1.2 Nội hàm của phát triển kinh tế Theo logic trên, khi nói đến một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động
Trang 1PHÁT TRIỂN KINH TẾ: TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
PGS,TS Ngô Thắng Lợi Trường Bộ môn Kinh tế phát triển Đại học Kinh tế Quốc dân – Hà Nội
1 NỘI HÀM CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 Các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế
Trước hết chúng ta bắt đầu bằng cách nhìn nhận nền kinh tế bao gồm hai lĩnhvực cơ bản, đó là Lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội Lĩnh vực hoạt động kinh tế làtoàn bộ các hoạt động sản xuất vật chất, cùng với những hoạt động trao đổi và phânphối vật chất có liên quan trực tiếp đến sản xuất Lĩnh vực này bao gồm: (i) hoạtđộng của các ngành trực tiếp gắn với sản xuất vật chất, (ii) tất cả các hoạt động cóliên quan trực tiếp với phân phối các tư liệu vật chất, bao gồm tất cả các hoạt độngthương mại, hoạt động tiền tệ, vận tải, bảo quản kho tàng v.v, (iii) các công tác tổchức và quản lý hoạt động kinh tế Lĩnh vực hoạt động xã hội là những hoạt độngtrao đổi, phân phối, tiêu phí vật chất và phi vật chất có liên quan gián tiếp với kinh
tế cùng với các hoạt động khác không có liên quan với hoạt động kinh tế Các hoạtđộng chủ yếu của lĩnh vực xã hội là: (i) bảo đảm của xã hội đối với đời sống vậtchất cho con người như bảo đảm việc làm, thu nhập, mức sống thực tế, tiêu phí sinhhoạt cùng với tình trạng của các ngành phục vụ cuộc sống của con người; (ii) bảođảm đời sống văn hoá, tinh thần của xã hội, bao gồm: Học tập, nghiên cứu, vuichơi, luyện tập thể dục, thẩm mỹ; (iii) quản lý các hoạt động xã hội, liên quan đếnhai nội dung: một mặt là sự bảo đảm của xã hội đối với cá nhân như bảo hiểm xãhội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, mặt khác là việc xã hội tham gia hoạt độngquản lý như quản lý hành chính nhà nước, trị an xã hội, an ninh phòng vệ quốc gia,v.v
1.2 Nội hàm của phát triển kinh tế
Theo logic trên, khi nói đến một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung
ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trongviệc tiếp cận các loại tài sản vật chất, có những hoạt động vui chơi giải trí sangtrọng, được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh; mặt khác, chúng tacũng nghĩ tới một xã hội không có sự phân biệt đối xử, với các mức độ công bằngcần thiết Một yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển đó là chất lượng cuộcsống vật chất của quốc gia đó phải cao và được phân phối một cách đồng đều thay
Trang 2vì chỉ giới hạn một cách bất hợp lý cho một bộ phận tối thiểu giầu có trong xã hội.Cao hơn yêu cầu tối thiểu đó, một quốc gia phát triển còn đề cập đến các quyền và
sự tự do của con người về mặt chính trị, sự phát triển về văn hoá và tri thức, sự bềnvững của gia đình v.v Như vậy, một mức sống vật chất cao (kết quả hoạt động củalĩnh vực kinh tế) và có thể được tiếp cận một cách công bằng (là kết quả của hoạtđộng xã hội) là điều kiện tiên quyết cho hầu hết các khía cạnh khác của sự phát triểnkinh tế
Những phân tích trên đây cho chúng ta đi đến một khái niệm tổng quát nhất
về phát triển nền kinh tế, đó là quá trình tăng tiến, toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia Khái niệm tưởng chừng như đơn giản nêu trên
chứa đựng một nội hàm khá phức tạp, về lý thuyết cần phải hiểu theo những khíacạnh khác nhau:
Theo góc độ nội dung, phát triển kinh tế phải là một quá trình diễn ra đồng thời giữa phát trỉển lĩnh vực kinh tế và phát triển lĩnh vực xã hội của của mỗi quốc gia Sự phát triển về mặt kinh tế được thể hiện sự gia tăng tổng mức thu nhập của
nền kinh tế, mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người (sự tăng trưởngkinh tế) và sự biến đổi cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng ngày càng hiện đại Sựphát triển xã hội thể hiện khả năng mở rộng năng lực phát triển toàn diện cho conngười và việc sử dụng năng lực đó để khai thác các cơ hội của cuộc sống
Theo logic biện chứng của quá trình phát triển, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất của nền kinh tế Mặt lượng của sự
phát triển bao hàm nghĩa sự gia tăng về quy mô thu nhập và tiềm lực của nền kinh
tế còn sự thay đổi về chất bao gồm quá trình thay đổi cấu trúc bên trong của nềnkinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) và sự tiến bộ xã hội
Đến đây chúng ta có thể phác hoạ ra công thức phát triển kinh tế:
Mỗi bộ phận trong công thức trên chính là những mục tiêu của quá trình phát
triển và có vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện sự phát triển Tăng trưởng kinh tế là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển Tuy vậy một quốc gia có tăng trưởng kinh tế nhanh chưa chắc
đã có sự tiến bộ xã hội Điều đó có nghĩa là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần
nhưng không đủ để có sự phát triển Trình độ của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện bản chất của sự phát triển, là dấu hiệu để đánh giá các giai đoạn phát triển kinh tế Để
phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa
2
Phát triển KT = Tăng trưởng KT + Chuyển dịch CCKT + Tiến bộ XH
Trang 3các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế
mà quốc gia đạt được Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốcgia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là sự tiến bộ xãhội cho con người, cụ thể là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọbình quân, tăng khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, nâng cao trình độdân trí, giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân, v.v Hoàn thiện sự tiến bộ xãhội là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển mà mỗi quốc gia đều
Phát triển với bản chất nêu trên phải là một quá trình lâu dài, diễn ra theo cácnấc thang tuần tự và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Trong cuốn
"Các giai đoạn phát triển kinh tế" (the stages of Economic Growth) (1961) củaWalter W Rostow, một nhà lịch sử kinh tế nổi tiếng, đã đưa ra một cách tổng hợptheo lịch sử về những bước (giai đoạn) tuần tự mà mỗi quốc gia phải trải qua trongquá trình phát triển Theo ông, quá trình phát triển kinh tế trải qua lần lượt 5 giaiđoạn: nền kinh tế truyền thống – giai đoạn chuẩn bị cất cánh – giai đoạn cất cánh –giai doạn trưởng thành – và cuối cùng là giai xã hội tiêu dùng Mỗi giai đoạn đượcđặc trưng bởi cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lệ tích luỹ, những đặc trưng của sự phát triểncác ngành và lĩnh vực kinh tế, xã hội Hiện nay cũng có nhiều ý kiến bình luận vàphê phán về những khía cạnh không còn phù hợp của 5 giai đoạn trong lý thuyết
của Rostow, tuy nhiên, chúng ta vẫn cần nhấn mạnh đến sự vận dụng lý thuyết này trên một số khía cạnh khá hợp lý như sau:
(1) Trong các giai đoạn phát triển, giai đoạn cất cánh được Rostow coi là giaiđoạn then chốt Điều kiện để giai đoạn cất cánh xuất hiện là: Tỷ lệ đầu tư chiếmtrong tổng thu nhập quốc dân thuần tuý là 20%; phải có ngành công nghiệp mũinhọn tạo nên tác động dây chuyền đến sự phát triển các ngành kinh tế khác; phải cóthể chế chính trị - xã hội phù hợp đảm bảo thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tếhiện đại, mở rộng kinh tế đối ngoại và huy động mạnh mẽ nguồn vốn trong nước.Các điều kiện của giai đoạn cất cánh có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chínhsách của các nước đang phát triển như: tăng tỷ lệ đầu tư, hình thành các ngành côngnghiệp mũi nhọn và cải cách hệ thống thể chế
(2) Các quốc gia đang phát triển phải tuần tự thực hiện các giai đoạn của sựphát triển, phải qua giai đoạn chuẩn bị cất cánh mới có thể chuyển sang giai đoạncất cánh, bởi vì ở các nước đang phát triển, những điều kiện để chuyển ngay sanggiai đoạn cất cánh là thực sự khó khăn, đó là: sự hạn chế về nguồn vốn tích luỹ nội
bộ và khả năng tiếp nhận, chuyển giao nguồn vốn nước ngoài; năng lực bộ máyquản lý kinh tế còn yếu kém và sự tồn tại khá phổ biến tệ nạn tham những, quan liêu
và trình độ chuyên môn cũng như văn hoá rất thấp
Trang 4(3) Trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng đầy đủ hơn, các nước đangphát triển có thể rút ngắn thời gian thực hiện mỗi giai đoạn phát triển thông qua việc
sử dụng sự liên kết kinh tế với các nước phát triển và sử dụng nguồn lực kinh tế sẵn
có của các nước này trong quá trình trao đổi thương mại và hợp tác quốc tế
2 LỰA CHỌN CÁC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TRÊN THỰC TẾ
Trải qua thời gian, lý luận về phát triển kinh tế, đặc biệt là xem xét nội hàmcủa nó ngày càng được hoàn thiện và đi đến thống nhất như nói ở trên Tuy vậy,trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, các nước đã sử dụng nhiều cách đikhác nhau, nội dung trọng tâm của quá trình lựa chọn và hình thành mô hình pháttriển của mỗi nước là quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa mặt kinh tế (tăngtrưởng) và mặt xã hội (tiến bộ và công bằng xã hội) trong quá trình phát triển.Nhiều nước, quá trình lựa chọn con đường phát triển đã đồng nhất một cách ngâythơ giữa phát triển kinh tế với tăng trưởng kinh tế, và tìm mọi cách để giải quyết bàitoán tăng trưởng kinh tế nhanh Có những nước thì lại qua nhấn mạnh đến giảiquyết công bằng xã hội và xem đó là tất cả những gì gọi là phát triển v.v Cácnghiên cứu thực nghiệm cũng đã đúc kết thành những mô hình cụ thể, mỗi mô hình
có những đặc trưng riêng, và có những kết cục tất yếu của nó
2.1 Mô hình nhấn mạnh công bằng xã hội trước và tăng trưởng kinh tế sau.
Đây là mô hình được sử dụng trong lịch sử phát triển của các nước thuộc hệthống Xã hội chủ nghĩa trước đây (gọi là thế giới thứ 2), như: Liên Xô cũ, các nướcXHCN Đông Âu, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, v.v Ý tưởng chung của mô hình
là coi các chính sách tạo sự công bằng xã hội là điều phải làm trước tiên khi thunhập của nền kinh tế, tăng trưởng còn ở tình trạng rất thấp và xem như đó là điềukiện, là điểm mấu chốt để thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo mô hìnhnày, quá trình phát triển phải được bắt đầu bằng sự kiện “tước đoạt của những kẻ đã
đi tước đoạt” thông qua chính sách cải cách ruộng đất và đánh tư sản Nhà nước tiếnhành quốc hữu hoá tài sản, nguồn lực được phân phối lại cho các đơn vị kinh tếdưới hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Phân phối theo lao động là hìnhthức phân phối cơ bản nhất, được thực hiện theo nguyên tắc “làm theo năng lực,hưởng theo lao động Ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai có sức laodộng không làm không hưởng”
Thực tế phát triển của các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã phản ánh khá
rõ nét những hiệu ứng tích cực của mô hình Thứ nhất, tình trạng bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập được giải quyết nhanh chóng ngay từ giai đoạn đầu củaquá trình phát triển Ở Liên xô cũ, năm 1967, tỷ lệ thu nhập của 20% dân số nghèonhất đã đạt tới 10,4%; trong khi đó 20% dân số có mức thu nhập cao nhất chỉ chiếm
có 19,9% Các con số tương ứng của Mỹ vào thời điểm này là 5,5% và 38,6%;
4
Trang 5Canada là 6,2% và 37,8%; Pháp là 5,8% và 31,8%; Hệ số GINI vào thập niên 1970
ở Liên xô đã đạt được giá trị 0,23, Tiệp khắc là 0,21, Hungari và Ba lan là 0,24,trong khi đó vào thời điểm này, hệ số GINI của Mỹ và Canada là 0,34 và 0,35
(Nguồn: các hệ thống kinh tế so sánh, Paul R Gregory, 1998) Thứ hai, Sau khi đã
thiết lập được hệ thống sở hữu toàn dân về tài sản và chế độ phân phối theo laođộng, một khí thế mới của tinh thần làm chủ tập thể, sự phân phối thu nhập côngbằng và một kiểu quản lý mới đã tạo nên một sự khởi sắc nhất định trong nền kinh
tế, hiệu quả kinh tế và tốc độ tăng trưởng cũng khá ổn định và có phần cao hơn cácnước Tư bản chủ nghĩa Giai đoạn 1950-1960, tốc độ tăng trưởng GDP/năm củaLiên xô và Đông Âu đạt 4,7%; giai đoạn 1970-1975 đạt 4,3% trong khi đó các nước
Tư bản chủ nghĩa, chỉ đạt tương ứng là 3,7% và 2,5% Tuy vậy, những bất cập của
mô hình này cũng đã được tổng kết qua thực tế:(i) Một nền kinh tế được bảo đảm
bằng chế độ sở hữu nhà nước và sản xuất không vì mục tiêu lợi nhuận, về lâu dài đãlàm kìm hãm động lực nâng cao hiệu quả và tăng trưởng kinh tế; (ii) Một chế độphân phối thu nhập chỉ dựa trên cơ sở lao động, đã không khuyến khích việc huyđộng triệt để các yếu tố nguồn lực khác trong dân cư và các đơn vị kinh tế vào hoạtđộng kinh tế, tạo ra của cải; (iii) Kết hợp cả hai vấn đề trên, về lâu dài, hình thứcphân phối công bằng trên cơ sở xã hội không có động lực phát triển đã trở thànhmột cơ chế phân phối lao động theo kiểu cào bằng đối với người lao động Trongkhi đó những người đại diện cho nhà nước quản lý khối lượng tài sản khá lớn tại cácđơn vị kinh tế cũng không quan tâm đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vịmình Hậu quả xấu tất yếu nảy sinh, đó là: tăng trưởng và hiệu quả kinh tế có xuhướng giảm đi, những tệ nạn quan liêu, cửa quyền xuất hiện ngày càng nhiều, và
“tự nhiên” xuất hiện hình thức phân phối không chính thức nhưng lại chi phối khálớn đến thu nhập, đó là “phân phối theo quyền lực”, làm cho sự bất bình đẳng trongphân phối thu nhập lại trở nên gia tăng hơn Chúng ta có thể thấy điều đó qua bảng
số liệu minh hoạ dưới đây
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Liên xô và một số nước ĐôngÂu
Nước Tốc độ tăng
GDP(%)
1960 1985
Tốc độ tăngNSLĐ(%)
1960 1985Liên xô 5,8 3,6 4,6 2,3 3,6 -3,7 2,4 0,8Tiệp khắc 4,8 2,6 4,1 1,6 1,3 -2,1 3,4 0,5
Ba Lan 4,6 3,3 3,6 1,8 2,0 -1,4 3,2 0,8Hungari 4,6 2,9 3,6 2,6 1,0 -2,1 2,9 1,2
Trang 6Hình 1: Mô hình chữ U ngược
Theo mô hình này, các nước thường không quan tâm đến phân phối lại thunhập trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển.Vì vậy, trong giai đoạn này, cùngvới quá việc đạt được các thành tựu về tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu ngườităng lên) thì sự bất bình đẳng có xu hướng tăng lên, kết quả của tăng trưởng sẽ dồnvào một số nhóm người trước Chỉ khi nền kinh tế đã đạt được một mức độ khởisắc đáng kể, thu nhập bình quân đầu người cao, lúc đó sự bất bình đẳng mới có xuhướng giảm dần cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế do chính phủ bắt đầu quantâm đến các chính sách phân phối lại thu nhập làm cho kết quả của tăng trưởngđược “thẩm thấu” một cách rộng rãi hơn
-
Trang 7Nếu như Kuznets và một số nhà nghiên cứu khác chỉ dựa trên các kết quảthực nghiệm để mô tả mô hình dạng chữ U ngược mà các nước lựa chọn thì A.Lewis, nhà kinh tế học người Mỹ gốc Zamaica, trong phân tích mô hình lao động
dư thừa ( mô hình hai khu vực cổ điển) cũng trong khoảng thời gian nghiên cứu củaKuznets (1955) đã có sự giải thích hay minh hoạ cho cơ chế kết hợp tăng trưởng vớicông bằng xã hội trong phân phối thu nhập theo kiểu chữ U ngược, và đây cũngđược xem như chính là phương thức phát triển mà các nước đi theo mô hình này lựachọn Trong giai đoạn đầu, khu vực nông nghiệp không được đầu tư vì đang nằmtrong tình trạng dư thừa lao động, thu nhập của khu vực này gần như không đổi vàngười lao động ở đây hưởng mức tiền công đủ sống Trong khi đó khu vực côngnghiệp và dịch vụ là địa chỉ đầu tư hấp dẫn và có hiệu quả nhất Tăng trưởng kinh tế
là kết quả của sự gia tăng tích luỹ của khu vực công nghiệp và dịch vụ Sự bất bìnhđẳng trong phân phối thu nhập thể hiện trước hết chính là giữa hai khu vực nôngnghiệp và công nghiệp, do quy mô thu nhập của khu vực công nghiệp ngày càng lớntrong khi khu vực nông nghiệp lại đang “trì trệ tuyệt đối” Sự bất bình đẳng trongphân phối thu nhập còn xuất phát từ một thái cực khác, đó là giữa ông chủ (người sởhữu tài sản) và người lao động trong khu vực công nghiệp Trong khi đầu tư vàokhu vực công nghiệp ngày càng lớn làm cho lợi nhuận tăng lên và thu nhập củanhững nhà sở hữu vốn trong công nghiệp ngày cang lớn, thì thu nhập của người laođộng ở khu vực này vẫn không thay đổi, do đây là những người lao động đượcchuyển từ khu vực nông nghiệp sang (đều đang hưởng mức tiền công tối thiểu ởkhu vực nông nghiệp) và họ chỉ được trả cùng một mức tiền công như nhau khichuyển sang làm việc cho khu vực công nghiệp Như vậy các nước lựa chọn môhình tăng trưởng trước, phân phối lại sau, thì sự bất bình đẳng không chỉ là hệ quảcủa tăng trưởng nhanh mà còn là nguyên nhân của sự tăng trưởng nhanh Khuynhhướng làm tăng sự bất bình đẳng cuối cùng sẽ bị đẩy lùi khi khu vực nông nghiệpkhông còn dư thừa lao động, lúc đó: (i) mức tiền công trả cho người lao độngchuyển từ khu vực nông nghiệp sang làm việc cho khu vực công nghiệp sẽ phải tănglên (ngày càng cao) theo sự khan hiếm lao động; (ii) Phần lợi nhuận khu vực côngnghiệp đạt được sau mỗi chu kỳ phải dành một phần để đầu tư lại cho nông nghiệp,nhằm khắc phục hiện tượng giảm quy mô sản lượng của khu vực nông nghiệp dothiếu hụt lao động Như vậy trong giai đoạn sau của quá trình phát triển, bất bìnhđẳng ngày càng giảm đi và sự nghèo khó cũng sẽ bị đẩy lùi
Kết quả đạt được của mô hình này nhìn chung cũng đúng với ý muốn củanhững người thiết kế ra nó Thành tựu nổi bật không thể phủ nhận được đối với cácnước này là tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên khánhanh Tuy vậy, tại đây, bất bình đẳng, phân hoá xã hội và sự nghèo đói kéo dài,thậm chí rất khó cải thiện kể cả khi thu nhập đã đạt đến một mức rất cao Trừ các
Trang 8nước Tư bản chủ nghĩa phát triển, hiện nay đã đạt mức công bằng cao trong phânphối thu nhập như Pháp, Anh, Nhật, Úc, Canada v.v đang có xu hướng hoàn thiện
và đạt được những kết quả nhất định trong sự công bằng xã hội, còn phần lớn cácnước theo mô hình này hiện nay vẫn có sự bất bình đẳng cao vào hạng nhất thế giới(xem bảng dưới) Chính những bất bình đẳng ấy trở nên là một rào cản cho thựchiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong những giai đoạn gần đây
Bảng 2: Chỉ số bất bình đẳng của một số nước Nam mỹ và Đông Á
($ - PPP)
GINI Thunhập
GINI đất đai % thu nhập
Đã có nhiều nước, trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế củamình lựa chọn một mô hình kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng và công bằng xã hộitrong phân phối thu nhập và đã dành được sự thành công đáng kể Trong số cácnước đó phải kể đến là các nước phát triển ở khu vực Bắc Âu như Thuỵ Điển, Thuỵ
Sỹ, Na uy, Phần Lan, đan mạch; Đức; và một số nước khu vực Đông Á, từ nhữngquốc gia nghèo nhất thế giới vào thập niên 1950,1960 đã nhanh chóng trở thành
NIC cũng bằng chính sự lựa chọn mô hình này – đó là Hàn Quốc và Đài Loan Một nét đặc trưng của mô hình này là, trong quá trình phát triển, mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với mục tiêu công bằng xã hội Quá trình tăng trưởng nhanh và công bằng xã hội lớn hơn là những mục tiêu tương hợp và không mâu thuẫn nhau Kết quả tăng trưỏng nhanh góp phần cải thiện mức độ công bằng, hoặc là không làm gia tăng bất bình đẳng, trường hợp xấu nhất là sự bất bình đẳng có gia tăng nhưng ở một mức độ thấp cho phép.
8
Trang 9Nội dung chính của mô hình này được thể hiện rất rõ nét qua những chínhsách can thiệp của chính phủ vào các lĩnh vực kinh tế và xã hội nhằm tạo ra sự phát
triển đồng bộ của cả hai yếu tố này Một là, chính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế nhanh, thông qua việc lựa chọn các mô hình công nghiệp hoá và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đất nước Mô hình mà Hàn Quốc và Đài Loan sử dụng kháthành công là mô hình công nghiệp hoá hướng ngoại nền kinh tế thông qua chínhsách nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước
trong những lĩnh vực cần thiết Hai là, chính sách đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế nhằm bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không gây gia tăng bất bình đẳng Kể cả Đức và các nước Bắc Âu, đến Hàn Quốc và Đài Loan đều bắt
đầu quá trình thực hiện tăng trưởng nhanh bằng phát triển mạnh nông nghiệp,những ngành sản xuất sản phẩm nhiều lao động và các nguồn lực dự trữ ở khu vựcnông thôn, quan tâm đặc biệt đến vấn đề mở rộng quy mô, đa dạng hoá sản xuất vàtăng năng suất lao động trong nông nghiệp Sau đó sự chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế được thực hiện theo dấu hiệu lợi thế nguồn lực của đất nước và theo hướngphù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ Sự lựa chọn này vừa đảm bảotăng trưởng nhanh, ổn dịnh vừa không có nguy cơ gây bất bình đẳng trong quá trìnhphát triển Sự lựa chọn này phù hợp với quan điểm của nhà kinh tế học người NhậtBản là H Oshima tổng kết trong cuốn “Tăng trưởng kinh tế ở các nước chau Á giómùa” Theo mô hình này, nền kinh tế bắt đầu thời kỳ tăng trưởng nhanh bằng đầu tưcho nông nghiệp, kế theo đó là phát triển với nông nghiệp với công nghiệp và cuốicùng là đầu tư theo chiều sâu cho toàn bộ nền kinh tế khi hiện tượng thiếu lao động
và giá cả lao động trở nên ngày càng đắt đỏ Đây cũng là mô hình chuyển dịch cơcấu kinh tế, trong đó không sản sinh ra nguyên nhân kinh tế gây sự bất bình đẳng và
công bằng xã hội Thứ ba, chính sách xã hội nhằm giải quyết ngay từ đầu vấn đề xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội Điều này được thể hiện trong các chính
sách về phân phối lại thu nhập, chính sách trợ cấp xã hội, các dự án đầu tư cơ sở hạtầng đường xá, giao thông cho các vùng khó khăn v.v Hệ thống giáo dục bảo đảmcho tất cả trẻ em có trình độ phổ cập giáo dục ngày càng được nâng cao, nạng lưới y
tế chăm sóc sưc khoẻ được tổ chức chu đáo Tất cả đều nhằm mục tiêu tạo điều kiệnsống có giá trị ngang nhau ở tất cả các thành phần lãnh thổ trong cả nước
Các nước lựa chọn mô hình nhấn mạnh đồng thời phân phối lại với tăngtrưởng kinh tế thường đạt được những thành tựu đáng nói kể cả hai lĩnh vực kinh tế
và xã hội (xem bảng dưới)
Trang 10Bảng 3: Chỉ số bất bình đẳng của một số nước áp dụng m ô hình phân
phối lại cùng với tăng trưởng kinh t ế
Tên nước GDP/người ($
-PPP)
Hệ số GINI Thu nhập của
20%dân số nghèo nhất (%)
Nguồn: WB, Báo cáo phát triển thế giới 2006,2007
Nếu so sánh các số liệu từ hai bảng số trên chúng ta có thể thấy được khá rõ
sự khác biệt trong kết quả về công bằng xã hội giữa hai mô hình lựa chọn khác nhau
về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội Trong số các nướctrở thành NIC vào thập niên 1980 là Đài Loan, Hàn quốc, Braxin, Mexico,Achentina đều có sự tăng trưởng kinh tế nhanh vào thập niên 1960,1970 thì nướcHàn Quốc, Đài Loan không những đạt được các chỉ số công bằng xã hội cao hơnnhiều so với các nước còn lại, thậm chí ngang với các nước công nghiệp phát triển,
mà mức thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng kinh tế cũng caohơn hẳn các nước này Điều đó trên một mức độ nhất định phản ánh ưu điểm của
mô hình mà họ đã lựa chọn
3 LỰA CHỌN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Mô hình phát triển toàn diện – sự lựa chọn của Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới kinh tế
Mặc dù Việt Nam đã dành được những thành tựu nhất định trong nhiều lĩnh
vực từ thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, tuy vậy, bước vào thời kỳ chiến lược
2001-2010, chúng ta vẫn bị đánh giá là có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, nếu so sánh với sựphát triển vượt trội của các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối về thu nhậpbình quân trên đầu người của Việt nam ngày càng xa so với họ Vì vậy, yêu cầu
10