ngôn ngữ nói chung
Do đó, thuật ngữ Phong cách học dược dùng dễ chỉ bộ môn nghiên cứu những
cách sử dụng có tính chất mĩ học của ngôn ngữ, đặc biệt là cách sử đụng ngôn
ngữ trong văn học
b Phương Hiện te tir
Thương tiên iu Lừ là những phương tiện ngôn ngữ mả ngoài ý nghĩa oo
bản ra chúng còn có ý nghĩa bé sung, có màu sắc tu từ Người ta gọi chúng là
những phương tiện dược tu sức về mặt ngôn từ, hoặc đổi khi lá những phương
tiên được đánh dầu về mặt tu từ
Trong phung cách ngôn ngữ văn chương, phương tiện tu Lừ được định
nghĩa một cách khái quát và nhất quán ở các cấp đô Những phương tiên tu từ từ
vựng, ngữ pháp, vin ban đều khá biệt đối lập tu từ học với những phương tiện
trung hòa từ vựng, ngữ pháp cú pháp, vẫn bân [85, tr 59, 60]
6 Các biện pháp 1u từ thường gặp
Biên pháp tu từ là những cách phối hợp sở dụng trong lời nói các phương,
tiện ngôn ngữ (không kế trung hoà hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức
tác dụng gợi hình, gợi căm, nhắn mạnh, làm nỗi bật ) đo sự tác động qua lại của
các yếu tổ trong một ngữ cảnh rộng [75, tr 19]
Một số biện phán tu từ tiêu biểu thường pặp pằm: biên pháp tu tử npữ âm,
biện pháp tu từ tử vựng - ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp và biện pháp tu từ
văn bản, trong dỏ, chúng tôi chủ ý đến biện pháp Lu từ từ vựng - ngữ nghĩa, biên
pháp tu từ cú pháp và văn bản Biện pháp tu từ từ vựng - ngữ nghĩa là những
Trang 34cách phối hợp sử dụng các đơn vị tử vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn, có khả năng mang lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ giữa các
đơn vị trong ngữ cảnh Các biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa gềm: ấn dụ, hoán
dụ so sánh, điệp ngữ, Biện pháp ta từ cú pháp là những cách phối hop st
dụng các kiểu câu trong ngữ cảnh rộng (đoạn văn, văn bản) nhằm đem lại ý
nghĩa biểu cảm - cắm xúc cho những mãnh doan của lời nói Các biên pháp tu tử
cú pháp gồm: sóng đôi, đảo đối, câu hỏi tu tử, tách biệt, liên kết tu tử, Diện
pháp tu từ văn bản là những cách phối hợp sứ dụng khéo léo các mảnh doạn của
vin ban để iạo ra hiệu quả tu tử (tạo hình, gợi cảm, bày tô thái đệ, gây ấn tượng,
nhân mạnh) Các biển pháp lu Lừ văn bản gồm: hoa hợp, tương phản, qui định
Dổể nghiên cứu đặc điểm của các đơn vị giao tiếp, người ta thường đừng các
thao tac phăn tích, miễu tã các đơn vị đó dựa vào những dấu hiệu nhất định, ở góc
độ tìm hiểu đặc điểm phong cách ngôn ngữ, dầu hiệu đó là các biện pháp tu tử
1.3.2.2 Phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật
a Các phong cách chức nang
Ngôn ngữ có các chức năng cơ bản là phương tiện giao tiếp vả là công cụ
tư duy, trên cơ sở đó, người ta phân loại ngôn ngữ thành các phong cách chức
năng Phong cách khoa học só chức năng thông báo, phong cách sinh hoại hàng
ngày có chức năng giao tiếp, phong cách công vụ - hành chính có chức năng
thông báo, phong cách chính luận có chức năng lac động và phong cách nghệ
thuật có chức năng tác dông và thẩm mĩ [147, tr 186] Cũng có người chia thành
hai loại lớn: phong cách hội thoại và phong cách sách vỡ
b Khái niệm phang cách ngân ngữ nghệ thuật
Tàn về phong cách nghệ thuật, Nguyễn Thiện Giáp nhận xét: “Phong cách
nghệ thuật là một loại phong cách dặc biết, nó có thể mang đặc diểm của nhiều
phong cách” [5I, tr 218] Côn Nguyễn Thái Iloà nêu các đặc điểm của phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật: ở đạng nói bay dạng viết phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật đểu có ba đặc trưng cơ bản sau: Tính hình tượng, tính truyền cam va tinh
ca thé hoa [75, tr 186-187] Co thé khang dinh phong cảch ngôn ngữ nghệ thuật
1à một loại phong cách chức năng của ngôn ngữ '' được dùng để sáng tạo hinh
Trang 35tỉnh cẩm, thái độ của chủ thé trước thực tai” Ngôn ngữ được dùng trong tác
phẩm văn học là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật [60, tr 215, 290] Như vậy, các
văn học, dược tạo ra trong quả
loại sản phẩm ngôn ngữ, trong dá, có táo phim
trình giao liếp, mang dấu ấn phong cách của chủ thé sáng tạo Theo Hugo
8chuchardt: “Ngôn ngữ là một sáng tạo của cá nhân trên cơ sở bắt chước cộng
đồng và vì vậy ngôn ngũ có một mặt lệ thuộc vào cá nhân là người sáng tạo vả
sử dụng nó Vị vậy, ngôn ngữ là một sự kiên phong cách và chỉnh ngôn ngữ phải
được xem xót ở phương điện phong cách” Phân Lích các mặt khác nhau của đơn
vị ngôn ngữ như vậy liên quan đến đặc trưng phong cách, kiểu loại văn bản”
[Dẫn theo 74, tr.20]
e Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
So với các phong cách chức năng khác, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
có những đặc trưng riêng biệt, Trước hết, các đơn vị ngôn ngữ trong phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng tác động hình tượng, tức là có khả năng đem
lại cho người đọc những tỉnh cảm, những rung dộng về căm xúc Hơn thể, nó
com có khả năng lác động đến người đọc qua hệ thông cde đơn vị mang tính hình
tượng, có khả năng gợi ra những liên tưởng sâu xa Theo tác giả Hữu Đạt, “khi
các đơn vị ngôn ngữ tham gia với tư cách là các tham tổ tạo nên hình tượng
nghệ thuậL, tự nó dã làm mờ nhạt di tính hăn thể của tín hiệu ngôn ngữ dễ tao
nên một loại nghĩa mới ngoài bản thể hay là “siêu tín hiệu” [45, tr 285]
Ngoài ra, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật còn có tính thâm mĩ Thông
qua ngôn từ nghệ thuật, các nhà văn xây dựng hình tượng nghệ thuật dễ thực hiện chức năng thắm mi, mang đến cho người dọc những rung động mạnh mẽ
Từ đó, tác phẩm văn học mang linh sinh động và biểu cảm cao, làm nên chất trữ
tình của văn bản nghệ thuật và tạo cầu nối cắm xúc giữa nhả văn và bạn đọc
Trang 36ä Mễu sắc Im từ và tính thâm nữ trong ngôn ngũ nghệ thuật
Mầu sắc tụ từ và tính thẩm mĩ là hai đặc trưng liên quan đến DNNT
- Màu sắc tu từ là chỉ phần thông tin có tính chat bỗ sung bên cạnh phần
thông tin cơ bản của một thực từ Đa số các tử trong ngôn ngữ chỉ có phần thông, tin cơ bản (còn gọi là ý nghĩa biểu vậÐ, như: nhà, cửa, bàn, ghê, tôi, đẹp, đi lại,
rắi Nhưng trong ngôn ngữ cũng có nhiều từ ngoài phần thông tin cơ bản ra còn
có thông tin bé sung (con goi là ý nghĩa liên hôi) vốn hình thành từ những thành
tố: biểu cắm, cảm xúc, bình giá và phong cách (còn gọi lá tư từ học chức năng)
Mau sic tu tir 14 phan ý nghĩa bỗ sung, là yếu tế tinh tế, làm nên sự đối lập giữa các phương tiện trung hoả với các phương tiện tu từ của ngôn ngữ Còn
trong các biện pháp tu từ thì cách phối hợp sử dụng các phương tiên ngôn ngữ
cả trung hoà lẫn tu từ cũng dưa dến một tác dụng, một hiệu quả lả nảy sinh
những màu sắc tu tử [§6; tr 91- 92]
- Tỉnh thẫm mĩ (chức năng thắm mỹ) thể hiện rõ trong tác phẩm văn học,
qua hệ thống hình tượng, qua tổ chức ngôn từ của tác phẩm, tao nên tính nghệ thuật Tính nghệ thuật trong ngôn ngữ văn chương được “thể biện ở sầu tử độc
đáo, miễu tả sinh động, kết cấu tải tình, ngôn ngữ gợi cảm, gây ấn tượng đặc biệt
tạo thành sức thuyết phục và lôi cuỗn của tác phẩm” [60, tr 23%] Tỉnh nghệ
thuật cho phép người viết tạo ra những cách diễn đạt mới mê, độc đáo và người
đọc cắm nhận đối tượng được nói đến theo cách riêng, tùy thuộc vào trí tưởng
tượng và khả năng cảm nhận của mình Như vậy, có thể hiểu tính thấm mĩ thể
hiện trên hai phương diện: bỗ sung thêm một nét “ý nghĩa mới”, một cách tiếp
nhận mới về đối tượng được nói đến, “trang trí, làm dep” cho cfu văn, ngôn bản,
tao nén tính nghệ thuật cho câu văn
Tóm lại, cả hai tính chất: máu sắc tu từ và tính thẩm mĩ có mỗi quan hệ
tương liên, màu sắc tu từ góp phân đem lại hiệu quả thấm mĩ, ẩn tượng thim mi,
Jam nên tỉnh thẩm mĩ và ngược lại, tỉnh thâm mĩ lä biểu hiện cụ thể sinh động của
Trang 3730
1.2.3 Dịnh ngữ nghệ thuật trong Hỗng Việt
'Irong phần tổng quan về nghiên cứu định ngữ và dịnh ngữ nghệ thuật
(mục 1.1), chúng tôi đã trình bảy một số ý kiến và kết quả khảo sát về định ngữ
của các công trình đã công bố Trong phần nảy, chúng tôi trình bảy khái niệm
định ngữ và định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt, các tiêu chí phân biệt giữa dinh ngữ vả định ngữ nghệ thuật Đây lá những giới thuyết lâm cơ sở cho việc
trình bày các nội dung định ngữ nghệ thuật trong các phân tiếp theo
1.2.3.1 Định ngữ trong tiếng Liệt
a Về tên gọi, khi xác định các thành tế trong cấu tạo của cụm đanh từ thì
thành lố phụ sau danh từ - thành tổ chính, hiện có hai (én goi duoc dung: dinh tổ
và định ngữ
Một số tác giả trong giới Việt ngữ học gọi thành tổ này là đj„# tổ (có sự
phân biệt với định ngữ) Hoang ‘Irong Phiên dùng cả hai thuật ngữ này nhưng có
cần nhắc, phân biệt về vai trò của thành phần này ở trong cầu “Định ngữ được
xét như một yếu tổ trong quan hệ nội bộ của nhóm thì gọi là định tế Tuy nhiên,
khi định tố của một nhỏm từ nảo đó làm thánh phần chính của câu thì định tố có
giá trị như một thành phần câu với tên gọi định ngữ Sự phân biệt định ngữ và
định tổ là sự phân biệt cấu trúc - chức năng của từ pháp và củ pháp” [132, ứ
42] Như vây, có thể hiểu, tên gói định tế là nói đến vai trỏ của thành tổ này
trong cựm từ (từ phán), côn lên gọi là định ngữ là nói đến vai trò của thành phần
này trong quan hệ với câu (cú pháp) Quan niệm này tương cận với tên gọi dinh
ngữ của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp như đã nói ở trên Nguyễn
‘Thi Nhung cũng gọi tên định tố với cách hiểu là một thành tổ phụ cho từ; chức năng ngữ pháp của nó thể hiện trong danh ngữ, định tố không có vai trả ngang
hàng với những thánh phần cầu khác như vị ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ, dễ ngữ
[125, tr 38]
Nhiều tác piả (Nguyễn Tài ân, Nguyễn Kim Thán, Cao Xuân Hạo, Diện
Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Như Ý ) gọi thành tế này là định ngữ
Diệp Quang Ban định nghĩa: “Định ngĩt là thành phân phụ di kèm danh từ và nêu
lên những đặc trưng của sự vật do danh từ biểu thị ” [L2, tr 182, 184]
Trang 38Nguyễn Như Ý coi định ngữ “là thành phần phụ của cụm đanh từ trong câu
có chức năng bỗ sung thêm cho thành phần chính hằng quan hệ phụ thuộc, chỉ ra
các thuộc tính, tính chất của người, vật, sự vật, hiện tượng đo danh từ làm thành
phân chính goi tên [179, tr 89] Nguyễn Thiên Giáp định nghĩa: “Định ngữ là một
bộ phận của danh từ, chỉ ra những đặc trưng của danh từ chính” [57 tr 163]
b VỀ cấu tạo, các nhà Việt ngữ học (NV 8tankêvich, Nguyễn Tài Cẩn,
Diệp Quang Ban, ) khi bàn về vai trò của định ngữ đã nhận xét cấu tạo của
định ngữ, chẳng hạn, theo Diệp Quang Ban, định ngữ có thể là một từ, cụm tử
hay kết cấu chủ vi [8, tr 182, 184] Về từ loại, định ngữ cá thể là đanh từ, động
tử, tỉnh tử, hoặc các đại từ xác định, các từ có ý nghĩa thời gian, vị trí và số Lừ
[18] hay từ chỉ trồ, từ chỉ vị trí và từ chỉ con số [20, tr 237], các số từ xác định,
số từ thứ tự, đại tử, thời - vị từ |7, tr 57] N.V Stankêvich nhận xét: “ dịnh
ngữ biểu thị bằng các từ loại khác nhau có ý nghĩa và đặc điểm hình thức khác
nhau Định ngữ là tính từ chỉ đặc điểm phẩm chảt của sự vật còn định ngữ là
danh từ chỉ đặc điểm của sự vật thông qua một sự vật khác Dói với định ngữ là
danh từ thi có một hình thức giới từ riêng, cỏn dinh ngữ lá tính từ thì không
được dẫn nói bởi giới từ Ngoài ra, đặc tính từ loại cũng xác định vị trí của định
ngữ trong dãy ĐN” [18, tr 6]
c Về phân loại vị trí định ngữ trong cụm từ, các nghiên cứu về định ngữ
(hay định tố) đều cho rằng định ngữ là thành phần phụ nghĩa cho thành tổ chính
trong cụm danh từ Việc xác dịnh vị trí của dịnh ngữ trong cụm danh từ có phạm
vi rộng hẹp khác nhau Diệp Quang Ban xác nhận định ngữ có hai loại: định ngữ
chỉ lượng (đứng trước danh từ) và định ngữ miều tá (đứng sau danh từ) [8, tr
182, 184] Nguyén Thiện Giáp lại cho rằng, có ba loại định ngữ trong cụm danh từ: dinh ngữ hạn định, định ngữ miễu tả và dịnh ngữ chỉ xuất Định ngữ hạn
định có tác dụng thu hẹp ngoại điên của danh từ trung tâm (cá trê, đưa hấu )
+Định ngữ miêu tä thêm vào nghĩa của danh ngữ một nét riêng của cái cả thể hay
những cá thể cụ thể được nói đến trong câu Định ngữ chỉ xuất có thể là những
từ trực chỉ
những ngữ doạn vi từ hoặc tiểu củ như bức tranh ấy, bức tranh treo trên tường ấu, cuốn sách mà anh vừa mới mua ây [51, tr 163].
Trang 3932
d VỀ chức năng của định ngữ, như đã trinh bày ở phần tông quan về định
ngữ (mục l.1.1.2.), nhiều nhà nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt đều đồng ý với
quan điểm cho rằng các thành tổ trong phần cuỗi của cụm danh từ tiếng, Việt có
chúc năng hạn định, chức năng miễu tâ
Đâu tiên là nói về chức năng hạn định, Iloing Tué (1962) goi DN là “hạn
dịnh ngữ”
[174, tr 90] Định Văn Đức (1986) cho rằng “Chức năng của nó (định ngữ -
DVD) R hạn định” [48, tr 90], coi định ngữ chỉ ra đặc trưng hạn định mà nội
và cho rằng “không phải vì có ĐN má kết cầu của câu hị thay đổi”
dung cơ băn là miêu tã cho cái nội dụng của danh Lừ (có thể hiểu như nội hàm và
ngoại điên của danh từ) Đồng thời, ông cũng phân loại các ĐN theo những từ
loại nhật định và từ đó, chí ra chức năng hạn định của mỗi loại DN trong cụm
danh từ Cao Xuân Hạo (1998) trong khi phân loại đã gọi tên một số ĐN đứng
sau DTTT là “định ngữ hạn định, mà ý nghĩa vả tác dụng là thu hẹp ngoại điện của DTTT bằng cách thêm vào nghĩa của nó một số định tính riêng tạo thành
một tiểu loại trong cái chẳng loại do DTTTP [66, tr 377] Chẳng hạn: có đê phi,
cá bắng mũ, cái lrồng cơm
Chức năng thứ hai của định ngữ là chức năng miêu tả (trang trì Cao
Xuin Tao (1998) cùng các tác giả lIloàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi
“Tắt Tươm (1992) khi phân loại đã để cập đến chức năng trang trí của DN trong
cụm I3I, không chỉ xem dịnh ngữ có chức năng hạn định như trên ma còn có
chức năng tang trí (hay còn gọi là định ngữ miêu tả, hay tính ngữ), định ngữ chỉ xuất hay trực chỉ [66, tr 377, 385]
Ngoài chức năng han dinh va miều tả, có ý kiến còn nói đến chức năng chỉ xuất Nguyễn Thiện Giáp [57], Iloảng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha [39] đều
có chung ý kiến này Những thành tố phụ đứng sau vị trí trung tâm (0) là các:
“định ngữ hạn định” (1”); “dịnh ngữ trang trí” (2°) Trong đó, vị tri (2') dược các
tác giả tiếp tục phân chia thành các tiểu loại: định ngữ phúc số, định ngữ chỉ
xuất, định ngit miéu ta
Trang 401.2.3.2 Định ngit nghé thudt
a Nhận xét chung
Mỗi thành phần, mỗi yếu tố khi di vào câu (phát ngôn), trở thành đơn vị
giao tiếp đều có một ý nghĩa nhất định và giữ một vai trò cụ thể Định ngữ là
mội thánh phần của cụm danh Lử, đến lượt mình, cụm đanh Lừ lại là một bệ phận
của câu, đương nhiên có ý nghĩa và vai trỏ nhất định Hiện nay, việc nghiên cửu
về ĐNNT của các nhà Việt ngữ học chưa nhiều, một số bài viết mới chỉ đứng lại
ở định nghĩa và được điểm qua trong các công trình nghiên cứu về phong cách
ngôn ngữ táo giá cụ thể Chẳng bạn, khái niệm ĐNNT được nhắc đến trong công
trình nghiên cứu của tác giả Irần Dinh Sử (1998) khi ông trích dẫn nhận định
của A.N Veclovxki: “Lich st cla DNNT là lịch sử của phang cách thị cá dưới
dạng rút gọn” [dẫn theo 138, tr 171]
b Vẻ định nghĩa
Định ngữ nghệ thuật là một thuật ngữ mà trước đây được gọi là hình dụng
tứ, hay tính ngữ nghệ thuật (ephithel) Hình dụng từ là: 1 Một “điều biến tê”
nêu đặc trung về chất của một danh từ, phân biệt yếu tổ chỉ lượng hay chi dinh
đi với đanh từ, như trong cụm danh từ những ngôi nhà cao mới xây kía 2 Một
“diều biển tố” nêu đặc trưng của một danh tử riêng, như trong Tân cøo kêu,
Dũng béo [13, tr 259, 260]
Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, trong Tử điển
thuật ngữ văn học xác định: Dinh ngữ nghệ thuật là “Phương thức chuyển nghĩa,
trong đó một từ (hoặc một cụm từ) đóng vai trỏ phụ nghĩa cho một từ (hoặc cụm
từ) khác nhằm làm nỗi bật một đặc điểm nào đó của đổi tượng để tạo ra ấn tượng
thấm mĩ” [60, tr.!20]
Nguyễn Thái Hoả nêu một số đặc điểm của định ngữ nghệ thuật: Dinh
ngữ nghệ thuật là phương thức lu từ có chức năng định ngữ (cpkthctc) nhưng
giảu màu sắc biểu cắm tu từ Phần lớn những định ngữ nghệ thuật là những ân
dụ (Ân dụ bổ sung, ẩn dụ tượng trưng) Do vậy, định ngữ nghệ thuật thường,
được xếp vào an dụ Dinh ngữ nghệ thuật xuất hiện khá nhiều trong văn thơ làm
nên hình lượng và cám xúc thơ |75, tr 80|