1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam: Quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật qua Di cảo thơ của Chế Lan Viên

164 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật qua di cảo thơ của Chế Lan Viên
Tác giả Đào Thị Kim Ngân
Người hướng dẫn PGS. TS. Phùng Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 46,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người đọc tìm thấy trong ba tập Di cdo thơ dau vết của Điêu tan, thé giới của Ảnh sáng và phù sa, Hoa trên đá...tiếp nỗi phong cách tài hoa, trí tuệ, giàu tính triết luận ở những tập thơ

Trang 1

; BỘ GIÁO DỤC VA ĐÀO TẠO _ ;TRUONG DAI HỌC SU PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

Đào Thị Kim Ngân

QUAN NIỆM THƠ, HÌNH TƯỢNG

VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

Đào Thị Kim Ngân

QUAN NIỆM THƠ, HÌNH TƯỢNG

VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT _

QUA DI CAO THO CUA CHE LAN VIÊN

Chuyén nganh Van hoc Viét Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Sau hơn hai năm theo học lớp Cao học Văn học Việt Nam khóa 20, được

sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Phùng Quý Nhâm, tôi đã hoàn thành luận

văn thạc sĩ Tôi xin gửi đến thay lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất.

Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, trường DH Khoa học xã hội và nhân văn đã tận tâm giảng dạy trong quá trình tôi theo học tại trường.

Tôi xin chân thành cảm ơn nha văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ Chế Lan Viên đã cung cap cho tôi những kiến thức bồ ích, giúp tôi hiểu thêm về nhà thơ.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu nghiên cứu.

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bè bạn - là

nguồn động lực tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này chưa được công bô

trong luận văn nảo Nêu có tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Người viết Đào Thị Kim Ngân

Trang 5

4 Pham vi nghién CUU 0 12

5 Phuong phap nghién Ctu a1 12

6 Những đóng góp của luận Văn - tt TH HT TH TH HH ngàn 13

7 Cầu trúc của luận Văn c- St SEEEESEEEEEEKEEKEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEELEEkrkrrkrrvee 13 CHƯƠNG 1.QUAN NIỆM THƠ QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN 15

1.1 Quan niệm về thơ Ca - 6 cSsSES EEEEỀ SE EEEEEEEEEEEEEE1 1111111111 11111111 1111 cE 15

1.1.1 Thơ phải “ăn mặn vào miếng đời phàm tục” và “cần nhân thế” l5 1.1.2 Thơ là sự sáng tạo hồn bằng chữ -¿- 2+©2++2++t2Ex+Ex+erxeerxrrrrrrrrree 27

1.1.3 Tho là sức nặng của tư duy và tinh cảm - - 5 5+ S+ks+sssiserrrrrreereeree 33

1.2 Quan niệm về nhà thơ 2 2 SE SE+SE£EE£EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEXEEX5E111711 1.1 xe, 36

1.2.1 Nếu làm thơ phải có hồn thi sĩ -2- 5 £ £+S£+E£2EE2EE£EE£EEEEEEEEeEErErrerrerree 36 1.2.2 Nhà thơ viết câu thơ theo số phận của mình, chăng bắt chước được ai 40 1.2.3 Là nhà thơ, anh sống nơi này phải nghĩ đến nơi kia -2- 525255: 44 1.3 Quan niệm về mối quan hệ giữa tho, nhà thơ và người đỌc - - ++-++s+ 48

1.3.1 Nhà thơ — người đọc: Từ niềm khắc khoải tri âm đến sự đồng hành trong sáng

TAO aa L1 48

1.3.2 Người đọc, vị quan tòa quyết định số phận của thơ ca -:z- 5z: 52 CHƯƠNG 2.HINH TƯỢNG NGHỆ THUAT QUA DI CAO THƠ

CUA CHE LAN VIEN 005 55

2.1 Hinh tuong thién nhién 0 eee 55

2.1.1.Thiên nhiên kì vĩ, huyền ảO 2- 2-2 5© £+E2E£2E££EE2EESEEEEEEEEeEEerkerkerrerree 55 2.1.2 Thiên nhiên bình dị, cao khiẾt - 2-2 2 2 E2 E+EE+EE+EE£EE£EEEEEEErEerEerrerree 59

Trang 6

2.2 Hình tượng TỔ quỐC 2-2 2 SE SE£SE£EE£EE£EEEEEEEEEEEE2E12E12217171717171 1.1.1 Xe, G7

2.2.1 Tổ quốc rộng lớn, vận động từ quá khứ đến hiện tại -¿- ¿5+ 67

2.2.2 Tổ quốc trong mối quan hệ với nhân dân -¿ 2 +2£+2+++z+++z++ 79 2.2.3 Tổ quốc trở về với vùng quê thanh bình - 2 ¿+s+£+z+zxz+zxzxzzrsez 86 2.3 Hình tượng chủ thé trữ tình 2-2 s£ E+E+E££EE2EE2EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErrerrree 87

2.3.1 Con người chiêm nghiỆm G2 3 3111311891891 113111 11 1811 11 11x re, 87 2.2.2 Con người với nhân sinh quan tích CỰC - «5 65+ +sE+vEseeeeeerseeerke 97

CHƯƠNG 3.NGON TỪ NGHỆ THUAT QUA DI CAO THƠ CUA CHE LAN VIÊN 100

SN 0i0iìải1(1:8i:)):::ïẰƒNGHHAIIỶỖ 100

3.1.1 Phong phú trên nhiều lĩnh Vực -. - ¿22 5£+2+2£+2++2£+++£x++zxzezzxrred 100

3.1.2 Sự đa năng của ngôn từ nghệ thuật - 5 5 3 22x *+Ssrsrrrrrrrrrrres 102

3.1.3 Ngôn từ đậm sắc thái tu tỪ :-©2+©2+22EEEk221E212712211271211.11 21 105 3.1.4 Ngôn từ giàu chất triết lí ¿- ¿+ £+Sx+2E+£EE2EEEEE2E1211271 2112712112 crreeU 118

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX như dự đoán của nhà phê bình Hoài Thanh từ hơn nửa thế kỉ trước: Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tắc thường mà hong do được [39, 224] Sinh thời, Chế Lan Viên là nhà thơ có vị trí chắc chắn trong lịch sử văn học Khi mất đi, ông xứng đáng được tôn vinh là nhà thơ của dân tộc.

Với hành trình sáng tạo kéo đài hơn nửa thế kỉ, được đánh dấu bằng từng mốc

lịch sử đặc biệt: Trước và sau Cách mạng tháng Tám, trong thời chiến và trong thời bình, Chế Lan Viên đã để lại trên thi đàn không ít thành tựu rực rỡ với nhiều giá trị thể hiện tâm hồn nhạy cảm va trí tuệ minh triết Cuộc hành trình sáng tạo bền bi,

không ngừng nghỉ bằng tài năng và tâm huyết của Chế Lan Viên được bắt đầu bằng

tập thơ đầu tay Điêu tan Tập thơ được sáng tác khi tác giả mới 17 tuổi nhưng đã tạo được tiếng vang nhất định Nó xuất hiện giữa đồng bằng văn học Việt Nam giữa thế ki XX như một niềm kinh dị, chắc chắn, lẻ loi và bí mật [39, 225] với thé

giới siêu thực, giàu chất Suy tưởng thấm đượm nỗi đau uất hận, nỗi đau trước cảnh

điêu tàn, hoang phế của Chiêm quốc hay của chính dân tộc mình Với tập thơ đầu

tay, Chế Lan Viên đã khiến bao người ngạc nhiên và trở thành một trong số những

nhà thơ nổi tiếng nhất của phong trào Tho mới Thành công ban đầu của Điêu tan

là bước khởi đầu vững chắc, tạo động lực để Chế lan Viên tiếp tục cho ra đời những tập thơ tiếp theo tạo được nhiều tiếng vang như: Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Hoa trên đá Những tập thơ sau này tiếp tục khang định chỗ đứng của Chế Lan Viên trên thi đàn với tài năng đang độ chín, sức sáng tạo đang ở thời kì sung mãn nhất Người ta tìm thấy một Ché Viên đã từ giã thung lũng đau thương đề đi đến cánh đồng vui, một nhà thơ đứng ngang tâm chiến lity của trận địa đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, được coi là một trong những cây đại thụ tỏa bóng trong khu rừng lớn của văn học Cách mạng Việt Nam

Trang 8

thế kỉ XX và là một cây bút luôn trăn trở về cuộc đời, về con người với những suy

tư, chiêm nghiệm.

Chế Lan Viên là một hồn thơ phong phú, đa dạng với sức sáng tạo bên bỉ.

Như một kiếp tằm, rút ruột nhả cho đời những sợi tơ óng ánh để rồi lặng im hóa kiếp, đến những ngày cuối đời, vật lộn trên giường bệnh, nhà thơ vẫn chạy đua với thời gian dé tiếp tục sáng tạo, tiếp tục cống hiến cho đời những van thơ giá trị Sau khi nhà thơ qua đời, một lần nữa người đọc phải sửng sốt trước ba tập Di cdo thơ

mà vì nhiều lí do khác nhau mà ông chưa có dịp công bố.

Ba tập Di cao thơ với sé luong đồ s6 581 bài thơ, đã hoàn chỉnh hoặc còn ở dạng phác thảo, được nhà thơ viết trong nhiều năm khi còn khỏe mạnh cho đến lúc lâm trọng bệnh, từ giã cõi đời Như vậy, ba tập thơ là ba tập di chúc, ba tập tâm huyết của nhà thơ trước lúc ra đi, chứng tỏ một tài thơ trác tuyệt với bút lực đồi dao Người đọc tìm thấy trong ba tập Di cdo thơ dau vết của Điêu tan, thé giới của Ảnh sáng và phù sa, Hoa trên đá tiếp nỗi phong cách tài hoa, trí tuệ, giàu tính triết luận ở những tập thơ trước đó song cũng bắt gặp những vận động, thay đôi về

quan niệm, hình tượng, cảm xúc, tư tưởng Đến với Di cao thơ, ta lại tiếp tục thấy

một cá tính sáng tạo độc đáo với những quan niệm sâu sắc về thơ ca, với những hình tượng, ngôn từ nghệ thuật thể hiện cái nhìn suy tư, chiêm nghiêm, đa chiều về

con người, cuộc sông trong dòng chảy thời gian Tìm hiểu về quan niệm thơ, hình

tượng và ngôn từ nghệ thuật trong Di cảo thơ của Chế Lan Viên góp phần tạo nên cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống quan niệm, thế giới nghệ thuật của một cây

bút được mệnh danh là “than đồng” thi sĩ.

2 Lịch sử van đề

Chế Lan Viên sáng tác phong phú với nhiều thê loại, trong đó thơ giữ một vị trí then chốt Ngay từ khi mới xuất hiện, Chế Lan Viên và thơ của thi sĩ đã làm người yêu thơ phải ngạc nhiên, trầm trồ thán phục và trở thành đề tài hấp dẫn nhiều

ngòi bút phê bình, nghiên cứu.

Trang 9

Sau khi nhà thơ mất, ba tập Di cao thơ ra đời đã tạo được sự quan tâm, chú

ý của các ngòi bút phê bình, nghiên cứu Một số công trình nổi bật nghiên cứu về

Di cao thơ như:

Đoàn Trọng Huy với Đọc những trang để lại, thêm hiểu một hôn thơ Di cảo (Văn nghệ, số 11, 13-3-1993) đã phân loại, thống kê ba mảng chính trong Di cdo thơ: mảng tình yêu, mảng thơ về thơ và mảng thơ triết lý và khắng định phong cách thơ Chế Lan Viên biểu hiện tính triết luận Đối với mảng suy nghĩ về thơ, Đoàn

Trọng Huy đã khang định sự đóng góp to lớn của Chế Lan Viên: Trong các nhà thơ

Việt Nam hiện đại, anh là người đã từng viết nhiều nhất, bằng thơ và cả văn xuôi,

về quan niệm thơ, về nghệ thơ trong đó có những van dé cốt yếu nhất.[18, 359] Những vấn đề cốt yếu ấy là cái tâm của nhà thơ, thơ ca được nâng lên thành đạo với tat cả sự thiêng liêng [18, 359] và thơ trở thành đối tượng nằm trong hệ thong

tư duy triết luận [18, 360].

Trong một bài nghiên cứu khác Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên

từ sau 1975 (Tạp chi văn hóa, số 6/1993), Đoàn Trọng Huy đã chỉ ra sự vận động, thay đổi trong Di cdo fhơ so với những tập thơ trước về đề tài, cái tôi trữ tình và ngôn ngữ Về đề tài, tác giả nhận xét: Chế Lan Viên đã từ khai thác lịch sử - dân tộc di về hướng thé sự - đạo đức, từ sự chủ ý “khía cạnh anh hùng” chuyển sang

“khía cạnh đời thường” [19, 101] Về cái tôi trữ tình, tác giả cũng nhận thấy sự đổi khác: Đó la sự doi hỏi khẳng định cá tính cùng với cá tinh sáng tao, là nhu cau giãi

bày về muôn mặt đời thường, về tình yêu tran thé [ ] Trong quá trình hoàn thiện

nhân cách, nó di tìm lại minh — tìm một bản lĩnh riêng, một gương mặt tâm hồn riêng, dựa vào chính mình, vào sự trải nghiệm ca nhân, vào nhân cách ban thân [19, 103-104] Còn về giọng tho, tác giả cũng chỉ ra sự chuyền biến từ mạnh mẽ đến trằm tĩnh, sâu lắng mang tính thời sự.

Bên cạnh đó, Trần Thanh Đạm với Những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên

qua những trang Di cdo ( Văn nghệ, số 36, 4 — 9 — 1993 ) nghiên cứu biểu hiện

triết lý trong Di cdo thơ qua giọng thơ và triết lý về thơ của Chế Lan Viên Đối với những bài thơ triết lý về thơ, tác giả đã khăng định: Đây có lẽ là phần đặc sắc nhất

Trang 10

trong thơ triết ly của anh [9, 348] Trần Thanh Dam cho rằng: Chế Lan Viên không dong nhất nghệ thuật với đời sống, không hé chủ trương “phan ánh hiện thực” một cách thô thién, dung tục [9, 349] Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy Chế Lan Viên có những bài thơ đặc sắc vé sự sáng tạo nghệ thuật, có những bài thơ ghi lại nôi thao thức, day dứt sáng tạo của nhà thơ trong giai đoạn cuối đời [9, 350 - 351].

Nguyễn Bá Thành với Đọc hai tập Di cdo thơ (Tạp chí Văn nghệ quân đội, 4

- 1994) quan tâm đến hình anh, giọng thơ và nhận ra sự thay đổi về giọng thơ, hình

anh thơ, âm điệu thơ, phương pháp tư duy Nguyễn Thái Sơn qua Ché Lan Viên và

Di cdo thơ (Văn nghệ, 4-3-1995) chú ý và phát hiện ra những tình cảm, nỗi niềm, những giá tri nhân văn và nghệ thuật.

Di cao thơ Chế Lan Viên của Võ Tân Cường (Tap chi Cửa Việt, 9 -1995) khang định ba tập thơ là di chúc thơ về cuộc đời và nghệ thuật.

Di cao thơ Chế Lan Viên hành trình tìm lại chính minh của Nguyễn Quốc Khánh (Tạp chí Văn học, 1999) và Chế Lan Viên trong Di cdo của Vũ Quan

Phương (Tài hoa trẻ, tháng § -1999) chú ý “cái tôi” của nhà thơ luôn trăn trở về

thơ, nghề thơ, cuộc sống, COn người

Những cách tân về cấu trúc câu thơ của Nguyễn Lâm Điền (Chế Lan Viên giữa chúng ta, tháng 5 - 1999) nghiên cứu về nghệ thuật mở rộng câu thơ trong thơ Chế Lan Viên từ Ánh sáng và phù sa cho đến những bài hoàn chỉnh trong Di cdo thơ có một bước phát triển ở mức cao hơn Ở đó, loại câu thơ 5, 6, 7 tiếng và nhiều hơn đạt được thành công đáng kể Trong bài viết, tác giả cũng cho thấy Chế Lan Viên tìm đến những câu tho dài, ngắn dé diễn tả trọn vẹn ý tình của nhà thơ đối với cuộc sống, mặc dù có những câu thơ ngắn nhưng lại có khả năng sdi cánh cả tâm hồn.

Hồng Diệu với bài viết Thơ về thơ cua Chế Lan Viên (Ché Lan Viên giữa chúng ta, 1999) nghiên cứu về quan niệm tho của Chế Lan Viên trong Di cdo tho

gồm: quan niệm về vị trí, trách nhiệm của nha thơ, về mối quan hệ giữa thơ với con

người, thơ với hiện thực, về thơ với người đọc, về nghệ thuật làm thơ.

Trang 11

Tài năng và tính cách độc đáo Huy Phương (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 1999) đã đưa ra nhận xét khá khái quát về đời thơ của Chế Lan Viên: Nghĩ về anh với đời thơ của anh, tôi cứ muốn dùng hình ảnh cây cau bắc ngang dòng sông lớn của thời đại mà mốc cau bên này là Điêu tàn [ ] và mốc cẩu bên kia là Di cdo thơ, một bộ tâm sử bằng thơ hiếm thấy trong bat cứ nên thi ca xứ sở nào [34, 187] Trong bai viết, tác giả nghiên cứu Di cdo tho dưới góc độ nội dung Di cao tho là

sự độc thoại, tự xem xét mình một cách nghiệt ngã và chân thành của Chế Lan Viên, là nỗi đau của nhân thế, những băn khoăn, day dứt với vận mệnh con người

của nhà thơ.

Bài nghiên cứu Tri tuệ, tài năng, tâm hon của Lê Dinh Ky (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 2000) viết về sự thay đổi giọng điệu của Chế Lan Viên trong Di cdo thơ so với những tập thơ trước Tác giả nhận thấy Chế Lan Viên trong Di cdo thơ chú ý đến nỗi đau của đời người sau những âm vang hùng tráng của chiến tranh, chú ý đến bi kịch của sáng tạo, quan tâm đến mọi vấn đề của cuộc sống, thi ca với một trí tuệ, tâm hồn mẫn tiệp: Chế Lan Viên đã đào xới, lật xuôi lật ngược đủ thứ

van dé lớn nhỏ của đời sống, của tâm hôn, của thơ ca.[26, 35]

Đến bài viết Quan hệ thơ và phê bình trong trước tác của Chế Lan Viên của

Lê Quang Trang (Chế Lan Viên giữa chúng ta, 2000) đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa chat thơ và chất phê bình Sự lựa chọn dé tai, chủ đề dé biểu lộ, suy nghĩ,

ý tưởng triết lý từ tác phâm đầu tay Điêu tan đến những tập Di cdo thơ sau này đều

có sự chi phối của lý trí, ý thức hay nói như Chế Lan Viên là với 6c phê bình giúp đỡ.

Triết luận về thân phận con người trong Di cảo thơ của Trần Hoài Anh (2003) chú ý tính triết lý trong Di cdo tho biểu hiện qua “cái tôi” của nhà thơ Đến

Di cảo thơ: Một cái nhìn mới về hiện thực, một quan niệm của Trần Hoai Anh

(2006) phát hiện cái mới mẻ, độc đáo trong quan niệm thơ hướng về hiện thực ở Đi

cảo thơ so với những tập thơ trước.

Ngoài những bài viết trên, tập chuyên luận Thé giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà (2005) nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc về đặc trưng nghệ

Trang 12

thuật thơ Chế Lan Viên Trong tập chuyên luận, tac giả chi ra sự thay đổi về nghệ

thuật trong Di cdo tho’ so với những tap thơ trước như: không gian nghệ thuật, thời

gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật ở Di cdo tho là không gian đời tư, triết lý:

Từ không gian rộng, ông lui về tâm tình, tự vấn, tự thoại trong vùng không gian hẹp dé phát giác nhiễu quan hệ mới [14, 133] Thời gian nghệ thuật trong ba tập thơ này là thời gian đời tư, chiêm nghiệm giúp nhà thơ phát hiện thêm những chân

lý mới của đời sông: Di cdo thơ chính là hành trình tim lại thời gian và phát hiện mới về thời gian của Chế Lan Viên.[14, 161] Bên cạnh đó, Hồ Thế Hà cũng chú ý

đến phương thức biểu hiện trong tho, đặc biệt là các biện pháp tu từ đặc sắc Tác

giả nhấn mạnh: Vé đẹp duy lý của thơ Chế Lan Viên tạp trung đậm đặc ở biện pháp

so sánh và biện pháp đối lập (14, 173] Đi vào nghiên cứu biện pháp đối lập, tác giả chú ý đến biện pháp đối lập trong Di cdo tho và rút ra những giá trị của biện pháp này: Đó /à đối lập từ gan — đến xa, trên — dưới, tạo ra sự đối lập không gian, biểu hiện chiều kích của cuộc sống và lịch sử; đối lập xưa — nay, hiện tại — quá khứ

- tương lai [ ] Tat cả những đối lập đó được điều khiển bởi một tư duy duy lí sắc

sao [14, 177] Nghiên cứu biện pháp so sánh, tác giả chú ý các kiểu so sánh: A la

B, A như B, A thành B và khăng định: Giá trị của những sao sánh và cấu trúc trong thơ Chế Lan Viên là đã tao được nhiều tang nghĩa, nhiều kết hop và nhiều giọng

điệu, hình anh mới lạ.[14, 189].

Những bài nghiên cứu đã đánh giá, tìm hiểu quan niệm tho, cái tôi trữ tình cùng phong cách thơ triết luận của Chế Lan Viên qua Di cdo tho Từ đó khang định tài năng, đóng góp nhiều giá trị cùng sự trường tồn của Chế Lan Viên trong nền

văn học dân tộc Những bai viết trên chỉ dừng lại ở tính chất gợi mở, chưa thực sự

đi sâu, hệ thống về quan niệm thơ, hình tượng cũng như ngôn từ nghệ thuật Nhưng những giá trị của những bài nghiên cứu trên, là cơ sở dé người viết tiếp thu, phát huy những thành quả đề phát triển đề tài.

Trang 13

+ Chế Lan Viên 1992 Di cao tho (tập 1) NXB Thuận Hóa Huế.

+ Chế Lan Viên 1993 Di cdo tho (tập 2) NXB Thuận Hóa Huế.

+ Chế Lan Viên 1996 Di cdo tho (tập 3) NXB Thuận Hóa Huế.

- Do mục đích của đề tài, người viết tập trung vào quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật.

- Ngoài ra, người viết so sánh quan niệm thơ, hình tượng và ngôn từ nghệ thuật trong ba tập Di cdo thơ với những tập thơ Điêu tàn, Anh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Đối thoại mới, Hái theo mùa

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Người viết sử dụng phương pháp này dé phân tích một số bài thơ, dan chứng đặc sắc, nổi bật dé làm sáng tỏ những luận điểm của luận văn Từ đó thấy rõ những đóng góp mới mẻ của Chế Lan Viên trong quan niệm thơ, hình tượng, ngôn từ, không gian và thời gian nghệ thuật qua Di cdo tho.

- Phương pháp so sánh

+ So sánh lịch dai: so sánh Di cdo tho với những tập thơ trước như; Điêu

tàn, Anh sáng và phù sa, Hoa ngày thường —- Chim báo bão, Hoa trên đá dé

thấy điểm tương đồng và khác biệt Từ đó thấy được tính ổn định cũng như sáng tạo của Chế Lan Viên trên hành trình nghệ thuật của ông.

Trang 14

+ So sánh đồng đại: so sánh Di cdo thơ của Chế Lan Viên với thơ của một

số nhà thơ như Tố Hữu, Yến Lan dé thấy được nét khác biệt, sáng tạo, những đóng góp riêng của Chế Lan Viên.

- Phương pháp thống kê, phân loại:

Với phương pháp này, người viết có thé dé đưa ra những số liệu cụ thé, chính xác về các biện pháp nghệ thuật mà Chế Lan Viên sử dụng trong Di cao thơ.

Từ đó thấy được sự nỗi bật trong đặc điểm, sự sáng tạo của Chế Lan Viên về ngôn ngữ thơ.

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống quan niệm thơ của Chế Lan Viên cùng hình tượng, ngôn từ, không gian

và thời gian nghệ thuật mà nhà thơ sử dụng trong Đi cảo thơ.

- Khang định phong cách nghệ thuật cũng như những đóng góp độc đáo của Chế

Lan Viên về quan niệm thơ, hình tượng, ngôn từ, không gian và thời gian nghệ

thuật qua Di cao tho.

7 Cau trúc của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Quan niệm thơ trong Di cdo thơ của Chế Lan Viên Trong chương nay, tìm hiểu quan niệm độc đáo của Chế Lan Viên về thơ ca

và nhà thơ.

Chương 2: Hình tượng nghệ thuật qua Di cdo tho của Chế Lan Viên Trong chương 2, luận văn trình bày những hình tượng nổi bật trong Di cdo thơ: hình tượng thiên nhiên, hình tượng Tổ quốc và hình tượng con người

Chương 3: Ngôn từ nghệ thuật qua Di cdo tho của Chế Lan Viên

Trang 15

Trong chương 3, luận văn tìm hiểu, khám phá những điểm nổi bật về ngôn

từ, không gian và thời gian nghệ thuật ở phương diện: giàu tính triết luận, kết hợp

đa dạng các biện pháp tu từ

Trang 16

CHƯƠNG 1

QUAN NIỆM THƠ QUA DI CO THƠ CUA CHE LAN VIÊN

1.1 Quan niệm về thơ ca

Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu cho phong cách thơ giàu trí tuệ, giàu tính triết luận với tư duy sắc sảo Trong cuộc đời công hiến cho nghệ thuật của mình, nhà thơ không chỉ đơn thuần sáng tác thơ mà biến thơ thành những quan niệm, thành những lý luận độc đáo, sâu sắc về thơ Những quan niệm nghệ thuật đúc kết

từ hành trình lao động nghệ thuật không mệt mỏi của Chế Lan Viên được tập hợp trong nhiều tập thơ, phê bình, tiểu luận Lê Dinh Ky cho rằng những bài thơ viết về thơ của Chế Lan Viên là tho lí luận và hình như ở thơ Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên là người mở đâu cho lối thơ nay [25, 39] Thật vậy, quan niệm về thơ ca của Chế Lan Viên được hình thành sau những trăn trở, nghĩ suy, khao khát khám phá thấu đáo công việc sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ đã trở thành một bộ phận quan trọng trong các tập thơ của ông, bat đầu từ lời tựa trong tập Điêu tan cho đến những bai thơ viết về thơ trong các tập thơ thời cách mang và đặc biệt là trong Di cao thơ, ba tap thơ được viết lúc cuối đời.

Qua tìm hiểu, người viết nhận thấy quan niệm thơ của Chế Lan Viên trong

ba tập Di cáo thơ có sự kế thừa cũng như đổi thay so với quan niệm thơ thé hiện ở

những tập thơ trước đó, được biểu hiện nồi bật ở một số phương diện sau:

1.1.1 Thơ phải “ăn mặn vào miếng đời phầm tục” và “cần nhân thé”

Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều giai đoạn từ trước cách mạng cho đến lúc cuối đời Di cdo tho là tập hợp phan lớn những bài thơ được viết sau 1975 Hoàn cảnh xã hội của đất nước sau 1975 chuyền sang giai đoạn mới đã tác động mạnh mẽ đến cái nhìn hiện thực cũng như quan niệm thơ của Chế Lan Viên Hiện thực cuộc sống bây giờ không phải là những tháng năm hao hùng, vinh quang của một thời đại vẻ vang mà là những đắng cay của con người khi đối diện với muôn mặt của cuộc sông đời thường Vân dé đặt ra lúc này không phải là vận

Trang 17

mệnh dân tộc mà là số phận của từng cá nhân Điều đó tạo xu hướng vận động của văn học giai đoạn này hướng đến cảm hứng thế sự và đời tư, thay thế cảm hứng lịch sử và dân tộc trước đó Và đây trở thành tiền đề làm nên cái nhìn mới mẻ về hiện thực của Chế Lan Viên trong Di cáo thơ.

Trong quan niệm về thơ ở Di cđø thơ, Ché Lan Viên đề cao vai trò phan ánh hiện thực của thơ ca Hiện thực của Chế Lan Viên trong ba tập thơ này xoay quanh trục cảm hứng về bản thé thơ và ban thé của con người Nhà thơ đã từng trăn trở, băn khoăn và hoài nghi về những giá trị, nhiệm vụ, bản chất của thơ mình ở những

chặng đường trước kia:

Thơ chỉ sống một phan cho minh còn ba phan cho nhiệm vu Nghĩ mà thương

(Sử)

Nhìn lại một chặng đường thơ đã qua với những tập thơ Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - Chim báo bão, Chễ Lan Viên nhận thay sứ

mệnh của thơ là song hành với lịch sử biến động của dân tộc, phục vụ cho kháng

chiến, cho cách mạng, tham gia giải quyết những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước Lúc này số phận của từng cá nhân không phải là van đề bức thiết đặt lên hàng đầu mà số phận của dân tộc mới là vấn đề cần giải quyết Vì thế thơ ca phải làm nhiệm vụ có ý nghĩa và thiết thực là đáp ứng yêu cầu bức thiết của thời đại Thơ và quan niệm thơ của Chế Lan Viên không nằm ngoài xu hướng đó Chế Lan Viên đã khái quát thiên chức xã hội của thơ:

Thơ can có ích Hãy bắt đâu từ nơi ấy mà đi.

(Nghĩ về thơ) Với Chế Lan Viên, quan niệm Tho cần có ích lúc đó không chỉ dừng ở mặt

tư duy, ở nhận thức, ở lý luận mà đã biến thành tình cảm, là thái độ sống, là hoài bão của nhà thơ trong những ngày tháng đau thương mà anh dũng:

Anh chỉ mong câu thơ anh sống khỏi một đêm,

có ích qua một ngày

Trang 18

Đúng cai đêm bà mẹ chết con cân một câu thơ cho đỡ khổ

Đúng cái ngàyngười chiến sĩ trên chiến hào ôm xác bạn ngã vào tay

(Thơ bình phương - Đời lập phương)

Có thé nói quan niệm Tho cẩn có ich của Chế Lan Viên cũng nằm trong

dòng cảm xúc chủ lưu của thơ ca cách mạng và kháng chiến Đó cũng là một trong những yêu cau mà thời đại đặt ra cho thơ, và là một phẩm chất, một chuẩn thẩm mỹ của thơ chi phối quá trình sáng tạo của nhà thơ Dé chi rõ hơn sự có ích của tho, Chế Lan Viên cho rằng the không phải chỉ đưa ru mà còn thức tinh, phải đập bàn

quát tháo lo toan, nghĩa là thơ phải trở nên mạnh mẽ, đữ đội, phải có chất “thép” và

tham gia giải quyết những van dé liên quan đến vận mệnh đất nước, dan tộc Trong

hoàn cảnh đất nước chiến tranh, quan niệm ay thật có ý nghĩa va thiết thực, đáp ứngđược yêu cầu bức thiết của dân tộc và thời đại Vi vậy, thơ có ích còn là loại thơphải đem đến cho con người sự hoi sinh, sự bừng ngộ, va hon thé nữa thơ phải biếnthành một thứ lửa truyền qua muôn đời: Cau tho u, là cách chuyển lửa qua muôn

đời (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ).

Nhiệm vụ của thơ cũng thay đôi khi thời đại đôi thay Những tháng năm lắm

hào hùng nhưng cũng không ít đau thương qua đi nhường chỗ cho thời kì "đôi mới”

quá độ cia đất nước ma mỗi cá nhân phải đối điện với muôn vàn đắng cay, vat vácủa cuộc sóng đời thường day biến động của nên kinh tế thị trường Các nhu cầu về

xã hội, về cá nhân dan dan thay thé cho nhu cau chính trị, cộng đồng và trở thành

trung tâm của tiếng noi trừ tình Nằm trong dòng chảy của đời sông xã hội nói

chung và đời sông văn học nói riêng, quan niệm vé thơ của Chế Lan Viên đã có sự

thay đôi và chuyên hướng theo xu thé gần với đời tư, thé sự, nhân sinh Nha thơ đã

tìm ra hướng di mới cho tho minh dé phù hợp với thời đại và sự vận động trong

quan niệm về thơ của minh đã được chính nhà tho khang định:

Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng tram Tiếng hát lan với im lùn của dat

Vicon lặng yên ma thơm mui mít mật

Trang 19

Còn hon anh rô giọng hát vang ngân

(Giọng tram)Trong thời đại ca dân tộc nêu cao tinh thần “quyết tử cho Tô quốc quyết

sinh” và dat nước giành được những thắng lợi vẻ vang thì giọng cao hào sảng mang

hôn chiến trận, phải đập bàn quát tháo lo toan của thơ là điều cần thiết Nhưng khi

chiến tranh đi qua, những chiến tích chi còn là quá khứ thì giọng tram của thơ lúc nay lại cần thiết cho việc đi sâu vào bản thé tho, ban thé con người, quan tâm đến

những số phận bé nhỏ đời thường đang đối diện với những đồi thay trong thời đại

mới Nhân sinh, thể sự đem đến hơi thở, hon thơ và trở thành chủ đề chính trong

sáng tác của Chế Lan Viên Hàng loạt những bai thơ được viết ra như Tir thé chỉ

ca, Lon trái, Thời gian nước xiết, Hồi ký bên trang viết là những suy niệm mới

của nha thơ về van đề sống, chết, sáng tạo, sự hữu hạn, cõi vĩnh hang trong cuộc

đời và trong mỗi người.

Lay đời tư, thé sự làm chất liệu, nguồn cảm hứng cũng như đối tượng phục

vụ của thơ ca, Chế Lan Viên quan niệm:

Đâu dim dung thơ như tháp nhiều tang

Tôi lại thích bài thơ nắm giữa cỏ

(Tháp cao tăng)

Tho nam giữa co là thơ đến với đời thường, những cuộc đời, những số phận,

những van dé tưởng chừng quá quen thuộc, nhỏ bé, thậm chí bị khuất lấp ít được

quan tâm thì giờ lại đem đến sức sống cho thơ của Chế Lan Viên Quan niệm này

gan tương đồng với quan niệm trong Ánh sáng và phù sa: Chang có thơ đâu giữalòng đóng khép (Tiếng hát con tàu)

Ö Ánh sáng và phù sa Ché Lan Viên bộc lộ quan điểm thơ phản ánh hiện thực Hiện thực hiện lên trong tập thơ là hiện thực lớn lao của dân tộc, Tô quốc đang thay da đổi thịt Còn trong Di edo tho, quan niệm thơ phản ánh hiện thực đi

vào chiều sâu của thé sự, đời tư Dé thé hiện được sự đa diện, đa chiêu của van dé

thé sự, nhân sinh, thơ không chỉ phản ánh hiện thực o bẻ mặt của nó ma phải đi vào

bé sâu, bề xa, phải ấn man vào miếng đời phảm tực (Thơ thế kỷ 20) Trước đây,

Trang 20

Chế Lan Viên đã quan niệm đời cho thơ chất mặn: Hãy biết ơn vị muối của đời cho

thơ chat mặn (T6 quốc bao giờ đẹp thé này chăng) Chất mặn của đời theo nhàthơ cảm nhận là cái vị rất thực của đời, là cảm hứng của thơ ca Giờ đây cũng thé,

thơ ca tìm được vị mặn của cuộc đời đẻ tạo nên vị mặn cho nó, phải bước vào cuộc

sông còn nhiều những lo toan, cay đắng, khốn khó trong những ngày dau “đồi mới”

dé nêu bật được van dé xã hội cá nhân con người đang quan tâm một cách chân thành, sâu sắc, toàn điện Không chi vậy, thơ can phải lăn lộn với cuộc đời đạn day

ăn gió năm sương, lội tuyết, lội bùn, xông vào lửa bóng (Thơ ) thì mới thể hiện đờisông của cá nhân và bẻ đời rộng lớn một cách phong phú, đa chiều, đa điện ở mặt

phải lẫn mặt trái Vì vậy mà nhà thơ khăng định The la cộng đời anh cùng vô van

cái không phải nó (Chỗng lại thơ Đường).

Bên cạnh đó, quan niệm mới về thơ gắn liền với cảm hứng đời tư, thể sựcũng được Chế Lan Viên khái quát trong Di cdo the Đó là quan niệm tho can nhânthể (Thơ hiện đại), tức là thơ quan tâm đến thân phận của con người Lúc này, thơ

trong quan niệm của Chế Lan Viên không còn là sự đưa ru hay thức tỉnh, đập bàn

quát tháo lo toan mà thơ phải hướng tới với những nỗi đau của con người, phải lau

nước mat, phải là mước mat/ dưới xa kia (Tìm đường) Thơ phải quan tam, trăn trở

tìm sự hòa hợp giữa mối quan hệ “ta” và “minh”, giữa niêm vui và nỗi buon, hanh

phúc va khô đau, được và mat, vinh quang và cay đắng cúa kiếp nhân sinh:

Câu thơ có nghĩa đơn mà hôn phải kép

Viết cái am của ta mà không quên cái rét của mình

(Hai xứ)

Với một hồn thơ không yên ôn, đầy những dan vặt, trăn trở như Chế Lan Viên thì thơ trong quan niệm của ông phải bao trim cõi tinh thần của con người, không được phép chỉ hướng tới niềm vui, hạnh phúc, vinh quang mà quên đi khô dau, bat hạnh, đăng cay Nhưng thơ không chi dừng lại ở việc phản ánh cdi tinh

thần sâu thăm, phức tạp của con người mà trên hết thơ phải là Thudc có khả năng

chữa lành những vết thương trong cdi tính than của con người: Có vào nổi dau mới

có ich cho người Dé mới chính là những vần thơ có giá trị:

Trang 21

Có vào néi dau mới có ich cho người

Nếu tả tiếng cười tr? Phải trả cdi giá ta cười

(Thuốc)

Thơ chính là tông hòa những cung bậc cảm xúc và đánh thức cảm xúc, tâm

hồn của con người: Nhiệm vụ của thơ, ara thé/ Thêm vị muối cho đời, thêm hạt lệ

cho tho/ Thêm tiếng cười cho kẻ sống tra tro (Đói).

Thơ can nhân thé trong quan niệm của Chế Lan Viên không phải đến Di cdo

thơ mới xuất hiện mà đã có quá trình lên men từ trước Từ tập thơ Hoa trên đá.Chế Lan Viên có những dấu hiệu chuẩn bị, khởi đầu cho sự hình thành quan niệm

thơ được khái quát, chiêm nghiệm trong Di cao tha sau này Nhà thơ đã ý thức sâu

sắc trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ ở mình, mỗi quan hệ gắn bó giữa bản

thân mình và nhân loại:

Nita đời thơ anh mới chợt hiểu rằng

Lâu nay có nửa phan nhân lọai sống giữa màu huyết trắngCái phan nhân loại trong anh cay dang

Thấy mình xa nhân loại ở bên ngoài

(Thơ bình phương đời lập phương)

Quan niệm the cẩn nhân thé (Thơ hiện đại) trở thành cảm hứng bao trùm

phan đời và phan thơ còn lại của Chế Lan Viên Thơ không thé nằm ngoài cuộc

sống và phải chảy giữa biển lớn nhân sinh Chính quan niệm này đã giúp con

thuyền thơ của Chế Lan Viên neo đậu với bến đỗ cuộc đời, không bị trôi dạt vào thé giới hư vô của Điêu tan va vận động tiếp nối, đôi mới so với quan niệm trong

những tập thơ cách mạng.

Trong lời tựa của tập Điêu tan, tập thơ dau tay của mình, Chế Lan Viên đã

quan niệm về thơ Làm thơ là làm sự phi thường (47, 23], là thoát khỏi Hiện Tai, xối trộn Dĩ Vang, ôm trim Tương Lai [41, 23] Déi với Chế Lan Viên, ba ý niệm về quá

khứ, hiện tại va tương lai tan biến, hòa trộn vào nhau Đó chính là sự đảo lộn quy

luật tạo hóa, vượt qua cdi thực dé chạm đến thé giới của hư vô Chính vì vậy, sự

phi thường mà Chế Lan Viên quan niệm được thẻ hiện trong thé giới của Diéu tan

Trang 22

chính là thé giới của Hư vô, không gian Tháp Chàm hoang phế do nhà thơ hư cau

nên Vì thé, không có gì lạ khi những cụm từ Aue vô lại xuất hiện nhiều, phong phútrong tập thơ như: cõi hu vô giữa hư vô, trong cùng thắm hư vô, chon hư không,cối trời mơ Chính thé giới hư không, ảo ảnh này đã thẻ hiện cái nhìn khác lạ vềhiện thực của Chế Lan Viên Dé phan anh thể giới đó, Chế Lan Viên quan niệm

phương thức phản ánh là những hình ảnh tượng trưng, siêu thực với những cảm

giác tột cùng gảo vỡ sọ, thét đứt hau, khóc trào nước mắt, cười tran cả tủy là tủy.

Khi giải thoát những cảm giác tột đỉnh ấy trong thơ tưởng chừng ngòi bút Chế Lan

Viên trượt hoàn toàn khỏi cdi thực dé bước sang lãnh địa của thế giới ảo diệu,

huyễn tướng dé tạo nên một (háp Cham chắc chan lẻ loi và bí mật, một niềm kinh

di ờ chon nước non lặng lẽ này (39, 225] Nhung không phải vì vậy mà cho rằng

quan niệm thơ và phương thức phản anh lại thoát ly hiện thực Như R Assagioli

từng nói: cái gi có thể tạo ra những hiệu ing trong một hiện thực khác thì chính no

cũng phái được coi như một hiện thực, vì không có một sự biện minh triết học nào

có thể coi thể giới vô hình hay thân bí là phi hiện thực ca [73, 392] Trên cơ sở này,

ta thay quan niệm thơ của Chế Lan Viên không phải là phi hiện thực ma quan niệm

hướng sự phản ánh của thơ đến một phương diện khác của hiện thực Đó chính là

hiện thực tâm linh Đó là thé giới riêng của sáng tạo nghệ thuật Qua thé giới ấy,

Chế Lan Viên đã tỏ rõ quan niệm lam thơ là làm sự phi thường Sự phi thường làhướng thơ ca đến thé giới của cõi tâm linh sâu thăm nhất trong thế giới tinh thancủa con người Cối tâm linh ấy được thi nhân gọi bằng cdi Ta rộng lớn day u uan:

Ôi bát ngắt mênh mang như âm giới

Day cõi Ta rộng rãi đến vô biên !

(Cõi Ta, Điêu tàn)

Cái cõi Ta giữa lòng thi nhân hay chính là cái Tôi dang bị bua vây bởi nỗi

đau thương, u buôn, sâu thảm đã thành hình, thành khôi, thành một phần sự sống:

Quả tim ta là một khối U Buồn

Mạch máu ta là những mỗi Đau Thương

(Đừng quên lãng)

Trang 23

Nhà thơ ngụp lặn trong nỗi đau của chính mình mà không tìm ra lối thoát:

Dau don thay cho đến cd linh honé Cứ hay tim Chan Nan với U Buén (Ta) và muốn

tim quên lang trong chính nỗi đau ấy:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao tro trọi cuối trời xa

Dé nơi ấy thắng ngày tôi lan tránh Những wu phiên, dau khổ với buồn lo

(Những sợi tơ lòng)

Cöi Ta của nhà thơ nhuém mau đau thương, phiền muộn bởi cõi Ta ấykhông ngừng khóc than, rên ri nỗi sầu vong quốc của dân Chiêm:

Day chiến địa nơi đôi bên giao trận

Muén cô hôn tử sĩ hét gam vang

Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận

Xương Chàm luôn rào rạt nổi cắm hờn

(Trên đường về)

Nỗi đau đớn, bi hận của nha thơ trước hình ảnh Chiêm quốc hoang phẻ, điều

tàn, đồ nat cũng chính nỗi đau của một người dân nô lệ muốn thoát khỏi những

khủng hoảng thực tại khi chứng kiến hiện thực của đất nước Xã hội đất nước ta trong giai đoạn 1930 - 1945 có khác gì hình ảnh Chiêm thành hoang phế, cũng bị

bao bao trùm bởi không khí ngột ngạt tù túng, bề tắc Chế Lan Viên đã chọn cách

trôi dat vào cõi ta với hình anh hồn Chiêm quốc mờ ảo, nhạt nhòa, xa xôi cùng

những bãi tha ma, tiếng khóc than của hồn ma, tiếng kêu rên của xương máu sôngdậy ở hầu hết các trang thơ như chính tác giả từng tuyên bố: Trong thơ ta dan

Cham luôn sống mãi/ Trong thơ ta xương mau khóc không thôi (Điêu tàn) Cách chọn lựa ay là một sự phan ứng lại thực tại xã hội đương thời Nhưng Chế Lan Viên không phản ánh hiện thực ấy một cách trực tiếp, đơn giản ma đã hư ảo hóa

hiện thực, không phải phan ánh hiện thực bên ngoài ma phản ánh hiện thực bên

trong, đề hiện thực xuất hiện trong thơ với một đáng vẻ khác — huyền bí, khác lạ và

độc đáo Vẻ huyền bí của thé giới điêu tan hay hiện thực tâm trang của nhà thơ

Trang 24

được phản ánh mang tinh hư cấu, siêu hình bởi vì trước một cuộc đời bề tắc, khủng

hoàng nhà thơ còn biết bám víu vào đâu ngoài lãnh địa điêu linh, hoang tàn đẻ giántiếp nói lên hiện thực buồn tẻ mà mình luôn trăn trở, khắc khoai, gần như tuyệt

vọng Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu quan niệm thơ trong Diéu tan không ít ý kiến

cho rằng thơ Chế Lan Viên hướng đến sự thoát ly, giải thoát nhằm quên đi thực tại

hay nói cách khác là tìm đến một nơi phi hiện thực một tinh câu gid lạnh, một vi sao tro trọi cuối trời xa (Những sợi tơ lòng ) đẻ cho tâm hồn trú ngụ Những tư

tưởng, hình ảnh siêu hình, siêu thực trong Điêu tan giúp nha thơ giải phóng khỏi

những khủng hoảng thực tại Chính những chiếc sọ người, xương khô, dom lửa ma

troi, dau lâu, bãi tha ma, đáy mô sâu, hôn, máu là nguồn cảm xúc thơ, nguồn

cảm xúc mạnh mẽ, khác thường của tác giả Chính nguồn cảm xúc khác thường này

đã đem đến những bat ngờ, thú vị cho người đọc Quả thật, tập thơ Diéu tan đã

minh chứng cho quan niệm /am thơ là làm sự phi thường của Chế Lan Viên.

Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ đưa đất nước ta đi vào một kinguyên mới mà còn làm đời thơ, quan niệm thơ của Chế Lan Viên bước sang trang

mới Thời đại Điêu tàn trong thơ đã nhường chỗ cho thời đại Ánh sáng và phù sa.

Cũng như, quan niệm thơ trong lời tựa của tập Điều tan có sự tiếp noi và đồi thaylớn lao trong những tập thơ được sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chong Mi vĩ đại của dân tộc Nếu như sự phi thường trong Điều tan là hư ảo hóa

hiện thực, phan anh hiện thực bên trong: hiện thực tâm linh thì những tap thơ nói

tiếp như Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường — Chim báo bão,

Đối thoại mới lại gin bỏ sâu sắc với hiện thực bên ngoài rộng lớn: hiện thựccuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ, xây dựng đất nước của dân tộc Cách mạng

không chỉ đem lại sự hồi sinh cho đất nước mà còn giúp Chế Lan Viên thay đôi hồn

thơ Nỗi đau mat nước trước kia giờ trở thành lòng yêu nước, yêu chế độ mới Nỗi

buồn tránh đời tìm vào cdi hư vô đã trở thành lòng yêu đời, yêu cuộc sống Sau

những trăn trở, băn khoăn và day dứt nhiều lúc tưởng chừng như không thé nao

vượt qua được con đường dau khổ của chính mình, Chế Lan Viên đã tự "lột xác

mình”, tự “biến cải mình", tuy: Đi xứ, về hoá chậm, / Biết bao là nhiều khé

Trang 25

(Ngoảnh lại mười lam năm) nhưng cuối cùng ông cũng đã từ thung lũng dau

thương bước ra cánh đồng vui, dé đến được nơi minh cần đến, về được nơi mìnhcan về Đó la sự trở về với cái ta chung của dân tộc, của nhân dân Điều đó được

thé hiện bằng một cái nhìn mới về cuộc đời Đây chính là sự vật vã trong việc từ bỏ con người siêu hình thuở Diéu tan dé hoa nhập với con người xã hội con người

công dan trong cuộc sông mới, mà Chế Lan Viên đã tự nhận ra ý nghĩa cao cả của

nó: Xưa ở sông Ngõ ta đánh mất vàng / Đánh mat tâm hôn ta Nhung hiện tại / Như

sông Tương đã trả vàng ta lại / Khắp đôi bờ tư tưởng chói hào quang (Vàng của

lòng tin) Chàng thi si mang trên mình bao nỗi chưa cay cua một thời thơ ấy đã

bước ra khỏi cai tháp nga hư vô của thé giới Diéu tan dé trở về với cuộc doi thực

Chính ánh sáng của Đảng, phù sa của cuộc đời đã giúp nhà thơ dau tranh với mình

trên cánh dong lay của nỗi đau riêng dé đến với niềm vui chung Chế Lan Viên đã

đi từ chân trời một người đến chân trời tất cá [1 21] Và đây chính là cơ sở tạo

nên một cái nhìn mới của Chế Lan Viên về mỗi quan hệ giữa cuộc đời với thơ Chế

Lan Viên không con quan niệm thơ 1a cái gì cao siêu, bí ân, phi thường, đứng trên cuộc đời, đứng ngoài cuộc đời mà thơ phải bám lấy cuộc sông, phải tìm thấy chất

thơ, hồn thơ trong chat đời, hòn đời.Với Chế Lan Viên bây gid, hiện thực cuộc

sông luôn là nguồn cảm hứng vô tận của thơ ca:

Moi ngày gặp một người - họ là một mảnh của thiên tài nhân loại.

Mau và mô hôi của người đúc nên bao hình ảnh ngữ ngôn

Vat do của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vai.

Tat cả mỗi người dù lạ hay quen đều viết cho thơ anh một chữ

Hay nhật những chữ của đời ma góp HỆH trang.

(Nghĩ về thơ)

Với quan niệm trang thơ được đệt nên từ những trang đời, trong hành trình

sáng tạo của mình kẻ từ sau cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên luôn bám vào

cuộc sông dé làm thơ Ông luôn có ý thức đúng dan về sự cần thiết của đời sống đối

với thơ Ông quan niệm rằng: Tho là cude sống vì có đời sóng mới có thơ nhưng

thơ không sao chép cuộc song mà tim hiéu va dat những van dé với cuộc sông (1,

Trang 26

22] Với quan niệm đúng đắn nay, nhà thơ đã nhận ra con đường sáng tạo có ý

nghĩa nhất, làm nên sự bất tử của thơ ca là con đường gắn bó với cuộc sống củanhân dân: Chang có thơ đâu giữa lòng đóng khép / Tâm hôn anh chờ gặp anh trên

kia (Tiếng hát con tàu) Chế Lan Viên luôn ý thức về sự cần thiết của hiện thực

đời sông đối với thơ Ông cho rằng cuộc sông chính là bài học lớn nhất của mọi

hồn thơ Quan niệm thơ bám vào nguồn mạch cuộc sống gắn với yêu cầu phải mở rộng vả khái quát hiện thực lớn lao của đời song cach mang.

Trong quan niệm thơ của Chế Lan Viên lúc nay cuộc sông không chi là

nguồn cảm hứng mà còn là đối tượng của thơ ca Ông cho rằng: Tho đâu phải là

con của trang giấy hồng hay trang giấy trang (Số tay thơ) mà thơ chính là con đẻ

của cuộc doi:

Mỗi câu thơ là một lan lan vào trang giấy

Lan vào cuộc đời

Rồi lại ngoi lên

(Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ )

Thật vậy, không có cuộc sống tất yếu sẽ không có thơ ca Bởi cuộc sống

không chi la đối tượng phan ánh mà con lả chất liệu của thơ ca Điều này được thé

hiện rat rõ trong quan niệm của Chế Lan Viên khi ông cho rằng: Mot minh thơ sao

đẻ ra thơ được? Nó phải kết hợp với cái gì chứ? Với mảnh đất này [66, T4] Rõ

rang trong quan niệm của Chế Lan Viên cuộc sống chính là chất liệu không thẻ

thiểu của thơ ca Cho nên nhà thơ luôn tự nhủ: Hay biết ơn vị mudi của đời cho thơ

chat mặn! (Tô quốc bao giờ đẹp thé này chăng) Có thé nói cái nhìn mới của Chế

Lan Viên về mỗi quan hệ giữa cuộc đời với thơ được bắt nguồn từ đời sông cách

mang và kháng chiến của din tộc, của Tổ quốc Nó không chi được khái quát thành

quan niệm mang tính lý luận ma còn đồng hành với quá trình sáng tạo thơ của ông.

Cũng bắt đầu từ giai đoạn này, Chế Lan Viên không những thấy được sự tácđộng của cuộc đời đối với thơ mà còn thay được sự tác động trở lại của thơ đối với

cuộc đời, thơ phải: Lay bát cơm ngày mùa trả lời cho cơn đói / Cái ay thơ hơn, hay

những bài thơ ri rên vẻ trận đói thơ hơn? (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ) Đời

Trang 27

rất cần có thơ và thơ là con đẻ của đời Thơ ca được ươm mầm, nảy nở và lớn lên

từ mảnh đất biện thực màu mỡ và nhiệm vụ của nó là quay trở về nơi nó được sinh

ra dé phục vụ Hiéu rõ được điều đó, Chế Lan Viên đã khang định khi đến với cách

mạng và kháng chiến: toi đã cùng các thi sĩ tiền chiến khác và hàng bao thi sĩ trẻ

xuất hiện về sau là một người cam bút có ích, làm thơ có ích Hay hay dở hơn xưa,

cái đó tity sự đánh giá của mọi người, ở sự rộng lượng của tri âm Nhung qua la đã

có ich hơn xưa [63, 3] Và chính sự bừng ngộ này đã tạo cho Chế Lan Viên một

nhận thức mới, một quan niệm mới về môi quan hệ giữa thơ với cuộc đời Đó chính

là thiên chức xã hội của thơ mà Chế Lan Viên đã khái quát:

Thơ can có ích

Hãy bắt đâu từ nơi ấy mà đi.

(Nghĩ về thơ)

Theo Chế Lan Viên, muốn có ich thơ phải luôn luôn gắn với cuộc sông: Tho

ca không thể tách với cuộc sống Trước hết nó phải có ích Thơ ca cân thiết nhưmặt trời cân thiết, cần thiết ánh sáng can thiết hoa lá vũ khí Thơ ca không thể

kéo dài cuộc sống con người nhưng nó làm cho cuộc song có dung tích hon (59,

Xa thơ chỉ hay than ma ít hỏi

Đăng dạy ta: Thơ phải trả lời

(Nghĩ về thơ)

Nhà tho đã đưa ra quan niệm tho không chỉ dua ru mà con thức tinh (Nghĩ

về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ), thì thơ phải luôn tự chất van, phải đối thoại với

cuộc đời, phải đặt ra câu hỏi và có trách nhiệm trả lời những câu hỏi nảy sinh từ

Trang 28

cuộc sông Quan niệm này cho thấy ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của nhà thơ

và thiên chức của thơ trước cuộc sống của Chế Lan Viên Và quan niệm ấy luôn là

một nỗi ám ảnh trong hành trình sáng tạo thơ của ông Trả lời hay không trả lời

những vấn đẻ đặt ra từ cuộc sống, đó cũng là một thái độ sống, một cách lựa chọn

con đường sống Và ở đó cũng thẻ hiện nhân cách của nhả thơ, trách nhiệm và

lương tâm của người nghệ sĩ trước cuộc đời.

Chính sự biến động của cuộc sống của dan tộc lả tiên dé tạo nên sự vận động

quan niệm thơ cũng như hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên Dó là sự vận động

từ quan niệm: Lam thơ là làm sự phi thường trong lời tựa Điêu tàn trước cáchmạng đến quan niệm thơ phải có ích, phải được nuôi dưỡng và lớn lên từ cuộc sống

cách mang, kháng chiên của dan tộc trong các tập thơ trước Di edo thơ Nhưng đến

Di cáo thơ, quan niệm về thơ của Chế Lan Viên lại có một sự chuyển biến mới Dé

là quan niệm thơ can nhân thé với cái nhìn hiện thực đa diện đa chiều trên phương

điện đời tư, thế sự

1.1.2 Thơ là sự sáng tạo hon bằng chữ Trong Van tâm điêu long, Lưu Hiệp đã viet: Việc sáng tác phải biết vạch ra

cái khuôn để đựng cai nội dung (li), nghĩ ra một chỗ đứng (địa) để bay to tỉnh cam

(tam) Chỉ sau khi xác định được tình cam (tam) thì mới dem âm nhac phối hợp.

Nội dung có ngay ngắn thì sau đó mới chọn lời văn Khién cho cái hình thức (van)

không giết mất cái nội dung (chat), loi lẽ sâu rộng không làm cai tam của mình

chết đuổi (16, 178] Như vậy, từ xa xưa, bên cạnh nội dung thì hình thức là một yếu

tô quyết định sự thanh công của tác phâm Một tác phầm thực sự mang giá trị nghệ thuật nhất định phải có sự hài hòa giữa nội dung và hình thức Nha văn Nga Leonid

Leonov từng khang định: Mdi tac phẩm là một phát minh về hình thức và một khámphá về nội dung Vốn là một nhà thơ giàu tâm huyết, tài năng, Chế Lan Viên ý thứcđược điều đó va có những chiêm nghiệm, quan niệm độc đáo về nghệ thuật sáng

tạo thơ Sự sáng tạo ấy được thê hiện rõ qua cuộc đời công hiến cho nghệ thuật của nhà thơ từ tập thơ đầu tay Diéu tan cho đến những tập thơ cách mạng và đặc biệt

Trang 29

trong ba tap Di cdo thơ được viết cudi đời Di cao thơ gây simg sốt cho người đọc

không chỉ vi tai sáng tạo độc đáo mà sự sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ được đúckết thành những quan niệm mang tính lý luận theo cách riêng của mình

Quan niệm về nghệ thuật sáng tạo thơ trước tiên được biểu hiện ở sự sáng

tạo thi pháp Chế Lan Viên cỏ hàng loạt bai thơ đặc sắc nói về thi pháp như Thipháp, Thi pháp ôn, Thi pháp trẻ O đó, Chế Lan Viên chỉ ra những loại thi pháp

mới mẻ, độc đáo với những đặc điểm riêng: thi pháp đá và thi pháp lứa, thi pháp

Núi và thi pháp Dat, thi pháp nhập thé và xuất thé, thi pháp đoản dao và trườngthương Những kiêu thi pháp được gọi theo cách gọi riêng của nhà thơ đều có

những đặc điểm riêng, cụ thé của nó Nhà thơ định nghĩa: thi pháp Núi là thi pháp

đứng từ xa, trên non cao nhìn vạn vật, còn thi pháp nhập thể là thi pháp thèm ăn

từng hạt bui/ ào ào vào trong sự sống bão cuông, thi pháp lửa là thi pháp nháy vào

giữa trận/ Chịu từng vết thương Có thê nói, quan niệm về thi pháp của Chế Lan

Viên thé hiện cá tính, tài năng sáng tạo độc đáo của một nghệ sĩ tâm huyết với nghề

va gợi mở cho những con người đồng hành củng nhà thơ trong bước đường sáng

tác bao điều suy ngắm.

Với quan niệm lam thơ la một nghé đặc biệt, cao cả, thiêng liêng:

Nếu làm thơ phải có hôn thi sĩSao làm thơ không có nghề như thợ nhỉ?

Nghề đếm lá, nghề trông sao, nghé tát bé

Nghề dich vụ tinh than thẻ thế

Ba vạn sâu ngàn nghệ, ta phải kế: nghề thơ

(Thơ về thơ)

Chính vì quan niệm thơ là một nghé nên Chế Lan Viên đòi hỏi khi sáng tácnha thơ phải nắm bat được những kĩ thuật và phương pháp cần thiết Trong số

phương pháp, kĩ thuật sáng tác, Chế Lan Viên chú trọng đến việc sáng tạo ngôn

ngữ Ong quan tâm đến yếu tô ngôn ngữ vì mỗi từ, mỗi chữ trong thơ đều mang

linh hôn trong đó Cái hòn của nha thơ, của đời sống đã nhập vào con chữ, biến con

chữ thành một thực thé, một hành tinh sống động:

Trang 30

Đã làm thơ sao lại từ chối làm văn,

Từ chối sáng tạo hôn bằng chữ?

Lam thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữChớ nhân danh đất dé chê Lời

(Đừng đi chân đất)

Trong quan niệm của Chế Lan Viên, ngôn ngữ không đơn thuần là con chữ

mà nó là một hành tinh có những bí ấn riêng, có sự sống, có linh hôn Chính hồn của con chữ qua cảm xúc thăng hoa, trí tuệ sắc sảo của nhà thơ đã tạo nên sự sống

cho tác phẩm Nhà thơ đặc biệt chú trọng việc dùng chữ trong thơ, ông cho rằng:

Vé hình thức, tôi chủ trọng đến ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ là tế bào chữ, nói lên kiểu

cấu trúc thơ.[63, 87] Vì thé, ở trong bài thơ, nhiều khi một chữ cũng rất là quan

trong, hiểu sai hay thay đổi di không được [63, 100 - 101] Từ nhận thức đó, Chế

Lan Viên day công tìm kiếm, lựa chọn ngôn ngữ Đó là ngôn ngữ giàu sức gợi, mở

ra nhiều phương điện của cuộc sông: Tho là ba chữ thôi mà là bế, là giếng, là kho

vảng hiển hiện (Quan niệm thơ) Đó là thứ vừa mộc mạc, vừa mang vẻ đẹp kì diệu như: hài hoa cô Tam, như mái tóc thơm hương cam cứng chứ cha phải hương đồng

(Ngôn ngữ) thì mới hap dan và dé lại dau ấn của nha văn, của tác phẩm trong lòng

người đọc Chế Lan Viên luôn tìm tòi, cân nhắc lựa chọn từ ngữ được sử dụng trong thơ thêm cái đa thanh, đa sắc của cuộc đời Hơn thé nữa, ngôn ngữ đó phải

chứa đựng làm nôi bật được tình cảm, tư tưởng mà nhà thơ gửi gắm va thực sự làm

cho những tình cảm ấy có sức mạnh thăng hoa:

Là một nhà thơ luôn có tinh thần lao động nghiêm túc, rất coi trọng kỹ thuật

trong sáng tác, nhất là trong việc lựa chọn ngôn ngữ nhưng Chế Lan Viên mạnh mẽ

lên án việc sử dụng xảo thuật ngôn từ Ong chỉ ra rằng: Chữ quan trọng như thể

Trang 31

nào thì chúng ta déu biết Có điều là không nên nghĩ rang chữ bao giờ cũng phải là

hoa, mà có khi chữ là lá, là hạt Nhiều chữ hay với cải vẻ riêng của nó, hay vì mộcmạc, hay vì dùng chữ đúng lúc, đúng chỗ, không phải bao giờ ta cũng cần đến

những chữ “hoa hoe hoa sói” [63, 100 - 101] Những nhà thơ dùng từ ngữ hoa hòe

hoa sói theo kiêu làm xiếc ngôn ngữ ấy là:

Những nhà thơ mat giá

Lại thường hay đổi tiền

Mong dùng nhiều chữ lạ

Lita người tiéu quá quen

(Mat giá)

Chẻ Lan Viên trong quá trình sáng tao không chấp nhận sự cầu ki, lay kĩ xảo

dé bù đắp cho sự non yếu trong cảm xúc, von sông ma quên rằng nha thơ cần căng

cái day hình anh ngữ ngôn qua vực tâm hôn sâu thấm ( Sỗ tay thơ) Những kiêu kĩ

xảo ấy tưởng chừng lừa người đọc nhưng làm sao lừa được Bởi người đọc là người

thâm định cách dùng ngôn ngữ của nhà thơ:

Ngôn ngữ như hài hoa cô Tam trong ngày hội lớn

Mái tóc thơm hương cắm cung chứ cha phải hương đồng

Ao thêu hoa cũng đẹp thôi, chứ đâu phải nâu song

Độc gia có lúc cân làm hoàng tứ dé xem hài hoa và để chọn

(Ngôn ngữ)

Bên cạnh sáng tạo ngôn ngữ, thơ cũng cần có sự sáng tạo về dạng thức dé

điển tả trọn vẹn ý tình Đó không phải là các câu tho quá dai thừa thai, không phải

là những câu thơ qué ngắn không đủ sức chứa đựng ý tưởng, cảm xúc để phải viết

tiếp những câu thơ giải thích, lam mất đi tính ham súc, sức gợi của tho Va đó cũng

không phải là những câu thơ khuôn mình theo văn phạm (Số tay thơ) mà phải biết

vượt qua khuôn khỏ, công thức.

Nói đến yếu tô ngôn ngữ trong thơ, Chế Lan Viên bay tỏ quan niệm về van

Ong quan niệm vẫn góp phan làm ra thơ nhưng tho không phải là van |6§ 129]:

Làm thơ chứ không phải để thơ làm

Trang 32

Càng không dé rượu lam, chữ lam, van làm

(Quan niệm thơ)Chế Lan Viên cũng lưu ý thơ can vượt qua sự gò bó theo van sẽ làm biến đồi

cái hay, cái đẹp của thơ, làm tan biến cảm xúc sáng tạo Nếu nhà thơ không làm

chú cảm xúc, bị ám anh bởi sự dẫn dắt của vần thì thơ sẽ đi vào ngõ cụt: Đề chovan đi trước/ Dat đến nơi bắt ngờIĐề câu thơ bị lừa Bởi cái van vô ý ¿./ Van mạo

hiểm dat thơ vào ngõ kẹt (Van) Chế Lan Viên cha ý đến van nhưng không xem

đây là van dé trong tâm Bởi vì đối với nhà thơ, tho là tư tưởng, là tình cảm, là cảm

giác, là hình ảnh, rồi thứ đến mới là van bằng trắc (68, 130] Qua thật, van rat cần

cho thơ nhưng không vì thé mà làm hại y tử Không nên gò bó thơ theo van ma

phải dé vẫn hòa điệu cùng hôn thơ, đến với thơ một cách tự nhiên dé thơ đạt đến

mức linh diệu Vì vay, Chế Lan Viên từng nhắn mạnh: Nhd the cũng phải quen,

phải thuộc loi gieo vẫn, bat van phổi hợp âm thanh nhịp điệu thì khi sáng tác mới

có sự thoải mái dé dàng [ ] quen thuộc các âm thanh van điệu, quen thuộc nhữngquy luật (những ngoại lệ nữa) của ngôn ngữ, ctia hình thức đến gan như có thể sử

dung nó một cách rất may móc — một cách không cần quan tâm chú ý nữa — như

người đi giày da không chủ ý đến da bó lẫy chân minh! Vang, chỉ đến cải mức aythì mới toàn tâm toàn ý dé nói đến nội dung đã đành! Va cũng chỉ đến cái mức ấy

mới có những sáng tạo về hình thức được! [68, 177] Sáng tạo van trong thơ quan

trọng nhưng dé đem đến kết quả viên mãn cho tho, lam sống dậy mạch nguôn tinh

cảm mà nhà thơ truyền vào thơ thì việc gieo van phải hài hòa, tự nhiên Chỉ khi nhà

thơ sáng tạo van một cách chân thành, tự nhiên thì van điệu sẽ không ngăn can ma

lại trợ hứng rất nhiều cho ngòi bút Như vậy, trong quá trình sáng tạo, Chế Lan

Viên không quá chú trọng việc gieo vẫn nhưng cũng không hè hạ thấp vai trò của

van trong viéc tao nén tinh nghé thuat cho tho Boi vi vân là một trong những yêu

tô không thé thiếu trong thi pháp thơ Van đề mà nha tho quan tâm và đặt ra là đừng vì sự gỏ bỏ của vần mả giết chết tư tưởng, cảm xúc trong thơ.

Cùng với van, nhạc là một yếu tố trong hình thức thơ mà Chế Lan Viên dé

cập đến trong quan niệm thơ của minh Theo nhà thơ, mỗi tác phẩm thơ nên kết

Trang 33

hợp hai hòa giữa ý va nhạc: Cau tho ở ngoài là ý là hình/ Ở trong là nhạc (Nhạc

2) Quan niệm này cũng được nhà thơ nhắn mạnh trong các phê bình tiểu luận: Tho

là di giữa nhạc và ý Rơi vào cdi vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan Rơi vào cái vực nhac thi thơ dé làm say đắm lòng người nhưng cũng dễ nông cạn [59, 41] Nhạc là một yếu tố không thể thiếu Nhưng dé tạo chất nhạc đạt hiệu quả trong thơ thì cần có sự hòa quyện giữa nhạc và ý, tránh xem trọng nhạc mà bỏ quên ý và ngược lại Bởi vì chất nhạc của thơ không đơn thuần được tạo nên bởi sự tổ chức

phối hợp hài hòa giữa phối thanh, gieo vần, cách dùng từ ngữ mà còn là nhạc

điệu tâm hồn của nhà thơ với những rung động tình cảm khi phản ánh cuộc sống trong thơ Đó chính là quan niệm mà Chế Lan Viên suy ngẫm và gửi gắm.

Chế Lan Viên chú ý đến tính nhạc trong quá trình sáng tạo bởi tính nhạc không chỉ cần cho thơ mà còn cần cho cuộc sống, có tác dụng mạnh mẽ trong quá trình nhận thức thâm mỹ của người đọc Trong quan niệm của nhà thơ, nhạc thiêng liêng cao đẹp như tình yêu, như tín ngưỡng, như sức sống, như màu xanh hi vọng, như đóa hoa lạc quan của cuộc đời:

Nhạc làm tôi tim ra cái vô bờ vô tận phía sau tôi Đời vắng nhạc, đất đai mình căn khô nhỏ hẹp

Day là tình ái, là thơ, là tin ngưỡng của màu trời xanh biéc

Cả là sự im lặng — im lang đóa hoa cười

(Nhạc)

Nhạc còn làm thăng hoa cuộc sống tỉnh thần của con người, là thế giới vô tận của tâm linh:

Nhạc Làm cho con người giải thoát Pang thực liền hư

(Nhạc)

Như vậy, trong quá trình sáng tác của mình, Chế Lan Viên quan tâm đến việc sang tạo cái mới trong hình thức từ câu, chữ cho đến vần, nhạc điệu Những yêu tô hình thức ấy khi hài hòa với nội dung, với ý, với tình thì sẽ phát huy hết vai

Trang 34

trò của nó, đem đến cái hay, cái đẹp cho thơ, chắp cánh cho hồn thơ thêm bay bong: Nội dung bề phải đâu muôn đời vẫn thế/ Thay hình thức của thuyén di, sẽ

hiểu bề thêm mà! (Thơ về thơ) Chỉ có như vậy, thơ mới thực sự có giá trị, phù hợp

với nhu câu thâm mỹ của người đọc và đạt đên tâm thời đại.

1.1.3 Thơ là sức nặng của tw duy và tình cam Chế Lan Viên là nhà thơ được mệnh danh là nhà thơ trí tuệ, nhà thơ triết lý bởi trong thơ Chế Lan Viên đậm tính duy lí, tính trí tuệ sắc sảo Nói đến chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên, Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét: Ché Lan Viên chang những là một nhà thơ trong “suy nghĩ và bình luận ” mà còn là một nhà “suy nghĩ

và bình luận ” trong thơ Tôi muốn nói ở anh tư duy lý luận chính là điểm mạnh [5,

486] Một trong những yếu tố tạo nên sức hap dẫn trong thơ Chế Lan Viên chính là chất trí tuệ này Chế Lan Viên sáng tác thơ đậm chất trí tuệ Vì vậy, nhà thơ rất chú

trọng tính trí tuệ trong thơ và nâng nó lên thành quan niệm Nhà thơ tự nhận thấy:

Tôi có điệu quá không, có kiểu cách không, nếu một mặt biết ơn nhiều bạn đã có ý tốt đẹp xếp tôi cùng vài anh em khác vào loại làm thơ trí tuệ, một mặt lại không

đông ý với những ai quá đề cao thơ trí tuệ, coi nó mới là cái gì tiêu biểu cho tương

lai Khi có ai bảo anh ấy làm thơ trí tuệ tôi cứ ngượng, cứ như người ta nói kìa anh đeo kinh gọng vàng Giá đừng đeo kính mà có một đôi mắt đẹp có hơn không? Vì sao tôi không thích được gọi là thơ trí tuệ? Thứ nhất khi tôi làm thơ ấy, tôi thấy mình không có gì khác trong người cả, như tôi khi làm thơ về tình yêu, về cháu bé con tôi học nói hay học đàn! Mà làm cho được một bài thơ tình yêu, một bài thơ về

con trẻ, về liễu, mùa xuân có dễ gì! Thứ hai, đã là thơ hay, thì thơ nào mà chẳng đáng yêu Vì nhu câu của con người là rất phong phú! Người ta thích những bài

thơ làm suy nghĩ nhưng cũng thích những bài thơ ru minh di [61, 93 - 94] Những lời tâm sự trên của Chế Lan Viên đã cho ta thấy quan niệm của nhà thơ về chất trí

tuệ và việc làm thơ trí tuệ.

Quan niệm về chất trí tuệ trong thơ không chỉ được Chế Lan Viên nhắc đến

trong những tập phê bình, tiểu luận mà còn được khang định qua Di cdo tho Ông

Trang 35

quan niệm tho ca phải chứa đựng những triết lý sâu sắc, là sức nặng của duy qua triết (Nang, nhẹ) Tho là thước đo tư duy, trí tuệ của người nghệ sĩ: Cho nên hôm nay anh rẽ sang đường khác/ Đo anh bằng trí tuệ hay bằng lương (Đề cho) Thơ là nơi người nghệ sĩ gửi gam những triết lý, những chiêm nghiệm sâu sắc về nhân tình, thế thái, cái nhìn đa chiều về cuộc sống Chính vì vậy, thơ giàu ý nghĩa: Câu thơ lời lẽ này mà đa nghĩa, đa hình (Tâm hồn đôi).

Quan niệm về chất trí tuệ trong thơ không phải là quan niệm riêng của Chế

Lan Viên mà là quan niệm được bàn đến trong thơ phương Tây Từ thời cô đại, trong Nghệ thuật thơ ca, Arixtote đã khẳng định: Tho ca có y vị triết học [6, 45].

Goethe từng có quan niệm: Trong bản chất của thơ có gì quỷ quái, nhất là ở thơ ngẫu hứng thoát ly cả lẽ phải, không thé hiểu thấu va do đó vượt qua được cả trí tuệ [43, 153] Là một nhà thơ mạnh về tư duy duy lý nên Chế Lan Viên đã tiếp nhận chất trí tuệ thơ phương Tây và đã vận dụng khéo léo, thành công trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình Hơn thế nữa, Chế Lan Viên còn nâng chất trí tuệ trở thành một yếu tô trong hệ thống quan niệm thơ của mình.

Mặc dù Chế Lan Viên là nhà thơ trí tuệ nhưng không vì thế ông xem nhẹ yếu tố tình cảm trong thơ Bởi chỉ có trí tuệ mà thiếu đi cảm xúc, rung động trong tâm hồn thì không thê sáng tác ra thơ Vì thơ là tiếng nói của tâm hồn, của tình

cảm Do đó, Chế Lan Viên không chỉ quan tâm đến chất trí tuệ mà còn chú trọng đến yếu tố tình cảm trong thơ Ngay từ tập thơ Ánh sáng và phù sa, nhà thơ đã

nhận thức:

Sau câu thơ hồi hộp những tâm tình Những vui buôn đời kí thác cho anh

(Nghĩ về thơ) Theo quan niệm của Chế Lan Viên, phía sau những trang thơ luôn chứa đựng những vui buồn mà cuộc đời kí thác Bởi lẽ không có xúc cảm, không có sự rung động của trái tim thì những câu chữ trong thơ chỉ là cái xác không hồn Vì thé, nhà thơ nhân mạnh yếu tố cảm xúc khi làm thơ: Muốn làm thơ cân phải xúc cảm thành thục, [61, 92] học lam thơ là học cách cảm xúc của nhà thơ [68, 94] và muốn

Trang 36

cải tạo bài thơ phải cải tạo tâm hồn [98] Theo nhà thơ /dm tho không lừa dối được

ai Lại thay: làm thơ không cốt ở sử dung chữ nghĩa bên ngoài [ ]ma cốt nhất ở tâm hồn mình [68, 99] Nhà thơ còn quan niệm: Tinh cảm là những yếu tô trực tiếp làm nên những bài thơ Cho nên người ta vẫn nói “thơ là tình” Thời Đường vốn

là một thời đại rất sành thơ, người ta quy tất cả nội dung thơ vào chữ tình, cảnh cũng là tình, ý cũng là tỉnh [63, 104].

Không chỉ xuất hiện trong những tập phê bình, những lời tâm sự của Chế

Lan Viên về nghề, quan niệm thơ chứa đựng tình cảm, tâm hồn còn được nhà thơ

khang định nhiều lần trong Di cdo tho Những tác phẩm thơ có ý nghĩa phải là

những van thơ xuất phát từ những rung động, cảm xúc chân thành trong sâu thắm trái tim, tâm hồn của thi sĩ Tinh cảm xuất phát từ trái tim của nhà thơ có những lý

lẽ riêng của nó được truyền vào thơ và làm cho câu thơ tỏa sáng giá trị:

Con trái tim, nó rat là phi lý Vach câu thơ sáng ngời qua sự thể rối tỉnh

Gọi nó là sao chổi, sao băng hay là tinh lạc.

(Lý)

Thơ chỉ được hình thành khi trái tim người nghệ sĩ lên tiếng Chính tình cảm

là yếu tố cội rễ, cần thiết dẫn lỗi cho thơ, làm nên những vần thơ có ích Nếu thơ thiếu đi tình cảm chỉ là những vần thơ vô giá trị, vô hồn:

Thiếu tâm đi thì nào có ra hôn

Thà cứ là trang trắng còn hơn

(Tâm và hồn)

Thơ luôn bén rễ từ lòng người và nở hoa nơi từ ngữ Một bài thơ là sợi dây

truyền tình cảm cho người đọc Vì thế, thơ cần lay tinh, lay trái tim làm gốc thì mới

đi vào lòng người, khơi day ở họ những cảm xúc thâm mỹ Bạn đọc tìm đến thơ dé tìm sự sẻ chia, đồng điệu, để thỏa mãn nhu cầu tình cảm, làm phong phú đời sống tỉnh thần:

Ban đọc can bài thơ như tâm hôn thứ hai của họ Ngoài tâm hôn họ ra, họ can thêm một tâm hồn

Trang 37

(Thơ và bạn đọc)

Đến với những van thơ dat đào cảm xúc, người đọc mới thực tìm được sựđông điệu, tiếng nói tri âm Những rung động trong tâm hồn của bản thân người

đọc như tìm được hòa điệu cùng tâm hồn của tác giả Cảm xúc trong thơ phản ánh

nhịp điệu tình cảm của tác giả đã truyền cho người đọc niềm say mê, yêu thích

Chính vì vậy, Chế Lan Viên khang định: Tho la tình của anh và thú của người

chứng kiến (Ra - vào) Chỉ khi nào thơ ca có lay trái tim con người làm gốc thì mới

đi vào con người trở thành sợi dây liên kết những tâm hồn đưa con người xích lạigần nhau hơn vé mặt tinh than, tình cảm Khi đó, thơ mới thực sự cần cho cuộc đời

Quan niệm của Chế Lan Viên về yếu tổ tinh cảm không nằm ngoài dòng

chảy quan niệm thơ phương Đông vả phương Tây Quan niệm đó của nhà thơ là sự

hợp lưu và tiếp biến hai dòng chảy lớn này Bạch Cư Dị cho rằng: Cam động lòng

người trước hết không gì bằng tình, dau tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa Vậy đối với thơ: Tình là gốc, lời là cảnh,

thanh là hoa, nghĩa là qua | 40, 412] Ca thơ phương Tây vốn thiên về lý trí cũng

chú trọng tình cảm trong thơ như Leopardi từng quan niệm: Tho trữ tình có thể coi

nhục tong hợp hết cả thơ, là tuyệt đình của thơ, cũng như thơ là tuyệt đính của tiếng

nói loài người (17, 613].

Như vậy, trong quan niệm thơ của mình, Chế Lan Viên không hè cực đoan

hóa yếu tố trí tuệ hay tình cảm mà luôn tìm đến sự kết hợp hài hòa giữa chúng

trong quá trình sáng tác thơ Thơ cần những khám phá trí tuệ lẫn trạng thái vô lý,

vô nghĩa của tâm hồn Điều này làm nên nét độc đáo trong quan niệm thơ ca của

Chế Lan Viên và trở thành một đóng góp làm phong phú thêm kho tàng lý luận của

sing tác thơ dan tộc.

1.2 Quan niệm về nhà thơ

L2.1 Néu làm thơ phải có hôn thi sĩ

Không chi đưa ra hệ thống quan niệm mang tính lý luận về thơ ca ở những phương diện: phương thức phản ánh, hình thức nghệ thuật, phẩm chất mà Chế Lan

Trang 38

Viên còn đưa ra những quan niệm về nhà thơ Bở lẽ, thi sĩ không chỉ là người sáng

tạo thơ mà qua thơ, họ còn tạo nên những giá trị mỹ cảm cho cuộc sông Ngay từtập thơ đầu tay Điêu tan của minh, do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng,siêu thực, Chế Lan Viên cho rằng: Thi sĩ không phải là Người Nó là Người Mo,

Người Say, Người Điện No la Tiền, là Ma, là Quy, la Tinh, là Yêu Nó thoát hiện

tại Nó xối trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (4T, 23] Đó là con

người của linh giác, của tâm linh, của thấu thị Nhà thơ tượng trưng Pháp,

Rimbaud, cũng đã cho rằng: Thi nhân tự biển mình thành tiên tri thấu thị bằng một

sự hồn loạn của mọi giác quan, lâu dai, rộng lon, phi thường và hợp by [LT, 445].

Quan điểm này của Rimbaud đã ảnh hưởng nhất định đến quan niệm về nhà thơ

của Chế Lan Viên trong Diéu tan nói riêng và các nhà thơ trong phong trào Thơ

mới nói chung.

Như vậy, trong quan niệm ban dau, nhà thơ đã có định hướng siêu nhiên vềban chat của thi sĩ Quan niệm đó thay đôi trong Anh sáng và phù sa, Đối thoại

mới, Hoa trên đá Lúc này, Chế Lan Viên quan niệm nhà thơ gắn bó với cuộc

sông của quan chúng, chan hòa với cuộc song cộng đồng như con chim bói cả, mắt

bao gồm dam hỗ bat ngắt, phải thấu cả tam thiên mau của đời, trước khi lao vào bắt một chiếc cá con, như con ong biển trăm hoa thành một mật (Ong và mat), là

con tầm từ đợt dâu này qua đợt dâu kia cần man/ Xe sợi tơ mình là lấy từ sự sống

để mà xe (Tằm và nhện), là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách (Thơ bình

phương — Đời lập phương).

Đến với Di cdo thơ, quan niệm về pham chat, năng lực đặc biệt của thi sĩ

được nâng lên với nhiêu sắc thái mới, là sản phẩm của tư duy đầy minh triết Trong

quan niệm của Chế Lan Viên, nhà thơ phải là người có hôn thi sĩ (Thơ về thơ) Ché Lan Viên nhắn mạnh đến hồn thi sĩ tức là đòi hỏi người làm thơ trước tiên phải

có tâm hồn nhạy cảm đời sống tinh than phong phú, sâu sắc: Có tẩm hồn đôi như

cái bóng những đêm nhiều nến (Tam hồn đôi).

Trang 39

Mỗi tiếng thơ là một tiếng lòng Nhà thơ mượn thơ dé trải lòng mình với

người đọc Vì vậy, tho ca được nuôi đưỡng từ chính tâm hồn, tình cam của nhà thơ

Do đó, trong quan niệm của Chế Lan Viên, nhà thơ phải là người ăn vào cải giống

nội tâm, là người không ngừng nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hôn, cảm xúc của mình:

Hàng ngày anh khoét sâu vào hang, vào giống thăm lòng minh

Xem cải vết thương nội tâm kia là tài sản

(Giêng)

Chế Lan Viên đặc biệt chú ý về tâm hôn của nhà thơ Tâm hồn ấy là tài san,

là vốn liếng quý giá nhất của nhà thơ: Làm thơ khó Anh chàng đi buôn/ Von liéng

có gi đâu? = Tâm hôn (Doi nghề) Tâm hồn, năng lực đặc biệt giúp nha thơ có

những phút xuất than Ide sáng Mor thi pháp vụt ngang dau lóe sáng (Thơ về thơ).

Chế Lan Viên chú trọng đến tâm hồn, tình cảm của nhà thơ Vì thé, ông phê phán

những nhà thơ lãnh đạm Đó là những nhà thơ sống cuộc đời vô nghĩa:

Những nhà thơ không nghe biếc đầu cây gọi họGặp mùa đào mà không có noi buôn Thôi Hộ

Thi sĩ, người làm ra lửa như Promethee là kiểu ban dau

Kiểu về cuối là kiêu Morixon hay Thích Quảng Đức

(Promethee)

Nhung nhà thơ cũng cần biết kìm nén, tiết chế ngọn lửa tâm hồn tình cam

của mình, không ủy mi ma cần mạnh mẽ:

Nhung đá cũng bao cho thi sĩ rõ

Trang 40

Trong tôi có lứa

Xúc động đâu phái nhà thơ lắm lời

Mà là đá nén lửa lại

(Đá và thi sĩ)

Bên cạnh đó, hoàn cảnh thoi đại có sự tác động đến những người theo

nghiệp thơ Cuộc sống đời thường trong những năm đất nước vừa mở cửa, chạy theo nẻn kinh tế thị trường với những đổi thay, biến động, những giá trị tinh than

có nguy cơ bị đảo lộn thì hình ảnh những người lấy thơ làm nghiệp cũng bị chỉ

phối Do đó, trong quan niệm của Chế Lan Viên, phẩm chất của nhà thơ được nhìn

nhận trên nhiều bình diện, góc độ đối lập, khác nhau Có lúc ông ví nhà thơ như

than linh Ngày ngày thèm mùi hương thấp bởi tuoi tên mình nhưng cũng có lúc như

quỷ đữ: Có những nhà thơ không hóa thân mà hóa quỷ (Thần và quỷ) Có khi nhà

thơ trở thành viên tướng tôi hay vị vua hén nhát (Thất trận) Có khi Chế Lan Viên

thoáng thở dai khi những nhà thơ thời thượng lúc này cha con di vêu trắng và

hương lúa ngoài đồng (Thời thượng).

Như vậy, chân dung nhà thơ đã được Chế Lan Viên phác họa, khái quát một

cách đa dạng, phong phú, vừa thiêng liêng vừa trần tục, vừa cao cả vừa thấp

hèn trong Di cdo the Quan niệm đó của Chế Lan Viên đã xây dựng một bức tranh hoan háo, tính tế, chân thực và sinh động về phẩm chat nhà thơ trong thực tai

cuộc sống lúc bay giờ Những quan niệm về phẩm chất của nhà thơ trong Di caothơ đã hình thành nên kiểu nhà thơ mới: kiểu nhà thơ hiền triết nhưng cũng rất gần

gũi cuộc đời Đó không con là kiêu nha thơ than bi, siêu nhiên như trong Điêu tan

hoặc lý tưởng, nhiệt huyết như trong những tập thơ thời kháng chiến Pham chatnhà thơ trong Di cdo tho là sự trộn lần, hoà quyện pham chat của nha thơ trong hai

giai đoạn trước đó đẻ tạo nên kiêu nhà thơ mới Đây chính là sự vận động nhưng đông thời cũng thể hiện sự nhất quán trong quan niệm của Chế Lan Viên về nhà

thơ Đối với ông dù trong bat cứ hoàn cảnh nao, nhà thơ luôn là người nghệ sĩ có

năng lực, phâm chất đặc biệt, nghĩa là người luôn có tâm hồn tỉnh tế, nhạy cảm, có

cái nhìn thấu thị Không có những yếu tô đó thì không thể gọi là nhà thơ

Ngày đăng: 01/05/2025, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tran Hoài Anh (2010), Tho quan niệm va cam nhận, NXB Thanh niên, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tho quan niệm va cam nhận
Tác giả: Tran Hoài Anh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2010
10.Nguyễn Lâm Điền (1999), “Những cách tân về cau trúc câu thơ”, Chế LanVién giữa chúng ta, Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế LanVién giữa chúng ta
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Nhà XB: Văn học
Năm: 1999
11.Nguyễn Lam Diễn (2010), Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, NXBVăn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Lam Diễn
Nhà XB: NXBVăn học
Năm: 2010
12.Ha Minh Đức (2009), Nguyễn Đình Thi toàn tap (tập 4), NXB Văn học, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Thi toàn tap (tập 4)
Tác giả: Ha Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
13.Ha Minh Đức (2010), Chế Lan Viên — Người trắng hoa trên đá, NXB Vănhọc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên — Người trắng hoa trên đá
Tác giả: Ha Minh Đức
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2010
14.Hồ Thế Hà (2005), Thể giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, NXB Văn học,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2005
15. Lê Bá Hán - Tran Dinh Sử - Nguyễn Khắc Phi (2006), Tir điển thuật ngữvăn học, NXB Văn hoc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tir điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Tran Dinh Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Văn hoc
Năm: 2006
16.Lưu Hiệp (1999), Ven tam điều long, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ven tam điều long
Tác giả: Lưu Hiệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
17.Lê Huy Hòa - Nguyễn Văn Bình (2002), Những bậc thay văn chương, NXBVăn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bậc thay văn chương
Tác giả: Lê Huy Hòa, Nguyễn Văn Bình
Nhà XB: NXBVăn học
Năm: 2002
18.Doan Trọng Huy (1993), “Doc những trang đẻ lại, thêm hiểu một hòn thơ Di cao”, Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm. NXB Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Doan Trọng Huy
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1993
19.Đoàn Trọng Huy (1993), “Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau1975”, Chế Lan Viên về tác gia va tac pham, NXB Văn hoc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Nhà XB: NXB Văn hoc
Năm: 1993
20.Đoàn Trọng Huy (2006). Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. NXB Đại học Sưphạm. TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Nhà XB: NXB Đại học Sưphạm
Năm: 2006
21.T6 Hữu (1973), Xay dựng một nên văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta,thời đại ta, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xay dựng một nên văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta
Tác giả: Hữu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1973
22. Tố Hữu (1981), Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật, NXB Vanhọc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật
Tác giả: Tố Hữu
Nhà XB: NXB Vanhọc
Năm: 1981
23.T6 Hữu (2003), Tuyển tập thơ, NXB Văn hoc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ
Tác giả: Hữu
Nhà XB: NXB Văn hoc
Năm: 2003
24.Nguyễn Quốc Khánh (1999), “Di cảo thơ Chế Lan Viên hảnh trình tìm lại chính mình", Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm. NXB Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Quốc Khánh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
25.Lê Dinh Ky (1995), 7Trên đường văn học, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7Trên đường văn học
Tác giả: Lê Dinh Ky
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1995
26.Lê Đình Ky (2000), “Trí tuệ. tài năng, tâm hồn”, Chế Lan Viên giữa chúngta, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên giữa chúngta
Tác giả: Lê Đình Ky
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
27.Dinh Trọng Lạc (2003), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Viet, NXBGiáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Viet
Tác giả: Dinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2003
28.Dinh Trọng Lạc (2006), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Dinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm