1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam

48 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Cải Thiện Tâm Lý Của Sinh Viên Trường Đại Học Thủy Lợi Khi Học Trực Tuyến Trong Giai Đoạn Dịch Covid-19
Tác giả Lê Văn Quân, Chu Thị Ngọc Bích, Nguyễn Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Thể loại Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm trong sinh viên trường Đại học Thủy lợi Thực trạng biểu hiện stress của sinh viên: Theo kết quả phân tích từ bảng 1 chỉ ra rằng tỷ lệ biểu hiện st

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

Hà Nội, tháng 5 năm 2022

Trang 2

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Bố cục đề tài 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.2 Giới thiệu về các thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và bộ công cụ DASS 21 của Lovibond 7

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 11

2.1 Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm trong sinh viên trường Đại học Thủy lợi 11

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe tâm lý của sinh viên trường Đại học Thủy lợi 24 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO ĐỀ TÀI 30

3.1 Đối với sinh viên 30

3.2 Đối với gia đình 34

3.3 Đối với nhà trường 35

KẾT LUẬN 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự bùng nổ của đại dịch COVID-19 vào cuối tháng 12 năm 2019 đã ảnh hưởng to lớn đến mọi lĩnh vực của xã hội và tác động trực tiếp đến nền giáo dục Tất cả trẻ em và thanh thiếu niên không được đến trường vì Chính phủ đóng cửa trường học trong nỗ lực làm chậm

sự lây lan của COVID-19 Để việc giáo dục không bị gián đoạn và trì trệ, các trường học

đã chuyển đổi, thích nghi với phương thức học mới đó là học trực tuyến (online) hay cách gọi khác là học từ xa Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc chuyển đổi hình thức học tập truyền thống sang học tập trực tuyến đã tạo ra không ít ảnh hưởng đối với sinh viên Một trong những ảnh hưởng to lớn đó là tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên

Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO- World Health

Organization): “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ không có bệnh hay tàn phế” Như vậy, bên cạnh sức khỏe thể chất

sinh viên cũng cần quan tâm, chăm sóc đến sức khỏe tâm lý để phát triển một cách toàn diện Stress, lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp trong cuộc sống Với sinh viên, lứa tuổi có những thay đổi về điều kiện sống, học tập, thay đổi môi trường giao tiếp, môi trường xã hội,… kết hợp với đặc điểm tâm lý như bồng bột, thiếu kinh nghiệm thì nguy cơ bị stress, trầm cảm, lo âu ở nhóm đối tượng này lại càng cao hơn Các vấn đề sức khỏe tâm lý còn ảnh hưởng đến khả năng và kết quả học tập của sinh viên, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của nhà trường, thậm chí nguy hiểm hơn là

có thể dẫn đến sinh viên có các hành vi như tự tử hoặc sử dụng các chất kích thích, chất gây nghiện

Sinh viên trường Đại học Thủy lợi cũng không nằm ngoài nhóm nguy cơ biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm Trường Đại học Thủy lợi là một trong những trường đại học đầu tiên của cả nước được tiếp cận với phương thức quản lý và các phương pháp giảng dạy tiên tiến Sinh viên của trường phải không ngừng học hỏi, chủ động tìm hiểu các kiến thức mới, tìm tòi các giải pháp cho các bài tập, ôn tập nắm vững kiến thức chuẩn bị cho các kỳ thi giữa kỳ và hết môn Với số lượng không nhỏ các sinh viên ngoại tỉnh học tập tại trường, họ phải đối mặt với môi trường tự lập, phải tự quản lý tài chính, sinh hoạt của bản thân, phải

Trang 4

thích nghi với hoàn cảnh sống tập thể Những yếu tố này có thể gây nên áp lực, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và học tập của sinh viên Việc xác định, đánh giá các tình trạng sức khỏe tâm lý như stress, lo âu và trầm cảm hiện nay của sinh viên Thủy lợi là hết sức quan trọng, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp dự phòng cho các tình trạng này là hết sức cần

thiết Vì vậy, nhóm đã tiến hành nghiên cứu: “Giải pháp cải thiện tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khi học trực tuyến trong giai đoạn dịch COVID-19” bằng bộ công cụ

DASS 21 của Lovibond

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến nghiên cứu về Stress, các biện pháp giảm stress và thư giãn [Vũ Thị Hậu, Chân Phương, 2005] Và nghiên cứu của

Đại học Quốc gia TPHCM, hơn 37000 sinh viên tham gia khảo sát nghiên cứu về sự tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần sinh viên thì 65.1% sinh viên được ghi nhận chịu áp lực lớn nhất liên quan đến học tập bằng hình thức trực tuyến Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tâm lý về việc học trực tuyến khá phổ biến, nhưng đặt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 thì vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khi học trực tuyến trong giai đoạn dịch COVID-19 bằng bộ công cụ DASS

21 Trong khi đó, dịch bệnh COVID-19 bùng phát mạnh mẽ và có thể khó kết thúc hoàn toàn trong tương lai Việc học trực tuyến có thể sẽ phải tiếp tục duy trì để bảo đảm công tác phòng chống dịch và duy trì việc dạy học, do vậy cần thiết phải có thêm các nghiên cứu nhằm cải thiện tâm lý và tạo hứng thú cho sinh viên khi học trực tuyến

Để có cái nhìn tổng quan nhất về nghiên cứu tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khi học trực tuyến, nhóm đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát bằng bộ công cụ DASS 21

và phỏng vấn sâu với những vấn đề liên quan đến giải pháp cải thiện tâm lý sinh viên khi học trực tuyến trong giai đoạn dịch COVID-19

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Đề tài thực hiện nhằm khảo sát tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khi học trực tuyến trong giai đoạn dịch COVID-19 bằng bộ công cụ DASS 21

- Mô tả thực trạng tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi

- Xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên

Trang 5

- Đưa ra các giải pháp tâm lý để đảm bảo chất lượng giáo dục khi học trực tuyến trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 với cái nhìn cụ thể, hình thành tư duy chủ động trong việc thích nghi với hoàn cảnh, học tập theo kế hoạch và quản lý một cách hiệu quả

Nhiệm vụ:

- Khảo sát tìm hiểu ý kiến, cảm nhận của sinh viên về vấn đề học trực tuyến trong tình hình dịch bệnh hiện nay

- Sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đánh giá tâm lý sinh viên khi tham gia học trực tuyến

- Tìm hiểu, phân tích, lắng nghe những chia sẻ, góp ý của sinh viên để cải thiện, nâng cao

và tạo hứng thú, giải tỏa tâm lý căng thẳng cho sinh viên

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tâm lí của sinh viên trường Đại học Thủy lợi trong giai đoạn dịch COVID 19

- Khách thể nghiên cứu: 200 sinh viên từ khóa 60 đến khóa 63 của trường Đại học Thủy lợi

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi trường Đại học Thủy lợi

- Phạm vi thời gian: Học trực tuyến diễn ra (Từ ngày 9 tháng 12 năm 2021 đến ngày 10 tháng 5 năm 2022)

6 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm thu thập các thông tin cho đề tài, nhóm nghiên cứu thực hiện các phương pháp sau: Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp lập bảng hỏi Các dữ liệu thu thập từ phương pháp phỏng vấn, lập bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm Excel với phương pháp thống kê mô tả đơn giản Các dữ liệu thu thập từ phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để trình bày tổng quan về chủ đề và sử dụng linh hoạt trong quá trình phân tích đề tài

7 Bố cục đề tài

- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

- Chương 2: Nội dung của đề tài

- Chương 3: Giải pháp cho đề tài

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm stress

Theo tiếng Latinh, “stress” được bắt nguồn từ “strictus” và một phần của từ “stringere” mang ý nghĩa là sự căng thẳng, nghịch cảnh, bất hạnh, đè nén Trong tiếng Anh, “stress” có nghĩa là nhấn mạnh Trong vật lý học, stress là sự sức nén mà vật liệu phải chịu Nhà tâm

lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa,

có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được [01]

Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới những định nghĩa khác nhau Trong nghiên cứu này, định nghĩa về stress trên khía cạnh tâm lý của Richard Lazarus được nhóm nghiên cứu sử dụng để định nghĩa tình trạng stress ở sinh viên

do định nghĩa này phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu

1.1.2 Khái niệm lo âu

Lo âu được miêu tả như một cảm giác khó chịu của nỗi sợ hãi mơ hồ hay còn là lo sợ

đi kèm với những tình trạng vật lý đặc trưng Đây là một phản ứng bình thường đối với những mối de dọa nhận thức được của một người với tâm sinh lý bình thường Trạng thái

lo âu là cảnh báo để bản thân có những giải pháp thích hợp đối phó với những tình huống

căng thẳng [02] Lo âu sẽ là một vấn đề sức khỏe tâm thần (Rối loạn lo âu) khi nó xảy ra

mơ hồ, vô lý, không liên quan đến bất kỳ mối đe dọa nào hay là mức độ lo âu không tương xứng với các mối đe dọa và diễn ra trong thời gian dài Khi đó, lo âu gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ bình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn

lo âu [02]

1.1.3 Khái niệm trầm cảm

Mọi người thỉnh thoảng đều thấy buồn vào một lúc nào đó trong cuộc đời mình Thực

tế, những cảm xúc buồn hay chán nản thoáng qua là hoàn toàn bình thường, đặc biệt là vào những thời điểm khó khăn Nhưng những người không thể thoát ra khỏi những cảm xúc này trong khoảng thời gian hai tuần hoặc hơn thì có thể bị một chứng bệnh gọi là trầm cảm

Trang 7

[03] Trầm cảm (depression) là một rối loạn khí sắc thường găp ̣ trong các rối loạn tâm thần Trầm cảm dùng để mô tả một hội chứng bệnh tâm lý được đặc trưng bởi khí sắc trầm hay còn gọi là cảm xúc buồn bã cùng với một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động trong cuộc sống như công việc, học tập, gia đình và xã hội [03]

1.1.4 Khái niệm học trực tuyến

Học trực tuyến hay còn gọi là E-learning (Electronic learning) là một khái niệm mới được mọi người chú ý hiện nay Có khá nhiều định nghĩa về học trực tuyến Để hiểu rõ hơn

về học trực tuyến, dưới đây là một số định nghĩa về nó: Giáo dục trực tuyến (hay còn gọi

là e-learning) là phương thức học ảo thông qua một thiết bị nối mạng đối với một máy chủ

ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/ yêu cầu/

ra đề cho sinh viên học trực tuyến từ xa [04, tr.67] Dạy học trực tuyến là hoạt động dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo giáo viên và sinh

viên tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học [05,tr.66]

“E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông “(Compare Infobase Inc) [06,tr.65] “ E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lí sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục” (MASIE Center) [06,tr.65] Theo PGS.TS Lê Huy Hoàng “Học trực tuyến là một loại hình đào tạo chính qui hay không chính qui hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một

cách thuận lợi thông qua công nghệ thông tin và truyền thống” [07, tr.67]

1.2 Giới thiệu về các thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và bộ công cụ DASS 21 của

Trang 8

thang đánh giá trầm cảm và lo âu (AKUADS), thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 21 và DASS 42)…

DASS-42 (Depression Anxiety and Stress Scales) là thang đánh giá được phát triển bởi Lovibond S.H và Livibond P.F vào năm 1995, tại khoa tâm lí học thuộc Đại học New South Wales, Australia DASS là một bộ ba thang điểm tự báo cáo được thiết kế để đo lường các trạng thái cảm xúc tiêu cực của trầm cảm, lo lắng và căng thẳng DASS được xây dựng không chỉ đơn thuần là một bộ thang đo khác để đo lường các trạng thái cảm xúc được xác định theo quy ước, mà còn để tiếp tục quá trình xác định, hiểu và đo lường các trạng thái cảm xúc phổ biến và có ý nghĩa lâm sàng thường được mô tả là trầm cảm, lo lắng và căng thẳng Do đó, DASS phải đáp ứng các yêu cầu của cả nhà nghiên cứu và nhà khoa học

- bác sĩ lâm sàng Mỗi thang trong số ba thang đo DASS chứa 14 mục, được chia thành các thang phụ gồm 2-5 mục có nội dung tương tự nhau Thang điểm trầm cảm đánh giá chứng phiền muộn, tuyệt vọng, mất giá trị cuộc sống, tự ti, thiếu quan tâm Thang điểm lo lắng đánh giá mức độ kích thích tự chủ, ảnh hưởng đến cơ xương, tình trạng lo lắng và trải nghiệm chủ quan về ảnh hưởng lo lắng Thang điểm stress nhạy cảm với các mức độ kích thích mãn tính không cụ thể Nó đánh giá tình trạng khó thư giãn, kích thích thần kinh và

dễ buồn bực, kích động, cáu kỉnh, phản ứng quá mức và thiếu kiên nhẫn Đối tượng được yêu cầu sử dụng thang đo tần suất, mức độ nghiêm trọng 4 điểm để đánh giá mức độ mà họ

đã trải qua từng trạng thái Điểm số cho trầm cảm, lo lắng và căng thẳng được tính bằng cách tổng điểm cho các mục liên quan

Ngoài bảng câu hỏi 42 mục cơ bản, một phiên bản ngắn, DASS 21, có sẵn với 7 mục

cho mỗi thang điểm [06] Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khoẻ Tâm thần Quốc gia

biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau Thang đo DASS 21

đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thể áp dụng

tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hoá [10]

1.2.1 Mức độ stress của sinh viên thông qua bộ công cụ DASS 21

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2008, nghiên cứu của Nuran Bayram và cộng sự thực hiện trên

1617 sinh viên với thang đo DASS 42, cho kết quả 27% sinh viên bị stress ở mức độ vừa,

nặng và rất nặng [16] Ở Malaysia, nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm

2013 trên 506 sinh viên tuổi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley,

Trang 9

Malaysia Dựa vào thang đo DASS 21, tác giả đã cho thấy thực trạng stress ở sinh viên

Malaysia như sau 18,6% sinh viên bị stress ở mức vừa, 5,1% ở mức nặng và rất nặng [17]

Tại Việt Nam, nghiên cứu về mức độ và biểu hiện stress ở sinh viên trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 102 sinh viên tham gia nghiên cứu trong đó có 46.3% sinh viên có mức độ stress nhẹ, 9.7% sinh viên có mức độ stress cao và 3% sinh viên có mức độ

1.2.2 Mức độ lo âu của sinh viên thông qua bộ công cụ DASS 21

Rối loạn lo âu là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần mắc nhiều nhất ở sinh viên

với khoảng 11,9% sinh viên mắc rối loạn lo âu [18] Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nghiên cứu của Nuran

Bayram và cộng sự thực hiện trên 1617 sinh viên với thang đo DASS 42, cho kết quả 47,1%

sinh viên bị lo âu từ mức độ vừa đến rất nặng [16] Ở Malaysia, nghiên cứu của Khadijah

Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh viên tuổi từ 18-24 thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley, Malaysia đã cho thấy thực trạng lo âu ở sinh viên Malaysia như

sau 34% sinh viên bị lo âu ở mức vừa, 29% ở mức nặng và rất nặng [17] Tại Việt Nam,

một nhóm tác giả đánh giá mức độ lo âu của 134 sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng

Nai bằng công cụ DASS 21 cho thấy 29.8% sinh viên biểu hiện lo âu [12]

Như vậy, qua các nghiên cứu trên, DASS là công cụ chủ yếu dùng đo lường mức độ lo

âu của sinh viên Với thang đo DASS, chúng ta thấy tỷ lệ lo âu ở sinh viên dựa vào đó có thể thấy được thực trạng và đưa ra những phương pháp cải thiện

1.2.3 Mức độ trầm cảm của sinh viên thông qua bộ công cụ DASS 21

Nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011 thực hiện điều tra trên 252 sinh viên Thông qua thang đo DASS 42, tác giả đã cho thấy mức độ trầm cảm nặng ở sinh viên là 2% và

mức độ trầm cảm rất nặng là 5% (toàn bộ là nữ sinh viên) [13] Một nghiên cứu khác của

tác giả này về rối nhiễu tâm lý trên sinh viên năm 1 và năm 3 cũng chỉ ra mức độ trầm cảm của sinh viên như sau: Mức bình thường là 25%, mức nhẹ đến vừa lần lượt là 20% và 32%, mức nặng là 15% và rất nặng là 10% Nghiên cứu của Phan Thị Diệu Ngọc năm 2014 trên

Trang 10

395 sinh viên năm thứ nhất và hai tại Đại học Y khoa Vinh đã cho thấy thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên nhẹ là 31,2%, vừa 29,8%, và nặng là 4,3%

Như vậy, kết quả các nghiên cứu ở Việt Nam với thang đo chủ yếu là DASS 21 đã cho thấy tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên Các kết quả của các nghiên cứu trên như rung lên hồi chuông báo động về tình trạng sức khỏe tâm thần đặc biệt là stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên Việt Nam Sinh viên trường Đại học Thủy lợi cũng nằm trong nhóm nguy

cơ đó

Trang 11

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm trong sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Thực trạng biểu hiện stress của sinh viên: Theo kết quả phân tích từ bảng 1 chỉ ra rằng

tỷ lệ biểu hiện stress ở sinh viên trường Đại học Thủy lợi là 39.7%, nghĩa là cứ khoảng 10 sinh viên tham gia nghiên cứu thì có khoảng 4 sinh viên có dấu hiệu stress Mức độ các dấu hiệu stress nhẹ, vừa và rất nặng xuất hiện ở lần lượt 5.2%, 15.3% và 19.2% sinh viên tham gia nghiên cứu Tỷ lệ này theo nhóm nghiên cứu đánh giá là khá cao Ở các yếu tố, các phương diện nghiên cứu khác nhau: độ tuổi, khu vực sinh sống,…biểu hiện stress có sự thay đổi giữa các đối tượng tham gia đánh giá Điều này cho thấy rằng, sức khỏe tâm lý của sinh viên, đặc biệt là các tình trạng biểu hiện stress cần có được sự quan tâm hơn nữa của

gia đình, nhà trường và chính bản thân sinh viên

Thực trạng biểu hiện lo âu ở sinh viên: Theo kết quả nghiên cứu trên 200 sinh viên

trường Đại học Thủy lợi cho thấy tỷ lệ biểu biện lo âu 3.9%, và tỷ lệ sinh viên biểu hiện lo

âu ở mức độ nhẹ Kết quả này thấp hơn so với kết quả của thực trạng stress Mặc dù tỷ lệ

có dấu hiệu lo âu thấp nhưng cũng đáng lo ngại Điều này cho thấy lo âu là vấn đề sức khỏe

tâm lý cần được quan tâm và cần có các biện pháp hỗ trợ cho sinh viên trong vấn đề này Thực trạng biểu hiện trầm cảm ở sinh viên: Kết quả nghiên cứu cho thấy 17% sinh

viên có dấu hiệu trầm cảm, nghĩa là cứ trong 10 sinh viên thì có khoảng 2 sinh viên có dấu hiệu trầm cảm Tỷ lệ sinh viên biểu hiện trầm cảm ở các mức độ lo âu nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 14%, 5%, 4%, 11% Từ những con số đó cho thấy một phần nào đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe tâm thần mà trầm cảm có thể mang lại, việc có các biện pháp hỗ trợ, can thiệp về vấn đề trầm cảm ở sinh trong trường là hết sức cần thiết

Bảng 1 Số liệu về thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Trang 12

Thực trạng tâm lý sinh viên cụ thể là stress, trầm cảm, lo âu có thể chia theo các cấp độ cá

nhân, gia đình, nhà trường và xã hội

2.1.1 Yếu tố cá nhân

Về độ tuổi: Sinh viên khóa 63 có nguy cơ stress, lo âu và trầm cảm cao hơn nhóm sinh

viên khóa 62, khóa 61, khóa 60 Điều này có thể là do các sinh viên năm đầu phải đối mặt với nhiều sự kiện căng thẳng hơn các sinh viên các khóa trên, chẳng hạn như bị áp lực chưa quen với phương pháp học đại học, kinh tế, lối sống và xa gia đình Điều đó ảnh hưởng to lớn đến sức khỏe tâm lý và gia tăng tình trạng stress, trầm cảm, lo âu

Bảng 1 Bảng số liệu khảo sát về sức khỏe tâm lý liên quan đến yếu tố độ tuổi (khóa học) của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi

(50 sinh viên)

Sinh viên bình thường về tâm lý 17 34.0 Sinh viên gặp các vấn đề tâm lý 33 66.0 K61

(58 sinh viên)

Sinh viên bình thường về tâm lý 20 34.5 Sinh viên gặp các vấn đề tâm lý 38 65.5

Trang 13

K60

(39 sinh viên)

Sinh viên bình thường vè tâm lý 15 37.5 Sinh viên gặp các vấn đề tâm lý 24 62.5

Biểu đồ 2 1: Biểu đồ tổng quan về tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên trường Đại học

Thủy lợi khóa 63

Biểu đồ 2 2: Biểu đồ tổng quan về tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khóa 62

Biểu đồ 2 3:Biểu đồ tổng quan về tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên trường Đại học

Thủy lợi khóa 61

Biểu đồ 2 4: Biểu đồ tổng quan về tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi khóa 60

Nhận xét: Biểu đồ 2.1, biểu đồ 2.2, biểu đồ 2.3 và biểu đồ 2.4 cho thấy sinh viên khóa 63

có số lượng sinh viên tham gia 51 sinh viên Trong đó, tỉ lệ sinh viên có sức khỏe tâm lý bình thường chiếm 53,8%, sinh viên gặp vấn đề về tâm lý chiếm 46,2% Sinh viên khóa 62

có số lượng sinh viên tham gia là 50 sinh viên Trong đó, tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề về tâm

lý chiếm tỉ lệ cao hơn là 66%, tỉ lệ sinh viên sức khỏe tâm lý bình thường là 34% Sinh viên khóa 61 có số lượng sinh viên tham gia là 58 sinh viên Tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề tâm lý là 65,5% nhiều hơn tỉ lệ sinh viên sức khỏe tâm lý bình thường là 34,5% Sinh viên khóa 60

có số lượng sinh viên tham gia là 39 sinh viên Số lượng sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý là 62,5%, số lượng sinh viên sức khỏe tâm lý bình thường chiếm tỉ lệ thấp hơn là 37,5%

Trang 14

Về giới tính: Theo nhiều kết quả từ những cuộc nghiên cứu đã chỉ ra sinh viên nữ thường

có khả năng phát triển các dấu hiệu của stress, lo âu cao hơn nam sinh Trong khi đó, nữ

sinh thường có khả năng xuất hiện các dấu hiệu của trầm cảm thấp hơn nam sinh [14] Và theo kết quả nghiên cứu qua thang đánh giá DASS 21 của sinh viên trường Đại học Thủy lợi đã chỉ rõ ra giới tính ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý

Bảng 2 Bảng số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý sinh viên liên quan tới yếu tố giới tính Giới tính Tổng số

(sinh viên)

Số sinh viên bình thường về tâm lý

Số sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý

Nhận xét: Từ bảng 3, có thể thấy số lượng sinh viên nữ tham gia và sinh viên nam

tham gia là như nhau (100 sinh viên nữ và 100 sinh viên nam) Tỉ lệ sinh viên nữ có sức khỏe tâm lý bình thường là 37,0% và gặp vấn đề về sức khỏe là 63.0% Tỉ lệ sinh viên nam

có sức khỏe tâm lý bình thường là 42% và có vấn đề về sức khỏe tâm lý chiếm 58,0%

Về Khu vực sinh sống và nơi ở hiện tại: Những sinh viên sinh sống ở nông thôn thường

có nguy cơ xuất hiện các dấu hiệu của stress, lo âu và trầm cảm cao hơn những sinh viên sống ở thành thị Những sinh viên ở trọ thường có khả năng xuất hiện các dấu hiệu của stress, lo âu và trầm cảm cao hơn các sinh viên ở ký túc xá, hoặc ở cùng gia đình Việc ở trong ký túc hay ở cùng gia đình tạo điều kiện cho sinh viên dễ dàng duy trì các nếp sống, thói quen sinh hoạt đều đặn, lành mạnh Điều này sẽ góp phần giúp sinh viên có được một sức khỏe tinh thần đầy đủ, giảm bớt nguy cơ xuất hiện các dấu hiệu của stress, lo âu và trầm

Trang 15

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên sống ở thành phố/thị xã/ thị trấn trường Đại học Thủy lợi

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên sống ở nông

thôn trường Đại học Thủy lợi

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên sống ở miền núi/ miền biển trường Đại học Thủy lợi Nhận xét: Bảng 4 cho thấy thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố sinh sống và nơi

ở hiện tại của sinh viên trường Đại học Thủy lợi Với 200 mẫu khách thể nghiên cứu là sinh viên trường Đại học Thủy lợi Trong đó, số sinh viên tham gia nghiên cứu sinh sống tại nông thôn (112 sinh viên), tỉ lệ sinh viên có vấn đề về sức khỏe tâm lý chiếm đa số 72,9%

Số lượng sinh viên sinh sống tại khu vực miền núi/ miền biển (9 sinh viên), tỉ lệ sinh viên

có vấn đề về sức khỏe là 66,7% và tỉ lệ sinh viên có sức khỏe tâm lý bình thường là 33,3%

Số lượng sinh viên sinh sống tại khu vực thành thị / thị xã / thị trấn (79 sinh viên), tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý chiếm tỉ lệ lớn hơn 62% và tỉ lệ sinh viên có sức khỏe

tâm lý bình thường chiếm 38%

Về thói quen sinh hoạt: Những thói quen tốt và chưa tốt trong sinh hoạt sinh viên

Thủy lợi như: thói quen tập thể dục, thói quen hút thuốc,…cũng đã ảnh hưởng rẩt lớn đến sức khỏe tâm thần của sinh viên Điều này được thể hiện ở bảng 5 dưới đây

Trang 16

Bảng 4 Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố thói quen sinh hoạt của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi

Thói quen sinh hoạt Tổng số

(sinh viên)

Số sinh viên bình thường về tâm lý

Biểu đồ 5.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên không thường

xuyên tập thể dục

Biểu đồ 5.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không thường xuyên tập thể dục

Biểu đồ 5.1 Biểu đồ thể hiện sức khỏe tâm

lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi sử dụng

thuốc lá

Biểu đồ 5.2 Biểu đồ thể hiện sức khỏe tâm

lý sinh viên trường Đại học Thủy lợi không

sử dụng thuốc lá Nhận xét: Bảng 5 cung cấp thông tin thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố thói

quen sinh hoạt của sinh viên trường Đại học Thủy lợi Với 109 sinh viên trong tổng số 200 sinh viên có thói quen thường xuyên tập thể dục, tỉ lệ sinh viên không gặp vấn đề về sức

Trang 17

khỏe tâm lý chiếm tỉ lệ cao hơn 62% và tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe về tâm lý chiếm 38% Trong 91 sinh viên không tập thể dục thường xuyên, tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề

về sức khỏe tâm lý chiếm tỉ lệ rất cao 76,5% và tỉ lệ sinh viên có sức khỏe bình thường chiếm tỉ lệ thấp hơn là 23,5% Trong tổng số 200 mẫu khách thể nghiên cứu có 78 sinh viên

có thói quen hút thuốc lá, tỉ lệ sinh viên hút thuốc lá gặp các vấn đề về tâm lý chiếm tỉ lệ rất lớn là 77,3% và sức khỏe tâm lý bình thường là 27,7% Với 122 sinh viên không hút

thuốc lá, tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường là 50,4% và gặp vấn đề về sức khỏe là 49,6%

Về tình trạng tài chính: Việc trải qua các khó khăn về tài chính đã làm tăng nguy cơ

mắc các bệnh về sức khỏe tâm lý đăc biệt là stress, lo âu và trầm cảm Bởi vì ngoài vấn đề

học tập, nghiên cứu sinh viên Thủy lợi phải đối mặt với gánh nặng về đồng tiền mưu sinh trang trải cuộc sống, học phí, sinh hoạt phí từ đó nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tăng gấp vài lần so với sinh viên không gặp khó khăn

Bảng 5 Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố tình trạng tài chính của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Tình trạng tài chính Tổng số

(Sinh viên)

Số sinh viên bình thường về tâm lý

Biểu đồ 6.1 Biểu đồ thể hiện sức khỏe tâm lý

sinh viên khó khăn về tài chính

Biểu đồ 6.1 Biểu đồ thể hiện sức khỏe tâm lý sinh viên đủ về tài chính

Nhận xét: Về yếu tố tài chính đối với sức khỏe tâm lý sinh viên khó khăn về tài chính

qua bảng 6, có thể thấy 151 sinh viên có khó khăn về tài chính tỉ lệ gặp sức khỏe về tinh

Trang 18

thần chiếm tới 60,6% và tỉ lệ sinh viên có sức khỏe tâm lý bình thường là 39,4% Trong đó

49 sinh viên không có khó khăn về tài chính thì tỉ lệ sức khỏe bình thường chiếm đa số 80%

và tỉ lệ gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần chiếm tỉ lệ thấp hơn là 20%

Về áp lực học tập: Áp lực học tập là một vấn đề phổ biến mà sinh viên đại học luôn gặp

phải Trong xã hội đang không ngừng phát triển, Xã hội đang không ngừng phát triển, một mặt yêu cầu cập nhập kiến thức mới, bổ sung theo từng ngày, mặt khác môi trường cạnh tranh ngày càng tăng do cơ hội kiếm được việc làm tốt ngày càng ít nên sinh viên đại học thường xuyên phải đối mặt với tình trạng quá tải trong học tập Vì vậy sinh viên phải phấn đấu không ngừng để đạt được thành tích xuất sắc, làm hài lòng cha mẹ, tạo tiền đề cho các công việc tương lai Bên cạnh đó, họ phải tự trang bị cho bản thân những kỹ năng phục vụ cho nghề nghiệp tương lai Tất cả điều này có thể làm gia tăng mức độ stress, lo âu và trầm

cảm ở sinh viên

Bảng 7 Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố áp lực học tập của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Biểu đồ 7.1 Biểu đồ thể hiện tình hình sức

khỏe tâm lý sinh viên có biểu hiện áp lực

học tập

Biểu đồ 7.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không có biểu hiện

áp lực học tập Nhận xét: Qua bảng 10, có thể thấy số lượng sinh viên có áp lực học tập là 146 sinh

viên và tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường 26,5%, tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe là

Áp lực học tập Số lượng (sinh viên) Tỷ lệ (%)

Trang 19

73,5% Trong đó, 54 sinh viên không có áp lực về học tập có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình

thường là 73,8% và gặp vấn đề về sức khỏe là 26,2%

Về lập kế hoạch học tập: Việc lập kế hoạch học tập thường mang lại tính chủ động từ

sinh viên trong việc học và chuẩn bị thi cử Bên cạnh đó, lập kế hoạch giúp hỗ trợ sinh viên trong việc sắp xếp công việc, thời gian làm việc học tập một cách khoa học hợp lý, mang lại hiệu quả công việc tối ưu Điều này sẽ mang lại sự tự tin cho sinh viên, làm giảm nguy

cơ stress, lo âu và trầm cảm ở họ

Bảng 8 Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố lập kế hoạch học tập của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Lập kế hoạch học tập Số lượng (sinh viên) Tỷ lệ (%)

Biểu đồ 8.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên không lập kế

hoạch học tập

Biểu đồ 8.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không lập kế hoạch học tập

Nhận xét: Sinh viên lập kế hoạch học tập (91 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình

thường là 59,2% và gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý là 40,8% Sinh viên không lập kế hoạch học tập (109 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường là 22,6% và gặp vấn đề về sức khỏe chiếm tỉ lệ cao 77,4%

Về mức độ hài lòng với ngành học: Khi một sinh viên không cảm thấy thích ngành mà mình đang học, hứng thú, động lực của họ trong học tập sẽ luôn ở mức thấp Ở Việt Nam, ngành học của con cái thường được chọn bởi bố mẹ Việc bị bắt buộc phải học ngành không

mình không thích sẽ dẫn đến tác động tâm lý trái chiều, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện các vấn đề stress, lo âu và trầm cảm trong sinh viên

Trang 20

Bảng 9 Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố hài lòng với ngành học của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Biểu đồ 9.1 Biểu đồ thể hiện tình hình sức

khỏe tâm lý sinh viên hài lòng với ngành

học hiện tại

Biểu đồ 9.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không hài lòng với ngành học hiện tại

Nhận xét: Qua bảng 12, sinh viên hài lòng với ngành học hiện tại (154 sinh viên) có tỉ

lệ sức khỏe tâm lý bình thường là 41,5% và tỉ lệ gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý là 58,5% Sinh viên không hài lòng với ngành học hiện tại (46 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường là 30,8% và tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý chiếm tới 69,2%

2.1.2 Yếu tố gia đình

Về thu nhập của gia đình: Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay mức độ ảnh

hưởng của thu nhập, tình trạng kinh tế đến sức khỏe tinh thần đang dần tăng lên Những sinh viên sống trong gia đình nghèo thường phải trưởng thành sớm, phải lo nghĩ, quán xuyến nhiều hơn đến công việc của gia đình, chi tiêu và sinh hoạt hàng ngày của gia đình Ngược lại, sinh viên sống trong gia đình khá giả ít phải lo nghĩ đến bữa ăn, cái mặc, chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày của gia đình Điều này dẫn đến những sinh viên nghèo, khó khăn thường có nguy cơ xuất hiện các dấu hiệu về tâm lý cao hơn sinh ở những gia đình khá giả Nhóm nguyên nhân về gia đình là nhóm nguyên nhân đứng đầu trọng gây nên stress ở sinh

viên theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thụ (2009)

Bảng 10 Số liệu thực trạng sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố thu nhập gia đình của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Hài lòng với ngành học Số lượng (sinh viên) Tỷ lệ (%)

Trang 21

Thu nhập của

gia đình

Tổng số (sinh viên)

Số sinh viên bình thường về tâm lý

Số sinh viên gặp vấn đề về

tâm lý

Biểu đồ 10.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên có tài chính bình

quân dưới 2 triệu

Biểu đồ 10.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên có tài chính bình quân trên 2 triệu

Nhận xét: Bảng 7 cung cấp thông tin về thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới mức

thu nhập gia đình Trong tổng số 110 gia đình sinh viên có mức thu nhập bình quân dưới 2 triệu, tỉ lệ sinh viên gặp vấn đề tâm lý là rất cao chiếm 81,3% và sinh viên có sức khỏe tâm

lý bình thường là 18,8% Gia đình sinh viên có mức thu nhập trên 2 triệu (90 sinh viên) có

tỉ lệ gặp vấn đề về tâm lý tương đối thấp chiếm 34.7% và tỉ lệ sinh viên bình thường về mặt

tâm lý tương đối cao chiếm 65.3%

Về mối quan hệ với gia đình: Sự gắn kết chia sẻ, quan tâm và động viên của bố mẹ là

hết sức quan trọng đối với việc phát triển nhân cách và tâm lý nhất là trong giai đoạn sinh viên Trong giai đoạn này sẽ đối mặt với nhiều vấn đề, khó khăn mới xuất hiện trong cuộc sống Việc có được sự chia sẻ, hỗ trợ và những lời khuyên bổ ích của gia đình là một trong yếu tố then chốt trong bảo vệ sức khỏe tâm lý cho sinh viên, giảm khả năng xuất hiện của

Trang 22

Không

(88)

Biểu đồ 11.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên thường xuyên

chia sẻ với gia đình

Biểu đồ 11.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không thường xuyên chia sẻ với gia đình

Nhận xét: Sinh viên thường xuyên chia sẻ với gia đình có tỉ lệ sức khỏe bình thường

là 43,2% và gặp vấn đề về sức khỏe là 56,8% Sinh viên không thường xuyên chia sẻ với gia đình có tỉ lệ gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý chiếm tỉ lệ cao hơn 64,6% so với tỉ lệ sinh viên có sức khỏe tâm lý bình thường 35,4%

2.2.4 Yếu tố xã hội

Về mối quan hệ với bạn bè: Việc có mối quan hệ tốt với bạn bè được nhiều nghiên cứu

chứng minh là yếu tố bảo vệ cho sức khỏe tinh thần của sinh viên trước stress, lo âu và trầm

cảm

Bảng 12 Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố mối quan hệ bạn thân của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Bạn thân và các mối quan hệ bạn bè Số lượng (Sinh viên) Tỷ lệ (%)

Hay xảy ra mâu thuẫn với bạn bè (112

sinh viên)

Sức khỏe bình thường 33 29.1 Stress, lo âu, trầm cảm 79 70.9

Ít xảy ra mâu thuẫn với bạn bè

(88 sinh viên)

Sức khỏe bình thường 46 52.0 Stress, lo âu, trầm cảm 42 48.0

Trang 23

Biểu đồ 12.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên thường xuyên xảy

ra mâu thuẫn với bạn bè

Biểu đồ 12.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với bạn bè

Nhận xét: Sinh viên hay xảy ra mẫu thuẫn với bạn bè (112 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe

tâm lý bình thường thấp 29,1% và gặp vấn đề về sức khỏe chiếm tỉ lệ cao là 70,9% Sinh viên không thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với bạn bè (88 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm

lý bình thường là 52,0% và gặp vấn đề về vấn đề sức khỏe tâm lý là 48,0%

Về hoạt động ngoại khóa: Các hoạt động ngoại khóa như là một phần tự nhiên và thiết

yếu của cuộc sống đại học, là những hoạt động được nhiều sinh viên ưa thích Các hoạt động ngoại khóa được định nghĩa là các hoạt động mang tính học thuật và không mang tính học thuật ngoài lớp học được tách biệt khỏi chương trình giảng dạy Những hoạt động này không có ảnh hưởng đến điểm số và chúng đều dựa trên cơ sở tự nguyện Các hoạt động

sau đây có thể được phân loại là các hoạt động ngoại khóa: tham gia các câu lạc bộ và tham

dự các hoạt động nghệ thuật, thể thao và âm nhạc Việc thực hiện các hoạt động theo sở thích góp phần giúp sinh viên giảm bớt căng thẳng đồng thời các hoạt động ngoại khóa cũng là cơ hội để sinh viên trao đổi chia sẻ với bạn bè, hạn chế các dấu hiệu lo âu và trầm

cảm

Bảng 13 Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố hoạt động ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Hoạt động ngoại khóa Số lượng (Sinh viên) Tỷ lệ (%)

Trang 24

Biểu đồ 13.1 Biểu đồ thể hiện tình hình

sức khỏe tâm lý sinh viên thường xuyên

tham gia các hoạt động mang tính tập thể

Biểu đồ 13.2 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khỏe tâm lý sinh viên không thường xuyên tham gia các hoạt động mang tính tập thể Nhận xét: Từ bảng 14, có thể thấy sinh viên thường xuyên tham gia các hoạt động

mang tính tổng thể (111 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường là 59,1% và gặp các vấn đề về sức khỏe là 40,9% Sinh viên không thường xuyên tham gia các hoạt động mang tính tổng thể (89 sinh viên) có tỉ lệ sức khỏe tâm lý bình thường rất thấp 19,4% và sinh viên gặp các vấn đề về sức khỏe tâm lý là 85,1%

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe tâm lý của sinh viên trường Đại học Thủy lợi

Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của sinh viên trường Đại học Thủy lợi theo kết quả khảo sát và kết quả của những cuộc phỏng vấn trực tuyến nhóm nghiên cứu đã thấy có hai nhóm nguyên nhân chính như sau:

2.2.1 Yếu tố khách quan

Môi trường học tập: Để có một buổi học hiệu quả yếu tố môi trường học có vai trò

vô cùng quan trọng vì trong quá trình học tập môi trường luôn tồn tại xung quanh chúng và gây ra tác động lớn tới tâm lý, cảm xúc của người tham gia học Quá trình học tập bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như khả năng tập trung hoặc tác động từ môi trường bên ngoài Qua khảo sát đa số sinh viên Thủy lợi đều cảm thấy môi trường học tập ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, tiêu biểu là câu trả lời của sinh viên N.V.D năm thứ nhất thuộc khoa Công nghệ thông tin cho biết “Theo mình, môi trường học tập ảnh hưởng rất lớn đến buổi học của mình, nhà mình thì rất ồn điều đó khiến mình cảm thấy rất bực bội và đau đầu Mình mong dịch bệnh nhanh hết để mình có thể tìm được nơi học tập yên tĩnh chẳng hạn như thư viện” Việc tìm kiếm một môi trường yên tĩnh để tập trung vào học tập mà không bị quấy rầy bởi

những lời bàn tán giúp sinh viên có một tâm lý tốt hơn, giúp học tập tốt hơn

Ngày đăng: 23/04/2025, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12]. Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Bích Tuyền, Các yếu tố ảnh hưởng đến Stress, Lo âu, Trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 18, NO. 10, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến Stress, Lo âu, Trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Thị Bích Tuyền
Nhà XB: TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Năm: 2020
[13]. Lê Minh Thuận (2011), "Sức khỏe tâm lý của sinh viên: Nghiên cứu cắt ngang", Tạp chí Y học thực hành, 774(7), tr. 72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe tâm lý của sinh viên: Nghiên cứu cắt ngang
Tác giả: Lê Minh Thuận
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2011
[14]. Nguyễn Hữu Thụ (2009), "Nguyên nhân stress của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội", Tạp chí Tâm lý học, 3(120) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân stress của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hữu Thụ
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 2009
[15]. Dương Thị Kim Oanh: Một số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập – Tạp chí khoa học đại học sư phạm TP.HCM số 48 – năm 2013.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hướng tiếp cận trong nghiên cứu động cơ học tập
Tác giả: Dương Thị Kim Oanh
Nhà XB: Tạp chí khoa học đại học sư phạm TP.HCM
Năm: 2013
[16]. Bayram, Nuran and Bilgel, Nazan (2008), "The prevelance and socio – demographic correlations of depression, anxiety and stress among a group of university students", Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology, 43(8), pp. 667-672 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevelance and socio – demographic correlations of depression, anxiety and stress among a group of university students
Tác giả: Nuran Bayram, Nazan Bilgel
Nhà XB: Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology
Năm: 2008
[17]. Shamsuddin, Khadijah, et al. (2013), "Correlates of depression, anxiety and stress among Malaysian university students", Asian Journal of Psychiatry, 6(4), pp. 318-323 [18]. Blanco, C., et al. (2008), "Mental health of college students and their noncollege- attending peers: Results from the National Epidemiologic Study on Alcohol and Related Conditions", Arch Gen Psychiatry, 65(12), pp. 1429-1437 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Số liệu về thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 1. Số liệu về thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 11)
Bảng 1.  Bảng số liệu khảo sát về sức khỏe tâm lý liên quan đến yếu tố  độ tuổi (khóa  học) của sinh  viên Trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 1. Bảng số liệu khảo sát về sức khỏe tâm lý liên quan đến yếu tố độ tuổi (khóa học) của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi (Trang 12)
Bảng 4. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố thói quen sinh hoạt của  sinh viên Trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 4. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố thói quen sinh hoạt của sinh viên Trường Đại học Thủy lợi (Trang 16)
Bảng 5. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố tình trạng tài chính của  sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 5. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố tình trạng tài chính của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 17)
Bảng 8. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố lập kế hoạch học tập của  sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 8. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố lập kế hoạch học tập của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 19)
Bảng 9. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố hài lòng với  ngành học của sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 9. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố hài lòng với ngành học của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 20)
Bảng 11. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố mối quan hệ gia đình  của sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 11. Số liệu thực trạng sức khỏe tâm thần liên quan tới yếu tố mối quan hệ gia đình của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 21)
Bảng 12. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố mối quan hệ  bạn thân của sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 12. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố mối quan hệ bạn thân của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 22)
Bảng 13. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố hoạt động  ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Thủy lợi - Phát triển hệ thống webgis tích hợp mạng nơ ron mờ Để dự báo các chỉ số thời tiết tại việt nam
Bảng 13. Số liệu thực trạng và biểu đồ sức khỏe tâm lý liên quan tới yếu tố hoạt động ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Thủy lợi (Trang 23)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w