Ăng-ghen viết chung một loạt tác phẩm tiêu biểu, như “ Gia đình thần thánh” năm 1845, “Hệ tư tưởng Đức” năm 1846, “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức” năm 1851 - 1852, “Góp phần phê phán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÀI BÁO CÁO MÔN SEMINAR CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ 1
Tên đề tài
LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA
KARL MARX
SVTH: Nguyễn Đình Hải Triều – Nguyễn Hoàng Lâm – Nguyễn Đức Thắng
Lớp: DTU 1231 Khoa: Toán Ứng Dụng
Trang 2Mục Lục
Học thuyết tăng trưởng kinh tế của Karl Marx 3
Sơ lược về Các Mác 3
*Cuộc đời 3
*Tác phẩm 3
Các khái niệm liên quan 4
Tiền tệ 4
Giá trị thặng dư và sản xuất giá trị thặng dư 6
HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 7
TIỀN CÔNG 8
TƯ BẢN BẤT BIẾN 8
TƯ BẢN KHẢ BIẾN 9
GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 10
QUÁ TRÌNH TẠO RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 10
Tích lũy tư bản 11
Phân tích các yếu tố ảnh hường tới tăng trưởng trong học thuyết của Các Mác 12
Cung lao động 12
Lợi nhuận 13
Tác động của công nghệ 13
Phân tích lại tác động vào cung lao động dựa trên mô hình kinh tế học hiện đại 14
ƯU ĐIỂM CỦA HỌC THUYẾT KARL MARK 16
NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỌC THUYẾT KARL MARK. 16
Ứng dụng học thuyết tăng trưởng của K.Marx ở các quốc gia 17
Trang 3Học thuyết tăng trưởng kinh tế của Karl Marx
Sơ lược về Các Mác
*Cuộc đời
Karl Heinrich Marx là một nhà triết học, kinh tế học, sử học, xã hội học, lý luận chính trị, nhà báo và nhà cách mạng người Đức Ông sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein thuộc Trier là một thành phố cổ của Đức, thời Trung cổ
Năm 12 tuổi (1830), C Mác vào học trường trung học ở Trier Mác may mắn có những thầy tốt như thầy hiệu trưởng trung học ở Trier dạy lịch sử và triết học, thầy dạy toán
và vật lý - những người theo chủ nghĩa duy vật và có xu hướng tự do
Mùa thu 1835, C Mác tốt nghiệp trung học, sau đó, tháng Mười năm 1835, Mác vào trường Đại học Tổng hợp Bonn để học luật Hai tháng sau, theo lời khuyên của bố, Mác theo học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin
Ngày 15 tháng Tư năm 1841, khi mới 23 tuổi, C Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học
với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit (Démocrite) và triết học
tự nhiên của Êpiquơ (Épicure) tại trường Đại học Tổng hợp Jena.
Tháng 10 năm 1843, vợ chồng Karl Marx đi Paris Lần đầu tiên, Karl Mác gặp Friedrich Engels vào cuối tháng Mười một năm 1842, khi Ăngghen trên đường sang Anh và
ghé thăm Bộ Biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh) Mùa hè năm 1844,
Engels đến thăm Mác ở Paris Trong 10 ngày ở thăm Paris, Marx và Engels đã có nhiều cuộc nói chuyện cởi mở và từ cuộc gặp gỡ này hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả vấn đề lý luận và thực tiễn
Ông lại đến Paris, tháng Tư năm 1848, Marx cùng với Engels đến Koln, một thành phố nhỏ trên bờ sông Rhein nước Đức, và tại đây Marx trở thành Tổng Biên tập tờ Báo Mới tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất Marx Ông lại đến Paris, nhưng lần này ông chỉ lưu lại 3 tháng Tháng Tám năm 1849, từ Paris Mác đi London thủ đô của Anh và sống đến cuối đời (1883)
*Tác phẩm
Tên tuổi của Marx gắn liền với hai danh tác nổi bật, đó là cuốn Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản (1848) - một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác và đảng vô sản, nó soi sáng cho giai cấp công nhân toàn thế giới con đường đấu tranh để thoát khỏi chế
độ nô lệ tư bản chủ nghĩa và đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi Mác và Ăngghen đã phân tích một cách sâu sắc vai trò của đấu tranh giai cấp trong lịch sử xã hội loài người Cuộc đấu tranh giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức là động lực chủ yếu của sự phát triển lịch sử
Bên cạnh đó, bốn tập sách Das Kapital Mác đã vạch rõ quy luật giá trị thặng dư dưới
hình thái giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối; và quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hoá được phát triển trong quy luật cung và
Trang 4cầu, trong những quy luật của lưu thông tiền tệ, v.v…Trong kết luận của bộ Tư bản, Mác nêu lên sự tất yếu phải thủ tiêu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế nó bằng một hình thái tổ chức cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa
Ngoài ra, C Mác cùng với Ph Ăng-ghen viết chung một loạt tác phẩm tiêu biểu, như “
Gia đình thần thánh” (năm 1845), “Hệ tư tưởng Đức” (năm 1846), “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức” (năm 1851 - 1852), “Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học”
(năm 1859),…
Các khái niệm liên quan
Tiền tệ
*Khái niệm nguồn gốc tiền tệ
Giá trị của hàng hóa là trừu tượng, chúng ta không nhìn thấy giá trị như nhìn thấy hình dáng hiện vật của hàng hóa; giá trị của hàng hóa chỉ được bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thông qua các hình thái biểu hiện của nó Theo tiến trình lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, những hình thái của giá trị cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp tới cao Quá trình này cũng chính là lịch sử hình thành tiền tệ nghiên cứu lịch sử hình thành tiền tệ sẽ giúp lý giải một cách khoa học nguyên nhân vì sao tiền có thể mua được hàng hóa
*Các hình thái của giá trị:
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngấu nhiên:
Đây là hình thái bán dầu của giá trị xuất hiện trong thời kì sơ khai của trao đổi hàng hóa Khi đó, việc trao đổi hàng hóa với nhau mang tính ngẫu nhiên Người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa này lấy hàng hóa khác
VD, có phương trình trao đổi như sau: 1A=2B
Ở đây, giá trị ẩn chứa trong hàng hóa A được biểu hiện ra ở hàng hóa B; với thuộc tính tự nhiên của mình hàng hóa B trở thành hiện thân của giá trị của hoàng hóa A sở dĩ như vậy vì bản thân hàng hóa B cũng có giá trị hàng hóa A mà giá trị sử dụng của nó được dùng để biểu hiện giá trị của hàng hoá B được gọi là hình thái vật ngang giá
- Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
Khi trình độ phát triển của sản xuất hàng hóa được nâng lên, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa có thể được đặt trong mối quan hệ với nhiều hàng hóa khác Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng xuất hiện
VD: 1A=2B; hoặc =3C; hoặc =5D…
Đây là sự mở rộng hình thái giá trị đơn giản Trong đó, giá trị của một đơn vị hàng hóa A được hiểu ở 2 đơn vị hàng hóa B hoặc ba đơn vị hàng hóa C; hoặc 5D hoặc…
Trang 5Hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau Hạn chế
ở hình thái này vẫn chỉ là trao đổi trực tiếp với những tỷ lệ chưa cố định
- Hình thái chung của giá trị:
Việc trao đổi trực tiếp sẽ trở nên không còn thích hợp khi trình độ sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn, chủng loại hàng hóa càng phong phú hơn, Trình độ sản xuất thúc đẩy sự hình thành hình thái hàng hóa chung của giá trị
VD: 2B; hoặc 3C; hoặc 5D; hoặc…=1A
Ở đây, giá trị của hàng hóa B; hàng hóa C; hàng hóa D; hoặc nhiều hàng hóa khác nhau đều biểu thị giá trị của chúng ở một loại hàng hóa làm vật ngang giá chung là hàng hóa A Tuy vậy, giữa các vùng lãnh thổ khác nhau trong cùng một quốc gia có thể có những quy ước khác nhau về loại hàng hóa làm vật ngang giá chung Khắc phục hạn chế này, hình thái giá trị phát triển hơn xuất hiện
-Hình thái tiền:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình hình có nhiều vật ngang giá sẽ gây trở ngại cho trao đổi giữa các địa phương trong mỗi quốc gia Do đó, đòi hỏi khách quan
là cần có một loại hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất
VD: 2B; 3C; 5D… = 0,1 gr vàng
Vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Vàng trở thành hình thái tiền của giá trị Tiền vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa vì tiền có giá trị Lượng lao động xã hội đã hao phí trong đơn vị tiền được ngầm hiểu đúng bằng lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra các đơn vị hàng hóa tương ứng khi đem đặt trong mối quan hệ với tiền
Như vậy, tiền, về bản chất, là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa Hình thái đơn giản là mầm mống sơ khai của tiền
*Chức năng của tiền
- Thước đo giá trị
Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền phải có giá trị Để thực hiện chức năng đo lường giá trị, không nhất thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với một lượng vàng nhất định một cách tưởng tượng Sở dĩ có thể thực hiện được như vậy, vì giữa giá trị của vàng
và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ này là thời gian lao động xã hội cần thiết đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó
Trang 6- Phương tiện lưu thông:
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được dùng làm môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa Để thực hiện chức năng làm phương tiện lưu thông, yêu cầu phải có tiền mặt (tiền đúc bằng kim loại, tiền giấy) Chức năng phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị Đây là cơ sở cho việc các quốc gia công nhận và phát hành các loại tiền giấy khác nhau Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm cho quá trình trao đổi mua bán trở nên thuận lợi, mặt khác, đồng thời làm cho hành vi mua bán tách rời về không gian và thời gian Do đó, có thể tiềm ẩn khả năng khủng hoảng
-Phương tiện cất trữ:
Thực hiện phương tiện cất trữ, tiền rút ra khỏi quá trình lưu thông để đi vào cất trữ Thực hiện phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị như tiền vàng, tiền bạc Tiền cất giữ có tác dụng là lưu trữ tiền cho lưu thông, sẵn sàng tham gia lưu thông Khi sản xuất hàng hóa phát triển, lượng hàng hóa nhiều hơn, tiền cất giữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nền sản xuất giảm lượng hàng hóa giảm, một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông, đi vào cất giữ
- Phương tiện thanh toán:
Tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa… Trong tình hình đó, tiền làm phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng thanh toán, có nhiều hình thức tiền khác nhau được chấp nhận Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế
độ tín dụng thương mại, tức mua bán thông qua chế độ tín dụng
- Tiền tệ thế giới:
Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền
tệ thế giới Lúc này tiền được dùng làm phương tiện mua bán thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế
Giá trị thặng dư và sản xuất giá trị thặng dư
Nguồn gốc giá trị thặng dư
Công thức chung của tư bản
Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động trong quan hệ T-H-T Mục đích trong lưu thông tư bản là giá trị lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu Do vậy, công thức chung của tư bản: T-H-T’ Trong đó:
T’=T+t (t>0)
Số tiền trội ra lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư, số tiền ứng ra ban đầu với múc đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản
Trang 7HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
Sức lao động là khả năng thể chất và tinh thần mà con người sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Nó không chỉ bao gồm sức mạnh cơ bắp mà còn cả trí tuệ, kinh nghiệm và kỹ năng, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội
Theo C.Mác giá trị thặng dư có nguồn gốc từ một loại hàng hóa đặc biệt đó là hàng hóa sức lao động, nó là nguồn gốc trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư, chìa khóa giải quyết mâu thuẫn và là công thức chung của tư bản
Giá cả của hàng hóa sức lao động biểu hiện ra bên ngoài là tiền lương Tiền lương là giá cả của sức lao động, thể hiện giá trị của sức lao động mà người lao động bán cho nhà
tư bản
Hàng hóa sức lao động là một phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh mối quan hệ giữa người lao động và nhà tư bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa Việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường
và các vấn đề xã hội liên quan đến lao động
Có hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
- Người lao động có quyền tự do về thân thể nên họ có thể bán sức lao động của chính mình như là một hàng hóa để phục vụ cho nhu cầu cá nhân cá nhân của người lao động
- Chỉ với sức lao động thôi là chưa đủ để có thể tạo ra hàng hóa nên phải kết hợp với các tư liệu sản xuất cần thiết Chính vì điều đó mà họ buộc phải đem bán sức lao động để nuôi sống bản thân và gia đình
Hai thuộc tính của hàng hóa lao động:
*Giá trị của hàng hóa sức lao động:
- Chi phí tư liệu sinh hoạt: Chi phí này bảo đảm cho người lao động có thể tái sản xuất sức lao động, bao gồm chi phí ăn uống, mặc, ở, đi lại, giải trí
- Chi phí đào tạo: Chi phí cần thiết để đào tạo người lao động có được kỹ năng và trình độ phù hợp với công việc
- Chi phí nuôi dưỡng con cái: Bảo đảm cho thế hệ lao động tiếp theo được tái sản xuất
*Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động:
- Nó khác với hàng hóa thông thường là sẽ không mất đi sau khi sử dụng mà nó có thể tạo ra những hàng hóa mới có giá trị lớn hơn Đây là tính năng đặc biệt không một loại hàng hóa thông thường nào có được Đây cũng chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư do đâu mà có
Trang 8- Giá trị sử dụng của sức lao động mang tính chủ động, sáng tạo Người lao động có thể sử dụng sức lao động của mình một cách linh hoạt, sáng tạo để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị khác nhau
TIỀN CÔNG
Bản chất của tiền công
- Tiền công là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay nói cách
khác, là số tiền mà nhà tư bản trả cho người lao động để mua sức lao động
trong một khoảng thời gian nhất định
- Thực tế, tiền công được trả không phải cho toàn bộ lao động của người lao động
mà chỉ là phần giá trị tái sản xuất sức lao động (chi phí sinh hoạt, chi phí nuôi
dưỡng, chi phí đào tạo)
Sự che giấu bản chất bóc lột
- Dưới hình thức tiền công, việc mua bán sức lao động thường bị che giấu, khiến cho người ta tưởng rằng nhà tư bản trả đủ giá trị toàn bộ lao động của người lao động
- Tuy nhiên, người lao động thực tế chỉ được trả phần giá trị tương đương với chi
phí tái sản xuất sức lao động, còn giá trị thặng dư do họ tạo ra thuộc về nhà tư
bản mà không được trả công.
Hình thức biểu hiện của tiền công
Tiền công có thể được biểu hiện dưới hai hình thức:
- Tiền công tính theo thời gian: Dựa trên thời gian làm việc (giờ, ngày, tuần ) của
người lao động
- Tiền công tính theo sản phẩm: Trả tiền công dựa trên số lượng sản phẩm mà
người lao động sản xuất ra
TƯ BẢN BẤT BIẾN
Tư bản bất biến là: bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất, thông
qua lao động cụ thể của công nhân làm thuê mà giá trị được bảo tồn và chuyển nguyên vẹn giá trị sản phẩm mới không thay đổi về lượng
Giống như một sự thay đổi trong giá trị của các tư liệu sản xuất không hề làm thay đổi tính chất của chúng với tư cách là tư bản bất biến Ví dụ, những điều kiện kỹ thuật của quá trình lao động có thể thay đổi đến mức khiến cho ở một khâu nào đó, trước kia
10 công nhân với 10 công cụ rẻ tiền chế biến một khối lượng nguyên liệu tương đối nhỏ, còn bây giờ thì 1 người công nhân với một máy đắt tiền chế biến được một lượng nguyên liệu một trăm lần lớn hơn Trong trường hợp ấy, tư bản bất biến, nghĩa là khối lượng giá trị của những tư liệu sản xuất đã sử dụng, sẽ tăng lên rất nhiều
Ví dụ minh họa
Trang 9Một quán ăn bán cơm chiên:
- Chi phí nguyên vật liệu: 4 triệu
- Chi phí máy móc và các công cụ phục vụ cho công việc: 10 triệu
Tổng tồng chi phí tư bản bất biến: 14 triệu đồng
Trong quá trình chế biến các nguyên vật liệu như: gạo, dầu ăn, gà, trứng, xúc xích,
… chúng ta sẽ dùng những công cụ là bếp gas để chiên hay xào nấu, bình gas dùng tiếp nhiên liệu cho bếp để sử dụng Những thứ ấy sau khi qua chế biến sẽ biến thành những mặt hàng của cơm chiên Từ đó thấy được rằng giá trị của nguyên vật liệu và sự hao mòn máy móc lẫn công cụ sẽ được chuyển dần vào giá trị của cơm chiên, nên khoản đầu tư vào tư bản bất biến sẽ không mất đi mà được giữ nguyên vẹn
TƯ BẢN KHẢ BIẾN
Tư bản khả biến là: bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không
thông qua lao động trừu tượng của công ngân mà tăng lên về lượng
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất Nó tái sản xuất ra vật ngang giá với bản thân nó, và ngoài ra lại còn sản xuất ra một số dư, tức là giá trị thặng dư; giá trị thặng dư này lại có thể thay đổi, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn Từ một đại lượng bất biến, bộ phận này của tư bản không ngừng chuyển hóa thành một đại lượng khả biến
Ví dụ minh họa: Một nhà máy sản xuất giày sẽ sử dụng tiền đầu tư của mình vào máy
móc, thiết bị và lương cho nhân viên Một công nhân lao động được thuê với mức lương
là 250.000 đồng cho 8 tiếng làm trong 1 ngày làm được 20 đôi giày, nhưng trong khoản thời gian 6 tiếng họ đã làm xong 20 đôi giày và còn 2 tiếng còn lại của họ kí kết với nhà máy sẽ là giờ làm thêm, họ sẽ làm việc không công vào khoảng thời gian dư đó
Từ đây, ta có công thức xác định tổng giá trị hàng hóa mà công nhân tạo ra:
G = c + (v + m)
Trong đó:
G: Giá trị hàng hóa
c: Tư bản bất biến (giá trị nguyên vật liệu, máy móc)
v: Tư bản khả biến (giá trị sức lao động hoặc tiền lương công nhân)
m: Giá trị thặng dư
Trang 10GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Giá trị thặng dư: là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do lao
động công nhân làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Trong quá trình sản xuất, công nhân sử dụng sức lao động của mình để tạo ra giá trị mới cho hàng hóa Tuy nhiên, nhà tư bản chỉ trả cho công nhân một phần giá trị này dưới dạng tiền lương, phần còn lại (giá trị thặng dư) bị nhà tư bản chiếm đoạt
Để đo lường được mức độ khai thác hay bóc lột, người ta dùng tỷ suất giá trị thặng dư:
m '=m
v
Hoặc
m '=t '
t Trong đó t là thời gian lao động tất yếu – khoảng thời gian mà người lao động có
thể tạo ra giá trị bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động Ngoài ra, theo nguyên tắc ngang giá đã thỏa thuận trước đó với chủ tư bản thì người lao động phải làm thêm một khoảng thời gian ngoài thời gian lao động tất yếu C.Mác gọi đó là thời gian lao động
thặng dư (t’).
Tỷ suất giá trị thặng dư còn thể hiện mức tăng tương đối của tư bản khả biến, ví dụ như giá trị tư bản khả biến là 235, giá trị thặng dư là 235 thì giá trị tư bản khả biến tăng 100%
QUÁ TRÌNH TẠO RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Hai phương thức tạo ra giá trị thặng dư:
*Giá trị thặng dư tương đối: là phần giá trị thặng dư được tạo ra nhờ vào việc rút ngắn
thời gian lao động tất yếu (thời gian mà công nhân làm việc để tạo ra giá trị tương đương với tiền lương của họ), thông qua việc nâng cao năng suất lao động Điều này cho phép nhà tư bản tăng phần thời gian lao động thặng dư trong khi giữ nguyên hoặc thậm chí rút ngắn thời gian lao động tổng cộng
Giá trị thặng dư tương đối được tạo ra thông qua các biện pháp sau:
1 Nâng cao năng suất lao động:
o Áp dụng các kỹ thuật sản xuất hiện đại hoặc cải tiến tổ chức sản xuất