NGUỒN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG VEN ĐÔ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (Nghiên cứu tại hai phường Đình Bảng và Đồng Nguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh) NGUỒN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG VEN ĐÔ: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (Nghiên cứu tại hai phường Đình Bảng và Đồng Nguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh)
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Hà Nội - 2016
Trang 3Với những nghiên cứu tìm hiểu thực tế thực trạng nguồn sinh
kế của người dân vùng ven đô tại địa bàn hai phường: Phường ĐìnhBảng và phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đề tài
“Nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô: Thực trạng và giải pháp”tập trung tìm hiểu một số yếu tố trọng yếu ảnh hưởng đến nguồn sinh
kế của người dân vùng ven đô của hai phường Đình Bảng và ĐồngNguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao sinh kế củangười dân hai địa bàn ven đô thị này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Với nghiên cứu “Sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển:Thực trạng và giải pháp” (Hội thảo vấn đề về xây dựng nông thônmới ở Việt Nam hiện nay, 11/2011), PGS.TS Nguyễn Xuân Mai vàThs Nguyễn Duy Thắng định hướng nghiên cứu tìm hiểu thực trạngsinh kế, những rủi ro sinh kế hiện thời và khả năng chuyển đổi sinh
kế của cộng đồng ngư dân ven biển trong bối cảnh tài nguyên venbiển suy giảm đáng kể và hoạt động đánh bắt cá gần bờ tăng mạnhtrong những năm gần đây Mặt khác, nghiên cứu cũng đề xuất các môhình sinh kế thay thế hình thức đánh bắt ven bờ thông qua tham vấncộng đồng ngư dân ven biển [2]
Trang 4TS Nguyễn Văn Sửu là nhà nghiên cứu có nhiều đề tài hướngđến các vấn đề phát triển xã hội, chủ yếu là vùng ven đô và nôngthôn Với nghiên cứu: “Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóađến sinh kế nông dân Việt Nam: Trường hợp một làng ven đô HàNội” (Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, 2008), tác giảmột lần nữa khai thác vấn đề phát triển vùng ven đô, đi sâu nghiêncứu về việc thu hồi đất nông nghiệp và phân tích các tác động của nóđối với cuộc sống của người nông dân, đặc biệt là với sinh kế của họ
ở một làng ven đô Hà Nội từ cuối những năm 1990 [4]
Bên cạnh đó, nghiên cứu: “Sinh kế người dân thị trấn LaoBảo, tỉnh Quảng Trị trong quá trình phát triển khu kinh tế-thương mạiđặc biệt Lao Bảo” tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 54, 2009, haitác giả Mai Văn Xuân và Hồ Văn Minh lựa chọn khu thương mại đặcbiệt Lao Bảo (SECA) làm địa bàn thực hiện khảo sát Đây là khukinh tế thương mại có ý nghĩa to lớn với sự phát triển kinh tế-xã hộicủa khu vực nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng SECA tạo điềukiện đế phát huy tiềm năng, lợi thế về giao lưu phát triển kinh tế-thương mại của Việt Nam trên hành lang kinh tế Đông-Tây Nghiêncứu này nhằm đánh giá, phân tích tác động của SECA đến thay đổisinh kế và phúc lợi của người dân địa phương; trên cơ sở đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của SECA đến cảithiện sinh kế của người dân nói riêng và phát triển kinh tế xã hội củađịa phương nói chung
Tập trung nghiên cứu đến vai trò và trách nhiệm của các tổhợp nhóm xã hội, nghiên cứu “Vai trò của tổ hợp tác trong việc nângcao nguồn lực sinh kế cho nông hộ: Nghiên cứu trường hợp tại huyệnPhong Điền, thành phố Cần Thơ” (Tạp chí Khoa học 2012, Trường
Trang 5Đại học Cần Thơ) đã góp phần tìm ra hướng giải quyết giúp quản lý
và nâng cao nguồn sinh kế của người nông dân Trong những nămqua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến các hình thức hoạt độngkinh tế tập thể của người dân, đặc biệt là mô hình hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp Về thể chế và chính sách, Quốc hội đã ban hành LuậtHợp tác xã sửa đổi và bổ sung vào năm 2003 và ngày 10/10/2007,Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 151/2007/NĐ-CP quy định
về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác Chính phủ muốn tạo điềukiện pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các hình thức tổ hợp tác.Dựa trên cơ sở đó, nhóm tác giả Trần Quốc Nhân, Hứa Thị Huỳnh và
Đỗ Văn Hoàng chọn tiếp cận vấn đề nguồn sinh kế dưới hình thức tổhợp tác của các hộ nông dân tại địa phương khảo sát Qua đó, nhómtác giả thu nhận được kết quả như sau: Đối với nguồn sinh kế nôngthôn, tổ hợp tác giúp cải thiện hiệu quả vốn sinh kế về nguồn lực xãhội và nguồn lực tài chính Mặt khác, đối với nguồn sinh kế về nhânlực, vật chất và tự nhiên, tổ hợp tác chưa đóng vai trò nâng cao hiệuquả sử dụng đối với người dân
3 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:
3.1 Ý nghĩa lí luận:
Nghiên cứu “Nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô” lànghiên cứu nguồn lực cần thiết cho đời sống sinh hoạt thường ngàycủa người dân sinh sống tại khu vực mang tính chất đặc thù như vùngven đô Từ đó, góp phần khẳng định vai trò của nguồn sinh kế củangười dân trong giai đoạn phát triển vùng ven đô thị nói riêng và quátrình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế của nước ta hiện nay Đồng thời, nghiên cứu về nguồn sinh
kế sẽ góp phần cung cấp thêm các luận cứ khoa học và đánh giá được
Trang 6tính hiệu quả và tính thực tiễn của các chính sách và chương trìnhhoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội đối với vùngven đô nói chung và đối với vấn đề nguồn sinh kế khu vực này nóiriêng.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt động sinh kế chịu
sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và cả khách quan Vì thế việcnghiên cứu về nguồn sinh kế của người dân vùng ven giúp hiểu rõđặc trưng hoạt động sinh kế, từ đó đánh giá chính xác mức độ hiệuquả của nguồn sinh kế của người dân khu vực này Bên cạnh đó, nhucầu nghiên cứu về nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô xuấtphát từ tầm quan trọng về kinh tế xã hội của khu vực này Đây là mộtđịa bàn có vị trí và vai trò quan trọng, không chỉ về không gian trunggian giữa đô thị và nông thôn, về tỷ lệ cư dân sinh sống, mà cả nhữngđóng góp về mặt phát triển kinh tế Nghiên cứu về nguồn sinh kế củangười dân vùng ven đô giúp nhận định được những thay đổi củanguồn sinh kế vùng ven, đánh giá vai trò của nguồn sinh kế đối vớiviệc phát triển kinh tế xã hội vùng ven đô Từ đó, những kết luậnkhoa học được rút ra sẽ góp phần để tìm ra giải pháp, xây dựng chínhsách phát triển nguồn sinh kế của người dân vùng ven đô và các vấn
đề liên quan trong quá trình phát triển đô thị nói riêng, cũng như pháttriển xã hội nói chung ở nước ta những năm sắp tới
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn sinh kế của người dân vùng venđô
- Khách thể nghiên cứu:
Trang 7Người dân thuộc hai phường: Phường Đình Bảng và phườngĐồng Nguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Đại diện chính quyền địa phương, cán bộ tổ chức đoàn thể địaphương
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Hai phường Đình Bảng và phường ĐồngNguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh
Về thời gian: Từ tháng 06 đến tháng 12 năm 2013
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Mục đích:
Mô tả thực trạng các nguồn sinh kế của người dân ven đô tạiđịa phương khảo sát Trên cơ sở đó, phân tích một số yếu tố tác độngđến nguồn sinh kế và đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết cácnhu cầu sinh kế hiện tại và phát triển nguồn sinh kế trong tương lai
5.2 Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu về tình hình nghề nghiệp, mức độ thu nhập và chitiêu, các hình thức hỗ trợ từ các tổ chức xã hội mà người dân đượctiếp nhận và các điều kiện sống cũng như điều kiện lao động sảnxuất
- Tìm hiểu nhu cầu sinh kế của người dân vùng ven đô về việclàm, đào tạo, sự hỗ trợ trong cuộc sống và sản xuất
- Tìm hiểu về mức độ hiệu quả của những hoạt động xã hộiđược thực hiện tại địa phương và những chính sách liên quan quanhững đánh giá của người dân
- Phân tích yếu tố chính ảnh hưởng đến nguồn sinh kế của người dânhiện nay
Trang 8- Đánh giá các thuận lợi và khó khăn về nguồn sinh kế củangười dân vùng ven đô ở địa phương khảo sát.
- Tìm hiểu về những nguyện vọng về sinh kế của người dânnhằm đề xuất một số giải pháp về nguồn sinh kế của người dân tại địaphương
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ
TÀI 1.1 Các khái niệm:
a Khái niệm nguồn sinh kế:
- Nguồn sinh kế là việc kết hợp 5 loại tài sản gồm nguồn vốncon người, nguốn vốn tự nhiên, nguồn vốn tài chính, nguồn vốnvật chất, nguồn vốn xã hội để tạo ra sinh kế tích cực cho đời sống
(Theo DFID-Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh,1999)
[11]
b Vùng ven đô và các đặc trưng:
a Khái niệm vùng ven đô:
Theo các khái niệm khác nhau về vùng ven đô, có thể tóm tắtchung vùng ven đô như sau:
- Về không gian: Vùng ven đô “là vùng chuyển tiếp, vùng trunggian giữa đô thị và nông thôn” [5];
- Về tổng quát: Vùng ven đô là “nơi vừa có các hoạt động nôngthôn và vừa có hoạt động đô thị, nghĩa là không hoàn toàn là đô thịcũng không thuần túy là nông thôn và chịu ảnh hưởng mạnh của đôthị hóa” [6]
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề nguồn sinh kế:
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành QĐ/59/2015/QĐ-TTg vềchuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020,trong đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều,chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình Áp dụng
Trang 10chuẩn nghèo đa chiều yêu cầu những nỗ lực lớn hơn của Đảng, Nhànước và cả hệ thống chính trị trong công cuộc xóa đói, giảm nghèobền vững.
1.3 Các lý thuyết xã hội học sử dụng trong đề tài:
1.3.1 Thuyết cấu trúc hóa
Khái niệm cấu trúc: Trong lý thuyết của mình, Giddens sử dụngthuật ngữ cấu trúc để chỉ “những nguồn lực và những quy tắc hữusinh được áp dụng trong hành động và tạo thành hành động” “Nhữngquy tắc hữu sinh” gồm hai loại quy tắc khác nhau là quy tắc ngữnghĩa và quy tắc đạo đức Các quy tắc ngữ nghĩa bao gồm các cúpháp hay ngữ pháp và toàn bộ các quy tắc có sẵn mà phần lớn đượchiểu ngầm đang cấu tạo nên các diễn ngôn hàng ngày và giúp conngười thông hiểu ý nghĩa của các hành động của nhau Các quy tắcđạo đức bao gồm bất kỳ một quy tắc nào hay một quy định pháp quychính thức nào có khả năng tạo ra được sự đánh giá những hành độngnào là “tốt” hay “xấu” [1, tr 84]
Đối với nghiên cứu về nguồn sinh kế của người dân vùng ven
đô, thuyết cấu trúc hóa của Giddens giúp tiếp cận vấn đề nghiên cứudựa trên cơ sở các mối tương tác qua lại giữa những biến đổi mạnh
mẽ từ bối cảnh kinh tế-xã hội và nguồn sinh kế của người dân vùngven đô Các hộ gia đình thuộc phường khảo sát là Đình Bảng vàĐồng Nguyên, Từ Sơn, Bắc Ninh là những cụm dân cư tồn tại với tưcách là một hệ thống xã hội nằm trong sự kiểm soát và quản lý của hệthống xã hội khácnhư Nhà nước và các cơ quan tổ chức thuộc Nhànước… Vậy, phương thức sinh kế cầnđược lựa chọn như thế nào đểphù hợp điều kiện củangười dân, phù hợp với bối cảnh xã hội đangthay đổi không ngừng và mang lại thu nhập ổn định và nâng cao cuộc
Trang 11sống Qua đó, đề tài có thể kiểm chứng mối tương tác qua lại giữacác biến số của nghiên cứu.
1.3.2 Thuyết mạng lưới xã hội
Thuyết mạng lưới xã hội đã được ứng dụng cho một phạm virộng của tổ chức con người, từ một nhóm nhỏ đến toàn bộ quốc gia
Có thể định nghĩa, “mạng lưới xã hội bao gồm những tập hợp cácđối tượng và một lược đồ hoặc sự miêu tả của mối quan hệ giữacác đối tượng đó Mạng lưới đơn giản nhất bao gồm hai đối tượng,
A và B và một mối quan hệ kết nối giữa chúng, khi có nhiều hơn mộtmối quan hệ, mạng lưới xã hội được gọi theo thuật ngữ là quan hệ đathành phần.” [8, tr 44]
Đối với nghiên cứu về nguồn sinh kế của người dân vùng ven
đô, quá trình đô thị hóa đang tác động không chỉ ngoài xã hội mà cònngay cả trong gia đình người nông dân ven đô Sự biến đổi lối sống
từ nông thôn sang đô thị làm thay đổi một số chuẩn mực văn hóa dẫnđến sự thay đổi thái độ và hành vi và cách ứng xử của mỗi người dântrong cuộc sống gia đình và xã hội Từ đó, các mối quan hệ xã hộicủa người dân vùng ven đô cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng Cácmối quan hệ không tồn tại đơn giản trong gia đình, họ hàng, làng xã
mà nảy sinh các mối quan hệ của đa dạng tầng lớp dân cư và các môhình tổ chức Bên cạnh đó, việc thiếu hụt tư liệu sản xuất, như: đấtđai, công cụ sản xuất, làm nảy sinh mâu thuẫn do cạnh tranh về tưliệu sản xuất, phân công lao động.Vì vậy, lý thuyết mạng lưới xã hộigiúp lý giải mức độ gắn bó giữa các thành viên trong gia đình vàcộng đồng, mối quan hệ của người dân vùng ven tồn tại dựa trên cơ
sở chủ yếu nào, các mối quan hệ đó mang lại những nguồn lợi nàocho người dân trong bối cảnh nguồn sinh kế của họ hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TẠI ĐỊA BÀN KHẢO SÁT
2.1 Về nguồn vốn con người
Về trình độ học vấn:58.5% người trả lời trong tổng số mẫu cótrình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên: Tỷ lệ người trả lời cótrình độ học vấn từ THPT trở lên ở phường Đình Bảng thấp hơn20% so với tỷ lệ này ở phường Đồng Nguyên Tỷ lệ nam giới trongmẫu khảo sát có trình độ từ THPT trở lên là 70.1%, cao hơn 20% sovới tỷ lệ này trong nhóm đối tượng nữ giới
Về nghề nghiệp: Nghề nông vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với34.5% tổng số người trả lời, tiếp theo là nghề kinh doanh/buônbán(19%) và nghề tự do (15.2%) Người trả lời ở phường Đỉnh Bảngchủ yếu làm nghề nông gần gấp 4 lần tỷ lệ này ở phường ĐồngNguyên và tỷ lệ người làm kinh doanh buôn bán ở Đình Bảng gấphơn 2 lần tỷ lệ này ở phường Đồng Nguyên Đối tượng làm nghể tự
do (30.5%), công nhân/thợ thủ công (18%) và hưu trí /nội trợ (19%)phổ biến và chỉ xuất hiện ở mẫu khảo sát ở phường ĐồngNguyên.Mức độ hài lòng với công việc hiện tại của người dân trongđịa bàn khảo sát là khá cao Tuy nhiên, chế độ ưu đãi của công việchiện tại vẫn chưa làm hài lòng người dân trong địa bàn khảo sát.Tỷ lệngười trả lời đã từng thay đổi nghề nghiệp ở mẫu khảo sát không cao
và chỉ xảy ra ở địa bàn phường Đồng Nguyên (50%) Ba lý do chínhdẫn đến việc thay đổi nghề nghiệp bao gồm: (i) Thu nhập bấp bênh,(ii) sự thiếu ổn định của nghề nghiệp và (iii) chế độ ưu đãi của côngviệc chưa phù hợp
Về định hướng và hỗ trợ học tập cho con cái:Không có sựkhác biệt đang kể nào trong việc định hướng cấp học của bố mẹ dành
Trang 13cho con trai và con gái Dễ thấy bố mẹ trong mẫu khảo sát có xuhướng để con tự lựa chọn cấp học phù hợp với mong muốn bản thân.Tuy nhiên, bản thân bố mẹ mong muốn con mình có thể học tới cấpđại học/cao đẳng Nhìn chung các bậc phụ huynh đều rất quan tâm và
hỗ trợ tích cực cho con cái học tập Tuy nhiên, tỷ lệ phụ huynh tự tìmhiểu kiến thức hướng dẫn con học tập còn thấp, chỉ chiếm 18.5% mẫukhảo sát
Về định hướng nghề nghiệpKhông có sự khác biệt rõ rệt nào
về định hưỡng nghề nghiệp của bố mẹ dành cho con trai và con gái
họ Phần lớn cha mẹ trong mẫu khảo sát tôn trọng sự lựa chọn nghềnghiệp con cái họ Ngoài ra, cán bộ/viên chức là nghề nghiệp hayđược bố mẹ định hướng cho con cái bởi tính ổn định của nghề này
Nhận xét:Tuy chính quyền trên địa bàn khảo sát đã chú trọngđến công tác giáo dục đào tạo và thu được nhiều thành tựu nhưng vẫncòn hạn chế lớn.Đầu tiên, tỷ lệ trình độ học vấn cao chưa nhiều gâyhạn chế trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm cho lao động Bên cạnh
đó, ngoài số lượng lớn lao động vẫn theo nghề nông, một bộ phậnkhông nhỏ lao động chuyển đổi ồ ạt làm dịch vụ buôn bán nhỏ, lẻhoặc nghề tự do nhưng chưa có nhận thức rõ ràng khi chuyển dịchngành nghề nên phát sinh những vấn đề phức tạp về trong an ninh trật
tự xã hội, môi trường tại địa phương và trong chính nội bộ từng hộgia đình Ngoài ra, việc thay đổi nghề diễn ra ở mức độ không quáphổ biến, chủ yếu là do thu nhập bấp bênh, công việc thiếu ổn định
và chế độ ưu đãi chưa hợp lý Đặc biệt, chế độ ưu đãi là vẫn đề khiếnngười lao động chưa hài lòng ở cả việc làm trước đây và hiện tại
2.2.2 Về nguốn vốn tài chính
Trang 14 Về thu nhập :Phần lớn người trả lời (71.7%) cho biết thu nhậptrung bình một tháng của 1 người trong hộ gia đình họ từ trên 1.5triệu đồng trở lên Tỷ lệ người có mức thu nhập trên 1.5 triệu đồng ởphường Đồng Nguyên cao hơn 9.5% so với phường Đình Bảng.Mỗi
hộ gia đình trong khảo sát có khoảng 2 người đóng góp thu nhậpchính 96.9% các hộ gia đình có số lao động trong nhóm tuổi 18 đến
60 tuổi đóng góp thu nhập chính Ba nghề có đóng góp thu nhậpchính cho hộ gia đình trong địa bàn khảo sát là Kinh doanh/buôn bán,nghề tự do và nghề nông
+ Ở phường Đình Bảng, nghề nông (29%) và kinh doanh/buônbán (29%) là nghề có đóng góp thu nhập chính cho hộ gia đình sinhsống trong khu vực
+ Nghề tự do lại được ghi nhận là nghề có đóng góp thu nhậpchính cho hộ gia đình ở Đồng Nguyên với tỷ lệ lựa chọn cao nhất là27.5%, gần gấp đôi tỷ lệ này ở phường Đình Bảng (14%)
Về chi tiêu:Số liệu thu thập được cho thấy phần lớn (70.3%)các hộ gia đình được khảo sát có mức chi tiêu trung bình một thángcủa 1 người trong hộ là trên 1.5 triệu đồng Xét về tương quan giữahai địa bàn khảo sát, mức độ chi tiêu trung bình một tháng của 1người trong hộ không có nhiều khác biệt Theo đánh giá cá nhân củangười được phỏng vấn trong mẫu khảo sát, 94.8% số người được hỏicho biết thu nhập gia đình họ từ mức vừa đủ với chi tiêu trở lên.Trong đó tỷ lệ hộ gia đình có mức thu nhập chỉ vừa đủ chi tiêu là62% và tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập không những đủ chi tiêu mà còn
có khoản tiết kiệm là 32.8% Tỷ lệ hộ gia đình có mức thu nhậpkhông đủ chi tiêu và phải đi vay thêm không nhiều chỉ chiếm 5.2%mẫu khảo sát