1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo nghiên cứu văn học trung Đại việt nam hiện tượng song ngữ trong văn học trung Đại việt nam

28 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam
Tác giả Trần Phương Loan
Trường học Trường THPT Chuyên Võ Nguyên Giáp
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Lý
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 356,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tác giả văn học trung đại Việt Nam, trong đó có nhiều tên tuổi lớn sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm như: Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát,

Trang 1

TRƯỜNG THPT CHUYÊN VÕ NGUYÊN GIÁP

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 GIỚI THIỆU KHÁI NIỆM HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ 4

1.1.1 Khái niệm song ngữ 4

1.1.2 Hiện tựợng song ngữ trong văn học 4

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 6

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm văn học trung đại Việt Nam đề cập tới hiện tựợng song ngữ 6

1.2.2 Nghiên cứu các tác giả sáng tác bằng song ngữ 7

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 9

2.1 CƠ SỞ LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG - VĂN HOÁ - VĂN HỌC CỦA HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ 9

2.1.1 Tiền đề lịch sử - xã hội 10

2.1.2 Tiền đề văn hóa, tư tưởng 11

2.1.3 Tiền đề văn học 13

2.2 ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 13

2.2.1 Tính chất đa thành phần của hiện tượng song ngữ 14

2.2.2 Biểu hiện của hiện tượng song ngữ 16

2.3 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 16

2.3.1 Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV 16

2.3.2 Giai đoạn văn học từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII 17

2.3.3 Giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 17

Chương 3: LOẠI HÌNH TÁC GIẢ SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 19

3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC GIẢ SONG NGỮ TIÊU BIỂU TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 19

3.2.1 Nguyễn Trãi 19

3.2.2 Nguyễn Khuyến 20

3.2.3 Nguyễn Du 22

KẾT LUẬN 27

Trang 3

1.2 Nghiên cứu hiện tượng song ngữ là nghiên cứu một trong những đặc điểm lớn của văn học trung đại Việt Nam Từ hiện tượng song ngữ có thể hiểu sâu hơn bản chất, quy luật phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại từ quan điểm văn học, quan điểm thẩm mĩ đến ngôn ngữ nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật…

1.3 Nhiều tác giả văn học trung đại Việt Nam, trong đó có nhiều tên tuổi lớn sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm như: Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến… Qua hiện tượng song ngữ có thể hiểu sâu sắc hơn về các tác giả, tác phẩm cùng vị trí và đóng góp của họ đối với nền văn học nước nhà

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài “Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam” đi

theo một trong những hướng nghiên cứu phổ biến hiện nay, hướng nghiên cứu liên ngành Luận án được thực hiện với mục đích là nghiên cứu về hiện tượng song ngữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Mặt khác, thông qua hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam làm phong phú thêm những hiểu biết nhất định về mối quan hệ giữa hiện tượng song ngữ với lực lượng sáng tác, thể loại cũng như ngôn ngữ trong văn học trung đại Việt Nam và hiện tượng song ngữ ở một số nước khu vực

Trang 4

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:

- Giới thuyết khái niệm song ngữ và hiện tượng song ngữ trong văn học,

làm rõ nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ này và xem đó là công cụ then chốt trong quá trình khảo sát và nghiên cứu;

- Vận dụng các khái niệm, thuật ngữ song ngữ, song thể ngữ và hiện tượng song ngữ vào nghiên cứu quá trình phát triển của lịch sử văn học trung đại

Việt Nam, những đặc điểm, đặc trưng của văn học liên quan tới hiện tượng song ngữ;

- Nghiên cứu cơ sở lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng hình thành nên hiện tượng song ngữ cùng những đặc điểm, biểu hiện

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của luận án là lịch sử hình thành và phát triển của thành phần văn học chữ Hán và thành phần văn học chữ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam

từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX

Đối tượng nghiên cứu cụ thể hơn của đề tài luận án là:

- Tác giả của hiện tượng song ngữ

- Tác phẩm, thể loại của hiện tượng song ngữ

- Ngôn ngữ của hiện tượng song ngữ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi tư liệu

Các tác phẩm chữ Hán đã được dịch, những tác phẩm chữ Nôm đã được

phiên âm của các tác giả viết bằng song ngữ tiêu biểu trong văn học Việt Nam

như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến và Nguyễn Du Ngoài ra, nhiều sáng tác ở

các thể loại cả văn học chức năng và văn học nghệ thuật cũng được khảo sát

và nghiên cứu để làm rõ thêm bản chất của hiện tượng song ngữ

3.2.2 Phạm vi khoa học

Phạm vi khoa học của đề tài luận án bao gồm: Cơ sở lí thuyết của hiện

tượng song ngữ; đặc điểm, bản chất; diễn tiến của hiện tượng song ngữ trong văn

học trung đại Việt Nam Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam

trong bối cảnh văn học khu vực; các tác giả tiêu biểu sáng tác bằng song ngữ

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu văn học sử

Phương pháp nghiên cứu văn học sử định hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu của luận án là lịch sử văn học trung đại Việt Nam, phân tích các yếu tố lịch

sử và sự ảnh hưởng của nó đến việc hình thành, vận động và phát triển của hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam theo thời gian lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu so sánh văn học

Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại là việc sử dụng hai ngôn

ngữ Hán và Việt trong sáng tác Bằng phương pháp so sánh, chúng ta có

thể thấy những đặc điểm riêng biệt của từng thành phần văn học Hán và

Nôm, trên cơ sở đó tìm ra những sự ảnh hưởng, giao thoa hai ngôn ngữ

trong sáng tác của các tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,

Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến

4.3 Phương pháp loại hình

Nghiên cứu theo phương pháp loại hình không đơn giản liệt kê, miêu tả

sự tương đồng, giống nhau bề ngoài của các hiện tượng văn học Điều

quan trọng hơn nhiều là phải tìm ra được tính quy luật của sự tương đồng,

giống nhau ấy

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ

SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ

1.1.1 Khái niệm song ngữ

Song ngữ (bilingual) là hiện tượng xã hội khá phổ biến nhất là ở thời trung đại Khái niệm này được đề cập đến trong khá nhiều tài liệu, tôi xin đưa

ra cách định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học tiêu biểu ở một số tài liệu thông dụng trong Ngôn ngữ học

Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, song ngữ là ―hiện

tượng sử dụng ngang nhau hai ngôn ngữ trong giao tiếp‖ [122, tr 848]

Hoàng Quốc trong luận án tiến sĩ về Ngôn ngữ học cho rằng: ―Khái niệm song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện tượng một người có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp‖ [126, tr.16]

Trên đây là những định nghĩa về hiện tượng song ngữ ở cấp độ khái quát nhất, hay còn gọi là hiện tượng song ngữ xã hội Song ngữ trong văn học

là một thành phần của xã hội – ngôn ngữ học – lĩnh vực nghiên cứu sự tác động của hiện tượng song ngữ đến văn hóa – xã hội và việc bảo tồn bản sắc dân tộc Việc cung cấp các định nghĩa ở cấp độ chung như trên sẽ mang đến cái nhìn rộng trước khi đi vào một khái niệm hẹp hơn

1.1.2 Hiện tượng song ngữ trong văn học

Theo nghĩa hẹp, hiện tượng song ngữ là hiện tượng trong một nền văn học tồn tại hai (hoặc nhiều) thành phần được viết bằng những văn tự khác nhau Theo cách định nghĩa này, các tác giả đã chú trọng vào văn tự - yếu tố quan trọng nhất tạo nên hiện tượng song ngữ văn học Tuy nhiên văn tự chỉ là một thành phần của ngôn ngữ nên khi nghiên cứu, chúng tôi đặt ra yêu cầu cần đi sâu hơn vào nội hàm khái niệm này

Theo nghĩa rộng, Trần Đình Sử cho rằng tính chất song ngữ không chỉ thể hiện ở hai thành phần văn học Hán và Nôm tách biệt mà còn là ―sự xâm nhập, pha trộn của văn Hán và Nôm‖ [135, tr.135] Nghĩa là, ngay cả trong một tác phẩm cụ thể được viết bằng chữ Hán hoặc Nôm cũng đã tồn tại hiện tượng song ngữ

Trang 7

Tựu trung lại, tôi cho rằng hiện tượng song ngữ trong văn học, được hiểu

là hiện tượng văn học sử dụng hai loại văn tự và có sự kết hợp các yếu tố thuộc

về văn hóa, văn học, ngôn ngữ nảy sinh trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai quốc gia Trong thời kì trung đại, sự tiếp xúc tiếng Hán và tiếng Việt tạo nên hiện tượng song ngữ trong văn học với hai văn tự tương ứng là chữ Hán

và chữ Nôm

Như vậy, có thể hiểu hiện tượng song ngữ trong văn học là hiện tượng một nền văn học đồng thời được sáng tác bằng hai ngôn ngữ - ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ tiếp thu từ nước ngoài, từ tộc người khác Với văn học trung đại Việt Nam, hiện tượng song ngữ thể hiện ở nền văn học cùng một lúc được sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm

1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI

về hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam Dưới đây, tôi xin điểm qua những công trình đáng chú ý có đề cập tới hiện tượng song ngữ

1 Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu khi nhận

xét về thành phần văn học viết bằng chữ Hán nhận định: Phần phong phú nhất trong Hán văn là tản văn, biền văn và thứ nhất là vận văn (thơ, phú) Trong các thơ văn ấy, những bài hay không phải là hiếm, nhưng thường hay về từ chương

mà kém phần tư tưởng

2 Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam

chỉ ra những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam với hai thành phần văn học Một thành phần văn học viết bằng chữ Hán – một ngôn ngữ vay mượn của nước ngoài và thành phần sáng tác bằng tiếng bản địa – tiếng Việt Ông viết: Hai thứ tiếng và hai thành phần văn học đáp ứng hai nhu cầu của đời sống

xã hội: Khi bàn đến chính sự, lý tưởng, lịch sử, luân lý, thơ phú người ta biểu đạt bằng chữ Hán; khi biểu đạt những cảm xúc hàng ngày, các hiện tượng đời sống, người ta dùng tiếng Nôm, chữ Nôm Ông nhận xét: tiếng Hán được tiếp thu chủ yếu qua thư tịch, kinh sử, văn chương cũng không đủ để diễn đạt các

Trang 8

trạng thái đời sống hàng ngày Do đó việc phát triển tiếng Việt, chữ Nôm, văn học Nôm là một điều tất yếu Từ đó, ông khẳng định: ―Tính chất song ngữ không chỉ thể hiện ở hai dòng văn học Hán và Nôm tách biệt, mà còn thể hiện

ở sự xâm nhập pha trộn của văn Hán và Nôm Có tác phẩm lời văn vừa Hán vừa Nôm Có tác phẩm Nôm xen câu đối Hán, có tác phẩm nhan đề là Hán mà tác phẩm lại là Nôm

Có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam từ Dương Quảng Hàm, Nguyễn Lộc, Đinh Gia Khánh, Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu, Bùi Duy Tân, Lã Nhâm Thìn,….đều khẳng định sự tồn tại của dòng văn học viết bằng ngôn ngữ vay mượn là chữ Hán và một dòng văn học khác viết bằng ngôn ngữ dân tộc (tiếng Việt/chữ Nôm) trong văn học trung đại Việt Nam hay nói cách khác là gián tiếp hoặc trực tiếp thừa nhận sự tồn tại của hiện tượng song ngữ trong văn học viết từ thế kỷ X đến hết thể kỷ XIX ở nước ta

1.2.2 Nghiên cứu các tác giả sáng tác bằng song ngữ

Văn học trung đại Việt Nam có không ít tác giả sáng tác bằng cả hai loại ngôn ngữ Hán và Nôm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… Có nhiều công trình nghiên cứu về các tác gia này và có đề cập tới hiện tượng song ngữ

1.2.3.1 Về tác gia Nguyễn Trãi

1 Trong Giáo trình Văn học Việt Nam (thế kỉ X-nửa đầu thế kỉ XVIII), Đinh Gia Khánh đã gián tiếp khẳng định Nguyễn Trãi là tác gia sáng

tác bằng song ngữ tiêu biểu khi ông khảo cứu song song hai thành phần sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm của Ức Trai tiên sinh Nhà nghiên cứu này còn nhấn mạnh: trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tính dân tộc đã thể hiện rất rõ

ở chỗ phản ánh thiên nhiên của đất nước ta và cuộc sống của ông cha ta Với thơ Nôm, ông đã có thể phản ánh một cách cụ thể và sinh động hơn thiên nhiên

ấy, cuộc sống ấy

2 Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (tập 1) của Nguyễn Đăng

Na (chủ biên), Lã Nhâm Thìn khẳng định Nguyễn Trãi là một tác gia song ngữ tiêu biểu: Nguyễn Trãi là tác giả xuất sắc trên nhiều loại hình văn học, xuất sắc

cả trong sáng tác chữ Hán và sáng tác chữ Nôm Ông là tác giả để lại khối lượng tác phẩm lớn với nhiều tác phẩm có giá trị‖ [113, tr.108]

Trang 9

Nôm của ông có cả lục bát và song thất lục bát

2 Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong ngôn ngữ Truyện Kiều” của Nguyễn Thúy Hồng (Luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSPHN, 1995

đã phân tích đặc điểm, tính chất, ý nghĩa và vị trí của hai thành phần từ ngữ

trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều Tác giả cũng tiến hành so sánh sự

giống và khác nhau trong phong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du với các tác giả truyện thơ Nôm trung đại Trong luận án chúng tôi chú ý đến chương

IV về ―Vai trò của hai thành phần từ ngữ Việt và Hán Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều

1.2.3.3 Về tác gia Nguyễn Khuyến

1 Tảo Trang đã gián tiếp khẳng định Nguyễn Khuyến là tác giả có sáng tác bằng song ngữ trong bài viết Học giả cho rằng cách dùng sáng tác song hành Việt – Hán hoặc Hán – Việt nhà thơ đã tự cho mình một phương tiện đầy đủ hiệu lực để biểu hiện ý nghĩa tâm hồn mình qua hai thứ tiếng, đảm bảo kết quả hoàn chỉnh hơn Trước đó, nhà nghiên cứu đã phân tích một số tác phẩm là những bài thơ liên kết của Nguyễn Khuyến qua hai dạng Hán và Nôm rất sâu sắc

2 Nguyễn Lộc thì trực tiếp khẳng định Nguyễn Khuyến là tác giả

song ngữ Cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX có

nhận xét về Nguyễn Khuyến: Nguyễn Khuyến còn để lại khoảng ba trăm bài

thơ chữ Hán và chữ Nôm, trong Quế Sơn thi tập, có bài tác giả làm bằng chữ

Hán rồi dịch ra tiếng Việt, hoặc ngược lại, có bài ông làm bằng tiếng Việt rồi dịch ra chữ Hán

Trang 10

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

2.1 CƠ SỞ LỊCH SỬ - XÃ HỘI TƯ TƯỞNG - VĂN HOÁ - VĂN HỌC CỦA HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ

2.1.1 Tiền đề lịch sử - xã hội

Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam cũng hình thành trong những điều kiện lịch sử - xã hội mà văn học trung đại Việt Nam hình thành, vận động, biến đổi và phát triển

Cuối thế kỷ thứ X, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, nước ta bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài, sau một nghìn năm chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc Công cuộc phục hưng đất nước được các triều kế tiếp Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần tiến hành với một tinh thần vừa khẩn trương, vừa bền bỉ

Tuy đã có quốc gia độc lập về chính trị nhưng mọi thiết chế Nhà nước vẫn ít hoặc nhiều phỏng theo nhà nước phong kiến phương Bắc

Do đó, về văn hoá thì Hán học rất được coi trọng Như vậy, nền văn học viết ra đời khi Việt Nam chưa có chữ viết riêng nên đã dùng chữ Hán để sáng tác, dẫn đến hiện tượng sử dụng ngôn ngữ vay mượn từ nước ngoài

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã biết dựa vào sức mạnh của nhân dân để bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi, xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa Giai đoạn này ghi dấu sự phát triển của ý thức dân tộc, khẳng định

sự độc lập của Đại Việt với phong kiến phương Bắc không chỉ trên phương diện chủ quyền, cương vực lãnh thổ mà còn độc lập trên phương diện văn hóa và phong tục tập quán Việc sử dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học cũng nằm trong quá trình đó Văn học viết bằng chữ Nôm, tức là sử dụng ngôn ngữ dân tộc, có lẽ ra đời sau văn học chữ Hán gần

ba thế kỷ, có thể vào khoảng thế kỉ thứ XIII Đến thế kỷ XIV, văn học chữ Nôm đã trở thành một thành phần đáng kể trong văn học trung đại Việt Nam Cho đến thế kỷ XV, văn học chữ Nôm dần dần trở thành một thành phần quan trọng của văn học Việt Nam với những tên tuổi như

Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông và các tác giả thời

Trang 11

Hồng Đức với Hồng Đức quốc âm thi tập Từ đó, hình thành một hiện

tượng vừa thú vị nhưng cũng là đặc trưng của văn học Việt Nam thời trung đại – hiện tượng song ngữ, vừa sử dụng ngôn ngữ vay mượn là chữ Hán vừa sử dụng ngôn ngữ dân tộc là chữ Nôm vào sáng tác văn học

2.1.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng

Hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam hình thành trong sự tồn tại đan xen của văn hoá dân tộc và văn hoá Nho giáo

Trong quá trình truyền bá và ảnh hưởng vào đời sống chính trị xã hội nước ta, Nho giáo đã được dân tộc hóa nhiều và những quan điểm

về văn chương của Nho giáo cũng vì thế mà bị khúc xạ, hấp thụ những

nội dung dân tộc Những tác phẩm như Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô) của Lý Công Uẩn, Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo và văn chương từ lệnh của Nguyễn Trãi

đã phản ánh ý thức về quốc gia, về dân tộc của nhân dân Việt, đạo lí của dân tộc Việt

Từ những quan niệm, quan điểm văn hóa dân tộc ta thấy văn học

trung đại Việt Nam tồn tại hai thành phần văn học song song với nhau Thành phần văn học viết bằng chữ Hán thiên về những vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, những nội dung về chở đạo, nói chí Cùng với đó

là thành phần văn học viết bằng chữ Nôm sáng tác chủ yếu để mua vui, giải trí với những nội dung bình thường, thông tục về con người, về cuộc sống hàng ngày

Về quan điểm thẩm mĩ, người trung đại thường quan niệm cái đẹp

thiên về cái tao nhã, cao cả Cùng với đó là quan niệm cái đẹp là của thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn cho cái đẹp Bởi thế cho nên trong văn học trung đại luôn đầy ắp phong, hoa, tuyết, nguyệt, sơn thủy hữu tình

Văn chương trung đại rất chú ý đến sự hài hòa Từ quan niệm cái riêng trong cái chung, không coi trọng cá tính, hướng tới sự hài hòa, người trung đại cũng hướng tới những đối xứng, song hành trong nghệ

Trang 12

thuật để hướng tới cái đẹp Nghệ thuật đối, sóng đôi, hay nghệ thuật tứ bình là tiêu biểu cho quan niệm đó

Nhìn chung, những quan điểm, quan niệm thẩm mĩ thời trung đại ảnh hưởng văn hóa Hán và có tác động nhiều đến thành phần văn chương viết bằng chữ Hán hơn thành phần vặn học viết bằng tiếng Việt – chữ Nôm

ít người Việt ta giỏi chữ Hán như Trương Trọng, Lí Cầm, Lí Tiến, Khương Công Phụ

Từ sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 938 của Ngô Quyền, Việt Nam chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc hàng ngàn năm, bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự chủ Nhà nước đã lấy chữ Hán văn ngôn làm ngôn ngữ chính thức trong giao tiếp hành chính, giáo dục, thi cử và đặc biệt là trong sáng tác văn chương Văn chương viết bằng chữ Hán thời

Lí – Trần chủ yếu là sáng tác của các nhà sư, vua, quan, tầng lớp quý tộc

và các nhà nho

Từ thế kỷ XV trở về sau, xã hội phong kiến Vệt Nam tôn sùng Nho giáo Tuy nhiên, cả ba học thuyết tư tưởng – tôn giáo là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo vẫn luôn ảnh hưởng tới đời sống tư tưởng, đời sống văn hóa nhất là trong văn chương

Trang 13

Quá trình hình thành, phát triển của chữ Nôm và sự xuất hiện của văn học viết bằng chữ Nôm

Văn học viết Việt Nam ra đời trong thời kỳ phong kiến tự chủ Những tác phẩm được biết đến đầu tiên của văn học viết lại viết bằng ngôn ngữ vay mượn nước ngoài (tiếng Hán và chữ Hán)

Đến thời nhà Trần thì chữ Nôm được sử dụng để sáng tác văn học Việc sử dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học có ý nghĩa rất lớn, nó không chỉ thể hiện ý thức và niềm tự hào của dân tộc lên cao mà còn khẳng định sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc trong việc thể hiện các giá trị tinh thần của người Việt trong đó có văn học viết bằng chữ Nôm Đây cũng là điều kiện cần thiết để hình thành hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại Việt Nam Do đó, nghiên cứu sự hình thành, vận động biến đổi và phát triển của hiện tượng song ngữ không thể không nghiên cứu quá trình hình thành, vận động biến đổi và phát triển của chữ Nôm trong lịch sử tiếng Việt

Những điểm tương đồng giữa chữ Hán và chữ Nôm có ảnh hưởng tới hiện tượng song ngữ

Những sự tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Hán về tiếng đơn

âm, tính tuyến tính và thanh điệu cũng như cách đọc Hán Việt trong tiếng Việt là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành hiện tượng sáng tác bằng song ngữ dưới góc độ ngôn ngữ trong văn học trung đại Việt Nam Các thể loại thơ Đường luật và phú phát triển mạnh cả về chữ Hán

và chữ Nôm là các thể loại văn học được dân tộc hóa từ thể loại tiếp thu

từ Trung Quốc

Tiền đề thể loại

Việc lựa chọn chữ Hán văn ngôn làm ngôn ngữ chính thức trong giao tiếp hành chính, giáo dục, thi cử và sáng tác nghệ thuật dẫn đến việc chúng ta tiếp thu các thể loại văn học của người Trung Hoa Trong các thể loại tiếp thu đó có các thể loại văn sử dụng trong giao tiếp hành chính như hịch, cáo, chiếu, biểu, sử kí, sớ, tấu,…; các thể loại văn chương nghệ thuật như thơ, phú, từ, truyện,…

2.2 ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ TRONG VĂN HỌC

Trang 14

TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

2.2.1 Tính chất đa thành phần của hiện tượng song ngữ

Thành phần văn học chữ Hán

Sáng tạo ra chữ viết là một trong những sáng tạo vĩ đại nhất của loài người Chữ Hán được ra đời từ một trong những cái nôi văn minh nhân loại, là một trong ba loại chữ viết độc lập Chữ Hán là thành tựu của chế độ phong kiến Trung Quốc của dân tộc Trung Hoa, được du nhập vào Việt Nam theo con đường xâm lược Người Việt học tiếng Hán

từ thời Bắc thuộc, và đến thời độc lập thì đã nắm vững và sử dụng trong nhiều lĩnh vực xã hội

Các triều đại phong kiến Việt Nam đã lựa chọn chữ Hán là chữ viết chính thức của quốc gia Chữ Hán được dùng trong thi cử, lựa chọn người tài giúp nước Với lịch sử phát triển hàng mười thế kỷ, thành phần văn học chữ Hán có thành tựu rất lớn cả về số lượng và chất lượng như

Nam quốc sơn hà (chưa rõ tác giả); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu); Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi); Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ),…

Thành phần văn học chữ Nôm

Từ lúc xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII về đời nhà Trần, văn học viết bằng chữ Nôm đã có một sức lan tỏa lớn, thu hút được đông đảo đội ngũ sáng tác

Sự ra đời của Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã đánh dấu sự

trưởng thành của văn học Nôm, kể từ đây văn học nước nhà tồn tại song song hai thành phần văn học: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm

Sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, văn học Nôm xuất hiện nhiều tác giả với nhiều tác phẩm có giá trị lần lượt xuất hiện: đầu tiên là Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức; Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm; thơ Nôm của

Bà huyện Thanh Quan và Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương; sự xuất hiện của một loạt truyện thơ Nôm; truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu, cuối cùng là thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương đã khép lại lịch sử sáu thế kỷ phát triển của văn học Nôm thời trung đại

Ngày đăng: 21/04/2025, 20:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w