1.2 Sự nghiệp sáng tác Với hành trình sáng tác gắn bó mật thiết với những đổi thay của đất nước và chiều sâu trong đời sống tình cảm, sự nghiệp thơ ca của bà có thể chia thành nhiều gia
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
BÀI ĐIỀU KIỆN HỌC PHẦN
VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945
Hồ Nữ Hằng Nga - 725601265 Nguyễn Trang Anh - 725611010
HÀ NỘI – 2024
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
1 (Nhóm trưởng) Lưu Ngọc Mai
- Xây dựng dàn ý, phân chia nhiệm
vụ, chỉnh sửa nội dung, tổng hợp word
- Làm nội dung (II.2.Thơ Xuân Quỳnh khi hòa bình lập lại)
- Làm PPT
- Chỉnh sửa nội dung
100%
- Làm nội dung (Sự nghiệp sáng tác
và Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I Thi sĩ Xuân Quỳnh 4
1 Vài nét về tiểu sử con người và sự nghiệp sáng tác 4
1.1 Tiểu sử con người 4
1.2 Sự nghiệp sáng tác 5
2 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh 9
2.1 Giàu vẻ đẹp nữ tính 9
2.2 Thường trực khát vọng thiết tha về hạnh phúc đời thường 10
2.3 Hình ảnh giọng điệu và ngôn ngữ thơ 12
II Xuân Quỳnh - mối quan hệ giữa đời và thơ trong tương quan với phong cách 13
1 Thơ Xuân Quỳnh trong những năm tháng chiến tranh 13
1.1 Viết về chiến tranh với cái nhìn nữ tính 13
1.2 Viết về quê hương đất nước trong thời chiến 18
2 Thơ Xuân Quỳnh khi hòa bình lập lại 19
3 Thơ Xuân Quỳnh những năm tháng cuối đời 25
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 4MỞ ĐẦU
Thơ Xuân Quỳnh là một trong những tiếng nói nữ tính rõ nét và tiêu biểu nhất của thơ
ca hiện đại Việt Nam Trong một nền văn học lâu dài bị chi phối bởi những tiếng nói nam giới, cảm hứng sử thi và cách mạng, thơ Xuân Quỳnh như một dòng suối riêng, mát lành, đầy bản sắc, mang đến tiếng lòng của người phụ nữ – chân thật, dịu dàng nhưng cũng đầy khao khát, dằn vặt và mãnh liệt
Thơ của bà đặc sắc bởi vẻ đẹp nữ tính tự nhiên hiện ra qua chân dung người phụ nữ mang bản năng nữ tính thuần hậu, khao khát hướng tới bình yên và hạnh phúc Thơ của Xuân Quỳnh luôn là cuộc đời, là trải nghiệm, là số phận trong những năm đất nước chia cắt, đói nghèo và gian khổ Khác với những tác giả khác, thơ Xuân Quỳnh không khắc họa những điều trần trụi, cũng không phải là những lời ca hào hùng bi tráng, mà nó đến
từ sự sâu sắc trong thiên tính nữ tự nhiên nhưng cũng đầy mạnh mẽ của bà Trong bài viết này, chúng tôi tập trung làm rõ quan điểm “Em đã viết những gì em đã sống” qua các chặng đường sáng tác của bà trong sự liên hệ với phong cách nghệ thuật
Trang 5I Thi sĩ Xuân Quỳnh
1 Vài nét về tiểu sử con người và sự nghiệp sáng tác
1.1 Tiểu sử con người
Nhà thơ Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 06/10/1942 trong một gia đình viên chức nhỏ tại thôn La Khê, huyện Hoài Đức - nay thuộc Hà Đông, thành phố Hà Nội Bà được thừa hưởng nhan sắc, phẩm hạnh của người mẹ và tình yêu văn chương của người cha
Lên hai tuổi, Xuân Quỳnh mồ côi mẹ Cha có gia đình mới và chuyển vào sinh sống ở miền Nam Xuân Quỳnh cùng chị gái Đông Mai nương tựa vào bà nội Tuổi thơ côi cút, nghèo khổ để lại trong Xuân Quỳnh cảm giác buồn tủi và nhiều lo âu phấp phỏng Bà
có lần tâm sự với bạn: "Suốt cả thời nhỏ dại lúc nào tôi cũng thấy rét” Những trải nghiệm này rồi sẽ in dấu đậm nét lên các trang viết của Xuân Quỳnh, dù đang nói về khát vọng công dân hay về tình yêu lứa đôi sôi nổi, nồng nhiệt thì vẫn cứ phảng phất chút mặc cảm thân phận, vẫn khắc khoải lo âu về hạnh phúc trước những biến suy của cuộc đời: "Đường tít tắp không gian như bể/ Anh chờ em cho em vịn bàn tay" Năm
1955, Xuân Quỳnh tròn 13 tuổi, được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, đào tạo thành diễn viên múa Nhưng say mê thơ, bà đã quyết định từ bỏ ánh đèn sân khấu để chuyên tâm với văn chương Có thể nói, với Xuân Quỳnh, thơ chính là sự lên tiếng của thân phận, là cuộc sống thứ hai, vừa giúp giải thoát vừa bù đắp cho tất cả những mặc cảm, lo âu và khao khát Thơ thành lẽ sống của bà:
Ôi trời xanh xin trả cho vô tận Trời không xanh trong đáy mắt em xanh
(Nếu ngày mai em không làm thơ nữa)
Xuân Quỳnh đã cần mẫn học tập trong suốt cuộc đời cầm bút Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn ở Quảng Bá, bà đã trải qua nhiều công việc khác nhau, cuối cùng về làm biên tập ở báo Văn nghệ và Nhà xuất bản Tác phẩm mới Trong
lí lịch tự thuật, bà viết: "Những truyện của Nam Cao, Nguyên Hồng mỗi khi đọc tôi cảm thấy sao mà giống cuộc sống xung quanh tôi thế Tôi có cảm giác mình cũng có thể viết được như vậy một cách dễ dàng Và tôi khao khát được viết Nhưng say mê hơn
cả vẫn là thơ Tôi đọc thơ của Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Huy Cận, Xuân Diệu rất say sưa Đằng sau những bài thơ bao giờ tôi cũng cảm thấy bao điều
kì diệu Và tôi tin rằng các nhà thơ là các vị thánh Cho mãi tới bây giờ tôi vẫn cho rằng thơ là một nghệ thuật kì diệu nhưng khó mà đi tới Mặc dù vậy cũng không bao giờ bỏ được thơ” Lời bộc bạch chân thành chứa đựng cả niềm say mê hồn nhiên lẫn quan niệm
về thơ - thứ nghệ thuật mà Xuân Quỳnh cảm hiểu bằng bản năng nhiều hơn là bằng lí luận
Trang 6Xuân Quỳnh lập gia đình và sinh con giữa những ngày cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước đang diễn ra ác liệt Bà gửi cậu con trai nhỏ cho mẹ chồng, khoác ba lô vào tuyến lửa Vĩnh Linh, Quảng Trị Hai tập thơ Hoa dọc chiến hào và Gió Lào cát trắng mang hơi thở nóng bỏng của cuộc sống nơi mảnh đất gian khổ và anh hùng này đã ghi tên bà vào những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ - một hiện tượng văn học có sức cuốn hút rất lớn ở giai đoạn đó
Thành công với văn chương nhưng cuộc sống riêng không suôn sẻ Khao khát hạnh phúc lứa đôi, với trái tim yêu nồng nàn đến táo bạo nhưng Xuân Quỳnh sớm phải chịu nỗi đau gia đình tan vỡ Hẫng hụt, day dứt, nhiều lận đận trong tình duyên, nhiều vất vả
về cơm áo, bà càng tha thiết với thơ Năm 1973, bà tái hôn với nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ và đã thực sự có công trong sự nghiệp của ông
Ngày 29/8/1988, Xuân Quỳnh cùng chồng và con trai út Lưu Quỳnh Thơ mất đột ngột
vì tai nạn giao thông ở đầu cầu Phú Lương (thành phố Hải Dương)
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Với hành trình sáng tác gắn bó mật thiết với những đổi thay của đất nước và chiều sâu trong đời sống tình cảm, sự nghiệp thơ ca của bà có thể chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại mang những dấu ấn riêng biệt, phản ánh quá trình phát triển trong tư duy nghệ thuật và cảm xúc của một người phụ nữ vừa yêu, vừa sống, vừa đấu tranh
1.2.1 Giai đoạn đầu – Tuổi trẻ: ngây thơ, trong sáng, đầy rung động
Ngay từ những năm đầu thập niên 60, Xuân Quỳnh đã sớm khẳng định mình với các
sáng tác giàu cảm xúc cá nhân Tập thơ Tơ tằm – Chồi biếc (1963), in chung với Cầm
Lai, là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của một giọng thơ nữ trẻ trung, hồn
nhiên, đầy rung động của trái tim yêu lần đầu Những bài thơ như Chồi biếc mang màu
sắc mộng mơ, ghi dấu một thời thanh xuân rạo rực:
Dưới hai hàng cây Tay ấm trong tay Cùng anh sóng bước Nắng đùa mái tóc Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay Như ngàn cánh bướm
Trang 71.2.2 Thơ kháng chiến – Cái tôi công dân, người mẹ, người vợ trong chiến tranh
Khi đất nước bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thơ Xuân Quỳnh chuyển hướng mạnh mẽ, thể hiện vai trò của một nhà thơ công dân đầy trách nhiệm Các tập thơ như
Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978) không
chỉ ghi nhận hiện thực chiến tranh mà còn chuyển tải những cảm xúc đầy nữ tính, ấm
áp của người phụ nữ thời loạn Không khô cứng khẩu hiệu như một số tác phẩm tuyên truyền thời kỳ ấy, Xuân Quỳnh dùng chính chất liệu đời sống riêng tư – của người mẹ, người vợ, người yêu – để viết về chiến tranh Bà từng tâm sự trong thơ:
Dù thơ em viết chưa hay hơn
Em đang tập làm thơ cho có ích
(Viết trên đường hai mươi)
Xuân Quỳnh không tách rời cá nhân khỏi cộng đồng, mà hòa tan cái tôi riêng vào cái
chung của dân tộc Những bài thơ như Gió Lào cát trắng thể hiện sự hiến dâng:
Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa
Bà còn để lại nhiều hình ảnh xúc động trong việc kết nối hậu phương và tiền tuyến:
Bãi cát bỏng ngọn gió Lào hung dữ Vết chân trẻ em làm đau nỗi nhớ
(Những năm ấy) Hay trong Khi con ra đời:
Mặt đất dọc ngang xẻ những chiến hào Lời mẹ ru không chỉ ngọt ngào
“Cái bống ngủ ngon, cánh cò bay mải”
Bởi khi bay có cánh cò đã gãy Trong lúc ngủ say cái bống vẫn giật mình
1.2.3 Thơ tình yêu – Cái tôi nữ giới: say đắm, dằn vặt, khao khát hòa hợp
Trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Mỹ, khi phần lớn sáng tác mang đậm cảm hứng
sử thi và khuynh hướng sử dụng cái tôi công dân để hòa mình vào thời đại, thì thơ Xuân Quỳnh lại là một trường hợp đặc biệt Bà là một trong số rất ít nhà thơ nữ dám mạnh
mẽ khẳng định cái tôi cá nhân – không phải cái tôi khép kín, vị kỷ, mà là cái tôi của một người phụ nữ đang sống hết mình, yêu hết mình, khát khao hạnh phúc nhưng cũng đầy
Trang 8lo âu, dằn vặt Xuân Quỳnh không chỉ viết về tình yêu như một đề tài phổ quát, mà bà sống và thở cùng tình yêu, biến thơ ca thành nơi trú ngụ của trái tim mình
Giữa một nền văn học thường coi trọng lí tưởng tập thể và đề cao tính chiến đấu, tiếng thơ Xuân Quỳnh như một kênh đầy riêng tư và cảm xúc Thơ tình của bà là sự kết tinh giữa vẻ đẹp dịu dàng của nữ giới với chiều sâu tâm hồn của một người sống nhiều với trái tim Ở đó, người phụ nữ không giấu mình trong khuôn phép đạo đức hay định kiến
xã hội, mà thẳng thắn bày tỏ những rung cảm thẳm sâu nhất Không phải ngẫu nhiên
mà Xuân Quỳnh từng viết trong Thuyền và biển:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Đó không đơn thuần là biểu hiện của một tình yêu mãnh liệt, mà còn là sự đối mặt với nỗi bất an, sự phụ thuộc tinh thần và khát vọng hòa hợp trong tình yêu – những điều rất thật, rất con người mà thơ ca thời bấy giờ ít ai dám nói đến Nói như nhà nghiên cứu văn học Đỗ Lai Thúy, Xuân Quỳnh là một trong những người đầu tiên trong văn học Việt Nam hiện đại “dám yêu, dám đau, dám nói bằng tiếng nói của trái tim người đàn bà”
Những bài thơ như Sóng, Tự hát, Thuyền và biển… đều là những bài thơ tình sâu sắc,
nơi người đọc bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ yêu tha thiết nhưng luôn thấp thỏm,
bất an, tự vấn và không ngừng đấu tranh giữa lý trí và cảm xúc Trong Tự hát, có lẽ hai
câu thơ sau đã trở thành tuyên ngôn cho quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh – tình yêu
là máu thịt, đời thường, đầy đau đớn và cũng đầy thiêng liêng:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có Vẫn biết ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi
Xuân Quỳnh không lý tưởng hóa tình yêu như một điều hoàn mỹ; bà yêu bằng cả những
lo toan thường nhật, bằng khát vọng được gắn bó, được thấu hiểu và được hòa nhập
“Trái tim em” không còn là hình ảnh ước lệ, mà là hiện thân của một thực thể sống – đau đớn, run rẩy, sợ hãi, khao khát đến tận cùng Khác với vẻ đẹp kín đáo, trầm mặc trong tình yêu của Hàn Mặc Tử, hay nét duy mỹ và lãng mạn của Xuân Diệu, Xuân Quỳnh chọn con đường riêng: giản dị, gần gũi nhưng cũng rất sâu sắc, trăn trở
Đặc biệt, trong bài Sóng, có thể xem là một “tuyên ngôn tình yêu” của thơ ca hiện đại,
hình tượng “sóng” – vừa là biểu tượng cho người phụ nữ, vừa là hiện thân của tình yêu – luôn chuyển động, nhiều trạng thái, vừa dịu dàng, vừa dữ dội:
Trang 9Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được
Cái “muôn đời” của tình yêu trong Sóng không phải là sự bất biến khô cứng mà là một
sự chuyển động liên tục, một dòng chảy nội tâm không thể ngừng nghỉ của người phụ
nữ trong đời sống tình cảm
1.2.4 Viết cho thiếu nhi – hồn nhiên, nhân văn, truyền cảm hứng sống tử tế
Không chỉ là nhà thơ của tình yêu đôi lứa, Xuân Quỳnh còn là người phụ nữ gắn bó sâu sắc với vai trò làm vợ, làm mẹ, và bà đưa tình yêu thương ấy vào thơ viết cho thiếu nhi
Những bài thơ như Chùm thơ Xuân cho ba con nhỏ, Chuyện cổ tích về loài người cho
thấy một mặt khác của trái tim thi sĩ – dịu dàng, dịu ngọt nhưng vẫn thấm đẫm chất suy
tư nhân văn Trong Chuyện cổ tích về loài người, bà gửi gắm vào đó triết lý về nguồn
gốc và mục đích của cuộc sống – không phải để tranh giành, chiến đấu, mà là để yêu thương:
Chữ bắt đầu có trước Rồi có ghế có bàn Rồi có lớp có trường
Và sinh ra thầy giáo
Cái bảng bằng cái chiếu Cục phấn từ đá ra Thầy viết chữ thật to
“Chuyện loài người” trước nhất Đặc biệt, chất "nữ tính" trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ dừng ở cảm xúc, mà còn ở sự thấu cảm sâu sắc với đời sống con người – nơi những hy sinh, nhọc nhằn của người mẹ, người vợ hiện lên một cách chân thực nhưng không bi lụy Điều này cũng thể hiện rõ
nét trong mảng văn xuôi viết cho thiếu nhi của bà – như các truyện ngắn: Mẹ con tôi trên trận địa, Bà tôi, Ông nội và ông ngoại, Thầy giáo dạy vẽ, Những câu chuyện nhẹ
nhàng, dí dỏm, nhưng giàu nhân ái, được kể bằng giọng văn gần gũi, như lời ru thấm vào tâm hồn trẻ nhỏ Khác với nhiều tác phẩm thiếu nhi mang tính giáo điều, truyện của Xuân Quỳnh không tô hồng cuộc sống, không “dạy dỗ” trẻ con, mà nhẹ nhàng gợi mở cho các em về lòng yêu thương, sự sẻ chia và thấu hiểu
Trang 102 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh
2.1 Giàu vẻ đẹp nữ tính
Vẻ đẹp nữ tính ở thơ Xuân Quỳnh là sự hội tụ thiên tính tự nhiên, ý thức phái tính như một nhu cầu hiện diện của người phụ nữ hiện đại và khuynh hướng bảo lưu những giá trị văn hóa cổ truyền Tâm lí học nữ giới chỉ ra rằng nữ giới thuộc loại hình tâm lí tình cảm, mạnh về trực giác và rất nhạy cảm
Nhà phê bình Lại Nguyên Ân từng nhận xét: "Xuân Quỳnh nhân hậu, đằm thắm nhưng cũng mạnh mẽ, có chiều sâu trải nghiệm, chiêm nghiệm" – cho thấy thơ bà không chỉ
là những rung cảm thoáng qua mà còn là kết tinh của đời sống nội tâm sâu sắc Trong
bài Tự hát, nữ thi sĩ đã viết:
Em lo âu trước xa tắp đường mình Trái tim đập những điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn Những câu thơ ấy gợi mở nội tâm đầy dự cảm, bất an – nét đặc trưng của thế giới tâm
lý phụ nữ, đặc biệt là trong tình yêu, khi hạnh phúc luôn đi kèm với nỗi sợ mất mát Không tô vẽ tình yêu bằng gam màu lãng mạn thuần túy, Xuân Quỳnh thể hiện tình cảm
ấy như một hành trình sống động, có cả đắm say lẫn hoang mang, có cả niềm vui và nỗi đau Bà thường dùng hình ảnh thiên nhiên để phản ánh những biến động tâm lí ấy Trong
Tự hát, bà viết:
Mùa thu nay sao bão giông nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh Thiên nhiên ở đây không chỉ là phông nền mà là tiếng vọng nội tâm – những cơn mưa, cơn bão là ẩn dụ cho sự bất an trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu Bà có khuynh hướng đồng nhất mình với khung cảnh, sự vật, khiến thơ Xuân Quỳnh vừa giản dị, tự nhiên, vừa rất hiện đại Không phải lí lẽ sắc sảo, lí trí rành mạch, mà chính cái sáng suốt của bản năng giới, cái linh cảm dẫn lối tác giả đi tìm cảm xúc thi ca
Không giống như nhiều nhà thơ khác sử dụng thiên nhiên như bối cảnh để ngắm nhìn thế giới, thiên nhiên luôn khúc xạ tâm hồn mẫn cảm, nhiều dự cảm và luôn khao khát gắn bó, hòa đồng của bà Nếu thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương luôn cựa quậy, nổi loạn để phá tung cái trật tự giả dối và tôn lên vẻ đẹp phồn thực của nữ giới qua hình ảnh
Trang 11núi non, cây cỏ, hang động… thì với Xuân Quỳnh, hình ảnh thiên nhiên được cấp cho phẩm tính người mẹ Bà thấy mình như cơn sóng: “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”, như kiếp hoa dại, như cánh chuồn: “Cánh chuồn nào bay vào trong nỗi nhớ” Ngòi bút Xuân Quỳnh xúc động trước những điều giản dị như căn nhà, mái phố, dòng sông,
bờ tre, đồng lúa và hình ảnh người mẹ thân thương thấp thoáng
Là người của thời hiện đại, tự tin, chủ động lựa chọn hạnh phúc, Xuân Quỳnh vẫn rất gần mẫu phụ nữ truyền thống ở nét đa cảm, yếu mềm, luôn có nhu cầu giãi bày, kể lể mong ước được dựa cậy, được chia sẻ
Ngoài ra, một trong những biểu hiện tiêu biểu của vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh
là tình mẫu tử sâu sắc, đậm chất nhân văn và đầy xúc động Trong bài Đưa con đi sơ tán, bà viết:
Con rãnh rộng bàn chân con thì bé Trăm nhớ thương mẹ gửi nơi này
Và trong bài Tuổi thơ của con, bà thốt lên đầy xót xa:
Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi Con chơi với đất, con chơi với hầm
Những câu thơ khắc họa nỗi đau rất riêng của người mẹ giữa chiến tranh – vừa yêu con, vừa bất lực trước hoàn cảnh, vừa cố gắng truyền cho con niềm tin và cảm giác an toàn
2.2 Thường trực khát vọng thiết tha về hạnh phúc đời thường
Trong không gian thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh nổi bật không chỉ bởi tiếng nói phụ nữ đầy bản lĩnh và cảm xúc, mà còn bởi một mạch nguồn thơ rất riêng – khát vọng bền bỉ, thiết tha về một hạnh phúc đời thường, nhỏ bé nhưng vô cùng thiêng liêng Trong một thời đại mà thi ca còn nhiều khuynh hướng sử thi, lý tưởng hóa hay ủy mị hóa tình yêu, Xuân Quỳnh đã đi theo một hướng ngược lại: thơ bà gắn với những điều rất thật, rất đời – từ một chiếc áo treo trên tường, một bình hoa gốm cũ, đến tiếng con cười trong hầm trú ẩn Không phải ngẫu nhiên mà nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh dành cho con và cho tuổi thơ mang đầy hình ảnh thân thương, giản dị:
Trang 12Tuổi thơ con có những gì?
Có con cười với mắt tre trong hầm…
(Tuổi thơ của con)
Những câu thơ ấy khắc họa rõ nét hình ảnh người mẹ thời chiến – lo âu nhưng vẫn đầy dịu dàng, gắng gượng tạo ra một mái ấm giữa khói lửa và tàn phá Chất thơ không nằm
ở sự lãng mạn mà ở lòng nhân hậu, sự hi sinh và cảm thức sâu sắc về sự sống Khác với
vẻ đẹp trừu tượng, phi thực trong thi ca phương Tây, Xuân Quỳnh luôn khao khát một tình yêu gắn liền với đời sống, với căn phòng nhỏ có hoa cắm trên bàn, với bữa cơm, tiếng nói và những ngọn lửa gia đình:
Căn phòng con riêng của chúng mình Nước trong phích, hoa trên bình gốm cũ
(Nghe rét nhớ về Hà Nội)
Ở đây, hạnh phúc không được định nghĩa bằng cao trào cảm xúc, mà bằng những chi tiết giản đơn nhưng chứa đựng sự sẻ chia, cùng nhau vượt qua đời sống thường nhật
Hình ảnh “hai bàn tay” trong bài thơ Bàn tay em trở thành biểu tượng cho sự đầm ấm
mà con người ao ước gìn giữ giữa những bất định của cuộc đời
Thế nhưng, trong thơ Xuân Quỳnh, khát vọng hạnh phúc ấy chưa bao giờ là một dòng chảy bình yên Nó luôn đi kèm với sự lo âu, dự cảm và ý thức sâu sắc về cái hữu hạn,
mong manh của tình yêu và kiếp người Trong bài thơ Anh, bà viết:
Tóc anh thì đẫm ướt
Lòng anh thì cô đơn
Anh cần chi nơi em
Sao mà anh chẳng nói
Đây là một trong những bài thơ tình ít người biết nhưng lại thể hiện rõ nét sự tổn thương lặng lẽ, khao khát được thấu hiểu và bất lực trong giao tiếp tình cảm – một đặc trưng rất nữ tính Những khoảng lặng, sự né tránh của người đàn ông trong bài không làm giảm đi lòng yêu của người phụ nữ, mà càng khiến người đọc cảm nhận rõ hơn cái
“khát” hạnh phúc của một trái tim luôn mở rộng, nhưng lại không thể nắm bắt trọn vẹn điều mình cần Mẹ mất sớm và sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm, điều đó khiến bà luôn mang trong mình một nỗi khao khát được yêu, được bù đắp, được sống trong một mái ấm trọn vẹn Tình yêu, với Xuân Quỳnh, không chỉ là cảm xúc, mà là
chốn để neo vào, để vượt thoát sự “rét mướt” của tuổi nhỏ Trong Thơ tình tôi viết, bà
thẳng thắn thổ lộ: “Thơ tình tôi viết cho tôi / Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều” Câu thơ là một sự thừa nhận đầy tự trọng – rằng tình yêu ấy, thơ ấy, không hẳn để dâng tặng
Trang 13ai, mà là cách để người phụ nữ tự chữa lành mình bằng sự thành thật và niềm tin vào điều tốt đẹp
Dẫu từng trải qua nhiều lận đận tình duyên, thơ Xuân Quỳnh vẫn không chất chứa oán giận mà luôn chan chứa tình thương và một niềm tin bền bỉ vào hạnh phúc giản dị của
con người Trong bài viết Xuân Quỳnh – nữ sĩ của tình yêu thời đại mới, tác giả Đoàn Trọng Huy đã nhận xét rất sâu sắc:“Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một người phụ
nữ thời đại mới, với biết bao cảm nhận về cuộc đời Đó là một cuộc đời phong phú, bề bộn, ngổn ngang với bao sự kiện thời sự cực kỳ quan trọng, và những suy tư, cảm xúc
không kém phức tạp về thế sự.”
Những suy tư và cảm xúc ấy, khi đi qua ngòi bút Xuân Quỳnh, trở thành thơ – nhưng là thơ của một người sống thực, yêu thực, đau thực, và khát khao một hạnh phúc cũng thật đến tận cùng Khát vọng hạnh phúc đời thường trong thơ Xuân Quỳnh không phải là sự mộng mơ xa rời thực tại, mà là một thứ ánh sáng âm ỉ, dai dẳng và đầy nhân văn trong tâm hồn người phụ nữ – người từng nếm trải chiến tranh, mất mát, bất ổn và cô đơn Chính vì vậy, thơ của bà không chỉ là lời thủ thỉ của một người phụ nữ yêu, mà còn là bản hòa ca của tình thương, niềm tin và sự sống Đó là khi mái nhà không chỉ là nơi trú ngụ, mà còn là biểu tượng của tình yêu – thứ hạnh phúc giản dị nhưng vĩnh cửu mà bất
kì ai cũng có quyền mơ ước và tìm kiếm
2.3 Hình ảnh giọng điệu và ngôn ngữ thơ
Một trong những yếu tố làm nên nét đặc trưng không thể trộn lẫn của Xuân Quỳnh trong thơ ca hiện đại chính là cách bà xây dựng thế giới hình ảnh, lựa chọn giọng điệu và sử dụng ngôn ngữ Những yếu tố tưởng chừng như bề mặt ấy lại chính là nơi thể hiện sâu sắc nhất một cái tôi nữ tính, đầy nhạy cảm và khát khao yêu thương của cái tôi thi sĩ Xuân Quỳnh
Chịu sự chi phối của nhãn quan phụ nữ, hình ảnh thơ Xuân Quỳnh thường thiên về tính
cụ thể, rất gần tự nhiên và sinh hoạt đời thường: gian phòng, mái phố, phích nước, bình hoa, tấm rèm, xô chậu, củi lửa, gạo dầu, nắng mưa, mây, gió… và có cả hình ảnh dễ thương của người con:
Con cười nhăn cả mũi
Hở chiếc răng mới thay Giống viên gạch mới xây Phố mình to cồ cộ
(Mùa xuân mừng con thêm một tuổi)
Cái hay của Xuân Quỳnh là bà không ngần ngại đưa đời sống vào thơ, không e ngại sự đời thường làm mất đi chất thơ, mà chính sự “đời” ấy lại làm nên chất xúc cảm đặc
Trang 14biệt Bên cạnh đó, thơ Xuân Quỳnh còn giàu hình ảnh ẩn dụ và tượng trưng kiểu dân gian, như con sóng, con tàu, thuyền, biển, bàn tay, con đường, cánh chuồn, cỏ dại, hoa dại… Những biểu tượng ấy vừa mang tính truyền thống, vừa được bà “nữ hóa” rất rõ
Trong bài Thuyền và biển, hình ảnh biển hiện lên như một người con gái đang thủ thỉ
tâm tình:
Những đêm trăng hiền từ Biển như cô gái nhỏ Thì thầm gửi tâm tư Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Bà hay xúc động trước những sự vật, hình ảnh gợi đến cái mong manh, bé bỏng, côi cút như cánh chuồn trước cơn bão, cây bàng vào ngày trở rét, con cua, con cá, giữa cái nóng và cỏ dại
Về ngôn ngữ, thơ Xuân Quỳnh gần gũi với ca dao, dân ca – mộc mạc, giản dị, không cầu kỳ mà rất biểu cảm Bà không chủ trương cách tân hình thức hay ngôn ngữ một cách phá cách như nhiều nhà thơ khác cùng thời Thay vào đó, thơ bà đi vào lòng người bằng sự thân mật, chân thành và trực cảm Nhiều bài thơ sử dụng đại từ “em” quen thuộc – một cách xưng hô vừa truyền thống, vừa gợi cảm giác gần gũi, nữ tính Trong
Tình ca trong lòng vịnh, ta bắt gặp một đoạn tiêu biểu cho lối xưng hô ấy:
Một bên biển một bên anh
Em yêu giây phút chúng mình có nhau Thôi đừng nhắc chuyện xưa sau
Hãy vui với sóng, với tàu, với em
Giọng điệu trong thơ Xuân Quỳnh chủ yếu mang sắc thái giãi bày, bộc bạch, ẩn chứa những day dứt, lo âu và khắc khoải Đó là giọng điệu của một người phụ nữ luôn khao khát được yêu và lo sợ mất mát; một người không ngừng đặt niềm tin vào hạnh phúc nhưng cũng thường trực dự cảm về đổ vỡ Chính giọng điệu ấy tạo ra cảm giác tin cậy
và gần gũi, như thể người đọc đang nghe một người bạn tâm tình, chứ không chỉ là đọc một văn bản nghệ thuật
II Xuân Quỳnh - mối quan hệ giữa đời và thơ trong tương quan với phong cách
1 Thơ Xuân Quỳnh trong những năm tháng chiến tranh
1.1 Viết về chiến tranh với cái nhìn nữ tính
Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước đầy khốc liệt, thơ Xuân Quỳnh mang đậm dấu ấn của thời đại, đồng thời vẫn giữ nguyên bản sắc riêng: cái nhìn nhân
Trang 15văn, sâu lắng và đầy nữ tính Dù hiện thực chiến tranh khắc nghiệt, thơ Xuân Quỳnh không thiên về khắc họa sự tàn phá hay sự bi tráng mà chủ yếu hướng tới vẻ đẹp tâm hồn con người, đặc biệt là tình cảm của người phụ nữ trong bối cảnh chiến tranh Ba
tập thơ tiêu biểu trong giai đoạn này (Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào và Gió Lào cát trắng) đều cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa đời sống riêng tư và hiện thực đất nước,
giữa cái riêng và cái chung trong phong cách thơ của Xuân Quỳnh
Hồn thơ Xuân Quỳnh bắt đầu với những “chồi biếc” đầy trong sáng:
Rồi sẽ có ngày Dưới hàng cây đây
Ta không còn bước
Như người lính gác
Đã hết phiên mình Như lá vàng rụng Cho trời thêm xanh
(Chồi biếc)
Một cô gái đôi mươi mới bước vào đời với một tâm hồn trẻ trung, ngây thơ Con mắt nhìn đời của Xuân Quỳnh lúc này đây vẫn còn vui tươi, trong sáng mà không hề có sự
lo âu, phấp phỏng Bà nói lên “Khát vọng” đời mình:
Chỉ thế thôi ư? Ta còn mơ ước Thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời Những vần thơ cùng du hành vũ trụ Sưởi ấm vừng trăng lạnh niềm vui Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng Biết bay rồi, ta lại muốn bay cao
Lúc là cô gái văn công, bằng một cảm quan đầy nữ tính, bà thường kể về mình, nhớ về
mẹ, ước nguyện được giao cảm với mẹ, trong bài Tiếng mẹ bà viết:
Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời Như một cánh chim bơ vơ mất tổ
Ai biết đâu con bé mồ côi đó