Người đọc tìm thấy trong ba tập Di cdo thơ dau vết của Điêu tan, thé giới của Ảnh sáng và phù sa, Hoa trên đá...tiếp nỗi phong cách tài hoa, trí tuệ, giàu tính triết luận ở những tập thơ
Trang 1; BỘ GIÁO DỤC VA ĐÀO TẠO _ ;TRUONG DAI HỌC SU PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH
Đào Thị Kim Ngân
QUAN NIỆM THƠ, HÌNH TƯỢNG
VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH
Đào Thị Kim Ngân
QUAN NIỆM THƠ, HÌNH TƯỢNG
VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT _
QUA DI CAO THO CUA CHE LAN VIÊN
Chuyén nganh Van hoc Viét Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Sau hơn hai năm theo học lớp Cao học Văn học Việt Nam khóa 20, được
sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Phùng Quý Nhâm, tôi đã hoàn thành luận
văn thạc sĩ Tôi xin gửi đến thay lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất.
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, trường DH Khoa học xã hội và nhân văn đã tận tâm giảng dạy trong quá trình tôi theo học tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn nha văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ Chế Lan Viên đã cung cap cho tôi những kiến thức bồ ích, giúp tôi hiểu thêm về nhà thơ.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu nghiên cứu.
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bè bạn - là
nguồn động lực tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này chưa được công bô
trong luận văn nảo Nêu có tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Người viết Đào Thị Kim Ngân
Trang 54 Pham vi nghién CUU 0 12
5 Phuong phap nghién Ctu a1 12
6 Những đóng góp của luận Văn - tt TH HT TH TH HH ngàn 13
7 Cầu trúc của luận Văn c- St SEEEESEEEEEEKEEKEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEELEEkrkrrkrrvee 13 CHƯƠNG 1.QUAN NIỆM THƠ QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN 15
1.1 Quan niệm về thơ Ca - 6 cSsSES EEEEỀ SE EEEEEEEEEEEEEE1 1111111111 11111111 1111 cE 15
1.1.1 Thơ phải “ăn mặn vào miếng đời phàm tục” và “cần nhân thế” l5 1.1.2 Thơ là sự sáng tạo hồn bằng chữ -¿- 2+©2++2++t2Ex+Ex+erxeerxrrrrrrrrree 27
1.1.3 Tho là sức nặng của tư duy và tinh cảm - - 5 5+ S+ks+sssiserrrrrreereeree 33
1.2 Quan niệm về nhà thơ 2 2 SE SE+SE£EE£EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEXEEX5E111711 1.1 xe, 36
1.2.1 Nếu làm thơ phải có hồn thi sĩ -2- 5 £ £+S£+E£2EE2EE£EE£EEEEEEEEeEErErrerrerree 36 1.2.2 Nhà thơ viết câu thơ theo số phận của mình, chăng bắt chước được ai 40 1.2.3 Là nhà thơ, anh sống nơi này phải nghĩ đến nơi kia -2- 525255: 44 1.3 Quan niệm về mối quan hệ giữa tho, nhà thơ và người đỌc - - ++-++s+ 48
1.3.1 Nhà thơ — người đọc: Từ niềm khắc khoải tri âm đến sự đồng hành trong sáng
TAO aa L1 48
1.3.2 Người đọc, vị quan tòa quyết định số phận của thơ ca -:z- 5z: 52 CHƯƠNG 2.HINH TƯỢNG NGHỆ THUAT QUA DI CAO THƠ
CUA CHE LAN VIEN 005 55
2.1 Hinh tuong thién nhién 0 eee 55
2.1.1.Thiên nhiên kì vĩ, huyền ảO 2- 2-2 5© £+E2E£2E££EE2EESEEEEEEEEeEEerkerkerrerree 55 2.1.2 Thiên nhiên bình dị, cao khiẾt - 2-2 2 2 E2 E+EE+EE+EE£EE£EEEEEEErEerEerrerree 59
Trang 62.2 Hình tượng TỔ quỐC 2-2 2 SE SE£SE£EE£EE£EEEEEEEEEEEE2E12E12217171717171 1.1.1 Xe, G7
2.2.1 Tổ quốc rộng lớn, vận động từ quá khứ đến hiện tại -¿- ¿5+ 67
2.2.2 Tổ quốc trong mối quan hệ với nhân dân -¿ 2 +2£+2+++z+++z++ 79 2.2.3 Tổ quốc trở về với vùng quê thanh bình - 2 ¿+s+£+z+zxz+zxzxzzrsez 86 2.3 Hình tượng chủ thé trữ tình 2-2 s£ E+E+E££EE2EE2EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErrerrree 87
2.3.1 Con người chiêm nghiỆm G2 3 3111311891891 113111 11 1811 11 11x re, 87 2.2.2 Con người với nhân sinh quan tích CỰC - «5 65+ +sE+vEseeeeeerseeerke 97
CHƯƠNG 3.NGON TỪ NGHỆ THUAT QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN 100
SN 0i0iìải1(1:8i:)):::ïẰƒNGHHAIIỶỖ 100
3.1.1 Phong phú trên nhiều lĩnh Vực -. - ¿22 5£+2+2£+2++2£+++£x++zxzezzxrred 100
3.1.2 Sự đa năng của ngôn từ nghệ thuật - 5 5 3 22x *+Ssrsrrrrrrrrrrres 102
3.1.3 Ngôn từ đậm sắc thái tu tỪ :-©2+©2+22EEEk221E212712211271211.11 21 105 3.1.4 Ngôn từ giàu chất triết lí ¿- ¿+ £+Sx+2E+£EE2EEEEE2E1211271 2112712112 crreeU 118
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX như dự đoán của nhà phê bình Hoài Thanh từ hơn nửa thế kỉ trước: Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tắc thường mà hong do được [39, 224] Sinh thời, Chế Lan Viên là nhà thơ có vị trí chắc chắn trong lịch sử văn học Khi mất đi, ông xứng đáng được tôn vinh là nhà thơ của dân tộc.
Với hành trình sáng tạo kéo đài hơn nửa thế kỉ, được đánh dấu bằng từng mốc
lịch sử đặc biệt: Trước và sau Cách mạng tháng Tám, trong thời chiến và trong thời bình, Chế Lan Viên đã để lại trên thi đàn không ít thành tựu rực rỡ với nhiều giá trị thể hiện tâm hồn nhạy cảm va trí tuệ minh triết Cuộc hành trình sáng tạo bền bi,
không ngừng nghỉ bằng tài năng và tâm huyết của Chế Lan Viên được bắt đầu bằng
tập thơ đầu tay Điêu tan Tập thơ được sáng tác khi tác giả mới 17 tuổi nhưng đã tạo được tiếng vang nhất định Nó xuất hiện giữa đồng bằng văn học Việt Nam giữa thế ki XX như một niềm kinh dị, chắc chắn, lẻ loi và bí mật [39, 225] với thé
giới siêu thực, giàu chất Suy tưởng thấm đượm nỗi đau uất hận, nỗi đau trước cảnh
điêu tàn, hoang phế của Chiêm quốc hay của chính dân tộc mình Với tập thơ đầu
tay, Chế Lan Viên đã khiến bao người ngạc nhiên và trở thành một trong số những
nhà thơ nổi tiếng nhất của phong trào Tho mới Thành công ban đầu của Điêu tan
là bước khởi đầu vững chắc, tạo động lực để Chế lan Viên tiếp tục cho ra đời những tập thơ tiếp theo tạo được nhiều tiếng vang như: Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Hoa trên đá Những tập thơ sau này tiếp tục khang định chỗ đứng của Chế Lan Viên trên thi đàn với tài năng đang độ chín, sức sáng tạo đang ở thời kì sung mãn nhất Người ta tìm thấy một Ché Viên đã từ giã thung lũng đau thương đề đi đến cánh đồng vui, một nhà thơ đứng ngang tâm chiến lity của trận địa đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, được coi là một trong những cây đại thụ tỏa bóng trong khu rừng lớn của văn học Cách mạng Việt Nam
Trang 8thế kỉ XX và là một cây bút luôn trăn trở về cuộc đời, về con người với những suy
tư, chiêm nghiệm.
Chế Lan Viên là một hồn thơ phong phú, đa dạng với sức sáng tạo bên bỉ.
Như một kiếp tằm, rút ruột nhả cho đời những sợi tơ óng ánh để rồi lặng im hóa kiếp, đến những ngày cuối đời, vật lộn trên giường bệnh, nhà thơ vẫn chạy đua với thời gian dé tiếp tục sáng tạo, tiếp tục cống hiến cho đời những van thơ giá trị Sau khi nhà thơ qua đời, một lần nữa người đọc phải sửng sốt trước ba tập Di cdo thơ
mà vì nhiều lí do khác nhau mà ông chưa có dịp công bố.
Ba tập Di cao thơ với sé luong đồ s6 581 bài thơ, đã hoàn chỉnh hoặc còn ở dạng phác thảo, được nhà thơ viết trong nhiều năm khi còn khỏe mạnh cho đến lúc lâm trọng bệnh, từ giã cõi đời Như vậy, ba tập thơ là ba tập di chúc, ba tập tâm huyết của nhà thơ trước lúc ra đi, chứng tỏ một tài thơ trác tuyệt với bút lực đồi dao Người đọc tìm thấy trong ba tập Di cdo thơ dau vết của Điêu tan, thé giới của Ảnh sáng và phù sa, Hoa trên đá tiếp nỗi phong cách tài hoa, trí tuệ, giàu tính triết luận ở những tập thơ trước đó song cũng bắt gặp những vận động, thay đôi về
quan niệm, hình tượng, cảm xúc, tư tưởng Đến với Di cao thơ, ta lại tiếp tục thấy
một cá tính sáng tạo độc đáo với những quan niệm sâu sắc về thơ ca, với những hình tượng, ngôn từ nghệ thuật thể hiện cái nhìn suy tư, chiêm nghiêm, đa chiều về
con người, cuộc sông trong dòng chảy thời gian Tìm hiểu về quan niệm thơ, hình
tượng và ngôn từ nghệ thuật trong Di cảo thơ của Chế Lan Viên góp phần tạo nên cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống quan niệm, thế giới nghệ thuật của một cây
bút được mệnh danh là “than đồng” thi sĩ.
2 Lịch sử van đề
Chế Lan Viên sáng tác phong phú với nhiều thê loại, trong đó thơ giữ một vị trí then chốt Ngay từ khi mới xuất hiện, Chế Lan Viên và thơ của thi sĩ đã làm người yêu thơ phải ngạc nhiên, trầm trồ thán phục và trở thành đề tài hấp dẫn nhiều
ngòi bút phê bình, nghiên cứu.
Trang 9Sau khi nhà thơ mất, ba tập Di cao thơ ra đời đã tạo được sự quan tâm, chú
ý của các ngòi bút phê bình, nghiên cứu Một số công trình nổi bật nghiên cứu về
Di cao thơ như:
Đoàn Trọng Huy với Đọc những trang để lại, thêm hiểu một hôn thơ Di cảo (Văn nghệ, số 11, 13-3-1993) đã phân loại, thống kê ba mảng chính trong Di cdo thơ: mảng tình yêu, mảng thơ về thơ và mảng thơ triết lý và khắng định phong cách thơ Chế Lan Viên biểu hiện tính triết luận Đối với mảng suy nghĩ về thơ, Đoàn
Trọng Huy đã khang định sự đóng góp to lớn của Chế Lan Viên: Trong các nhà thơ
Việt Nam hiện đại, anh là người đã từng viết nhiều nhất, bằng thơ và cả văn xuôi,
về quan niệm thơ, về nghệ thơ trong đó có những van dé cốt yếu nhất.[18, 359] Những vấn đề cốt yếu ấy là cái tâm của nhà thơ, thơ ca được nâng lên thành đạo với tat cả sự thiêng liêng [18, 359] và thơ trở thành đối tượng nằm trong hệ thong
tư duy triết luận [18, 360].
Trong một bài nghiên cứu khác Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên
từ sau 1975 (Tạp chi văn hóa, số 6/1993), Đoàn Trọng Huy đã chỉ ra sự vận động, thay đổi trong Di cdo fhơ so với những tập thơ trước về đề tài, cái tôi trữ tình và ngôn ngữ Về đề tài, tác giả nhận xét: Chế Lan Viên đã từ khai thác lịch sử - dân tộc di về hướng thé sự - đạo đức, từ sự chủ ý “khía cạnh anh hùng” chuyển sang
“khía cạnh đời thường” [19, 101] Về cái tôi trữ tình, tác giả cũng nhận thấy sự đổi khác: Đó la sự doi hỏi khẳng định cá tính cùng với cá tinh sáng tao, là nhu cau giãi
bày về muôn mặt đời thường, về tình yêu tran thé [ ] Trong quá trình hoàn thiện
nhân cách, nó di tìm lại minh — tìm một bản lĩnh riêng, một gương mặt tâm hồn riêng, dựa vào chính mình, vào sự trải nghiệm ca nhân, vào nhân cách ban thân [19, 103-104] Còn về giọng tho, tác giả cũng chỉ ra sự chuyền biến từ mạnh mẽ đến trằm tĩnh, sâu lắng mang tính thời sự.
Bên cạnh đó, Trần Thanh Đạm với Những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên
qua những trang Di cdo ( Văn nghệ, số 36, 4 — 9 — 1993 ) nghiên cứu biểu hiện
triết lý trong Di cdo thơ qua giọng thơ và triết lý về thơ của Chế Lan Viên Đối với những bài thơ triết lý về thơ, tác giả đã khăng định: Đây có lẽ là phần đặc sắc nhất
Trang 10trong thơ triết ly của anh [9, 348] Trần Thanh Dam cho rằng: Chế Lan Viên không dong nhất nghệ thuật với đời sống, không hé chủ trương “phan ánh hiện thực” một cách thô thién, dung tục [9, 349] Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy Chế Lan Viên có những bài thơ đặc sắc vé sự sáng tạo nghệ thuật, có những bài thơ ghi lại nôi thao thức, day dứt sáng tạo của nhà thơ trong giai đoạn cuối đời [9, 350 - 351].
Nguyễn Bá Thành với Đọc hai tập Di cdo thơ (Tạp chí Văn nghệ quân đội, 4
- 1994) quan tâm đến hình anh, giọng thơ và nhận ra sự thay đổi về giọng thơ, hình
anh thơ, âm điệu thơ, phương pháp tư duy Nguyễn Thái Sơn qua Ché Lan Viên và
Di cdo thơ (Văn nghệ, 4-3-1995) chú ý và phát hiện ra những tình cảm, nỗi niềm, những giá tri nhân văn và nghệ thuật.
Di cao thơ Chế Lan Viên của Võ Tân Cường (Tap chi Cửa Việt, 9 -1995) khang định ba tập thơ là di chúc thơ về cuộc đời và nghệ thuật.
Di cao thơ Chế Lan Viên hành trình tìm lại chính minh của Nguyễn Quốc Khánh (Tạp chí Văn học, 1999) và Chế Lan Viên trong Di cdo của Vũ Quan
Phương (Tài hoa trẻ, tháng § -1999) chú ý “cái tôi” của nhà thơ luôn trăn trở về
thơ, nghề thơ, cuộc sống, COn người
Những cách tân về cấu trúc câu thơ của Nguyễn Lâm Điền (Chế Lan Viên giữa chúng ta, tháng 5 - 1999) nghiên cứu về nghệ thuật mở rộng câu thơ trong thơ Chế Lan Viên từ Ánh sáng và phù sa cho đến những bài hoàn chỉnh trong Di cdo thơ có một bước phát triển ở mức cao hơn Ở đó, loại câu thơ 5, 6, 7 tiếng và nhiều hơn đạt được thành công đáng kể Trong bài viết, tác giả cũng cho thấy Chế Lan Viên tìm đến những câu tho dài, ngắn dé diễn tả trọn vẹn ý tình của nhà thơ đối với cuộc sống, mặc dù có những câu thơ ngắn nhưng lại có khả năng sdi cánh cả tâm hồn.
Hồng Diệu với bài viết Thơ về thơ cua Chế Lan Viên (Ché Lan Viên giữa chúng ta, 1999) nghiên cứu về quan niệm tho của Chế Lan Viên trong Di cdo tho
gồm: quan niệm về vị trí, trách nhiệm của nha thơ, về mối quan hệ giữa thơ với con
người, thơ với hiện thực, về thơ với người đọc, về nghệ thuật làm thơ.
Trang 11Tài năng và tính cách độc đáo Huy Phương (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 1999) đã đưa ra nhận xét khá khái quát về đời thơ của Chế Lan Viên: Nghĩ về anh với đời thơ của anh, tôi cứ muốn dùng hình ảnh cây cau bắc ngang dòng sông lớn của thời đại mà mốc cau bên này là Điêu tàn [ ] và mốc cẩu bên kia là Di cdo thơ, một bộ tâm sử bằng thơ hiếm thấy trong bat cứ nên thi ca xứ sở nào [34, 187] Trong bai viết, tác giả nghiên cứu Di cdo tho dưới góc độ nội dung Di cao tho là
sự độc thoại, tự xem xét mình một cách nghiệt ngã và chân thành của Chế Lan Viên, là nỗi đau của nhân thế, những băn khoăn, day dứt với vận mệnh con người
của nhà thơ.
Bài nghiên cứu Tri tuệ, tài năng, tâm hon của Lê Dinh Ky (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 2000) viết về sự thay đổi giọng điệu của Chế Lan Viên trong Di cdo thơ so với những tập thơ trước Tác giả nhận thấy Chế Lan Viên trong Di cdo thơ chú ý đến nỗi đau của đời người sau những âm vang hùng tráng của chiến tranh, chú ý đến bi kịch của sáng tạo, quan tâm đến mọi vấn đề của cuộc sống, thi ca với một trí tuệ, tâm hồn mẫn tiệp: Chế Lan Viên đã đào xới, lật xuôi lật ngược đủ thứ
van dé lớn nhỏ của đời sống, của tâm hôn, của thơ ca.[26, 35]
Đến bài viết Quan hệ thơ và phê bình trong trước tác của Chế Lan Viên của
Lê Quang Trang (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 2000) đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa chat thơ và chất phê bình Sự lựa chọn dé tai, chủ đề dé biểu lộ, suy nghĩ,
ý tưởng triết lý từ tác phâm đầu tay Điêu tan đến những tập Di cdo thơ sau này đều
có sự chi phối của lý trí, ý thức hay nói như Chế Lan Viên là với 6c phê bình giúp đỡ.
Triết luận về thân phận con người trong Di cảo thơ của Trần Hoài Anh (2003) chú ý tính triết lý trong Di cdo tho biểu hiện qua “cái tôi” của nhà thơ Đến
Di cảo thơ: Một cái nhìn mới về hiện thực, một quan niệm của Trần Hoai Anh
(2006) phát hiện cái mới mẻ, độc đáo trong quan niệm thơ hướng về hiện thực ở Đi
cảo thơ so với những tập thơ trước.
Ngoài những bài viết trên, tập chuyên luận Thé giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà (2005) nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc về đặc trưng nghệ
Trang 12thuật thơ Chế Lan Viên Trong tập chuyên luận, tac giả chi ra sự thay đổi về nghệ
thuật trong Di cdo tho’ so với những tap thơ trước như: không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật ở Di cdo tho là không gian đời tư, triết lý:
Từ không gian rộng, ông lui về tâm tình, tự vấn, tự thoại trong vùng không gian hẹp dé phát giác nhiễu quan hệ mới [14, 133] Thời gian nghệ thuật trong ba tập thơ này là thời gian đời tư, chiêm nghiệm giúp nhà thơ phát hiện thêm những chân
lý mới của đời sông: Di cdo thơ chính là hành trình tim lại thời gian và phát hiện mới về thời gian của Chế Lan Viên.[14, 161] Bên cạnh đó, Hồ Thế Hà cũng chú ý
đến phương thức biểu hiện trong tho, đặc biệt là các biện pháp tu từ đặc sắc Tác
giả nhấn mạnh: Vé đẹp duy lý của thơ Chế Lan Viên tạp trung đậm đặc ở biện pháp
so sánh và biện pháp đối lập (14, 173] Đi vào nghiên cứu biện pháp đối lập, tác giả chú ý đến biện pháp đối lập trong Di cdo tho và rút ra những giá trị của biện pháp này: Đó /à đối lập từ gan — đến xa, trên — dưới, tạo ra sự đối lập không gian, biểu hiện chiều kích của cuộc sống và lịch sử; đối lập xưa — nay, hiện tại — quá khứ
- tương lai [ ] Tat cả những đối lập đó được điều khiển bởi một tư duy duy lí sắc
sao [14, 177] Nghiên cứu biện pháp so sánh, tác giả chú ý các kiểu so sánh: A la
B, A như B, A thành B và khăng định: Giá trị của những sao sánh và cấu trúc trong thơ Chế Lan Viên là đã tao được nhiều tang nghĩa, nhiều kết hop và nhiều giọng
điệu, hình anh mới lạ.[14, 189].
Những bài nghiên cứu đã đánh giá, tìm hiểu quan niệm tho, cái tôi trữ tình cùng phong cách thơ triết luận của Chế Lan Viên qua Di cdo tho Từ đó khang định tài năng, đóng góp nhiều giá trị cùng sự trường tồn của Chế Lan Viên trong nền
văn học dân tộc Những bai viết trên chỉ dừng lại ở tính chất gợi mở, chưa thực sự
đi sâu, hệ thống về quan niệm thơ, hình tượng cũng như ngôn từ nghệ thuật Nhưng những giá trị của những bài nghiên cứu trên, là cơ sở dé người viết tiếp thu, phát huy những thành quả đề phát triển đề tài.
Trang 13+ Chế Lan Viên 1992 Di cao tho (tập 1) NXB Thuận Hóa Huế.
+ Chế Lan Viên 1993 Di cdo tho (tập 2) NXB Thuận Hóa Huế.
+ Chế Lan Viên 1996 Di cdo tho (tập 3) NXB Thuận Hóa Huế.
- Do mục đích của đề tài, người viết tập trung vào quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật.
- Ngoài ra, người viết so sánh quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật trong ba tập Di cdo thơ với những tập thơ Điêu tàn, Anh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Đối thoại mới, Hái theo mùa
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Người viết sử dụng phương pháp này dé phân tích một số bài thơ, dan chứng đặc sắc, nổi bật dé làm sáng tỏ những luận điểm của luận văn Từ đó thấy rõ những đóng góp mới mẻ của Chế Lan Viên trong quan niệm thơ, hình tượng, ngôn từ, không gian và thời gian nghệ thuật qua Di cdo tho.
- Phương pháp so sánh
+ So sánh lịch dai: so sánh Di cdo tho với những tập thơ trước như; Điêu
tàn, Anh sáng và phù sa, Hoa ngày thường —- Chim báo bão, Hoa trên đá dé
thấy điểm tương đồng và khác biệt Từ đó thấy được tính ổn định cũng như sáng tạo của Chế Lan Viên trên hành trình nghệ thuật của ông.
Trang 14+ So sánh đồng đại: so sánh Di cdo thơ của Chế Lan Viên với thơ của một
số nhà thơ như Tố Hữu, Yến Lan dé thấy được nét khác biệt, sáng tạo, những đóng góp riêng của Chế Lan Viên.
- Phương pháp thống kê, phân loại:
Với phương pháp này, người viết có thé dé đưa ra những số liệu cụ thé, chính xác về các biện pháp nghệ thuật mà Chế Lan Viên sử dụng trong Di cao thơ.
Từ đó thấy được sự nỗi bật trong đặc điểm, sự sáng tạo của Chế Lan Viên về ngôn ngữ thơ.
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống quan niệm thơ của Chế Lan Viên cùng hình tượng, ngôn từ, không gian
và thời gian nghệ thuật mà nhà thơ sử dụng trong Đi cảo thơ.
- Khang định phong cách nghệ thuật cũng như những đóng góp độc đáo của Chế
Lan Viên về quan niệm thơ, hình tượng, ngôn từ, không gian và thời gian nghệ
thuật qua Di cao tho.
7 Cau trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quan niệm thơ trong Di cdo thơ của Chế Lan Viên Trong chương nay, tìm hiểu quan niệm độc đáo của Chế Lan Viên về thơ ca
và nhà thơ.
Chương 2: Hình tượng nghệ thuật qua Di cdo tho của Chế Lan Viên Trong chương 2, luận văn trình bày những hình tượng nổi bật trong Di cdo thơ: hình tượng thiên nhiên, hình tượng Tổ quốc và hình tượng con người
Chương 3: Ngôn từ nghệ thuật qua Di cdo tho của Chế Lan Viên
Trang 15Trong chương 3, luận văn tìm hiểu, khám phá những điểm nổi bật về ngôn
từ, không gian và thời gian nghệ thuật ở phương diện: giàu tính triết luận, kết hợp
đa dạng các biện pháp tu từ
Trang 16CHƯƠNG 1
QUAN NIỆM THƠ QUA DI CO THƠ CUA CHE LAN VIÊN
1.1 Quan niệm về thơ ca
Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu cho phong cách thơ giàu trí tuệ, giàu tính triết luận với tư duy sắc sảo Trong cuộc đời công hiến cho nghệ thuật của mình, nhà thơ không chỉ đơn thuần sáng tác thơ mà biến thơ thành những quan niệm, thành những lý luận độc đáo, sâu sắc về thơ Những quan niệm nghệ thuật đúc kết
từ hành trình lao động nghệ thuật không mệt mỏi của Chế Lan Viên được tập hợp trong nhiều tập thơ, phê bình, tiểu luận Lê Dinh Ky cho rằng những bài thơ viết về thơ của Chế Lan Viên là tho lí luận và hình như ở thơ Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên là người mở đâu cho lối thơ nay [25, 39] Thật vậy, quan niệm về thơ ca của Chế Lan Viên được hình thành sau những trăn trở, nghĩ suy, khao khát khám phá thấu đáo công việc sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ đã trở thành một bộ phận quan trọng trong các tập thơ của ông, bat đầu từ lời tựa trong tập Điêu tan cho đến những bai thơ viết về thơ trong các tập thơ thời cách mang và đặc biệt là trong Di cao thơ, ba tap thơ được viết lúc cuối đời.
Qua tìm hiểu, người viết nhận thấy quan niệm thơ của Chế Lan Viên trong
ba tập Di cáo thơ có sự kế thừa cũng như đổi thay so với quan niệm thơ thé hiện ở
những tập thơ trước đó, được biểu hiện nồi bật ở một số phương diện sau:
1.1.1 Thơ phải “ăn mặn vào miếng đời phầm tục” và “cần nhân thé”
Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều giai đoạn từ trước cách mạng cho đến lúc cuối đời Di cdo tho là tập hợp phan lớn những bài thơ được viết sau 1975 Hoàn cảnh xã hội của đất nước sau 1975 chuyền sang giai đoạn mới đã tác động mạnh mẽ đến cái nhìn hiện thực cũng như quan niệm thơ của Chế Lan Viên Hiện thực cuộc sống bây giờ không phải là những tháng năm hao hùng, vinh quang của một thời đại vẻ vang mà là những đắng cay của con người khi đối diện với muôn mặt của cuộc sông đời thường Vân dé đặt ra lúc này không phải là vận
Trang 17mệnh dân tộc mà là số phận của từng cá nhân Điều đó tạo xu hướng vận động của văn học giai đoạn này hướng đến cảm hứng thế sự và đời tư, thay thế cảm hứng lịch sử và dân tộc trước đó Và đây trở thành tiền đề làm nên cái nhìn mới mẻ về hiện thực của Chế Lan Viên trong Di cáo thơ.
Trong quan niệm về thơ ở Di cđø thơ, Ché Lan Viên đề cao vai trò phan ánh hiện thực của thơ ca Hiện thực của Chế Lan Viên trong ba tập thơ này xoay quanh trục cảm hứng về bản thé thơ và ban thé của con người Nhà thơ đã từng trăn trở, băn khoăn và hoài nghi về những giá trị, nhiệm vụ, bản chất của thơ mình ở những
chặng đường trước kia:
Thơ chỉ sống một phan cho minh còn ba phan cho nhiệm vu Nghĩ mà thương
(Sử)
Nhìn lại một chặng đường thơ đã qua với những tập thơ Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Chễ Lan Viên nhận thay sứ
mệnh của thơ là song hành với lịch sử biến động của dân tộc, phục vụ cho kháng
chiến, cho cách mạng, tham gia giải quyết những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước Lúc này số phận của từng cá nhân không phải là van đề bức thiết đặt lên hàng đầu mà số phận của dân tộc mới là vấn đề cần giải quyết Vì thế thơ ca phải làm nhiệm vụ có ý nghĩa và thiết thực là đáp ứng yêu cầu bức thiết của thời đại Thơ và quan niệm thơ của Chế Lan Viên không nằm ngoài xu hướng đó Chế Lan Viên đã khái quát thiên chức xã hội của thơ:
Thơ can có ích Hãy bắt đâu từ nơi ấy mà đi.
(Nghĩ về thơ) Với Chế Lan Viên, quan niệm Tho cần có ích lúc đó không chỉ dừng ở mặt
tư duy, ở nhận thức, ở lý luận mà đã biến thành tình cảm, là thái độ sống, là hoài bão của nhà thơ trong những ngày tháng đau thương mà anh dũng:
Anh chỉ mong câu thơ anh sống khỏi một đêm,
có ích qua một ngày
Trang 18Đúng cai đêm bà mẹ chết con cân một câu thơ cho đỡ khổ
Đúng cái ngàyngười chiến sĩ trên chiến hào ôm xác bạn ngã vào tay
(Thơ bình phương - Đời lập phương)
Có thé nói quan niệm Tho cẩn có ich của Chế Lan Viên cũng nằm trong
dòng cảm xúc chủ lưu của thơ ca cách mạng và kháng chiến Đó cũng là một trong những yêu cau mà thời đại đặt ra cho thơ, và là một phẩm chất, một chuẩn thẩm mỹ của thơ chi phối quá trình sáng tạo của nhà thơ Dé chi rõ hơn sự có ích của tho, Chế Lan Viên cho rằng the không phải chỉ đưa ru mà còn thức tinh, phải đập bàn
quát tháo lo toan, nghĩa là thơ phải trở nên mạnh mẽ, đữ đội, phải có chất “thép” và
tham gia giải quyết những van dé liên quan đến vận mệnh đất nước, dan tộc Trong
hoàn cảnh đất nước chiến tranh, quan niệm ay thật có ý nghĩa va thiết thực, đáp ứngđược yêu cầu bức thiết của dân tộc và thời đại Vi vậy, thơ có ích còn là loại thơphải đem đến cho con người sự hoi sinh, sự bừng ngộ, va hon thé nữa thơ phải biếnthành một thứ lửa truyền qua muôn đời: Cau tho u, là cách chuyển lửa qua muôn
đời (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ).
Nhiệm vụ của thơ cũng thay đôi khi thời đại đôi thay Những tháng năm lắm
hào hùng nhưng cũng không ít đau thương qua đi nhường chỗ cho thời kì "đôi mới”
quá độ cia đất nước ma mỗi cá nhân phải đối điện với muôn vàn đắng cay, vat vácủa cuộc sóng đời thường day biến động của nên kinh tế thị trường Các nhu cầu về
xã hội, về cá nhân dan dan thay thé cho nhu cau chính trị, cộng đồng và trở thành
trung tâm của tiếng noi trừ tình Nằm trong dòng chảy của đời sông xã hội nói
chung và đời sông văn học nói riêng, quan niệm vé thơ của Chế Lan Viên đã có sự
thay đôi và chuyên hướng theo xu thé gần với đời tư, thé sự, nhân sinh Nha thơ đã
tìm ra hướng di mới cho tho minh dé phù hợp với thời đại và sự vận động trong
quan niệm về thơ của minh đã được chính nhà tho khang định:
Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng tram Tiếng hát lan với im lùn của dat
Vicon lặng yên ma thơm mui mít mật
Trang 19Còn hon anh rô giọng hát vang ngân
(Giọng tram)Trong thời đại ca dân tộc nêu cao tinh thần “quyết tử cho Tô quốc quyết
sinh” và dat nước giành được những thắng lợi vẻ vang thì giọng cao hào sảng mang
hôn chiến trận, phải đập bàn quát tháo lo toan của thơ là điều cần thiết Nhưng khi
chiến tranh đi qua, những chiến tích chi còn là quá khứ thì giọng tram của thơ lúc nay lại cần thiết cho việc đi sâu vào bản thé tho, ban thé con người, quan tâm đến
những số phận bé nhỏ đời thường đang đối diện với những đồi thay trong thời đại
mới Nhân sinh, thể sự đem đến hơi thở, hon thơ và trở thành chủ đề chính trong
sáng tác của Chế Lan Viên Hàng loạt những bai thơ được viết ra như Tir thé chỉ
ca, Lon trái, Thời gian nước xiết, Hồi ký bên trang viết là những suy niệm mới
của nha thơ về van đề sống, chết, sáng tạo, sự hữu hạn, cõi vĩnh hang trong cuộc
đời và trong mỗi người.
Lay đời tư, thé sự làm chất liệu, nguồn cảm hứng cũng như đối tượng phục
vụ của thơ ca, Chế Lan Viên quan niệm:
Đâu dim dung thơ như tháp nhiều tang
Tôi lại thích bài thơ nắm giữa cỏ
(Tháp cao tăng)
Tho nam giữa co là thơ đến với đời thường, những cuộc đời, những số phận,
những van dé tưởng chừng quá quen thuộc, nhỏ bé, thậm chí bị khuất lấp ít được
quan tâm thì giờ lại đem đến sức sống cho thơ của Chế Lan Viên Quan niệm này
gan tương đồng với quan niệm trong Ánh sáng và phù sa: Chang có thơ đâu giữalòng đóng khép (Tiếng hát con tàu)
Ö Ánh sáng và phù sa Ché Lan Viên bộc lộ quan điểm thơ phản ánh hiện thực Hiện thực hiện lên trong tập thơ là hiện thực lớn lao của dân tộc, Tô quốc đang thay da đổi thịt Còn trong Di edo tho, quan niệm thơ phản ánh hiện thực đi
vào chiều sâu của thé sự, đời tư Dé thé hiện được sự đa diện, đa chiêu của van dé
thé sự, nhân sinh, thơ không chỉ phản ánh hiện thực o bẻ mặt của nó ma phải đi vào
bé sâu, bề xa, phải ấn man vào miếng đời phảm tực (Thơ thế kỷ 20) Trước đây,
Trang 20Chế Lan Viên đã quan niệm đời cho thơ chất mặn: Hãy biết ơn vị muối của đời cho
thơ chat mặn (T6 quốc bao giờ đẹp thé này chăng) Chất mặn của đời theo nhàthơ cảm nhận là cái vị rất thực của đời, là cảm hứng của thơ ca Giờ đây cũng thé,
thơ ca tìm được vị mặn của cuộc đời đẻ tạo nên vị mặn cho nó, phải bước vào cuộc
sông còn nhiều những lo toan, cay đắng, khốn khó trong những ngày dau “đồi mới”
dé nêu bật được van dé xã hội cá nhân con người đang quan tâm một cách chân thành, sâu sắc, toàn điện Không chi vậy, thơ can phải lăn lộn với cuộc đời đạn day
ăn gió năm sương, lội tuyết, lội bùn, xông vào lửa bóng (Thơ ) thì mới thể hiện đờisông của cá nhân và bẻ đời rộng lớn một cách phong phú, đa chiều, đa điện ở mặt
phải lẫn mặt trái Vì vậy mà nhà thơ khăng định The la cộng đời anh cùng vô van
cái không phải nó (Chỗng lại thơ Đường).
Bên cạnh đó, quan niệm mới về thơ gắn liền với cảm hứng đời tư, thể sựcũng được Chế Lan Viên khái quát trong Di cdo the Đó là quan niệm tho can nhânthể (Thơ hiện đại), tức là thơ quan tâm đến thân phận của con người Lúc này, thơ
trong quan niệm của Chế Lan Viên không còn là sự đưa ru hay thức tỉnh, đập bàn
quát tháo lo toan mà thơ phải hướng tới với những nỗi đau của con người, phải lau
nước mat, phải là mước mat/ dưới xa kia (Tìm đường) Thơ phải quan tam, trăn trở
tìm sự hòa hợp giữa mối quan hệ “ta” và “minh”, giữa niêm vui và nỗi buon, hanh
phúc va khô đau, được và mat, vinh quang và cay đắng cúa kiếp nhân sinh:
Câu thơ có nghĩa đơn mà hôn phải kép
Viết cái am của ta mà không quên cái rét của mình
(Hai xứ)
Với một hồn thơ không yên ôn, đầy những dan vặt, trăn trở như Chế Lan Viên thì thơ trong quan niệm của ông phải bao trim cõi tinh thần của con người, không được phép chỉ hướng tới niềm vui, hạnh phúc, vinh quang mà quên đi khô dau, bat hạnh, đăng cay Nhưng thơ không chi dừng lại ở việc phản ánh cdi tinh
thần sâu thăm, phức tạp của con người mà trên hết thơ phải là Thudc có khả năng
chữa lành những vết thương trong cdi tính than của con người: Có vào nổi dau mới
có ich cho người Dé mới chính là những vần thơ có giá trị:
Trang 21Có vào néi dau mới có ich cho người
Nếu tả tiếng cười tr? Phải trả cdi giá ta cười
(Thuốc)
Thơ chính là tông hòa những cung bậc cảm xúc và đánh thức cảm xúc, tâm
hồn của con người: Nhiệm vụ của thơ, ara thé/ Thêm vị muối cho đời, thêm hạt lệ
cho tho/ Thêm tiếng cười cho kẻ sống tra tro (Đói).
Thơ can nhân thé trong quan niệm của Chế Lan Viên không phải đến Di cdo
thơ mới xuất hiện mà đã có quá trình lên men từ trước Từ tập thơ Hoa trên đá.Chế Lan Viên có những dấu hiệu chuẩn bị, khởi đầu cho sự hình thành quan niệm
thơ được khái quát, chiêm nghiệm trong Di cao tha sau này Nhà thơ đã ý thức sâu
sắc trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ ở mình, mỗi quan hệ gắn bó giữa bản
thân mình và nhân loại:
Nita đời thơ anh mới chợt hiểu rằng
Lâu nay có nửa phan nhân lọai sống giữa màu huyết trắngCái phan nhân loại trong anh cay dang
Thấy mình xa nhân loại ở bên ngoài
(Thơ bình phương đời lập phương)
Quan niệm the cẩn nhân thé (Thơ hiện đại) trở thành cảm hứng bao trùm
phan đời và phan thơ còn lại của Chế Lan Viên Thơ không thé nằm ngoài cuộc
sống và phải chảy giữa biển lớn nhân sinh Chính quan niệm này đã giúp con
thuyền thơ của Chế Lan Viên neo đậu với bến đỗ cuộc đời, không bị trôi dạt vào thé giới hư vô của Điêu tan va vận động tiếp nối, đôi mới so với quan niệm trong
những tập thơ cách mạng.
Trong lời tựa của tập Điêu tan, tập thơ dau tay của mình, Chế Lan Viên đã
quan niệm về thơ Làm thơ là làm sự phi thường (47, 23], là thoát khỏi Hiện Tai, xối trộn Dĩ Vang, ôm trim Tương Lai [41, 23] Déi với Chế Lan Viên, ba ý niệm về quá
khứ, hiện tại va tương lai tan biến, hòa trộn vào nhau Đó chính là sự đảo lộn quy
luật tạo hóa, vượt qua cdi thực dé chạm đến thé giới của hư vô Chính vì vậy, sự
phi thường mà Chế Lan Viên quan niệm được thẻ hiện trong thé giới của Diéu tan
Trang 22chính là thé giới của Hư vô, không gian Tháp Chàm hoang phế do nhà thơ hư cau
nên Vì thé, không có gì lạ khi những cụm từ Aue vô lại xuất hiện nhiều, phong phútrong tập thơ như: cõi hu vô giữa hư vô, trong cùng thắm hư vô, chon hư không,cối trời mơ Chính thé giới hư không, ảo ảnh này đã thẻ hiện cái nhìn khác lạ vềhiện thực của Chế Lan Viên Dé phan anh thể giới đó, Chế Lan Viên quan niệm
phương thức phản ánh là những hình ảnh tượng trưng, siêu thực với những cảm
giác tột cùng gảo vỡ sọ, thét đứt hau, khóc trào nước mắt, cười tran cả tủy là tủy.
Khi giải thoát những cảm giác tột đỉnh ấy trong thơ tưởng chừng ngòi bút Chế Lan
Viên trượt hoàn toàn khỏi cdi thực dé bước sang lãnh địa của thế giới ảo diệu,
huyễn tướng dé tạo nên một (háp Cham chắc chan lẻ loi và bí mật, một niềm kinh
di ờ chon nước non lặng lẽ này (39, 225] Nhung không phải vì vậy mà cho rằng
quan niệm thơ và phương thức phản anh lại thoát ly hiện thực Như R Assagioli
từng nói: cái gi có thể tạo ra những hiệu ing trong một hiện thực khác thì chính no
cũng phái được coi như một hiện thực, vì không có một sự biện minh triết học nào
có thể coi thể giới vô hình hay thân bí là phi hiện thực ca [73, 392] Trên cơ sở này,
ta thay quan niệm thơ của Chế Lan Viên không phải là phi hiện thực ma quan niệm
hướng sự phản ánh của thơ đến một phương diện khác của hiện thực Đó chính là
hiện thực tâm linh Đó là thé giới riêng của sáng tạo nghệ thuật Qua thé giới ấy,
Chế Lan Viên đã tỏ rõ quan niệm lam thơ là làm sự phi thường Sự phi thường làhướng thơ ca đến thé giới của cõi tâm linh sâu thăm nhất trong thế giới tinh thancủa con người Cối tâm linh ấy được thi nhân gọi bằng cdi Ta rộng lớn day u uan:
Ôi bát ngắt mênh mang như âm giới
Day cõi Ta rộng rãi đến vô biên !
(Cõi Ta, Điêu tàn)
Cái cõi Ta giữa lòng thi nhân hay chính là cái Tôi dang bị bua vây bởi nỗi
đau thương, u buôn, sâu thảm đã thành hình, thành khôi, thành một phần sự sống:
Quả tim ta là một khối U Buồn
Mạch máu ta là những mỗi Đau Thương
(Đừng quên lãng)
Trang 23Nhà thơ ngụp lặn trong nỗi đau của chính mình mà không tìm ra lối thoát:
Dau don thay cho đến cd linh honé Cứ hay tim Chan Nan với U Buén (Ta) và muốn
tim quên lang trong chính nỗi đau ấy:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao tro trọi cuối trời xa
Dé nơi ấy thắng ngày tôi lan tránh Những wu phiên, dau khổ với buồn lo
(Những sợi tơ lòng)
Cöi Ta của nhà thơ nhuém mau đau thương, phiền muộn bởi cõi Ta ấykhông ngừng khóc than, rên ri nỗi sầu vong quốc của dân Chiêm:
Day chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muén cô hôn tử sĩ hét gam vang
Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận
Xương Chàm luôn rào rạt nổi cắm hờn
(Trên đường về)
Nỗi đau đớn, bi hận của nha thơ trước hình ảnh Chiêm quốc hoang phẻ, điều
tàn, đồ nat cũng chính nỗi đau của một người dân nô lệ muốn thoát khỏi những
khủng hoảng thực tại khi chứng kiến hiện thực của đất nước Xã hội đất nước ta trong giai đoạn 1930 - 1945 có khác gì hình ảnh Chiêm thành hoang phế, cũng bị
bao bao trùm bởi không khí ngột ngạt tù túng, bề tắc Chế Lan Viên đã chọn cách
trôi dat vào cõi ta với hình anh hồn Chiêm quốc mờ ảo, nhạt nhòa, xa xôi cùng
những bãi tha ma, tiếng khóc than của hồn ma, tiếng kêu rên của xương máu sôngdậy ở hầu hết các trang thơ như chính tác giả từng tuyên bố: Trong thơ ta dan
Cham luôn sống mãi/ Trong thơ ta xương mau khóc không thôi (Điêu tàn) Cách chọn lựa ay là một sự phan ứng lại thực tại xã hội đương thời Nhưng Chế Lan Viên không phản ánh hiện thực ấy một cách trực tiếp, đơn giản ma đã hư ảo hóa
hiện thực, không phải phan ánh hiện thực bên ngoài ma phản ánh hiện thực bên
trong, đề hiện thực xuất hiện trong thơ với một đáng vẻ khác — huyền bí, khác lạ và
độc đáo Vẻ huyền bí của thé giới điêu tan hay hiện thực tâm trang của nhà thơ
Trang 24được phản ánh mang tinh hư cấu, siêu hình bởi vì trước một cuộc đời bề tắc, khủng
hoàng nhà thơ còn biết bám víu vào đâu ngoài lãnh địa điêu linh, hoang tàn đẻ giántiếp nói lên hiện thực buồn tẻ mà mình luôn trăn trở, khắc khoai, gần như tuyệt
vọng Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu quan niệm thơ trong Diéu tan không ít ý kiến
cho rằng thơ Chế Lan Viên hướng đến sự thoát ly, giải thoát nhằm quên đi thực tại
hay nói cách khác là tìm đến một nơi phi hiện thực một tinh câu gid lạnh, một vi sao tro trọi cuối trời xa (Những sợi tơ lòng ) đẻ cho tâm hồn trú ngụ Những tư
tưởng, hình ảnh siêu hình, siêu thực trong Điêu tan giúp nha thơ giải phóng khỏi
những khủng hoảng thực tại Chính những chiếc sọ người, xương khô, dom lửa ma
troi, dau lâu, bãi tha ma, đáy mô sâu, hôn, máu là nguồn cảm xúc thơ, nguồn
cảm xúc mạnh mẽ, khác thường của tác giả Chính nguồn cảm xúc khác thường này
đã đem đến những bat ngờ, thú vị cho người đọc Quả thật, tập thơ Diéu tan đã
minh chứng cho quan niệm /am thơ là làm sự phi thường của Chế Lan Viên.
Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ đưa đất nước ta đi vào một kinguyên mới mà còn làm đời thơ, quan niệm thơ của Chế Lan Viên bước sang trang
mới Thời đại Điêu tàn trong thơ đã nhường chỗ cho thời đại Ánh sáng và phù sa.
Cũng như, quan niệm thơ trong lời tựa của tập Điều tan có sự tiếp noi và đồi thaylớn lao trong những tập thơ được sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chong Mi vĩ đại của dân tộc Nếu như sự phi thường trong Điều tan là hư ảo hóa
hiện thực, phan anh hiện thực bên trong: hiện thực tâm linh thì những tap thơ nói
tiếp như Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường — Chim báo bão,
Đối thoại mới lại gin bỏ sâu sắc với hiện thực bên ngoài rộng lớn: hiện thựccuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ, xây dựng đất nước của dân tộc Cách mạng
không chỉ đem lại sự hồi sinh cho đất nước mà còn giúp Chế Lan Viên thay đôi hồn
thơ Nỗi đau mat nước trước kia giờ trở thành lòng yêu nước, yêu chế độ mới Nỗi
buồn tránh đời tìm vào cdi hư vô đã trở thành lòng yêu đời, yêu cuộc sống Sau
những trăn trở, băn khoăn và day dứt nhiều lúc tưởng chừng như không thé nao
vượt qua được con đường dau khổ của chính mình, Chế Lan Viên đã tự "lột xác
mình”, tự “biến cải mình", tuy: Đi xứ, về hoá chậm, / Biết bao là nhiều khé
Trang 25(Ngoảnh lại mười lam năm) nhưng cuối cùng ông cũng đã từ thung lũng dau
thương bước ra cánh đồng vui, dé đến được nơi minh cần đến, về được nơi mìnhcan về Đó la sự trở về với cái ta chung của dân tộc, của nhân dân Điều đó được
thé hiện bằng một cái nhìn mới về cuộc đời Đây chính là sự vật vã trong việc từ bỏ con người siêu hình thuở Diéu tan dé hoa nhập với con người xã hội con người
công dan trong cuộc sông mới, mà Chế Lan Viên đã tự nhận ra ý nghĩa cao cả của
nó: Xưa ở sông Ngõ ta đánh mất vàng / Đánh mat tâm hôn ta Nhung hiện tại / Như
sông Tương đã trả vàng ta lại / Khắp đôi bờ tư tưởng chói hào quang (Vàng của
lòng tin) Chàng thi si mang trên mình bao nỗi chưa cay cua một thời thơ ấy đã
bước ra khỏi cai tháp nga hư vô của thé giới Diéu tan dé trở về với cuộc doi thực
Chính ánh sáng của Đảng, phù sa của cuộc đời đã giúp nhà thơ dau tranh với mình
trên cánh dong lay của nỗi đau riêng dé đến với niềm vui chung Chế Lan Viên đã
đi từ chân trời một người đến chân trời tất cá [1 21] Và đây chính là cơ sở tạo
nên một cái nhìn mới của Chế Lan Viên về mỗi quan hệ giữa cuộc đời với thơ Chế
Lan Viên không con quan niệm thơ 1a cái gì cao siêu, bí ân, phi thường, đứng trên cuộc đời, đứng ngoài cuộc đời mà thơ phải bám lấy cuộc sông, phải tìm thấy chất
thơ, hồn thơ trong chat đời, hòn đời.Với Chế Lan Viên bây gid, hiện thực cuộc
sông luôn là nguồn cảm hứng vô tận của thơ ca:
Moi ngày gặp một người - họ là một mảnh của thiên tài nhân loại.
Mau và mô hôi của người đúc nên bao hình ảnh ngữ ngôn
Vat do của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vai.
Tat cả mỗi người dù lạ hay quen đều viết cho thơ anh một chữ
Hay nhật những chữ của đời ma góp HỆH trang.
(Nghĩ về thơ)
Với quan niệm trang thơ được đệt nên từ những trang đời, trong hành trình
sáng tạo của mình kẻ từ sau cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên luôn bám vào
cuộc sông dé làm thơ Ông luôn có ý thức đúng dan về sự cần thiết của đời sống đối
với thơ Ông quan niệm rằng: Tho là cude sống vì có đời sóng mới có thơ nhưng
thơ không sao chép cuộc song mà tim hiéu va dat những van dé với cuộc sông (1,
Trang 2622] Với quan niệm đúng đắn nay, nhà thơ đã nhận ra con đường sáng tạo có ý
nghĩa nhất, làm nên sự bất tử của thơ ca là con đường gắn bó với cuộc sống củanhân dân: Chang có thơ đâu giữa lòng đóng khép / Tâm hôn anh chờ gặp anh trên
kia (Tiếng hát con tàu) Chế Lan Viên luôn ý thức về sự cần thiết của hiện thực
đời sông đối với thơ Ông cho rằng cuộc sông chính là bài học lớn nhất của mọi
hồn thơ Quan niệm thơ bám vào nguồn mạch cuộc sống gắn với yêu cầu phải mở rộng vả khái quát hiện thực lớn lao của đời song cach mang.
Trong quan niệm thơ của Chế Lan Viên lúc nay cuộc sông không chi là
nguồn cảm hứng mà còn là đối tượng của thơ ca Ông cho rằng: Tho đâu phải là
con của trang giấy hồng hay trang giấy trang (Số tay thơ) mà thơ chính là con đẻ
của cuộc doi:
Mỗi câu thơ là một lan lan vào trang giấy
Lan vào cuộc đời
Rồi lại ngoi lên
(Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ )
Thật vậy, không có cuộc sống tất yếu sẽ không có thơ ca Bởi cuộc sống
không chi la đối tượng phan ánh mà con lả chất liệu của thơ ca Điều này được thé
hiện rat rõ trong quan niệm của Chế Lan Viên khi ông cho rằng: Mot minh thơ sao
đẻ ra thơ được? Nó phải kết hợp với cái gì chứ? Với mảnh đất này [66, T4] Rõ
rang trong quan niệm của Chế Lan Viên cuộc sống chính là chất liệu không thẻ
thiểu của thơ ca Cho nên nhà thơ luôn tự nhủ: Hay biết ơn vị mudi của đời cho thơ
chat mặn! (Tô quốc bao giờ đẹp thé này chăng) Có thé nói cái nhìn mới của Chế
Lan Viên về mỗi quan hệ giữa cuộc đời với thơ được bắt nguồn từ đời sông cách
mang và kháng chiến của din tộc, của Tổ quốc Nó không chi được khái quát thành
quan niệm mang tính lý luận ma còn đồng hành với quá trình sáng tạo thơ của ông.
Cũng bắt đầu từ giai đoạn này, Chế Lan Viên không những thấy được sự tácđộng của cuộc đời đối với thơ mà còn thay được sự tác động trở lại của thơ đối với
cuộc đời, thơ phải: Lay bát cơm ngày mùa trả lời cho cơn đói / Cái ay thơ hơn, hay
những bài thơ ri rên vẻ trận đói thơ hơn? (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ) Đời
Trang 27rất cần có thơ và thơ là con đẻ của đời Thơ ca được ươm mầm, nảy nở và lớn lên
từ mảnh đất biện thực màu mỡ và nhiệm vụ của nó là quay trở về nơi nó được sinh
ra dé phục vụ Hiéu rõ được điều đó, Chế Lan Viên đã khang định khi đến với cách
mạng và kháng chiến: toi đã cùng các thi sĩ tiền chiến khác và hàng bao thi sĩ trẻ
xuất hiện về sau là một người cam bút có ích, làm thơ có ích Hay hay dở hơn xưa,
cái đó tity sự đánh giá của mọi người, ở sự rộng lượng của tri âm Nhung qua la đã
có ich hơn xưa [63, 3] Và chính sự bừng ngộ này đã tạo cho Chế Lan Viên một
nhận thức mới, một quan niệm mới về môi quan hệ giữa thơ với cuộc đời Đó chính
là thiên chức xã hội của thơ mà Chế Lan Viên đã khái quát:
Thơ can có ích
Hãy bắt đâu từ nơi ấy mà đi.
(Nghĩ về thơ)
Theo Chế Lan Viên, muốn có ich thơ phải luôn luôn gắn với cuộc sông: Tho
ca không thể tách với cuộc sống Trước hết nó phải có ích Thơ ca cân thiết nhưmặt trời cân thiết, cần thiết ánh sáng can thiết hoa lá vũ khí Thơ ca không thể
kéo dài cuộc sống con người nhưng nó làm cho cuộc song có dung tích hon (59,
Xa thơ chỉ hay than ma ít hỏi
Đăng dạy ta: Thơ phải trả lời
(Nghĩ về thơ)
Nhà tho đã đưa ra quan niệm tho không chỉ dua ru mà con thức tinh (Nghĩ
về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ), thì thơ phải luôn tự chất van, phải đối thoại với
cuộc đời, phải đặt ra câu hỏi và có trách nhiệm trả lời những câu hỏi nảy sinh từ
Trang 28cuộc sông Quan niệm này cho thấy ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của nhà thơ
và thiên chức của thơ trước cuộc sống của Chế Lan Viên Và quan niệm ấy luôn là
một nỗi ám ảnh trong hành trình sáng tạo thơ của ông Trả lời hay không trả lời
những vấn đẻ đặt ra từ cuộc sống, đó cũng là một thái độ sống, một cách lựa chọn
con đường sống Và ở đó cũng thẻ hiện nhân cách của nhả thơ, trách nhiệm và
lương tâm của người nghệ sĩ trước cuộc đời.
Chính sự biến động của cuộc sống của dan tộc lả tiên dé tạo nên sự vận động
quan niệm thơ cũng như hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên Dó là sự vận động
từ quan niệm: Lam thơ là làm sự phi thường trong lời tựa Điêu tàn trước cáchmạng đến quan niệm thơ phải có ích, phải được nuôi dưỡng và lớn lên từ cuộc sống
cách mang, kháng chiên của dan tộc trong các tập thơ trước Di edo thơ Nhưng đến
Di cáo thơ, quan niệm về thơ của Chế Lan Viên lại có một sự chuyển biến mới Dé
là quan niệm thơ can nhân thé với cái nhìn hiện thực đa diện đa chiều trên phương
điện đời tư, thế sự
1.1.2 Thơ là sự sáng tạo hon bằng chữ Trong Van tâm điêu long, Lưu Hiệp đã viet: Việc sáng tác phải biết vạch ra
cái khuôn để đựng cai nội dung (li), nghĩ ra một chỗ đứng (địa) để bay to tỉnh cam
(tam) Chỉ sau khi xác định được tình cam (tam) thì mới dem âm nhac phối hợp.
Nội dung có ngay ngắn thì sau đó mới chọn lời văn Khién cho cái hình thức (van)
không giết mất cái nội dung (chat), loi lẽ sâu rộng không làm cai tam của mình
chết đuổi (16, 178] Như vậy, từ xa xưa, bên cạnh nội dung thì hình thức là một yếu
tô quyết định sự thanh công của tác phâm Một tác phầm thực sự mang giá trị nghệ thuật nhất định phải có sự hài hòa giữa nội dung và hình thức Nha văn Nga Leonid
Leonov từng khang định: Mdi tac phẩm là một phát minh về hình thức và một khámphá về nội dung Vốn là một nhà thơ giàu tâm huyết, tài năng, Chế Lan Viên ý thứcđược điều đó va có những chiêm nghiệm, quan niệm độc đáo về nghệ thuật sáng
tạo thơ Sự sáng tạo ấy được thê hiện rõ qua cuộc đời công hiến cho nghệ thuật của nhà thơ từ tập thơ đầu tay Diéu tan cho đến những tập thơ cách mạng và đặc biệt
Trang 29trong ba tap Di cdo thơ được viết cudi đời Di cao thơ gây simg sốt cho người đọc
không chỉ vi tai sáng tạo độc đáo mà sự sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ được đúckết thành những quan niệm mang tính lý luận theo cách riêng của mình
Quan niệm về nghệ thuật sáng tạo thơ trước tiên được biểu hiện ở sự sáng
tạo thi pháp Chế Lan Viên cỏ hàng loạt bai thơ đặc sắc nói về thi pháp như Thipháp, Thi pháp ôn, Thi pháp trẻ O đó, Chế Lan Viên chỉ ra những loại thi pháp
mới mẻ, độc đáo với những đặc điểm riêng: thi pháp đá và thi pháp lứa, thi pháp
Núi và thi pháp Dat, thi pháp nhập thé và xuất thé, thi pháp đoản dao và trườngthương Những kiêu thi pháp được gọi theo cách gọi riêng của nhà thơ đều có
những đặc điểm riêng, cụ thé của nó Nhà thơ định nghĩa: thi pháp Núi là thi pháp
đứng từ xa, trên non cao nhìn vạn vật, còn thi pháp nhập thể là thi pháp thèm ăn
từng hạt bui/ ào ào vào trong sự sống bão cuông, thi pháp lửa là thi pháp nháy vào
giữa trận/ Chịu từng vết thương Có thê nói, quan niệm về thi pháp của Chế Lan
Viên thé hiện cá tính, tài năng sáng tạo độc đáo của một nghệ sĩ tâm huyết với nghề
va gợi mở cho những con người đồng hành củng nhà thơ trong bước đường sáng
tác bao điều suy ngắm.
Với quan niệm lam thơ la một nghé đặc biệt, cao cả, thiêng liêng:
Nếu làm thơ phải có hôn thi sĩSao làm thơ không có nghề như thợ nhỉ?
Nghề đếm lá, nghề trông sao, nghé tát bé
Nghề dich vụ tinh than thẻ thế
Ba vạn sâu ngàn nghệ, ta phải kế: nghề thơ
(Thơ về thơ)
Chính vì quan niệm thơ là một nghé nên Chế Lan Viên đòi hỏi khi sáng tácnha thơ phải nắm bat được những kĩ thuật và phương pháp cần thiết Trong số
phương pháp, kĩ thuật sáng tác, Chế Lan Viên chú trọng đến việc sáng tạo ngôn
ngữ Ong quan tâm đến yếu tô ngôn ngữ vì mỗi từ, mỗi chữ trong thơ đều mang
linh hôn trong đó Cái hòn của nha thơ, của đời sống đã nhập vào con chữ, biến con
chữ thành một thực thé, một hành tinh sống động:
Trang 30Đã làm thơ sao lại từ chối làm văn,
Từ chối sáng tạo hôn bằng chữ?
Lam thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữChớ nhân danh đất dé chê Lời
(Đừng đi chân đất)
Trong quan niệm của Chế Lan Viên, ngôn ngữ không đơn thuần là con chữ
mà nó là một hành tinh có những bí ấn riêng, có sự sống, có linh hôn Chính hồn của con chữ qua cảm xúc thăng hoa, trí tuệ sắc sảo của nhà thơ đã tạo nên sự sống
cho tác phẩm Nhà thơ đặc biệt chú trọng việc dùng chữ trong thơ, ông cho rằng:
Vé hình thức, tôi chủ trọng đến ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ là tế bào chữ, nói lên kiểu
cấu trúc thơ.[63, 87] Vì thé, ở trong bài thơ, nhiều khi một chữ cũng rất là quan
trong, hiểu sai hay thay đổi di không được [63, 100 - 101] Từ nhận thức đó, Chế
Lan Viên day công tìm kiếm, lựa chọn ngôn ngữ Đó là ngôn ngữ giàu sức gợi, mở
ra nhiều phương điện của cuộc sông: Tho là ba chữ thôi mà là bế, là giếng, là kho
vảng hiển hiện (Quan niệm thơ) Đó là thứ vừa mộc mạc, vừa mang vẻ đẹp kì diệu như: hài hoa cô Tam, như mái tóc thơm hương cam cứng chứ cha phải hương đồng
(Ngôn ngữ) thì mới hap dan và dé lại dau ấn của nha văn, của tác phẩm trong lòng
người đọc Chế Lan Viên luôn tìm tòi, cân nhắc lựa chọn từ ngữ được sử dụng trong thơ thêm cái đa thanh, đa sắc của cuộc đời Hơn thé nữa, ngôn ngữ đó phải
chứa đựng làm nôi bật được tình cảm, tư tưởng mà nhà thơ gửi gắm va thực sự làm
cho những tình cảm ấy có sức mạnh thăng hoa:
Là một nhà thơ luôn có tinh thần lao động nghiêm túc, rất coi trọng kỹ thuật
trong sáng tác, nhất là trong việc lựa chọn ngôn ngữ nhưng Chế Lan Viên mạnh mẽ
lên án việc sử dụng xảo thuật ngôn từ Ong chỉ ra rằng: Chữ quan trọng như thể
Trang 31nào thì chúng ta déu biết Có điều là không nên nghĩ rang chữ bao giờ cũng phải là
hoa, mà có khi chữ là lá, là hạt Nhiều chữ hay với cải vẻ riêng của nó, hay vì mộcmạc, hay vì dùng chữ đúng lúc, đúng chỗ, không phải bao giờ ta cũng cần đến
những chữ “hoa hoe hoa sói” [63, 100 - 101] Những nhà thơ dùng từ ngữ hoa hòe
hoa sói theo kiêu làm xiếc ngôn ngữ ấy là:
Những nhà thơ mat giá
Lại thường hay đổi tiền
Mong dùng nhiều chữ lạ
Lita người tiéu quá quen
(Mat giá)
Chẻ Lan Viên trong quá trình sáng tao không chấp nhận sự cầu ki, lay kĩ xảo
dé bù đắp cho sự non yếu trong cảm xúc, von sông ma quên rằng nha thơ cần căng
cái day hình anh ngữ ngôn qua vực tâm hôn sâu thấm ( Sỗ tay thơ) Những kiêu kĩ
xảo ấy tưởng chừng lừa người đọc nhưng làm sao lừa được Bởi người đọc là người
thâm định cách dùng ngôn ngữ của nhà thơ:
Ngôn ngữ như hài hoa cô Tam trong ngày hội lớn
Mái tóc thơm hương cắm cung chứ cha phải hương đồng
Ao thêu hoa cũng đẹp thôi, chứ đâu phải nâu song
Độc gia có lúc cân làm hoàng tứ dé xem hài hoa và để chọn
(Ngôn ngữ)
Bên cạnh sáng tạo ngôn ngữ, thơ cũng cần có sự sáng tạo về dạng thức dé
điển tả trọn vẹn ý tình Đó không phải là các câu tho quá dai thừa thai, không phải
là những câu thơ qué ngắn không đủ sức chứa đựng ý tưởng, cảm xúc để phải viết
tiếp những câu thơ giải thích, lam mất đi tính ham súc, sức gợi của tho Va đó cũng
không phải là những câu thơ khuôn mình theo văn phạm (Số tay thơ) mà phải biết
vượt qua khuôn khỏ, công thức.
Nói đến yếu tô ngôn ngữ trong thơ, Chế Lan Viên bay tỏ quan niệm về van
Ong quan niệm vẫn góp phan làm ra thơ nhưng tho không phải là van |6§ 129]:
Làm thơ chứ không phải để thơ làm
Trang 32Càng không dé rượu lam, chữ lam, van làm
(Quan niệm thơ)Chế Lan Viên cũng lưu ý thơ can vượt qua sự gò bó theo van sẽ làm biến đồi
cái hay, cái đẹp của thơ, làm tan biến cảm xúc sáng tạo Nếu nhà thơ không làm
chú cảm xúc, bị ám anh bởi sự dẫn dắt của vần thì thơ sẽ đi vào ngõ cụt: Đề chovan đi trước/ Dat đến nơi bắt ngờIĐề câu thơ bị lừa Bởi cái van vô ý ¿./ Van mạo
hiểm dat thơ vào ngõ kẹt (Van) Chế Lan Viên cha ý đến van nhưng không xem
đây là van dé trong tâm Bởi vì đối với nhà thơ, tho là tư tưởng, là tình cảm, là cảm
giác, là hình ảnh, rồi thứ đến mới là van bằng trắc (68, 130] Qua thật, van rat cần
cho thơ nhưng không vì thé mà làm hại y tử Không nên gò bó thơ theo van ma
phải dé vẫn hòa điệu cùng hôn thơ, đến với thơ một cách tự nhiên dé thơ đạt đến
mức linh diệu Vì vay, Chế Lan Viên từng nhắn mạnh: Nhd the cũng phải quen,
phải thuộc loi gieo vẫn, bat van phổi hợp âm thanh nhịp điệu thì khi sáng tác mới
có sự thoải mái dé dàng [ ] quen thuộc các âm thanh van điệu, quen thuộc nhữngquy luật (những ngoại lệ nữa) của ngôn ngữ, ctia hình thức đến gan như có thể sử
dung nó một cách rất may móc — một cách không cần quan tâm chú ý nữa — như
người đi giày da không chủ ý đến da bó lẫy chân minh! Vang, chỉ đến cải mức aythì mới toàn tâm toàn ý dé nói đến nội dung đã đành! Va cũng chỉ đến cái mức ấy
mới có những sáng tạo về hình thức được! [68, 177] Sáng tạo van trong thơ quan
trọng nhưng dé đem đến kết quả viên mãn cho tho, lam sống dậy mạch nguôn tinh
cảm mà nhà thơ truyền vào thơ thì việc gieo van phải hài hòa, tự nhiên Chỉ khi nhà
thơ sáng tạo van một cách chân thành, tự nhiên thì van điệu sẽ không ngăn can ma
lại trợ hứng rất nhiều cho ngòi bút Như vậy, trong quá trình sáng tạo, Chế Lan
Viên không quá chú trọng việc gieo vẫn nhưng cũng không hè hạ thấp vai trò của
van trong viéc tao nén tinh nghé thuat cho tho Boi vi vân là một trong những yêu
tô không thé thiếu trong thi pháp thơ Van đề mà nha tho quan tâm và đặt ra là đừng vì sự gỏ bỏ của vần mả giết chết tư tưởng, cảm xúc trong thơ.
Cùng với van, nhạc là một yếu tố trong hình thức thơ mà Chế Lan Viên dé
cập đến trong quan niệm thơ của minh Theo nhà thơ, mỗi tác phẩm thơ nên kết
Trang 33hợp hai hòa giữa ý va nhạc: Cau tho ở ngoài là ý là hình/ Ở trong là nhạc (Nhạc
2) Quan niệm này cũng được nhà thơ nhắn mạnh trong các phê bình tiểu luận: Tho
là di giữa nhạc và ý Rơi vào cdi vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan Rơi vào cái vực nhac thi thơ dé làm say đắm lòng người nhưng cũng dễ nông cạn [59, 41] Nhạc là một yếu tố không thể thiếu Nhưng dé tạo chất nhạc đạt hiệu quả trong thơ thì cần có sự hòa quyện giữa nhạc và ý, tránh xem trọng nhạc mà bỏ quên ý và ngược lại Bởi vì chất nhạc của thơ không đơn thuần được tạo nên bởi sự tổ chức
phối hợp hài hòa giữa phối thanh, gieo vần, cách dùng từ ngữ mà còn là nhạc
điệu tâm hồn của nhà thơ với những rung động tình cảm khi phản ánh cuộc sống trong thơ Đó chính là quan niệm mà Chế Lan Viên suy ngẫm và gửi gắm.
Chế Lan Viên chú ý đến tính nhạc trong quá trình sáng tạo bởi tính nhạc không chỉ cần cho thơ mà còn cần cho cuộc sống, có tác dụng mạnh mẽ trong quá trình nhận thức thâm mỹ của người đọc Trong quan niệm của nhà thơ, nhạc thiêng liêng cao đẹp như tình yêu, như tín ngưỡng, như sức sống, như màu xanh hi vọng, như đóa hoa lạc quan của cuộc đời:
Nhạc làm tôi tim ra cái vô bờ vô tận phía sau tôi Đời vắng nhạc, đất đai mình căn khô nhỏ hẹp
Day là tình ái, là thơ, là tin ngưỡng của màu trời xanh biéc
Cả là sự im lặng — im lang đóa hoa cười
(Nhạc)
Nhạc còn làm thăng hoa cuộc sống tỉnh thần của con người, là thế giới vô tận của tâm linh:
Nhạc Làm cho con người giải thoát Pang thực liền hư
(Nhạc)
Như vậy, trong quá trình sáng tác của mình, Chế Lan Viên quan tâm đến việc sang tạo cái mới trong hình thức từ câu, chữ cho đến vần, nhạc điệu Những yêu tô hình thức ấy khi hài hòa với nội dung, với ý, với tình thì sẽ phát huy hết vai
Trang 34trò của nó, đem đến cái hay, cái đẹp cho thơ, chắp cánh cho hồn thơ thêm bay bong: Nội dung bề phải đâu muôn đời vẫn thế/ Thay hình thức của thuyén di, sẽ
hiểu bề thêm mà! (Thơ về thơ) Chỉ có như vậy, thơ mới thực sự có giá trị, phù hợp
với nhu câu thâm mỹ của người đọc và đạt đên tâm thời đại.
1.1.3 Thơ là sức nặng của tw duy và tình cam Chế Lan Viên là nhà thơ được mệnh danh là nhà thơ trí tuệ, nhà thơ triết lý bởi trong thơ Chế Lan Viên đậm tính duy lí, tính trí tuệ sắc sảo Nói đến chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên, Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét: Ché Lan Viên chang những là một nhà thơ trong “suy nghĩ và bình luận ” mà còn là một nhà “suy nghĩ
và bình luận ” trong thơ Tôi muốn nói ở anh tư duy lý luận chính là điểm mạnh [5,
486] Một trong những yếu tố tạo nên sức hap dẫn trong thơ Chế Lan Viên chính là chất trí tuệ này Chế Lan Viên sáng tác thơ đậm chất trí tuệ Vì vậy, nhà thơ rất chú
trọng tính trí tuệ trong thơ và nâng nó lên thành quan niệm Nhà thơ tự nhận thấy:
Tôi có điệu quá không, có kiểu cách không, nếu một mặt biết ơn nhiều bạn đã có ý tốt đẹp xếp tôi cùng vài anh em khác vào loại làm thơ trí tuệ, một mặt lại không
đông ý với những ai quá đề cao thơ trí tuệ, coi nó mới là cái gì tiêu biểu cho tương
lai Khi có ai bảo anh ấy làm thơ trí tuệ tôi cứ ngượng, cứ như người ta nói kìa anh đeo kinh gọng vàng Giá đừng đeo kính mà có một đôi mắt đẹp có hơn không? Vì sao tôi không thích được gọi là thơ trí tuệ? Thứ nhất khi tôi làm thơ ấy, tôi thấy mình không có gì khác trong người cả, như tôi khi làm thơ về tình yêu, về cháu bé con tôi học nói hay học đàn! Mà làm cho được một bài thơ tình yêu, một bài thơ về
con trẻ, về liễu, mùa xuân có dễ gì! Thứ hai, đã là thơ hay, thì thơ nào mà chẳng đáng yêu Vì nhu câu của con người là rất phong phú! Người ta thích những bài
thơ làm suy nghĩ nhưng cũng thích những bài thơ ru minh di [61, 93 - 94] Những lời tâm sự trên của Chế Lan Viên đã cho ta thấy quan niệm của nhà thơ về chất trí
tuệ và việc làm thơ trí tuệ.
Quan niệm về chất trí tuệ trong thơ không chỉ được Chế Lan Viên nhắc đến
trong những tập phê bình, tiểu luận mà còn được khang định qua Di cdo tho Ông
Trang 35quan niệm tho ca phải chứa đựng những triết lý sâu sắc, là sức nặng của duy qua triết (Nang, nhẹ) Tho là thước đo tư duy, trí tuệ của người nghệ sĩ: Cho nên hôm nay anh rẽ sang đường khác/ Đo anh bằng trí tuệ hay bằng lương (Đề cho) Thơ là nơi người nghệ sĩ gửi gam những triết lý, những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân tình, thế thái, cái nhìn đa chiều về cuộc sống Chính vì vậy, thơ giàu ý nghĩa: Câu thơ lời lẽ này mà đa nghĩa, đa hình (Tâm hồn đôi).
Quan niệm về chất trí tuệ trong thơ không phải là quan niệm riêng của Chế
Lan Viên mà là quan niệm được bàn đến trong thơ phương Tây Từ thời cô đại, trong Nghệ thuật thơ ca, Arixtote đã khẳng định: Tho ca có y vị triết học [6, 45].
Goethe từng có quan niệm: Trong bản chất của thơ có gì quỷ quái, nhất là ở thơ ngẫu hứng thoát ly cả lẽ phải, không thé hiểu thấu va do đó vượt qua được cả trí tuệ [43, 153] Là một nhà thơ mạnh về tư duy duy lý nên Chế Lan Viên đã tiếp nhận chất trí tuệ thơ phương Tây và đã vận dụng khéo léo, thành công trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình Hơn thế nữa, Chế Lan Viên còn nâng chất trí tuệ trở thành một yếu tô trong hệ thống quan niệm thơ của mình.
Mặc dù Chế Lan Viên là nhà thơ trí tuệ nhưng không vì thế ông xem nhẹ yếu tố tình cảm trong thơ Bởi chỉ có trí tuệ mà thiếu đi cảm xúc, rung động trong tâm hồn thì không thê sáng tác ra thơ Vì thơ là tiếng nói của tâm hồn, của tình
cảm Do đó, Chế Lan Viên không chỉ quan tâm đến chất trí tuệ mà còn chú trọng đến yếu tố tình cảm trong thơ Ngay từ tập thơ Ánh sáng và phù sa, nhà thơ đã
nhận thức:
Sau câu thơ hồi hộp những tâm tình Những vui buôn đời kí thác cho anh
(Nghĩ về thơ) Theo quan niệm của Chế Lan Viên, phía sau những trang thơ luôn chứa đựng những vui buồn mà cuộc đời kí thác Bởi lẽ không có xúc cảm, không có sự rung động của trái tim thì những câu chữ trong thơ chỉ là cái xác không hồn Vì thé, nhà thơ nhân mạnh yếu tố cảm xúc khi làm thơ: Muốn làm thơ cân phải xúc cảm thành thục, [61, 92] học lam thơ là học cách cảm xúc của nhà thơ [68, 94] và muốn
Trang 36cải tạo bài thơ phải cải tạo tâm hồn [98] Theo nhà thơ /dm tho không lừa dối được
ai Lại thay: làm thơ không cốt ở sử dung chữ nghĩa bên ngoài [ ]ma cốt nhất ở tâm hồn mình [68, 99] Nhà thơ còn quan niệm: Tinh cảm là những yếu tô trực tiếp làm nên những bài thơ Cho nên người ta vẫn nói “thơ là tình” Thời Đường vốn
là một thời đại rất sành thơ, người ta quy tất cả nội dung thơ vào chữ tình, cảnh cũng là tình, ý cũng là tỉnh [63, 104].
Không chỉ xuất hiện trong những tập phê bình, những lời tâm sự của Chế
Lan Viên về nghề, quan niệm thơ chứa đựng tình cảm, tâm hồn còn được nhà thơ
khang định nhiều lần trong Di cdo tho Những tác phẩm thơ có ý nghĩa phải là
những van thơ xuất phát từ những rung động, cảm xúc chân thành trong sâu thắm trái tim, tâm hồn của thi sĩ Tinh cảm xuất phát từ trái tim của nhà thơ có những lý
lẽ riêng của nó được truyền vào thơ và làm cho câu thơ tỏa sáng giá trị:
Con trái tim, nó rat là phi lý Vach câu thơ sáng ngời qua sự thể rối tỉnh
Gọi nó là sao chổi, sao băng hay là tinh lạc.
(Lý)
Thơ chỉ được hình thành khi trái tim người nghệ sĩ lên tiếng Chính tình cảm
là yếu tố cội rễ, cần thiết dẫn lỗi cho thơ, làm nên những vần thơ có ích Nếu thơ thiếu đi tình cảm chỉ là những vần thơ vô giá trị, vô hồn:
Thiếu tâm đi thì nào có ra hôn
Thà cứ là trang trắng còn hơn
(Tâm và hồn)
Thơ luôn bén rễ từ lòng người và nở hoa nơi từ ngữ Một bài thơ là sợi dây
truyền tình cảm cho người đọc Vì thế, thơ cần lay tinh, lay trái tim làm gốc thì mới
đi vào lòng người, khơi day ở họ những cảm xúc thâm mỹ Bạn đọc tìm đến thơ dé tìm sự sẻ chia, đồng điệu, để thỏa mãn nhu cầu tình cảm, làm phong phú đời sống tỉnh thần:
Ban đọc can bài thơ như tâm hôn thứ hai của họ Ngoài tâm hôn họ ra, họ can thêm một tâm hồn
Trang 37(Thơ và bạn đọc)
Đến với những van thơ dat đào cảm xúc, người đọc mới thực tìm được sựđông điệu, tiếng nói tri âm Những rung động trong tâm hồn của bản thân người
đọc như tìm được hòa điệu cùng tâm hồn của tác giả Cảm xúc trong thơ phản ánh
nhịp điệu tình cảm của tác giả đã truyền cho người đọc niềm say mê, yêu thích
Chính vì vậy, Chế Lan Viên khang định: Tho la tình của anh và thú của người
chứng kiến (Ra - vào) Chỉ khi nào thơ ca có lay trái tim con người làm gốc thì mới
đi vào con người trở thành sợi dây liên kết những tâm hồn đưa con người xích lạigần nhau hơn vé mặt tinh than, tình cảm Khi đó, thơ mới thực sự cần cho cuộc đời
Quan niệm của Chế Lan Viên về yếu tổ tinh cảm không nằm ngoài dòng
chảy quan niệm thơ phương Đông vả phương Tây Quan niệm đó của nhà thơ là sự
hợp lưu và tiếp biến hai dòng chảy lớn này Bạch Cư Dị cho rằng: Cam động lòng
người trước hết không gì bằng tình, dau tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa Vậy đối với thơ: Tình là gốc, lời là cảnh,
thanh là hoa, nghĩa là qua | 40, 412] Ca thơ phương Tây vốn thiên về lý trí cũng
chú trọng tình cảm trong thơ như Leopardi từng quan niệm: Tho trữ tình có thể coi
nhục tong hợp hết cả thơ, là tuyệt đình của thơ, cũng như thơ là tuyệt đính của tiếng
nói loài người (17, 613].
Như vậy, trong quan niệm thơ của mình, Chế Lan Viên không hè cực đoan
hóa yếu tố trí tuệ hay tình cảm mà luôn tìm đến sự kết hợp hài hòa giữa chúng
trong quá trình sáng tác thơ Thơ cần những khám phá trí tuệ lẫn trạng thái vô lý,
vô nghĩa của tâm hồn Điều này làm nên nét độc đáo trong quan niệm thơ ca của
Chế Lan Viên và trở thành một đóng góp làm phong phú thêm kho tàng lý luận của
sing tác thơ dan tộc.
1.2 Quan niệm về nhà thơ
L2.1 Néu làm thơ phải có hôn thi sĩ
Không chi đưa ra hệ thống quan niệm mang tính lý luận về thơ ca ở những phương diện: phương thức phản ánh, hình thức nghệ thuật, phẩm chất mà Chế Lan
Trang 38Viên còn đưa ra những quan niệm về nhà thơ Bở lẽ, thi sĩ không chỉ là người sáng
tạo thơ mà qua thơ, họ còn tạo nên những giá trị mỹ cảm cho cuộc sông Ngay từtập thơ đầu tay Điêu tan của minh, do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng,siêu thực, Chế Lan Viên cho rằng: Thi sĩ không phải là Người Nó là Người Mo,
Người Say, Người Điện No la Tiền, là Ma, là Quy, la Tinh, là Yêu Nó thoát hiện
tại Nó xối trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (4T, 23] Đó là con
người của linh giác, của tâm linh, của thấu thị Nhà thơ tượng trưng Pháp,
Rimbaud, cũng đã cho rằng: Thi nhân tự biển mình thành tiên tri thấu thị bằng một
sự hồn loạn của mọi giác quan, lâu dai, rộng lon, phi thường và hợp by [LT, 445].
Quan điểm này của Rimbaud đã ảnh hưởng nhất định đến quan niệm về nhà thơ
của Chế Lan Viên trong Diéu tan nói riêng và các nhà thơ trong phong trào Thơ
mới nói chung.
Như vậy, trong quan niệm ban dau, nhà thơ đã có định hướng siêu nhiên vềban chat của thi sĩ Quan niệm đó thay đôi trong Anh sáng và phù sa, Đối thoại
mới, Hoa trên đá Lúc này, Chế Lan Viên quan niệm nhà thơ gắn bó với cuộc
sông của quan chúng, chan hòa với cuộc song cộng đồng như con chim bói cả, mắt
bao gồm dam hỗ bat ngắt, phải thấu cả tam thiên mau của đời, trước khi lao vào bắt một chiếc cá con, như con ong biển trăm hoa thành một mật (Ong và mat), là
con tầm từ đợt dâu này qua đợt dâu kia cần man/ Xe sợi tơ mình là lấy từ sự sống
để mà xe (Tằm và nhện), là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách (Thơ bình
phương — Đời lập phương).
Đến với Di cdo thơ, quan niệm về pham chat, năng lực đặc biệt của thi sĩ
được nâng lên với nhiêu sắc thái mới, là sản phẩm của tư duy đầy minh triết Trong
quan niệm của Chế Lan Viên, nhà thơ phải là người có hôn thi sĩ (Thơ về thơ) Ché Lan Viên nhắn mạnh đến hồn thi sĩ tức là đòi hỏi người làm thơ trước tiên phải
có tâm hồn nhạy cảm đời sống tinh than phong phú, sâu sắc: Có tẩm hồn đôi như
cái bóng những đêm nhiều nến (Tam hồn đôi).
Trang 39Mỗi tiếng thơ là một tiếng lòng Nhà thơ mượn thơ dé trải lòng mình với
người đọc Vì vậy, tho ca được nuôi đưỡng từ chính tâm hồn, tình cam của nhà thơ
Do đó, trong quan niệm của Chế Lan Viên, nhà thơ phải là người ăn vào cải giống
nội tâm, là người không ngừng nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hôn, cảm xúc của mình:
Hàng ngày anh khoét sâu vào hang, vào giống thăm lòng minh
Xem cải vết thương nội tâm kia là tài sản
(Giêng)
Chế Lan Viên đặc biệt chú ý về tâm hôn của nhà thơ Tâm hồn ấy là tài san,
là vốn liếng quý giá nhất của nhà thơ: Làm thơ khó Anh chàng đi buôn/ Von liéng
có gi đâu? = Tâm hôn (Doi nghề) Tâm hồn, năng lực đặc biệt giúp nha thơ có
những phút xuất than Ide sáng Mor thi pháp vụt ngang dau lóe sáng (Thơ về thơ).
Chế Lan Viên chú trọng đến tâm hồn, tình cảm của nhà thơ Vì thé, ông phê phán
những nhà thơ lãnh đạm Đó là những nhà thơ sống cuộc đời vô nghĩa:
Những nhà thơ không nghe biếc đầu cây gọi họGặp mùa đào mà không có noi buôn Thôi Hộ
Thi sĩ, người làm ra lửa như Promethee là kiểu ban dau
Kiểu về cuối là kiêu Morixon hay Thích Quảng Đức
(Promethee)
Nhung nhà thơ cũng cần biết kìm nén, tiết chế ngọn lửa tâm hồn tình cam
của mình, không ủy mi ma cần mạnh mẽ:
Nhung đá cũng bao cho thi sĩ rõ
Trang 40Trong tôi có lứa
Xúc động đâu phái nhà thơ lắm lời
Mà là đá nén lửa lại
(Đá và thi sĩ)
Bên cạnh đó, hoàn cảnh thoi đại có sự tác động đến những người theo
nghiệp thơ Cuộc sống đời thường trong những năm đất nước vừa mở cửa, chạy theo nẻn kinh tế thị trường với những đổi thay, biến động, những giá trị tinh than
có nguy cơ bị đảo lộn thì hình ảnh những người lấy thơ làm nghiệp cũng bị chỉ
phối Do đó, trong quan niệm của Chế Lan Viên, phẩm chất của nhà thơ được nhìn
nhận trên nhiều bình diện, góc độ đối lập, khác nhau Có lúc ông ví nhà thơ như
than linh Ngày ngày thèm mùi hương thấp bởi tuoi tên mình nhưng cũng có lúc như
quỷ đữ: Có những nhà thơ không hóa thân mà hóa quỷ (Thần và quỷ) Có khi nhà
thơ trở thành viên tướng tôi hay vị vua hén nhát (Thất trận) Có khi Chế Lan Viên
thoáng thở dai khi những nhà thơ thời thượng lúc này cha con di vêu trắng và
hương lúa ngoài đồng (Thời thượng).
Như vậy, chân dung nhà thơ đã được Chế Lan Viên phác họa, khái quát một
cách đa dạng, phong phú, vừa thiêng liêng vừa trần tục, vừa cao cả vừa thấp
hèn trong Di cdo the Quan niệm đó của Chế Lan Viên đã xây dựng một bức tranh hoan háo, tính tế, chân thực và sinh động về phẩm chat nhà thơ trong thực tai
cuộc sống lúc bay giờ Những quan niệm về phẩm chất của nhà thơ trong Di caothơ đã hình thành nên kiểu nhà thơ mới: kiểu nhà thơ hiền triết nhưng cũng rất gần
gũi cuộc đời Đó không con là kiêu nha thơ than bi, siêu nhiên như trong Điêu tan
hoặc lý tưởng, nhiệt huyết như trong những tập thơ thời kháng chiến Pham chatnhà thơ trong Di cdo tho là sự trộn lần, hoà quyện pham chat của nha thơ trong hai
giai đoạn trước đó đẻ tạo nên kiêu nhà thơ mới Đây chính là sự vận động nhưng đông thời cũng thể hiện sự nhất quán trong quan niệm của Chế Lan Viên về nhà
thơ Đối với ông dù trong bat cứ hoàn cảnh nao, nhà thơ luôn là người nghệ sĩ có
năng lực, phâm chất đặc biệt, nghĩa là người luôn có tâm hồn tỉnh tế, nhạy cảm, có
cái nhìn thấu thị Không có những yếu tô đó thì không thể gọi là nhà thơ