ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ Trường Tiểu học Cổ Đô ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM T£N §Ò TµI Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn T
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ
Trường Tiểu học Cổ Đô
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM T£N §Ò TµI
Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
Tác giả : Nguyễn Văn Đà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Cổ Đô
Năm học 2024-2025
Trang 2A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên đề tài: “Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3”
I.Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến:
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, nhân loại đã phát minh và chứng kiến sự tiến triển thần kỳ của công nghệ thông tin Những thành tựu của CNTT
đã góp phần rất quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin mang tính chất toàn cầu
Ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và công nghệ thông tin, truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hóa, hướng tới nền kinh tế tri thức nước ta
đã được thể hiện trong những quan điểm của Đảng và Nhà nước qua các văn kiện như Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000, Nghị quyết 07/2000 ngày 05/6/2000 của Chính phủ, Chỉ thị 29/2001/CT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
Công nghệ thông tin cũng thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới trong giáo dục, tạo ra công nghệ giáo dục với nhiều thành tựu rực rỡ, bao gồm:
Công nghệ dạy và học: CNTT làm thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp dạy học một cách phong phú Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin Mối giao lưu giữa người và máy đã trở thành tương tác hai chiều với các phương tiện đa truyền thông như âm thanh, hình ảnh, video
mà đỉnh cao là bài giảng Elearning (học trực tuyến qua mạng Internet)
Sự phát triển vượt bậc của ngành khoa học và công nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện tiến tới "xã hội học tập" Mặt khác, ngành giáo dục đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghệ thông tin thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin
Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu cầu:"Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cập học, ngành học theo hướng dẫn Học công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học các môn." Vậy nên việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào trường
học là một việc làm cần thiết và đúng đắn Trong công tác
Trang 3giảng dạy, công nghệ thông tin giúp cho bài học sinh động hơn, nhờ đó mà học sinh có hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài tốt hơn
Mặc dù tất cả các giáo viên có tích cực đổi mới phương pháp đến đâu thì một giờ học Tự nhiên và Xã hội vẫn diễn ra tẻ nhạt trầm lắng với các hoạt động khó tiếp nhận kiến thức cho học sinh Với nhiều tranh, ảnh đẹp giàu màu sắc, các
em được lôi cuốn vào xem một cách hồn nhiên nhưng nếu đưa ra yêu cầu quan sát tập trung để đưa ra một vấn đề trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu bài học thì các em dễ nản Nhưng cũng vẫn các bức tranh, ảnh đẹp giàu màu sắc đó với sự trợ giúp của công nghệ thông tin ta đưa lên màn hình lớn bằng các hiệu ứng thì sẽ thu hút được các em vào bài học hơn, giờ học sẽ có hiệu quả hơn Hay nói cách khác với công nghệ thông tin, người thầy có thể chế tạo ra những món ăn hấp dẫn
và bổ dưỡng, tức là giờ học lý thú mà nếu chỉ sử dụng bảng đen phấn trắng thì khó mà thực hiện được Với các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu và một số phần mềm tiện ích như Power Point, Violet, bài giảng Elearning người thầy có thể làm cho học trò quan tâm hơn đến môn học mà
không phải ép buộc chúng Chính vì vậy việc: “Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3" là cần thiết và thiết thực
II.Mục tiêu ,nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
thông qua hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
- Tạo cho các em học sinh niềm yêu thích môn học Tự nhiên và Xã hội, giúp các
em tiếp thu được kiến thức một cách tự nhiên và hiệu quả nhất
- Cải thiện chất lượng giảng dạy đối với môn học Tự nhiên và Xã hội lớp 3
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Phân tích những nguyên nhân hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội
- Đề xuất biện pháp giúp học sinh tự tin, mạnh dạn trình bày ý kiến bản thân trước tập thể
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục khó khăn nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn tự nhiên và Xã hội lớp 3 nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh
Từ đó giúp các em vận dụng linh hoạt trong quá trình làm bài Tập làm văn để tháo
gỡ những khó khăn mà các em còn mắc phải, giúp các em không còn sợ, còn ngại làm văn
Trang 4III.Thời gian, phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian áp dụng trong năm học 2024-2025 từ tháng 9/ 2024 đến hết tháng 3 năm 2025
- Đối tượng chủ thể: Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh lớp 3
- Đối tượng khách thể: Học sinh lớp 3A2 – Trường TH Cổ Đô - Ba Vì – Hà Nội IV Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp cơ bản được sử dụng :
Trang 5có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thống Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học qua mạng, dạy học qua cầu truyền
hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh
nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú
trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Như vậy, việc chuyển
từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”sẽ trở nên dễ
dàng hơn
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: một số phần mềm tiện ích như Powerpoint, Violet, Elearning và các phần mềm đóng gói, tiện ích khác Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công
cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ
có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo
án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi
mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan
Trang 6trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
2 Nội dung, chương trình giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội (Theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống )
Sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội lớp 3 của bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được thiết kế theo định hướng phát triển năng lực người học, mang lại cho học sinh những trải nghiệm, kiến thức phù hợp với thực tế cuộc sống, giúp học sinh có thể ứng dụng những gì đã học Mỗi bài học đều có sự lồng ghép, tích hợp giữa nhiều môn học Ngoài nội dung thì phần hình ảnh được in màu rõ nét, sinh động, bố cục rõ ràng, rành mạch tạo hứng thú cho học sinh Sách có tính mở, giáo viên có thể lựa chọn các nội dung, kết cấu bài học để thực hiện một cách linh hoạt các hoạt động dạy học phù hợp trong mỗi tiết học
❖ Nội dung cuốn sách được chia thành 6 chủ đề đảm bảo theo trật tự như trong chương trình với 30 bài học Mỗi chủ đề được thể hiện bằng một mã màu riêng Mỗi bài học: 2 - 3 tiết Có ba dạng bài học:
• Dạng bài hình thành kiến thức mới: đa số các bài trong sách giáo khoa
• Dạng bài thực hành Ví dụ: Bài 7 Giữ an toàn và vệ sinh ở trường
❖ Những điểm mới của sách Tự nhiên và Xã hội lớp 3 đó là:
- Tất cả các bài học trong sách là những câu chuyện được diễn ra tại lớp, trường, gia đình và cộng đồng xung quanh của các em, phù hợp với tâm lí lứa tuổi của HS lớp 3 Và xuyên suốt cuốn sách là hai em học sinh Minh và Hoa – nhân vật chính của cuốn sách
- Cứ mỗi bài học là những kiến thức cốt lõi HS được học và một hình ảnh để định hướng phát triển phẩm chất năng lực của HS Qua đó, HS sẽ liên hệ với bản thân để có thể tự điều chỉnh thái độ và hành vi của mình cho phù hợp
Trang 7- HS được làm sản phẩm học tập sau khi học xong một bài học hay một chủ đề SGK vừa là người bạn, vừa là người thầy chỉ dẫn cho các em thông qua những hình ảnh gợi ý HS được đánh giá qua phần khung chữ Đó cũng là gợi ý cho GV
có thể đánh giá sản phẩm cũng như kĩ năng, thái độ, phẩm chất của HS
- HS tự xây dựng dự án học tập theo các chủ đề HS sẽ được làm các bước xây dựng một dự án đơn giản
Ví dụ 1: Dự án “Giới thiệu về địa phương em” trong chủ đề cộng đồng địa phương,
HS được tham gia hoạt động giáo dục STEM
Ví dụ 2: Học sinh tập đóng gói sản phẩm để gửi quà về cho ông bà, tặng sinh nhật
bạn bè, …
- SGK Tự nhiên và Xã hội phát triển năng lực học sinh: HS được học dựa trên vấn
đề có tính đòi hỏi giải quyết ở thực tiễn; HS được học tập dựa trên nhiệm vụ học tập
- SGK Tự nhiên và Xã hội coi trọng việc vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống thực tiễn Ví dụ: HS học cách xác định phương hướng, từ đó xác định được hướng cửa nhà mình
- Tính mở của SGK: GV khuyến khích HS đưa ra ý kiến cá nhân dựa trên môi trường sống của HS
- Tích hợp các lĩnh vực giáo dục: giáo dục an toàn giao thông, giáo dục giới tính
3 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng
3.1 Những thuận lợi
Giáo viên tích cực, sáng tạo thích ứng nhanh với các kế hoạch mới, cập nhật công nghệ thông tin tốt Đồng thời rất tâm huyết, yêu nghề , mến trẻ
Trong nhiều năm liền tôi được phân làm chủ nhiệm của khối 4 nên đã hiểu sâu
về tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh lớp chủ nhiệm
Nhà trường và phụ huynh quan tâm tạo mọi điều kiện và ủng hộ mọi hoạt động dạy - học của cô và trò
Là một ngôi trường có phòng học khang trang, đầy đủ trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy chiếu… phục vụ cho việc dạy và học
Một thực tế nữa là có một số giáo viên bộ môn trong trường chưa chú trọng đến rèn nề nếp mà đa phần chú ý đến việc dạy kiến thức
Trang 8Hoàn cảnh của các em không giống nhau, trong lớp có một số phụ huynh quá bận rộn với công việc chưa dành thời gian quan tâm đến việc học tập và giáo dục đạo đức cho con Một vài gia đình bố mẹ ly hôn hoặc đi làm ăn xa làm ảnh hưởng tới tâm sinh lý của trẻ Hơn nữa điều kiện về kinh tế khác nhau cũng tạo ra khoảng cách giữa các em với nhau Học sinh chơi theo nhóm, lớp học chưa có tính tập thể, chưa biết chia sẻ, giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn
Áp lực từ những cuộc thi học sinh giỏi, áp lực điểm số trong học tập sẽ làm các em ganh đua gây mất đoàn kết trong lớp
Có một số học sinh còn rụt rè, chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động của lớp, của trường
* Kết quả điều tra, khảo sát học sinh đầu năm học 2024 - 2025
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu biện pháp “Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3”, tôi đã tiến hành khảo sát mức độ học sinh có hứng thú với tiết học TNXH
thông qua phiếu khảo sát Cụ thể qua khảo sát 27 học sinh lớp 3A2 do tôi chủ nhiệm tôi thống kê kết quả như sau:
Từ thực trạng trên cho thấy số lượng học sinh tự tin , mạnh dạn hứng thú là thấp
Vì vậy tôi đưa ra “Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao
hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3.”
II.Biện pháp thực hiện:
Với thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm, tôi đề ra Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 3
1 Biện pháp 1: Đa dạng hóa nội dung bài học thông qua việc tìm kiếm thêm
dữ liệu, tranh ảnh trên nền tảng Internet
Đối với mỗi bài học, trước khi truyền tải nội dung kiến thức đến học sinh thì bản thân mỗi giáo viên phải nghiên cứu và nắm vững những kiến thức, kĩ năng
mà học sinh cần đạt Từ đó nghiên cứu kĩ nội dung bài học đó trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn giáo viên đồng thời tìm hiểu thêm những tài liệu có liên quan để cung cấp, làm điểm tựa cho học sinh khai thác nội dung bài học
Để dạy tốt môn Tự nhiên và Xã hội 3 ở trường Tiểu học đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức khoa học tự nhiên, nội dung và phương pháp tổ chức dạy học phải linh hoạt Đây là một hoạt động nhận thức khoa học, nếu giáo viên
Trang 9nắm vững và vận dụng tốt vấn đề này sẽ có tác dụng rất tốt vào việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tự nhiên và xã hội ở trường Tiểu học nói chung và Tự nhiên và xã hội lớp 3 nói riêng
Tranh ảnh đều được con người cảm nhận bằng thị giác, chúng ta thấy được đưa ra những phản xạ, cảm nhận về tranh, ảnh mà ta vừa thu nhận
Tác dụng của việc sử dụng tranh, ảnh trong dạy Tự nhiên và Xã hội lớp 3: tranh, ảnh đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các phương tiện dạy học Bởi lẽ tranh, ảnh mang lại cái nhìn trực quan và cụ thể nhất đến với học sinh Học sinh
dễ tiếp thu trong quá trình nhận thức, hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của kiến thức Tranh, ảnh cũng có khả năng cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn khi sách giáo khoa chưa trình bày đến nó Tranh, ảnh có tác dụng minh họa cho các khái niệm, quá trình Nó phát huy mọi giác quan của người học, khiến tăng độ tin cậy và khắc sâu kiến thức Và cuối cùng tranh, ảnh góp phần không nhỏ trong việc cải tiến phương pháp dạy học của giáo viên và hình thức học của học sinh theo hướng tích cực
Vận dụng tranh, ảnh vào các bài Tự nhiên và Xã hội lớp 3: Trong hệ thống sách Kết nối tri thức với cuộc sống Tự nhiên và Xã hội 3 chủ yếu là tranh minh họa, còn lại một số ít là những ảnh chụp giới thiệu quang cảnh Để giới thiệu bài học tôi sử dụng hệ thống tranh, ảnh trong sách Tuy nhiên để mở rộng kiến thức cho học sinh, tôi sử dụng tranh, ảnh mình sưu tầm thêm sẽ giúp các em tiếp nhận thông tin một cách cụ thể, rõ ràng hơn Sử dụng tranh, ảnh trưng bày theo cách truyền thống sẽ cồng kềnh, khó bảo quản, tốn kém Việc ứng ứng dụng Internet trình chiếu các hình ảnh trên slide đã giúp tôi sưu tầm được nhiều hình ảnh đẹp
và sinh động, hấp dẫn mà lại dễ lưu giữ, bảo quản
Ví dụ: Khi học bài 18 “Cơ quan tiêu hóa” (trang 74 Tự nhiên và Xã hội 3 sách Kết nối tri thức với cuộc sống), tôi đã sử dụng những hình ảnh thực tế về các
bộ phận chính của cơ quan tiêu hóa và yêu cầu các em quan sát Sau đó, tôi yêu cầu học sinh tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa và tiến hành phân tích, áp dụng vào hình ảnh đã được cho trước đó Các em học sinh cần thảo luận với nhau, dựa vào kiến thức đọc được trong sách giáo khoa dự đoán đúng tên của các bộ phận đó Các nhóm sẽ dựa vào tranh nêu tên các bộ phận của cơ quan tiêu hóa và tiến hành luận biện bảo vệ quan điểm của mình
Trang 10Hình ảnh minh họa khi dạy bài “Cơ quan tiêu hóa”
Ngoài ra, tôi cũng đã tìm thêm một số hình ảnh dẫn chứng thực tế liên quan đến bài học để các em xem và tìm ra chức năng của cơ quan hô hấp đối với cơ thể con người Sau thời gian tự tìm hiểu, các em sẽ lần lượt trình bày ý kiến phân tích của mình, giáo viên sẽ lắng nghe và bổ sung các ý kiến cho đầy đủ và chính xác hơn Như vậy, các em học sinh sẽ thấy được tính ứng dụng và thực tế của bài, bài học trở nên trực quan hơn, các em tham gia vào lớp học nhiều hơn, dễ dàng ghi nhớ kiến thức hơn
Một ví dụ khác, khi học bài 10 “Hoạt động sản xuất thủ công và công nghiệp”
(trang 42 Tự nhiên và Xã hội 3 sách Kết nối tri thức với cuộc sống), tôi tìm kiếm
một số tranh ảnh về sản phẩm thủ công để giới thiệu và mở rộng giới
thiệu một số sản phẩm thủ công nổi tiếng của nước ta
Hình ảnh minh họa một số làng nghề thủ công
Qua quá trình tìm hiểu, tôi đã tìm được một số trang web giúp GV có thể tìm kiếm hình ảnh phục vụ bài giảng điện tử một cách nhanh chóng và hình ảnh HD
chất lượng, chất lượng, ví dụ như link website: http://thestocks.im/; link website: https://freerangestock.com/; link website: https://pixabay.com/;
Không những vậy, tôi đã cố gắng tìm kiếm các video clip để học sinh có thể
mở rộng kiến thức và liên hệ thực tiễn tốt hơn Video clip sẽ giúp học sinh dễ hình dung hơn các nội dung cần tìm hiểu, kiến thức mới sẽ trở nên gần gũi, dễ nhớ, dễ hiểu và giờ học cũng trở nên sinh động, cuốn hút và hấp dẫn hơn Chính vì vậy video clip không chỉ sử dụng như phương tiện trực quan, minh họa cho bài giảng
mà phải sử dụng ở mức độ cao hơn nhằm góp phần tạo hứng thú, say mê, phát
Trang 11huy tính chủ động, tích cực cho học sinh trong quá trình học học tập GV cần sử dụng video clip phù hợp với phương pháp và hình thức dạy học Đặc biệt việc sử dụng các video clip này cần đảm bảo độ chính xác về kiến thức
Ví dụ: Trong bài 20 “ Cơ quan tuần hoàn” (trang 82 Tự nhiên và Xã hội 3
sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
(Link video: https://www.youtube.com/watch?v=S5tow8SVsZE)
Bước 1: GV cho học sinh xem video clip “Hệ tuần hoàn trong cơ thể người” rồi
đặt những câu hỏi để khai thác nội dung, cụ thể:
+ Chức năng của tim là gì?
+ Chức năng của động mạch, tĩnh mạch, mao mạch là gì?
+ Nếu tim ngừng đập cơ thể sẽ như thế nào?
Bước 2: HS thảo luận, đưa ra ý kiến sau đó giáo viên chốt câu trả lời và nội dung
kiến thức
Hoạt động này sẽ giúp các em học sinh có thể quan sát thí nghiệm được diễn
ra thực tế thay vì phán đoán dựa trên những lý thuyết hàn lâm trong tiết lý thuyết Như vậy, bài học sẽ được đảm bảo tính trực quan và đạt được mục đích của tiết thực hành Thông qua video này, giáo viên cũng có thể cung cấp đầy đủ lượng kiến thức cần thiết đến học sinh
2 Biện pháp 2: Ứng dụng phần mềm Powerpoint để xây dựng và thiết kế bài giảng sinh động
Để thực hiện ứng dụng CNTT trong các bài giảng, GV cần phải nắm được quy trình và nguyên tắc khi thực hiện để xây dựng, thiết kế các bài dạy một cách
hợp lý, có tác dụng cao trong việc đổi mới PPDH
❖ Thiết lập các Slide trên một bài giảng
Trong các tiết dạy giáo viên cần lưu ý không mang tư tưởng áp đặt những kiến thức vào bài giảng Có nghĩa là giáo viên nói những gì, giảng những gì, hỏi những gì không cần thiết phải thể hiện toàn bộ trong Slide Điều này hoàn toàn sai lầm vì như thế học sinh sẽ cho rằng giáo viên chỉ nói những điều trong sách, không mở rộng các kiến thức ngoài, gây cho học sinh sự nhàm chán
Chúng ta cần nhớ: Slide (một trang màn hình của một phần mềm nào đó) là nơi chỉ chứa tên bài học, các đề mục và các cụm từ chốt phục vụ cho bài giảng Tùy theo từng môn học, từng nội dung của bài chúng ta có thể bổ sung các hình ảnh minh họa một cách hợp lý
Ví dụ: Khi dạy bài 1 “Họ hàng và những ngày kỉ niệm của gia đình” (trang
6 Tự nhiên và Xã hội 3 sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Giáo viên thiết kế
Slide hình ảnh như sau để giới thiệu bài:
Trang 12Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũng nên lưu ý về số lượng chữ, màu sắc, kích thước trên một slide Giáo viên nên tóm tắt vấn đề mình muốn trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu Nhìn vào slide giáo viên có nhiệm vụ giải thích kỹ càng
và mở rộng nó ra chứ không phải đọc các dòng chữ trên slide
❖ Thiết lập tư liệu, hình ảnh
Hình ảnh được đưa vào bài giảng phải đúng với yêu cầu của nội dung bài dạy, tránh những hình ảnh, tư liệu lòe loẹt không nhìn thấy rõ
Tránh những tiết dạy giáo viên muốn lôi cuốn học sinh nhìn lên màn hình bằng cách thêm vào những hình ảnh động hấp dẫn, điều này là chúng ta đã sai lầm Bởi vì nếu thiết kế như thế học sinh sẽ bị cuốn hút bởi những hình ảnh mà không chú tâm vào nội dung, yêu cầu của câu hỏi đặt ra Cần nên tránh sử dụng hình ảnh động trong những hoạt động khám phá tìm hiểu kiến thức, chỉ được sử hình ảnh động trong những hoạt động khám phá tìm hiểu kiến thức, chỉ được sử dụng trong những trò chơi học tập
Ví dụ: Khi thiết kế bài 18 “Cơ quan tiêu hóa” (trang 74 Tự nhiên và Xã hội 3
sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Với phần hướng dẫn học sinh điền các tên đúng với từng cơ quan chỉ cần thiết kế các slide đơn giản như sau:
Từ slide thiết kế này GV kết hợp với cách hướng dẫn và các hiệu ứng để dễ dàng hướng dẫn học sinh cách nhận biết đúng từng bộ phận trong cơ quan tiêu hóa Như vậy cách em sẽ ghi nhớ hơn về các bộ phận trong cơ quan tiêu hóa
❖ Về màu sắc của nền hình
Màu sắc không lòe loẹt, đồ họa vui nhộn gây mất tập trung cho học sinh Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản, chỉ nên sử dụng chữ màu nhạt (trắng, xanh
Trang 13nhạt…) trên nền trắng hay nền màu sáng Ngược lại, khi dùng màu nền nhạt thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay màu đậm
❖ Về font chữ và cỡ chữ
- Dùng các font chữ, khung, nền hợp lý (ví dụ: nền màu trắng, màu xanh cho
các đề mục có vai trò ngang nhau “cỡ chữ, kiểu chữ giống nhau)
- Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn (Arial, Time New Roman, …), hạn chế dùng các font chữ có đuôi (VNI-times…) vì dễ mất nét khi trình chiếu
- Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ Thực tế, trong kỹ thuật video, khi chiếu trên màn hình TV (25 inches) cho nhiều người xem hay dùng máy chiếu Projector chiếu lên màn cho khoảng 50 người xem thì size chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên mới đọc rõ được
❖ Về trình bày nội dung trên nền hình
Giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trên xuống,
từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp, để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét và không mất chi tiết khi chiếu lên màn Các dạng đồ họa (hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng…) cần phải được lựa chọn cẩn thận, nếu không chúng sẽ gây phân tán tư tưởng, tư duy lệch lạc trong học sinh Những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không
rõ ràng thì cũng không nên sử dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin xác định cho học sinh như ta mong muốn
❖ Trình chiếu bài giảng
Trong khi thực hiện tiết dạy ứng dụng CNTT giáo viên phải thực hiện tốt ở
ba khâu: soạn bài giảng, trình chiếu và truyền thụ kiến thức trọng tâm mà học sinh
cần nắm
Trong các tiết dạy có ứng dụng CNTT cần phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạn chế ánh sáng trời để ảnh trên màn rõ hơn Nên chúng ta cần phải lưu ý những học sinh ngồi ở các dãy cuối lớp hay những học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh, chữ viết trên màn chiếu Do đó để học sinh có thể quan sát được bài học chính xác từ màn chiếu khi xây dựng bài giảng điện tử cần chú ý một số nguyên tắc về hình thức sau:
- Các trang trình diễn phải đơn giản và rõ ràng
- Không sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ý chính vào mỗi trang trình diễn
- Khi giáo viên trình chiếu một bài giảng điện tử để học sinh có thể quan sát kịp thì nội dung trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc Nên phân dòng hay phân đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương