Ông cũng cho rằng: "Nhà thơ không coi rẻ chữ như nhữngvật vô tri vô giác, những công cụ quẳng đi khi đã hết tác dụng mà tôn trọng chữnhư những sinh vật có hồn, lắng nghe tiếng nói của ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÀI ĐIỀU KIỆN
Học phần: Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945
Đề bài: Giới thiệu quan niệm thơ và một thể nghiệm của Lê Đạt (Đọc các tiểu luận: Chữ bầu lên nhà thơ, Vân chữ, Đường chữ…; làm rõ các khái niệm, quan niệm: phu chữ, bóng chữ, vân chữ,
chữ bầu lên nhà thơ…)
.
Lớp tín chỉ: PHIL306N - K72SP Văn.04_LT Giảng viên: PGS.TS Đặng Thu Thủy Nhóm 8: Trương Hồng Ngọc - 725601295
Đào Nguyệt Anh - 725601010 Nguyễn Thị Thúy - 725602390
Hà Thị Nguyệt Thu - 725601375
Hà Nội – 2025
Trang 2A - KHÁI QUÁT 3
1 Tác giả 3
1.1 Tiểu sử 3
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 3
2 Một số tác phẩm chính 3
B - NỘI DUNG 4
I - Quan niệm thơ của Lê Đạt 4
1 Quan niệm thơ 4
1.1 Quan niệm chung về thơ 4
1.2 Quan niệm thơ của Lê Đạt 5
2 Các khái niệm quan trọng trong quan niệm thơ của Lê Đạt 6
2.1 Phu chữ 6
2.2 Bóng chữ 9
2.3 Vân chữ 11
2.4 Chữ bầu lên nhà thơ 13
II - Thể nghiệm thơ của Lê Đạt: bài thơ “Bóng chữ” 15
1 Giới thiệu bài thơ 15
2 Phân tích bài thơ “bóng chữ” để làm rõ quan niệm thơ của Lê Đạt được thể hiện trong bài 15
C - KẾT LUẬN 21
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ NHIỆM VỤ NHÓM 8
- Thuyết Trình
100%
Trang 41.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Lê Đạt học tiểu học ở Yên Bái, năm 1941, 12 tuổi lên Hà Nội, học trường Bưởi.Kháng chiến bùng nổ, trở về quê cha, tiếp tục trung học tại Á Lữ
Ông tham gia cách mạng ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công.Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn,sau lên Tuyên huấn Trung ương, trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa
và giáo dục Vì vậy ông có dịp tiếp xúc với gần như tất cả giới văn nghệ Cáchmạng Việt Nam Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bíthư chi bộ của báo Văn nghệ, rồi được học lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300ngày ở Quảng Ninh, trước khi Nhân văn – Giai phẩm bùng nổ Ông là một trongnhững người khởi xướng, tổ chức và thực hiện các ấn phẩm quan trọng Giaiphẩm và Nhân văn mà nhiều người cho là ám chỉ Hồ Chí Minh và các lãnh đạođảng, ông bị lên án "phản động" và bị trừng phạt
Sau vụ Nhân văn – Giai phẩm ông được chuyển sang làm ở Ban Đối ngoại củaHội Nhà văn Việt Nam để không cho tiếp xúc với việc làm báo nữa, trước khi bịkhai trừ đảng vào tháng 7 năm 1957 Một năm sau, sau khi dự lớp “đấu tranh tưtưởng” tại Thái Hà Ấp, vào tháng 8 năm 1958, ông chính thức bị khai trừ khỏiHội Nhà văn ba năm và đình chỉ xuất bản trong thời hạn ba năm Thực tế hìnhphạt ba năm đã kéo dài 30 năm, cho đến năm 1988, khi ông được phục hồi tưcách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản
Năm 2007, cùng với ba nhà thơ khác của Phong trào Nhân văn – Giai phẩm làTrần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước vềVăn học nghệ thuật
2 Một số tác phẩm chính
Bài thơ trên ghế đá (thơ, in chung với Vĩnh Mai, 1958)
Cửa hàng Lê Đạt (trường ca, 1959)
Trang 536 bài thơ tình (thơ,in chung với Dương Tường, 1990)
Bóng chữ (thơ, 1994, gồm 95 bài thơ)
Chữ bầu lên nhà thơ (tiểu luận, 1994)
Hèn đại nhân (tập truyện, 1994)
Trường ca Bác (thơ, 1997)
Ngó lời (thơ, 1997, 241 bài thơ)
Mi là người bình thường (tập truyện, 2007)
U75 Từ tình (thơ và đoản ngôn, 2007), 88 bài
Đường chữ (thơ, tiểu luận, đoản ngôn, 2009)
B - Nội dung
I - Quan niệm thơ của Lê Đạt
1 Quan niệm thơ
1.1 Quan niệm chung về thơ
Ở Việt Nam thời hiện đại, trước hết, cần khẳng định thơ là hình thức sáng tácvăn học phản ánh đời sống, là thể loại văn học ra đời đầu tiên, có phạm vi phổbiến rộng và sâu Về hình thức nghệ thuật, nhìn từ bên ngoài, thơ là hình thứccấu tạo ngôn từ đặc biệt Việc sắp xếp các câu (dòng) thơ như những đơn vị nhịpđiệu làm nên một hình thức có tính tạo hình, thành một cấu trúc đặc biệt Mỗicâu thơ đều là một cách sắp xếp có dụng ý qua cách dùng từ, hình ảnh, số chữ,nhịp điệu, hiệp vần, phối thanh, các biện pháp tu từ…
Về nội dung, ý nghĩa, bản chất bên trong của thơ thì thơ là một thể loại trữ tình,
là tiếng nói tâm hồn của con người Thơ là tiếng nói của cảm xúc, là người thư kítrung thành của trái tim, là tiếng nói thầm của nội tâm sâu kín "Thơ là tiếng nóiđầu tiên, là tiếng nói thứ nhất của tâm hồn con người khi đụng chạm với cuộcsống" (Nguyễn Đình Thi)
Về giá trị, chức năng, tư tưởng, thơ ca bao giờ cũng là tấm gương phản ánh cuộcsống và đặc biệt thể hiện đời sống tâm hồn con người Thơ là trạng thái tình cảm,cảm xúc cao độ, tràn đầy đòi hỏi phải được thể hiện qua hình thức nghệ thuật.Con đường để thơ đến với người đọc là "từ trái tim đến trái tim" Người nghệ sĩ
từ chỗ rung động trước cái đẹp sẽ lan truyền những rung động đó tới người đọc.Cảm xúc mạnh mẽ của nhà thơ có thể tạo nên những câu thơ có tầm tư tưởng tác
Trang 6động đến nhận thức của người đọc nên "Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh".
Ở phương diện này, các thi sĩ huy động các thao tác của tư duy như phân tích,khái quát, tưởng tượng… để sáng tạo nghệ thuật tạo nên những câu thơ lấp lánhchất trí tuệ, triết lí
Hiện nay, cách định nghĩa về thơ của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là chungnhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng,những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là cónhịp điệu" Định nghĩa này đã nêu rõ nội dung của thơ là phản ánh đời sống, thểhiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ và hình thức nghệ thuật là ngôn ngữ hàm súc,giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu Đặc biệt, đã nêu rõ được sự khác biệt củangôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác
1.2 Quan niệm thơ của Lê Đạt
Lê Đạt là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Nhân văn – Giaiphẩm, đồng thời là nhà thơ có những đóng góp quan trọng trong đổi mới thi phápthơ hiện đại Việt Nam Với ông, thơ không chỉ là phương tiện bày tỏ cảm xúc
mà còn là một hành trình sáng tạo ngôn ngữ, khám phá những khả năng biểu đạtmới của từ ngữ Trong đó chữ nghĩa không chỉ mang ý nghĩa thông thường màcòn phải được “tạo nghĩa,” “tinh luyện” để đạt đến chiều sâu tư tưởng và nghệthuật Chính vì vậy, thơ Lê Đạt luôn mang tính cách tân mạnh mẽ, vừa cô đọng,hàm súc vừa giàu tính triết lý, mở ra nhiều tầng nghĩa cho người đọc khám phá.Biết bao nhà thơ cả đời luôn khao khát đi tìm bản thể thơ để trả lời câu hỏi thơ làgì? Lê Đạt cũng vậy Thơ hiện hữu trong tâm thức ông không chỉ có những câuthơ đa nghĩa như một thứ “bóng chữ” mà còn có cả những ưu tư của ông về thơ.Với ông, thơ như một thứ đạo, một thứ tôn giáo, một thứ cơ duyên
Quan niệm thơ của ông được thể hiện qua nhiều phát biểu trong các bài viết, bàiphỏng vấn và trong cả tác phẩm Trong bài viết “Lê Đạt với những đối thoại vềthơ” ông nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc “đào sâu, sáng tạo trên từng conchữ" và coi "chữ không chỉ đơn thuần là một ký hiệu giao tiếp mà như một sinhthể luôn cựa quậy" Ông cũng cho rằng: "Nhà thơ không coi rẻ chữ như nhữngvật vô tri vô giác, những công cụ quẳng đi khi đã hết tác dụng mà tôn trọng chữnhư những sinh vật có hồn, lắng nghe tiếng nói của chữ và trò chuyện với chữnhư những nhà ngoại cảm lắng nghe và trò chuyện với thế giới bên kia."
Hay trong những lần phỏng vấn trên báo sinh viên Việt Nam (2004), ông chia sẻ
"Cái đẹp trong câu thơ kêu gọi sự cao thượng", thể hiện quan điểm về giá trịthẩm mỹ và đạo đức trong thơ ca, và cuộc phỏng vấn với tạp chí Hợp Lưu, LêĐạt đã chia sẻ về quan điểm sáng tác và những trải nghiệm trong quá trình làmthơ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới và sáng tạo trong thơ ca
Trang 7Không những vậy, ở tập thơ "Bóng chữ", ông đề cao tinh thần lao động chữ củanhà thơ đến mức ông gọi nhà thơ là “phu chữ", và xuyên suốt tập thơ ông cũngđưa quan niệm chung “làm thơ tức là làm chữ” “làm thơ tức là phải khai phá conchữ, tìm cho ra vùng sâu, vùng xa địa lý ẩn mình trong chữ” “người làm thơ phảilặn lội biên thùy vô nghĩa lo toan mở mang bờ cõi của nghĩa”, coi việc sáng tácthơ như một quá trình "gọt chữ", "giũa câu" để đạt đến sự tinh tế và sâu sắc trongngôn từ Ngoài ra, trong bài thơ “Vân chữ” Lê Đạt cũng viết: “Mỗi công dân cómột dạng vân tay, mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ, không trộn lẫn.”
Quan niệm thơ của Lê Đạt thể hiện một tinh thần sáng tạo không ngừng, một thái
độ nghiêm túc với ngôn ngữ và một khát vọng đổi mới thi ca mạnh mẽ Với ông,thơ không chỉ là nơi bày tỏ cảm xúc mà còn là cuộc hành trình khai phá chữnghĩa, mở rộng biên giới của tư duy nghệ thuật Chính nhờ sự dấn thân ấy, thơ
Lê Đạt đã để lại dấu ấn sâu sắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại, trở thànhnguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ sau Dù thời gian trôi qua, những tư tưởngcách tân của ông vẫn tiếp tục khơi gợi những tìm tòi mới, chứng tỏ sức sống bền
bỉ của một nhà thơ luôn khao khát làm mới thơ ca
2 Các khái niệm quan trọng trong quan niệm thơ của Lê Đạt
2.1 Phu chữ
Xuất phát từ tinh thần vị nghệ thuật như vậy, theo tác giả Lê Đạt, đặc trưng cốttủy của thơ không phải nằm ở những tính năng xã hội của nó mà ở trong chấtliệu ngôn từ Vì vậy, ông định nghĩa “làm thơ tức là làm chữ”, hay cụ thể hơn,nhà thơ chính là “kẻ phu chữ” “Phu” ở đây là chỉ những người lao động vất vả,cần mẫn, “chữ” ở đây chỉ về ngôn ngữ, câu từ Làm thơ, công việc nhọc nhằn,đầy khổ ải của người viết mà thi sĩ Lê Đạt, khi vật vã lao động, một nắng haisương trên cánh đồng chữ, đã tự gọi mình là ‘phu chữ” “Phu chữ” tức là laođộng nhà văn, thì thậm khổ Tìm được một ý thơ, một tứ thơ, thậm chí một chữthơ thôi, cũng mất bao lao tâm khổ tứ, và chắc chắn là mất cả một đời Nhưngphàm đã mắc vào duyên nợ văn chương, ai mà chẳng ham đi cấy đi cày như điêntrên cánh đồng chữ nghĩa "Bi kịch chẳng phải ở đâu xa mà ở ngay trước mặtkhi bạn chọn nghiệp làm thơ, thơ là một dạng cảm hứng cộng với một tạ mồhôi"
“Làm thơ tức là làm chữ”; “Làm thơ tức là khai phá con chữ, tìm cho ra vùngsâu, vùng xa địa lí ẩn mình trong chữ”; “Người làm thơ phải lặn lội biên thùy vônghĩa lo toan mở mang bờ cõi của nghĩa” Qua đó, ta thấy thi sĩ đã đề cao tầmquan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật và sự lao động sáng tạo của người cầm bút(lao động ngôn từ - lao động nghệ thuật) Ông đề cao tinh thần lao động chữ củanhà thơ đến mức ông gọi nhà thơ là “Phu Chữ” Vì thế khi viết về thơ, Lê Đạt tựnhận mình là “phu chữ”, vì thơ ông viết rất kỹ tính, cẩn thận từng câu chữ, chọnlọc, suy nghĩ và dằn vặt rất nhiều Ông ghét thứ thơ đơn nghĩa và gọi nó là “thơ
Trang 8lộ thiên” Vì vậy, ông chủ trương đào sâu vào chữ để tìm ra nhiều vỉa từ nhằmlàm cho thơ đa nghĩa, cô đúc và sâu sắc Và ông muốn những con chữ ấy phảimang dấu ấn riêng của nhà thơ.
Quan niệm “phu chữ” của Lê Đạt còn ngụ ý nói tới sự sáng tạo trong cách sửdụng ngôn ngữ và hình ảnh Đó còn là khái niệm mà Lê Đạt đề cập để mô tả việc
sử dụng chữ nghĩa một cách không theo khuôn phép, tức là không chỉ đơn thuầndùng chữ để truyền đạt nội dung thông thường mà còn mang lại những cảm xúcsâu sắc, những biểu cảm mới mẻ và nhiều tầng nghĩa Lê Đạt là người tiên phongtrong việc làm mới ngôn ngữ thơ, phá vỡ những giới hạn cứng nhắc của thơ catruyền thống Mở đầu cuộc cách tân thơ, Lê Đạt đã dành hết tâm sức của mìnhcho một cuộc chơi mới, cuộc chơi của một nhà-phu-chữ như cách dùng từ của LêĐạt Ông không chỉ tập trung vào việc chọn lựa chữ mà còn chú trọng đến cách
sử dụng chúng sao cho tạo ra cảm giác và hình ảnh độc đáo, giàu ý nghĩa Quanniệm này phản ánh sự tự do sáng tạo trong thơ ca, làm cho ngôn ngữ trở thànhcông cụ để thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc phức tạp và đa dạng của tác giả.Trong bài thơ Bóng chữ, một bài đặc trưng cho phong cách Lê Đạt, cái cảm xúctrữ tình của thơ tiền chiến đã được chuyển hóa sang một dạng trữ tình khác, nókhông dạt dào, sướt mướt ở bề mặt chữ, nó khơi gợi sự âm vang bất ngờ từ bềsâu của một cảm xúc, một suy tư: Chia xa rồi anh mới thấy em/ Như một thờithơ thiếu nhỏ/ Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa mây mấy độ thu/Vườn thức một mùi hoa đi vắng/ Em vẫn đây mà em ở đâu/ Chiều Âu Lâu/ bóngchữ động chân cầu
Ngoài ra, “phu chữ" cũng có thể được hiểu là một sự kết hợp giữa chữ nghĩa vàcảm xúc, giữa tư tưởng và hình ảnh, tạo nên những tác phẩm vừa thẩm mỹ vừa
có chiều sâu tư tưởng Từ những con chữ mà khơi dậy sự sống động của cảm xúc
và trí tưởng tượng Lê Đạt là một thi sĩ dày công chăm bón chữ nghĩa, cảm giáctrước khi gieo trồng mỗi câu thơ của mình, ông làm chữ kĩ càng tới mức "xớiđất, lật cỏ" như một nông phu cần mẫn làm đất chuẩn bị mọi thứ cho một vụ mùagieo trồng mới của họ Nhưng khác với công việc cày ải, gieo trồng của các nôngphu, công đoạn làm chữ của một nhà thơ theo kiểu phu - chữ luôn cần tới một tốchất thiên bẩm khác, đó là khả năng khơi dậy sự sống động của cảm xúc và trítưởng tượng từ những con chữ vô tri vô giác theo một cấu trúc ngôn ngữ thơ Ví
dụ trong bài thơ Át cơ, cái hay của nó không chỉ bởi sự liên tưởng của nhiều hìnhảnh lạ xuất hiện trong một bài thơ rất ngắn mà cái hay của nó còn nằm ở kĩ năngchơi chữ rất tài hoa và tinh tế kiểu Lê Đạt, đã khiến cho mỗi người đọc bài thơlại nhận thấy có một tâm tưởng khác, một cảm hứng khác, một khung trời khácsau những câu thơ mang vẻ đẹp bí ẩn: Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ/ Nhà số lẻ/phố trò chơi bỏ dở/ Mộng anh hường/ tìm môi em bói đỏ/ Giàn trầu già/ khua/những át cơ rơi Không những thế, để được cái gọi là phu chữ còn đòi hỏi sựuyên bác, tinh tế của thú chơi chữ trong thơ ca Luận bàn về thú chơi chữ trongthơ, Lê Đạt từng khẳng định trong Đường chữ: "Người làm thơ chơi những phép
Trang 9tu từ như một thứ bẫy vô thức Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo
ra một sự sinh mới cho thơ Người làm thơ rắp tâm biến ngôn ngữ tiêu dùngthành một thứ ngôn ngữ trò chơi (hiểu theo nghĩa mạnh) trong một trạng thái nửatỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi là một sự chú ý bồng bềnh (attentionflottante) Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các nghệ sĩ như mộtthứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của độc giả Ngườichơi chữ dễ dàng được coi là người thông minh, chơi như vậy là chơi đùa Nhànghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi đùa mà chơi thật khiến trò chơi chữ khôngcòn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một người tỉnh táo màdựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam mê bị thánh ốptrong một cơn thượng đồng của chữ" Thiết nghĩ, bàn về sự chơi chữ trong thơđến thấu đáo như vậy thì cũng đã đủ cho chúng ta thấy Lê Đạt uyên bác và tinh
tế trong cách dùng chữ nghĩa như thế nào
Hai tiếng “phu chữ” từ khi được Lê Đạt nói ra đã trở thành thông dụng, thànhmột thứ câu cửa miệng trong giới thơ và cả trong công chúng Không dễ đượcnhư vậy nếu nó không được đảm bảo bằng chính cả cuộc đời lao động nghệ thuậtthơ, lao động chữ của ông Đối với Lê Đạt, cũng như với các thân hữu vănchương của ông Hoàng Cầm, Trần Dần, Dương Tường, làm thơ là làm chữ, làphải khổ công luyện chữ để bắt những con chữ bình thường, đơn giản với nghĩatiêu dùng hàng ngày bật ra những nghĩa mới, những vẻ đẹp bất ngờ từ sự tươngcận, cọ sát, va chạm của chúng khi đứng cạnh nhau trong một trường liên kết vàliên tưởng do chính nhà thơ đưa chúng vào Từ những bài thơ mang nặng tínhhiện thực thời kỳ đầu, trải hơn ba mươi năm âm thầm đọc và học, tìm và thửtrong thế giới con chữ Việt, khi hoàn cảnh lịch sử mở cửa cho ông trở lại thi đànvào thập niên 1980, Lê Đạt đã có vàng luyện từ quặng của mình đem ra trìnhtrước thơ Hai tập Bóng chữ (1994) và Ngó lời (1997) của ông thực sự đã gây bấtngờ đột phá Người đọc bước vào thơ ông với tâm trạng vừa thích thú, tò mò,vừa e dè, hoang mang Nhưng có một điều chắc là họ đã được nhận một khoáicảm khác lạ từ những phá cách kết cấu câu chữ đưa lại những kết hợp mới của từ
mà người “phu chữ” Lê Đạt đã dày công tìm tòi, thử nghiệm Này là mùa thu
“Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ” Này là sông quê “nắng mười tám má bờ đê congái” Này là mới tuổi “mùa xuân phăn phăn lòng đường” Này là tỏ tình “liễuđầu cành độc thoại đoạn trường xanh” Ông có hẳn một kiểu thơ Haiku, chỉ từngcặp thơ thôi nhưng mỗi lần đọc là đưa lại một khám phá, mỗi lần nhìn con chữ làlại thấy một công phu sáng tạo Tưởng như ông gò mình vào giới hạn tối thiểucủa hai dòng thơ, nhưng đấy là cách ông tự thử thách năng lực thơ của mìnhthông qua thử thách các khả năng biến hoá, thay đổi của chữ, để trong một diệntích tối thiểu chữ đạt được tối đa năng lượng cảm xúc thơ
Trang 102.2 Bóng chữ
Quan niệm "Bóng chữ" của Lê Đạt là một khái niệm văn học độc đáo, được tácgiả thể hiện qua việc chơi chữ và cách sử dụng ngôn từ trong thơ Với quan niệmcủa mình về “bóng chữ” – được thể hiện rõ nhất qua tập thơ cùng tên, ông đãmang lại một quan điểm sâu sắc về mối quan hệ giữa chữ viết và ý nghĩa
Theo Lê Đạt, "Bóng chữ" không chỉ đơn thuần là hình thức của từ ngữ, mà còn
là cái bóng phản chiếu những cảm xúc, suy nghĩ, và những chiều sâu không thểdiễn tả trọn vẹn bằng ngôn từ Bóng chữ" không chỉ là hình thức, âm thanh củacon chữ mà còn là những ý nghĩa tiềm ẩn, những liên tưởng sâu xa mà nó gợi ra
Đó là "trạng thái nhập nhoà và cạm bẫy của con chữ" (Thuỵ Khê) Thơ của ôngthường có một sự ẩn dụ mạnh mẽ, nơi các chữ cái không chỉ mang nghĩa đen màcòn chứa đựng những ý nghĩa sâu xa, tạo ra một không gian bí ẩn, lấp lánh nhưnhững bóng hình nhạt nhòa Lê Đạt không chỉ dừng lại ở việc khai thác nghĩađen của chữ mà còn đi sâu vào nghĩa bóng, khám phá những chiều kích đa dạngcủa ngôn ngữ Ông coi chữ như một thực thể sống động, có khả năng gợi cảm,lay động trái tim người đọc Bằng việc khơi gợi "bóng chữ", Lê Đạt muốn thểhiện sự mơ hồ và không hoàn chỉnh của ngôn ngữ khi đối diện với những trảinghiệm cảm xúc hoặc tư tưởng sâu xa, những điều mà ngôn từ không thể diễnđạt trọn vẹn Đây cũng là sự phản ánh những thách thức của việc giao tiếp vàtruyền đạt trong văn học, nơi mà giữa người viết và người đọc luôn có sự thiếuvắng của một sự đồng cảm hoàn toàn Ông là người suốt đời chọn lựa chữ đểmưu cầu sự đa nghĩa “những con chữ trong câu thơ dẫn dắt trên con đường tâmthức ra khỏi lối ngữ nghĩa “tiêu dùng” một chiều quen thuộc hằng ngày” Nhưvậy, “bóng chữ” chính là cái tạo nên sự giao cảm giữa cái hư và cái thực, khiếncảm xúc đạt tới cao độ Lê Đạt khẳng định “người làm thơ không phải bằng ý màbằng chữ” và “nhà thơ làm chữ không phải ở nghĩa “tiêu dùng” nghĩa tự vị của
nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tươngquan hữu cơ với câu thơ, bài thơ” Lê Đạt muốn làm cuộc đại trùng tu nghĩa củachữ như vậy là vì muốn chống lại tình trạng thoái hóa về nghĩa của ngôn ngữ đếnmức chúng biến thành những kí hiệu xơ cứng trong đời sống cũng như văn học.Quan niệm về bóng chữ của Lê Đạt được thể hiện rõ nhất trong tập thơ cùng têncủa ông Bóng chữ là một tập thơ có ý nghĩa và vị trí quan trọng đối với đời thơ
Lê Đạt và cũng là một hiện tượng gây chú ý trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.Nổi bật trong Bóng chữ là sự cách tân về nội dung lẫn hình thức, đặc biệt là nghệthuật dùng chữ Tư duy nghệ thuật thơ Lê Đạt qua tập Bóng chữ xoay quanh vấn
đề chữ, khái niệm chữ trong quan niệm của ông được hiểu là từ, tiếng nóichung là ngôn ngữ Lê Đạt tư duy về chữ trên ba bình diện chính: hình thức củachữ, ý nghĩa của chữ và chức năng của chữ
Trang 11Trong tập thơ Bóng chữ, nổi bật cho quan niệm của mình thể hiện ở tư duy lạhóa, lệch chuẩn với sự mới lạ của hệ thống hình ảnh thơ, cấu tứ thơ Nhà thơ đãbiết nhìn hiện thực bằng con mắt đầu tiên, hồn nhiên nên hình ảnh thơ trở nêntinh khôi mới mẻ lạ thường Đọc Lê Đạt, ta cảm giác như đang sống ở một thếgiới khác, ở đó những gì thân thuộc, quen thuộc hàng ngày dường như biến mất
và ta được sống trong sự tươi mới nguyên sơ của hình ảnh và cảm xúc Hệ thốnghình ảnh trong tập Bóng chữ có sự giãn nở kỳ lạ, tạo ra những phiên bản khácnhau từ hình ảnh gốc, mang những gương mặt mới, lạ lẫm với độc giả: Riêng từ
“hoa”, nhà thơ sử dụng trên 90 lần, nhưng rất sáng tạo: tình hoa “Mỗi năm tìnhhoa mời gọi xuân”, mùi hoa “Vườn thức một mùi hoa đi vắng”, bến nụ hoa “bến
nụ hoa tròn môi đợi nói”, bóng hoa “sót bóng hoa mơ chờ”, lúm hoa “ hoa lúmhoa bông thắm”, hoa tuổi “hoa tuổi trắng lâu quên”, tóc hoa đèn “tóc hoa đèn timlần giở trang em”, nửa trời hoa “tạm ứng nửa trời hoa trước đón nhau”, tóc hoa
“tóc hoa dù bụi trắng”, ngõ hoa “Trang ngỏ trắng/ ngõ hoa mơ tình sử” …Về thi
tứ, Lê Đạt luôn ý thức cấu tứ mới lạ Không quá khó khăn trong việc tìm hiểu tứthơ của Lê Đạt qua tập Bóng chữ vì phần lớn tứ thơ hiện ngay trên nhan đề, như:
Át cơ, Bóng chữ, Khuyết điểm, Chuộc tuổi, Dấu chân, Kênh chờ, Gương… Nhưvậy, ta có thể thấy được sự tài tình trong cách sử dụng chữ của nhà thơ, ẩn sâutrong câu từ chữ nghĩa là những cảm xúc, ý nghĩa sâu lắng phải tinh tế lắm mớinhận ra, hiểu và cảm nhận được
Tập thơ gồm 108 bài, phần nhiều thơ ngắn, hai câu, năm mười câu; dăm bài dàinhất chỉ độ trăm câu Hai mươi bài thơ (ngắn) làm từ 1965 đã in chung với thơDương Tường trong tập 36 Bài Tình (1989) Bài Cha Tôi làm từ 1956 Đoạn vănxuôi Nhân Con Ngựa Gỗ là tuyên ngôn của trường phái thơ Lê Đạt, trích đoạnmột bài báo đã đăng trên tạp chí Tác Phẩm Mới số 3-1992 trong đó tác giả xácđịnh quan điểm sáng tác: “Thơ phải cô đúc, đa nghĩa Đa nghĩa vì câu thơ mangnặng lịch sử chữ, hoạt động ở nhiều tầng văn hoá, cả trong ý thức lẫn vô thứcngười viết […] Nói như Valéry chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau vềhình thức nhưng khác nhau về giá trị […] Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ởnghĩa “tiêu dùng” nghĩa tự vị của nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vangvọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ”
Lê Đạt càng viết, chữ gọi chữ, chữ tương tác chữ, chữ kết hợp chữ làm nênnhững “thi ảnh” đẹp, táo bạo, lạ lùng… Chữ vẫy chữ làm nên nghĩa “liên vănbản” của thơ Lê Đạt là một “kỳ nhân” giữa truyền thống và đương đại Mảnhđất thơ của Lê Đạt không thật rộng, nhưng ở đó ẩn giấu cả một quặng nghĩa LêĐạt không vơ vào thơ tất cả xương cốt của chữ, tức xác chữ Ông lấy cái hồn củachữ, cái bóng sáng của chữ để làm nên giá trị cho câu thơ, bài thơ Quan niệm
"bóng chữ" của Lê Đạt không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật mà còn là một triết
lý về ngôn ngữ và sáng tạo Nó thể hiện cái nhìn sâu sắc, tinh tế của nhà thơ vềmối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, giữa hình thức và nội dung