1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tóm tắt hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố hồ chí minh

27 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Nghiện Mua Sắm Của Nữ Giới Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Võ Huệ Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Thị Mai Hương
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 910,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Một số nghiên cứu dưới góc độ Tâm lý học và Y học về các hành vi của con người trong sự thay đổi và phát triển của xã hội ngày nay, đặc biệt là các

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VÕ HUỆ ANH

HÀNH VI NGHIỆN MUA SẮM CỦA NỮ GIỚI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan Thị Mai Hương

Phản biện 1: GS.TS Trần Minh Đức

Phản biện 2: GS.TS Trần Quốc Thành

Phản biện 3: PGS.TS Lã thị Thu Thủy

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Học viện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Vào hồi, giờ ngày tháng năm 2025

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Nguyễn Võ Huệ Anh (2023), Thực trạng hành vi nghiện mua sắm của nữ

giới tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Tâm lý học Việt Nam, Số 12 - 2023,

Trang 165 - 178

2 Nguyễn Võ Huệ Anh (2024), Tổng quan nghiên cứu về hành vi nghiện

mua sắm và mối quan hệ của nó với sức khoẻ tâm thần, Tạp chí Tâm lý học,

Số 4 - 2024, Trang 74 - 84

3 Nguyễn Võ Huệ Anh (2024), Kiểm định độ tin cậy và độ hiệu lực cấu trúc

thang đo nghiện mua sắm của Bergen (BSAS), Tạp chí Tâm lý học, Số 06 -

2024, Trang 88 - 97

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Một số nghiên cứu dưới góc độ Tâm lý học và Y học về các hành vi của con người trong sự thay đổi và phát triển của xã hội ngày nay, đặc biệt là các hành vi có tích chất thôi thúc, cưỡng bức, ám ảnh liên quan đến bài bạc, trò chơi trên mạng, mua sắm,… Trong đó, có nhiều nghiên cứu tranh luận về việc mua hàng có tính chất nghiện (shop addiction) Vấn đề này được khẳng định là có gây hại đến đời sống tâm lý của con người, như không kiểm soát được tài chính và dẫn đến những khủng hoảng khác, mất ngủ, chán ăn; hoặc liên quan đến các giá trị của bản thân như sự mặc cảm, xấu hổ, chán ghét chính mình; hoặc mua sắm có liên quan tới sự cô đơn, buồn chán,… Tương tự với nhiều hành vi có tính chất gây nghiện khác như: nghiện internet, nghiện trò chơi trên mạng, nghiện sử dụng điện thoại thông minh, …, nghiện mua sắm là một vấn đề cần được nghiên cứu vì liên quan đến sức khỏe tâm thần của con người hiện nay Trong thời gian gần đây, các đề tài Tâm lý học về các chứng nghiện hành vi khác đã được triển khai, trong khi “nghiện mua sắm” lại ít và gần như chưa được khai thác tại Việt Nam

Như vậy, nghiên cứu về hành vi mua sắm có tính chất nghiện có thể đóng góp các vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với tâm lý xã hội, tâm lý lâm sàng

để nhận diện tính chất nghiện mua hàng của một cá nhân Ngoài ra, thực trạng

về mức độ cũng như biểu hiện của họ về hành vi mua sắm có tính chất nghiện cũng được nhận diện, vì khi xã hội phát triển và thay đổi (đặc biệt là công nghệ) thì các hành vi mua sắm của con người cũng sẽ có nhiều đặc điểm mới, mang tính thời đại Bên cạnh đó, phụ nữ nói chung luôn là chủ đề nhận được

sự quan tâm vì họ là một thành phần lao động chính của xã hội, có sự ảnh hưởng lớn đến văn hoá – tâm lý gia đình, xã hội Khám phá hành vi nghiện mua sắm trên nữ giới có thể phản ánh một phần đời sống tâm lý của phụ nữ hiện đại, khi việc mua sắm vốn dĩ được xem là thuộc về nữ giới trong gia đình Vì vậy, nghiên cứu cứu về hành vi mua sắm nói chung không chỉ cung cấp những thông tin về mua, tiêu dùng sản phẩm cho lĩnh vực kinh tế mà còn

đề cập và làm rõ các vấn đề về sự khỏe mạnh của con người Trên tinh thần thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đó trên thế giới và trong nước, đề tài

là cơ sở để các nhà khoa học trong lĩnh vực Tâm lý học và các cơ quan, ban ngành chức năng đánh giá được sự khoẻ mạnh nói chung của người dân nói chung và nữ giới nói riêng và từ đó, có những chính sách phù hợp về mặt sức khoẻ, giáo dục, truyền thông và cả kinh tế

Đề tài “Hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh”

là sự thực tiễn hoá cho những đóng góp nói trên và cũng là lý do chủ yếu để tác giả quyết định thực hiện đề tài này

Trang 5

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh và mối liên hệ giữa hành vi đó và các vấn đề sức khỏe tâm thần, luận án đề xuất các biện pháp tâm lý để hỗ trợ và can thiệp hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan nghiên cứu về hành vi nghiện mua sắm và mối liên hệ giữa hành vi nghiện mua sắm đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần

- Xây dựng cơ sở lý luận về hành vi nghiện mua sắm ở nữ giới

- Phân tích thực trạng hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố

Hồ Chí Minh, các biểu hiện của hành vi nghiện mua sắm, mối liên hệ giữa hành vi nghiện mua sắm và các vấn đề sức khoẻ tâm thần, đề xuất biện pháp tâm lý hỗ trợ và can thiệp hành vi này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hành vi nghiện mua sắm và mối liên hệ giữa hành vi nghiện mua sắm với các vấn đề sức khỏe tâm thần của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh

3.3.1 Về nội dung nghiên cứu

 Hành vi nghiện mua sắm trong nghiên cứu này được tiếp cận từ góc

độ xã hội hơn là lâm sàng

 Có nhiều chủ đề nghiên cứu hành vi nghiện mua sắm, nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi tập trung làm rõ đặc điểm của hành vi nghiện mua sắm ở nữ và mối liên liên hệ với hệ quả của nó là các vấn đề SKTT và các đặc điểm nhân khẩu xã hội

 SKTT là thuật ngữ chỉ đa dạng các vấn đề SKTT và sự khỏe mạnh về tâm thần Nghiên cứu này giới hạn lựa chọn các vấn đề lo âu, căng thẳng, trầm cảm, chỉ số hạnh phúc, sức khoẻ tâm thần tổng quát nhằm tìm ra những kết quả cụ thể của nó trong mối liên hệ với hành vi nghiện mua sắm

3.3.2 Về khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát trên những phụ nữ đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, chia thành 5 nhóm lứa tuổi: 20 – 25 tuổi, 25 – 30 tuổi, 30 – 35 tuổi, 35 – 40 tuổi, trên 40 tuổi (giới hạn 50 tuổi); với tình trạng hôn nhân: độc thân – đã từng kết hôn, độc thân – chưa từng kết hôn,

Trang 6

đang sống trong hôn nhân; với hiện đang hoạt động nghề nghiệp trong công

ty, tổ chức thuộc Nhà nước, tư nhân, nước ngoài hay làm việc tự do

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận trong nghiên cứu tâm lý học, đó là: nguyên tắc tiếp cận hoạt động; nguyên tắc về tính hệ thống

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp định tính và định lượng để thực hiện nghiên cứu này, bao gồm 03 nhóm phương pháp: nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn và xử lý số liệu bằng thống kê toán học

- Phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: điểm trung bình, độ lệch chuẩn, các kiểm định thống kê suy luận như t-test, one-way ANOVA, tương quan, hồi quy

5 Đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận, là một trong những đề tài đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về hành vi nghiện mua sắm, thế nên, kết quả nghiên cứu của đề tài bước đầu đóng góp cho sự hình thành mô hình lý thuyết tâm lý học nghiên cứu hành vi nghiện mua sắm, cụ thể là các vấn đề liên quan đến hành vi nghiện mua sắm trên đối tượng nữ giới như các biểu hiện và sự liên hệ của nó với các vấn đề sức khoẻ tâm thần Kết quả nghiên cứu cũng củng cố các tiêu chí đánh giá hành vi nghiện mua sắm và đóng góp cho lý luận khi nghiên cứu trên phụ nữ

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp các thông tin mô tả về thực trạng hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh và nguy cơ mắc các vấn đề SKTT của những người có hành vi nghiện mua sắm Kết quả này đóng góp trực tiếp vào việc phát triển và xây dựng các giải pháp

hỗ trợ và phòng ngừa hành vi nghiện mua sắm cho nữ giới, từ đó, tạo tiền đề thực hành trên các nhóm đối tượng khác nhau

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án tổng quan được các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về hành vi nghiện mua sắm, mối liên hệ giữa hành vi nghiện mua sắm và các vấn đề sức khỏe tâm thần Đó là nền tảng lý luận cho nghiên cứu của đề tài Kết quả nghiên cứu cũng đóng góp thực trạng về hành vi nghiện mua sắm

Trang 7

trên đối tượng cụ thể là nữ giới, cũng như liên quan đến sức khỏe tâm thần của họ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đóng góp kết quả về thực trạng hành vi nghiện mua sắm của

nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là mức độ và biểu hiện của hành

vi nghiện mua sắm Đánh giá về mối liên hệ giữa hành vi nghiện mua sắm và các vấn đề sức khỏe tâm thần của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về một loại “nghiện” trong xã hội hiện đại ngày nay, đặc biệt là sự liên quan của nó với sự khỏe mạnh trong đời sống tâm lý của phụ nữ, như lo âu, căng thẳng, trầm cảm Với đóng góp đó, luận

án bước đầu hình thành cơ sở cho các giải pháp hỗ trợ hoặc can thiệp hành

vi nghiện mua sắm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 4 chương sau:

- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi nghiện mua sắm

- Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi nghiện mua sắm của nữ giới

- Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu về hành vi nghiện mua sắm của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI NGHIỆN MUA SẮM

1.1 Tổng quan nghiên cứu về thực trạng hành vi nghiện mua sắm

1.1.1 Về lịch sử nghiên cứu hành vi nghiện mua sắm ở các khu vực văn hóa - xã hội khác nhau

Về khái niệm, Kraepelin (1915) và Bleuler (1924) đều công nhận NMS (compulsive buying), gọi nó là “oniomania” hoặc “buying mania” và phân loại nó như một ví dụ về phản ứng bốc đồng hoặc “sự điên rồ bốc đồng” Tuy nhiên, giữa năm 1987 và 1992, một số công trình có ảnh hưởng nhất trong việc phát triển nghiên cứu về HVNMS đã mô tả hiện tượng này như một chứng rối loạn tâm thần ảnh hưởng đến một tỷ lệ đáng kể dân số Hoa Kỳ [27],[44],[45],[70],[100] Kết quả này là một trong những nghiên cứu đặt nền móng cho việc hiểu về HVNMS, cung cấp một cái nhìn tổng quan về các khía cạnh chính của hành vi con người

Trong thời gian này, nghiên cứu về HVNMS tập trung vào việc xác định

và hiểu hành vi Hầu hết các nghiên cứu đã xem xét nguyên nhân và hiện tượng học của HVNMS [45],[100] hoặc bệnh tâm thần kèm theo và đặc điểm của người mua bắt buộc/ cưỡng bức [27],[86],[100] Ngoài ra, trong giai đoạn

Trang 8

này, một số công cụ đánh giá [42] và các tiêu chí chẩn đoán [86] đã được phát triển [44],[129] Những nghiên cứu như vậy đã giúp làm nổi bật các khía cạnh khác nhau của HVNMS

Các nghiên cứu về HVNMS chủ yếu tập trung vào các nước phát triển, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Đức và Vương quốc Anh, đầu tiên được thực hiện tại Hoa Kỳ [16],[17],[44] Một số nghiên cứu tại Đức cho thấy sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ NMS trong khoảng thời gian mười năm chuyển giao từ thế

kỷ XX sang thế kỷ XXI Ví dụ, Neuner và cộng sự (2005) báo cáo rằng vào năm 1991, 5,1% dân số phía Tây nước Đức (Tây Đức – tên gọi tại thời điểm đó) và 1% dân số phía Đông nước Đức (Đông Đức – tên gọi tại thời điểm đó)

bị ảnh hưởng bởi NMS [98] Một nghiên cứu tiếp theo được thực hiện vào năm 2001 cho thấy 8% dân số phía Tây và 6,5% dân số phía Đông có thể được phân loại là những người mua NMS Các tác giả cho rằng những thay đổi này là do sự phát triển của một xã hội tiêu dùng thúc đẩy một môi trường mua sắm có tính đền bù và do đó mang tính cưỡng bức, đặc biệt là ở khu vực phía Đông nước Đức Các nghiên cứu tương tự được thực hiện ở Vương quốc Anh đã báo cáo rằng khoảng 10% tổng dân số trưởng thành NMS [38],[98] Black (2007) cũng cho rằng HVNMS có nhiều khả năng xảy ra ở các nước phát triển hơn [16] Faber (2011) lập luận rằng để NMS, điều kiện tiên quyết duy nhất dường như là sự sẵn có của các nguồn lực và hàng hóa cho mọi người tiêu dùng [46]

Gần đây, có nhiều nghiên cứu về HVNMS trực tuyến, như Bighiu (2015) nghiên cứu về HVNMS trực tuyến trên mẫu dân số Romani [14]; Huang, Chen và Sun (2022) tìm hiểu HVNMS trên người Trung Quốc, liên quan đến Covid - 19 [60]; Olsen, Nguyen và Ho (2021) nghiên cứu trong lĩnh vực Marketing trên khách thể là người Việt Nam ở khu vực miền Trung [102]; Maraz và cộng sự (2022) nghiên cứu về HVNMS, liên quan đến mua trực tuyến trong thời gian 6 tháng đầu thực hiện giãn cách xã hội vì dịch bệnh COVID – 19 [84]; Zhao và cộng sự (2019) nghiên cứu về thang đo HVMS trực tuyến ở Trung Quốc [140]; Ko, Roh và Lee (2020) nghiên cứu về HVNMS trực tuyến ở những người dùng internet tại Hàn Quốc [67] Các nghiên cứu về HVNMS trực tuyến mới, phù hợp với thực trạng xã hội và có

xu hướng triển khai nhiều tại các nước phương Đông

Tại Việt Nam, tuy ít đề tài về hành vi tiêu dùng nói chung và hành vi nghiện mua sắm nói riêng trong lĩnh vực Tâm lý học, nhưng chủ đề liên quan (như mua sắm bốc đồng) cũng được triển khai đáng kể ở lĩnh vực Marketing

1.1.2 Về biểu hiện của hành vi nghiện mua sắm

Hầu hết các nghiên cứu, dù là trong lĩnh vực tâm thần học, tâm lý học hay hành vi người tiêu dùng [27],[96],[100],[134] đều báo cáo rằng những người NMS trải qua những thôi thúc lặp đi lặp lại, không thể cưỡng lại và

Trang 9

không thể kiểm soát được để mua hàng hóa [100] Thông thường, những hàng hóa như vậy không bao giờ thực sự được sử dụng mà được để nguyên trong bao gói hàng ban đầu [116] Ngoài ra, các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng những người mua theo kiểu NMS có xu hướng che giấu, tích trữ, trả lại, cho

đi hoặc đơn giản là quên đi những món đồ họ mua [27],[86],[96]

Theo Müller & Mitchell (2011) những người NMS trải qua mối bận tâm thường xuyên với việc mua sắm và mua đến mức họ dành phần lớn nguồn lực của mình cho điều này, bất chấp những hậu quả tiêu cực, bao gồm sự thất vọng, hối hận, tội lỗi, xấu hổ, trầm cảm, lo lắng, nợ nần tài chính và các vấn

đề gia đình,… những nỗ lực kiềm chế hành vi này thường không thành công [96] O’Guinn và Faber (1989) nhấn mạnh rằng các cá nhân NMS mua hàng

để đạt được một mức độ hài lòng nhất định, hơn là vì tiện ích từ các sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua [100] Faber (2011) gợi ý rằng HVNMS khác biệt về chất so với mua hàng “thông thường” ở chỗ nó ít liên quan đến mặt hàng đã mua mà nhiều hơn chính là về nhu cầu nhận được một số cứu trợ ngắn hạn khỏi căng thẳng hoặc cảm giác tiêu cực [46] Tuy nhiên, Workman và Paper (2010) lập luận rằng mặt hàng được mua có xu hướng liên quan đến lòng tự trọng của một cá nhân, ảnh hưởng đến vẻ ngoài của người đó hoặc cách người đó nghĩ

về mình [136] Faber và cộng sự (1987) cho rằng việc mua những mặt hàng này

có thể được sử dụng như một phương tiện để tránh sự cô lập mà người mua có thể phải chịu đựng và đó có thể là một cách để nâng cao lòng tự trọng [45] Tương tự, cho rằng ngoại hình dường như có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người NMS, trong đó những người NMS có thể sử dụng các biện pháp liên quan đến các sản phẩm như: (1) một cách để nâng cao ấn tượng về bản thân hoặc ấn tượng của người khác về họ, (2) một biểu tượng để xác định bản thân, tăng sự tự tin và thể hiện một hình ảnh lý tưởng, và (3) một cách để được chấp thuận hoặc công nhận [62],[126] O’Guinn và Faber (2005) giải thích ngắn gọn rằng việc mua hàng của người mua NMS là đối tượng nhắc nhở và bằng chứng cụ thể về sự hiện diện của một hành vi có vấn đề Các tác giả nói thêm rằng những người mua NMS có thể che giấu việc mua hàng của họ giống như một người nghiện rượu che giấu hoặc vứt bỏ bằng chứng [101]

1.1.3 Về thực trạng hành vi nghiện mua sắm của nữ giới

Nhiều nghiên cứu cho rằng NMS chủ yếu là một “rối loạn của phụ nữ” [27],[100] Trong một nghiên cứu về hành vi NMS ở bệnh nhân trầm cảm, Lejoyeux và cộng sự (1997) phát hiện ra rằng những cá nhân trải qua hành vi mua sắm cưỡng bức thường là phụ nữ hơn nam giới [78] Tương tự, trong nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa HVNMS và chủ nghĩa vật chất, trầm cảm và tính khí, 77,5% mẫu là phụ nữ, trong khi 22,5% là nam giới [95] Có rất nhiều nghiên cứu với tỷ lệ tương tự [57],[59] cũng như các nghiên cứu lấy phụ nữ làm trọng tâm [28],[62],[89] Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể

Trang 10

là do phụ nữ có xu hướng tìm cách điều trị các vấn đề của họ nhiều hơn [100],[136] Những người khác cho rằng đó có thể là đặc điểm của vai trò giới [115] và có lẽ là sự phát triển của văn hóa tiêu dùng Như Glickman (1999) giải thích: Tiêu dùng đã trở thành một hiện tượng giới tính, đặc biệt

là vào cuối thế kỷ XIX [48] Đối với nhiều gia đình, mua sắm là công việc của phụ nữ; đồng thời, thế giới thương mại mới mang đến cho phụ nữ những

cơ hội mới trong thế giới công việc và giải trí

Một khảo sát khác về hiện tượng học về hành vi nghiện mua hàng, sử dụng cả hai phương pháp định tính (quan sát 50 người mua hàng có tính chất nghiện qua các buổi trị liệu và đọc hơn 1000 lá thư chia sẻ của những người nghiện mua hàng) và nghiên cứu định lượng (thông qua các thang đo và bảng hỏi khảo sát trên mẫu 386 người từ 808 địa chỉ) Hai tác giả của nghiên cứu

là O’Guinn và Faber (1989) đã kết luận tỉ lệ những người có hành vi nghiện mua sắm nghiêng hẳn về phía nữ giới (92%) Nghiên cứu của Helga Dittmar (2005) nhằm xác minh các yếu tố giới tính, tuổi và các giá trị chủ nghĩa vật chất để dự báo hành vi nghiện mua sắm Cuối cùng, qua ba nghiên cứu, có thể tóm tắt như sau: 1) tiền bạc không có giá trị dự báo cho hành vi nghiện mua hàng; 2) giới tính chỉ có dự báo ở mức thấp; 3) có tương quan nghịch giữa độ tuổi và hành vi nghiện mua hàng; 4) thái độ đối với các giá trị vật chất chủ nghĩa có giá trị cao và mạnh nhất cho dự báo hành vi nghiện mua hàng Như vậy, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng thang đo

về chủ nghĩa vật chất (Materialism Values Scale, Richins, 2004) và thang đo

về hành vi nghiện mua sắm (Compulsive Buying Scale, D’Astous và cộng

sự, 1990), đề tài xác định chủ nghĩa vật chất là yếu tố dự báo cho hành vi nghiện mua sắm, tìm hiểu sự khác biệt và xác định các yếu tố dự báo qua đánh giá tương quan

1.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi nghiện mua sắm

1.2.1 Các yếu tố nhân khẩu – xã hội

Một số cho rằng những người NMS có xu hướng trẻ hơn những người không NMS [37],[68],[78],[98],[100] Độ tuổi của HVNMS là thanh thiếu niên hoặc đầu độ tuổi 20, nhưng việc thực hiện hành vi không xảy ra cho đến khoảng giữa và cuối độ tuổi 20 [27],[116] Trong khi đó, Christenson và cộng

sự (1994) báo cáo tuổi trung bình là 17,5 tuổi khi bắt đầu, nhưng việc nhận

ra NMS không xảy ra cho đến khi tuổi trung bình là 29,7 tuổi [27] Tương tự, Schlosser và cộng sự (1994) báo cáo tuổi trung bình bắt đầu là 18,7 tuổi và tuổi trung bình nhận thức là 24,9 [116] Tuy nhiên, McElroy và cộng sự (1994) đã tìm thấy tuổi khởi phát NMS ở trung bình muộn hơn nhiều (30 tuổi) [86] Faber (2011) cho rằng NMS không được thể hiện cho đến khi cá nhân đạt được sự độc lập về tài chính [46] Koran và cộng sự (2006) [68] phát hiện ra rằng điểm số cao hơn ở hành vi nghiện mua sắm có tương quan

Trang 11

với thu nhập thấp hơn Ngược lại, O'Guinn và Faber (1989) [100], Scherhorn

và cộng sự (1990) không tìm thấy mối tương quan đáng kể nào giữa NMS và thu nhập [115] Faber (2011) đã tìm thấy, thu nhập ảnh hưởng đến địa điểm mua sắm những gì họ mua, người thu nhập thấp mua hàng tại các cửa hàng tiết kiệm hoặc các cửa hàng giảm giá, trong khi những người có thu nhập rất lớn có nhiều khả năng mua hàng tại các cửa hàng độc quyền hoặc chi tiêu quá mức cho các mặt hàng đắt tiền như ô tô và bất động sản [46] Faber (2011) gợi ý rằng khi nói đến trình độ học vấn, dân tộc và tình trạng hôn nhân, các nhà nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể giữa những đặc điểm này của người tiêu dùng và HVNMS [46] Kyrios và cộng sự (2004) không tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa HVNMS và trình độ học vấn, nhưng những người tham gia của họ cho biết họ đã có trải nghiệm từ 2 đến 3 năm học đại học [74] Koran và cộng sự (2006) [68] nhận thấy rằng chủng tộc/sắc tộc không góp phần tạo ra sự khác biệt về tỷ lệ phổ biến Tuy nhiên, điều quan trọng cần chỉ ra là 75,1% mẫu của họ được báo cáo là người da trắng Cuối cùng, tình trạng hôn nhân có lẽ là yếu tố nhân khẩu học ít được thảo luận nhất trong nghiên cứu về HVNMS Tuy nhiên, một nghiên cứu báo cáo rằng những người mua NMS thường ở tình trạng độc thân [78]

1.2.2 Các vấn đề sức khoẻ tâm thần

Các nghiên cứu về chủ đề này đã phát hiện ra rằng những người NMS đạt điểm ở mức cao về mức độ trầm cảm và lo lắng [27],[101],[115] Các nghiên cứu lâm sàng đưa ra bằng chứng rằng từ 25% đến 50% trong số tất cả những người mua hàng NMS đã bị trầm cảm nặng [86],[116] Các phát hiện cũng chỉ ra rằng những người mua NMS có mức độ tự trọng thấp hơn [100],[115] Rindfleisch và cộng sự (1997) phát hiện ra rằng thanh niên lớn lên trong các gia đình tan vỡ (tức là cha mẹ đã ly hôn hoặc ly thân) có điểm cao về chủ nghĩa vật chất hơn và thể hiện mức độ tiêu dùng cao hơn so với thanh niên được nuôi dưỡng trong các gia đình nguyên vẹn (tức là cha mẹ không ly hôn hoặc ly thân) [110] Scherhorn (1990) lập luận rằng thay vì khen thưởng về mặt tâm lý đối với hành vi phù hợp, cha mẹ của những người NMS có xu hướng sử dụng tiền hoặc quà tặng như phương tiện chính để củng cố hành vi của con cái [115] Từ những trải nghiệm này, các cá nhân có thể trở thành những người NMS vì động cơ nhạy cảm với phần thưởng

Nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này ở Việt Nam xem xét tác động của địa

vị xã hội chủ quan (Subjective Social Status) đối với trầm cảm và hành vi nghiện mua sắm Kết quả cho thấy địa vị xã hội chủ quan không có mối liên

hệ nào với hành vi NMS Việc mua sắm có tính chất nghiện xảy ra ở bất kỳ địa vị xã hội của cá nhân, cho dù thuộc tầng lớp cao, thấp hay trung bình Ngày nay, việc mua sắm thuận tiện và phổ biến, có thể được thực hiện ở bất

kỳ tầng lớp xã hội nào, vậy nên, có lẽ vì thế mà sự so sánh cao - thấp của địa

Trang 12

vị xã hội không còn tác động đến hành vi này nữa Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò trung gian của trầm cảm trên con đường từ địa vị xã hội đến hành vi NMS là rất đáng kể Người có địa vị xã hội thấp hơn có nguy cơ mắc trầm cảm cao hơn và điều này lại làm tăng hành vi NMS của họ Trong khi trầm cảm được kết luận như có tác động trung gian cho mối quan hệ giữa địa vị xã hội và hành vi NMS thì lòng trắc ẩn (Self - Compassion) lại được phát hiện như vai trò điều tiết Khi các cá nhân trải qua triệu chứng trầm cảm, lòng trắc ẩn của họ càng cao thì họ càng có nhiều khả năng thực hiện hành vi NMS Nói tóm lại, trong điều kiện dễ bị tổn thương (trầm cảm), mức độ lòng trắc ẩn cao hơn thực sự có thể khiến các cá nhân tham gia vào các hoạt động có tính chất cưỡng bức và bốc đồng (bao gồm hành vi mua sắm có tính cưỡng bức) Hành vi này có thể được xem như một cơ chế đối phó với hoàn cảnh và nhận thức của cá nhân Như vậy, nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ giữa vấn đề sức khỏe tâm thần (trầm cảm) với hành

vi NMS, đồng thời phát hiện vai trò điều tiết của lòng trắc ẩn với bản thân đối với NMS

1.3 Tổng quan về cách điều trị hành vi nghiện mua sắm

Mặc dù NMS không được đưa vào một cách rõ ràng trong bất kỳ nhóm rối loạn cụ thể nào trong DSM-5, nhưng nó được đề cập cụ thể trong phần nghiện hành vi, bên cạnh chứng nghiện tình dục và nghiện tập thể dục Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang kiểm tra hiệu quả của liệu pháp tâm lý và dược trị liệu trên NMS Cho đến nay, các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng việc

sử dụng liệu pháp tâm lý (cá nhân hoặc nhóm) là hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn những cảm xúc tiêu cực liên quan đến NMS bằng cách đưa cá nhân đến trạng thái thuyên giảm [64],[90],[96] Ví dụ, Kellett và Bolton (2009) đã báo cáo việc điều trị thành công cho một phụ nữ NMS bằng cách sử dụng phương pháp nhận thức – hành vi [64] Liên quan đến các nghiên cứu dược lý, Black (2007) lập luận rằng có những kết quả trái ngược nhau [17] Đó là, một số thử nghiệm lâm sàng về y tế hóa NMS đã được chứng minh là có hiệu quả, trong khi những thử nghiệm khác thì không Ví dụ, Grant (2003) đã kiểm tra hiệu quả của naltrexone (chất đối kháng opioid) nhằm giảm các triệu chứng của NMS [51] Các phát hiện cho thấy rằng việc điều trị bằng thuốc liều cao đã dẫn đến sự thuyên giảm một phần hoặc toàn bộ nhu cầu mua sắm và mua sắm cưỡng bức Theo McElroy, Satlin, Pope, Keck và Hudson (1991) [87], thuốc chống trầm cảm có thể cản trở các triệu chứng của NMS Black và cộng sự (1997) đã thử nghiệm thành công hiệu quả của fluvoxamine (một chất ức chế tái hấp thu serotonin) đối với những người nghiện mua sắm [19] Tuy nhiên, hai nghiên cứu khác kiểm tra hiệu quả của cùng một loại thuốc đã không thành công [15],[99] Müller & Mitchell (2011) cho rằng những phát hiện của các nghiên cứu dược lý nên được giải thích một cách thận trọng do các mẫu nhỏ,

tỷ lệ bỏ dở cao và tỷ lệ đáp ứng với giả dược [96] Các nhà nghiên cứu khác gợi ý

Trang 13

rằng giáo dục người tiêu dùng, sách hướng dẫn và các nhóm hỗ trợ cũng có thể hữu ích [17],[16],[78] Về vấn đề này, cần nghiên cứu để chứng minh tính hiệu quả của các phương pháp điều trị khác nhau đối với NMS, bao gồm cả sự kết hợp của các phương pháp tiếp cận (ví dụ: liệu pháp tâm lý hoạt động như thế nào khi kết hợp với điều trị bằng thuốc)

Tiểu kết chương 1

Các nghiên cứu trước đây thường triển khai bằng cách so sánh đặc điểm giới tính trong HVNMS Vậy nên, tập trung nghiên cứu trên một giới (nam hoặc nữ) có thể sẽ khai thác sâu hơn về đặc điểm HVNMS trên đối tượng này Luận án xác định nữ giới là khách thể nghiên cứu, để tìm hiểu những đặc điểm tâm lý nói chung của họ liên quan đến HVNMS Bên cạnh

đó, các nghiên cứu về hướng điều trị HVNMS còn khá mờ nhạt và chủ yếu triển khai tại phương Tây và Hoa Kỳ, chưa tìm thấy những kết luận điều trị

từ các đề tài thực hiện tại châu Á và Việt Nam Điều này cũng gợi mở hướng nghiên cứu trên vấn đề này cho luận án

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NGHIỆN MUA SẮM

2.1 Cơ sở lý luận về hành vi nghiện mua sắm

2.1.1 Hành vi nghiện

2.1.1.1 Khái niệm hành vi nghiện

Hành vi nghiện hay nghiện hành vi là sự phụ thuộc vào một loại hành vi nào đó không liên quan đến chất dẫn đến việc lặp đi, lặp lại các hành vi đó

mà chủ thể không kiểm soát được

2.1.1.2 Các đặc điểm của hành vi nghiện

Các chứng nghiện trong hành vi như cờ bạc, ăn uống, tivi, internet,… cũng tương tự như nghiện ma tuý, ngoại trừ việc cá nhân không nghiện một chất nào đó Dựa trên quan điểm của Peel và Griffiths (1988), nghiện hành

vi bao gồm các đặc điểm sau: 1) Điểm nổi bật, 2) Điều chỉnh tâm trạng, 3)

Sự chịu đựng, 4) Sự rút lui, 5) Sự xung đột, 6) Sự tái phát, 7) Phát sinh các khó khăn

2.1.2 Hành vi nghiện mua sắm

2.1.2.1 Khái niệm mua sắm

Mua sắm được hiểu là chuỗi hành động thu thập thông tin liên quan đến sản phẩm/ hàng hoá; mua và sử dụng sản phẩm/ hàng hóa đó nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của bản thân trong cuộc sống Ngày nay, có nhiều cách thức để mua sắm như mua sắm trực tiếp và mua sắm trực tuyến, tạo nên sự

đa dạng, phong phú trong hành động mua sắm Bên cạnh đó, mua sắm cũng

Ngày đăng: 25/04/2025, 11:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w