1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội kltn

71 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Định Danh Di Tích Lịch Sử Ở Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 879,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (3)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (4)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (5)
    • 3.1. Mục đích nghiên cứu (6)
    • 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (6)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (6)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (6)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (6)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu (6)
    • 5.1. Các phương pháp (6)
      • 5.1.1. Phương pháp miêu tả (6)
      • 5.1.2. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa (7)
    • 5.2. Thủ pháp thống kê, phân loại (7)
  • 6. Cấu trúc khóa luận (7)
  • Chương 1: Cơ sở lý luận (8)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài (8)
      • 1.1.1. Khái niệm về “định danh” và “tổ hợp định danh” (8)
      • 1.1.2. Các phương thức định danh (9)
      • 1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của định danh (11)
      • 1.1.4. Một số đặc điểm về ngôn ngữ học tri nhận (13)
    • 1.2. Về di tích lịch sử (16)
      • 1.2.1. Khái niệm về di tích lịch sử (16)
      • 1.2.2. Phân loại di tích lịch sử (17)
  • Chương 2: Mô tả đặc điểm định danh di tích lịch sử Hà Nội (19)
    • 2.1. Đặc điểm cấu tạo tên gọi di tích lịch sử Hà Nội (19)
      • 2.1.1. Mô hình định danh đơn (19)
      • 2.1.2. Định danh phức (38)
    • 2.2. Phương thức định danh (44)
      • 2.2.1. Định danh theo phương thức ẩn dụ (46)
      • 2.2.2. Định danh theo phương thức hoán dụ (48)
      • 2.2.3. Định danh kết hợp cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ (56)
  • KẾT LUẬN (58)

Nội dung

Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng của con người. Tuy nhiên đây vẫn là một vấn đề phức tạp mà chúng ta khó có thể nắm bắt hết. Vì vậy nghiên cứu ngôn ngữ đặc biệt là nghiên cứu ngôn ngữ ở góc độ định danh hiện nay đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và chú ý. Ngày nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề định danh tên gọi các sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày. Thủ đô Hà Nội được mệnh danh là “mảnh đất nghìn năm văn hiến”, là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử qua hệ thống di tích đa dạng và phong phú. Những di tích lịch sử nơi đây mang dấu ấn thăng trầm của cả một thời đại, là chứng tích lịch sử trong dòng chảy của quá trình đấu tranh, dựng nước và giữ nước, là biểu trưng của sự sáng tạo về khát vọng sống, lao động và chiến đấu của người dân thủ đô. Tìm hiểu định danh tên gọi các di tích lịch sử từ góc độ ngôn ngữ là quá trình tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, quá trình tư duy của người bản ngữ về các di tích lịch sử. Nó không những góp phần nhận diện những yếu tố văn hóa – lịch sử đã tác động đến tư duy ngôn ngữ của người dân bản địa mà còn mang đến cách tiếp cận mới mẻ và toàn diện, đồng thời góp phần cụ thể hóa về đặc điểm, cấu trúc, cách thức định danh của các di tích lịch sử Hà Nội, mở rộng ra là các di tích lịch sử ở các địa điểm khác. Từ các lí do trên, khóa luận đã chọn đề tài “Đặc điểm định danh các di tích lịch sử ở Hà Nội” là đối tượng nghiện cứu với mong muốn hiểu sâu hơn về các định danh của những di tích lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ khẳng định cơ sở vững chắc của lí thuyết định danh và cung cấp thêm những lí thuyết khoa học chứng minh tư duy – ngôn ngữ - văn hóa có mối liên hệ mật thiết.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề định danh trên thế giới

Việc nghiên cứu định danh trong những năm gần đây được nhiều nhà nghiên cứu cả trong nước và trên thế giới quan tâm và tìm hiểu.

Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về lý thuyết định danh, nổi bật là tác phẩm "Chủng tộc, văn hóa và ngôn ngữ" của Boas, cùng với các nghiên cứu khác liên quan đến mã hóa văn hóa.

Minh Xuân đã phát hành bộ sách gồm 9 cuốn, bao gồm “Lý thuyết định danh”, “Địa danh học”, “Đặt tên thương hiệu sản phẩm”, “Nghệ thuật đặt tên”, “Nghiên cứu phân loại định danh”, và “Định danh quân sự” Những cuốn sách này mang đến kiến thức sâu sắc về các khía cạnh khác nhau của việc định danh và đặt tên trong nhiều lĩnh vực.

“Tu từ học trong đặt tên người”[16], “Mỹ học trong đặt tên nghệ thuật”[12],…

Nghiên cứu "Các phổ quát về nghĩa" của Stephen Ullmann đề cập đến các phương thức định danh, trong khi đó, Whorf và Carroll đã đóng góp vào việc khám phá mối quan hệ giữa nhận thức, ngôn ngữ và thực tế.

Các công trình nghiên cứu đã tạo ra nền tảng vững chắc cho các nhà nghiên cứu định danh tại Việt Nam, giúp họ có cơ hội học hỏi và phát triển từ các nghiên cứu quốc tế, từ đó thúc đẩy việc nghiên cứu chuyên sâu hơn trong lĩnh vực này.

Lịch sử nghiên cứu về định danh ở Việt Nam cho thấy sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu đối với lý thuyết này Trong các tác phẩm như “Cơ sở ngữ nghĩa học – từ vựng” và “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, giáo sư Đỗ Hữu Châu đã nêu rõ quan niệm về định danh và vai trò của nó trong tư duy và giao tiếp của người Việt Ông đã phân tích chi tiết các phương thức chuyển nghĩa hoán dụ và so sánh với các ngôn ngữ khác, mặc dù tác giả chỉ tập trung vào định danh ở cấp độ từ và xem cụm từ chỉ có chức năng biểu vật.

Nguyễn Thúy Khanh đã trình bày những quan điểm và ý kiến về đặc điểm định danh của Tiếng Việt, so sánh với các ngôn ngữ khác, thông qua các bài viết như “Đặc điểm định danh của trường tên gọi động vật tiếng Việt.” Những phân tích này giúp làm nổi bật sự độc đáo và phong phú của ngôn ngữ Việt trong việc sử dụng tên gọi động vật.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá sự đối chiếu giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác, đồng thời phân tích các đặc điểm định danh tên gọi động vật trong tiếng Việt Ngoài ra, bài viết cũng sẽ đưa ra một số nhận xét về thành ngữ so sánh có liên quan đến tên động vật trong tiếng Việt, nhằm làm rõ vai trò và ý nghĩa của chúng trong ngôn ngữ và văn hóa.

Trong nghiên cứu "Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy", Nguyễn Đức Tồn đã trình bày những lý thuyết cơ bản về định danh ngôn ngữ và các đặc trưng văn hóa – văn học liên quan Công trình này khám phá sâu sắc các đặc trưng văn hóa của từng địa phương, vùng miền và dân tộc, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.

Trong bài viết "Đôi nét về đặc điểm định danh của thuật ngữ chuyên ngành công an trong tiếng Hán," Hoàng Ngọc Nguyễn Hồng đã trình bày lý thuyết về định danh Tác giả đã chọn ngẫu nhiên 500 thuật ngữ chuyên ngành công an trong tiếng Hán hiện đại làm ngữ liệu, tiến hành khảo sát và phân tích kết quả để làm rõ cơ chế định danh của lĩnh vực này.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa định danh là cấu trúc ngôn ngữ dùng để gọi tên và phân chia các phần của hiện thực khách quan, dựa trên việc hình thành khái niệm tương ứng dưới dạng ngữ cú, cụm từ và câu.

Các nhà nghiên cứu đã nêu quan điểm về định danh trong tiếng Việt, và qua khảo sát cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về "định danh các di tích lịch sử ở Hà Nội".

Phương pháp nghiên cứu và thủ pháp nghiên cứu

Các phương pháp

Phương pháp này nhằm sử dụng miêu tả cấu tạo, đặc điểm của các tên gọi di tích lịch sử ở Hà Nội.

5.1.2 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa

Phương pháp này được sử dụng nhằm làm cơ sở để phân tích ý nghĩa các thành tố trong cấu tạo tên gọi các di tích lịch sử ở Hà Nội.

Thủ pháp thống kê, phân loại

Thủ pháp này cho phép thống kê và phân loại chính xác các tên gọi di tích lịch sử ở Hà Nội, hỗ trợ hiệu quả cho công tác nghiên cứu.

Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Mô tả đặc điểm định danh di tích lịch sử ở Hà Nội

Cơ sở lý luận

Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm về “định danh” và “tổ hợp định danh”

Thuật ngữ “định danh” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, mang nghĩa là “tên gọi” Định danh được hiểu là chức năng đặt tên cho sự vật và hiện tượng thông qua từ - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Nó thể hiện kết quả của quá trình gọi tên và là chức năng của các đơn vị có nghĩa trong ngôn ngữ.

Theo G.V Consanski, định danh là việc gán cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm, phản ánh đặc trưng của biểu vật, bao gồm các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của đối tượng trong cả lĩnh vực vật chất và tinh thần Điều này cho phép các đơn vị ngôn ngữ trở thành yếu tố nội dung trong giao tiếp ngôn từ Tóm lại, định danh chính là quá trình đặt tên cho sự vật và hiện tượng.

Theo Nguyễn Như Ý trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (2001), định danh là quá trình tạo ra các đơn vị ngôn ngữ nhằm gọi tên và phân chia các phần của thực tế khách quan, từ đó hình thành các khái niệm tương ứng dưới dạng từ, tổ hợp từ, thành ngữ và câu.

Định danh, theo Hoàng Văn Hành, là đơn vị từ vựng trong ngôn ngữ được sử dụng để gọi tên các sự vật, hiện tượng và quá trình.

Chức năng định danh của từ thường được xem như một tiêu chí quan trọng để xác định từ, với định nghĩa rằng từ là đơn vị định danh hoàn chỉnh về cả ngữ âm lẫn ngữ pháp, đồng thời mang tính thành ngữ.

Định danh là chức năng quan trọng của từ ngữ trong ngôn ngữ, có thể hiểu đơn giản là việc gọi tên các sự vật, hiện tượng, thuộc tính và hành động.

Tổ hợp định danh là các cụm từ ngôn ngữ bao gồm hai yếu tố trở lên, có chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng hoặc quá trình cụ thể trong đời sống, phản ánh nhận thức của con người về thế giới Định danh thường diễn ra qua các tổ hợp định danh (nominal phrase), kết hợp nhiều từ ngữ để tạo thành cụm từ có nghĩa chỉ về một đối tượng cụ thể Những tổ hợp này có thể bao gồm danh từ, tính từ và các yếu tố bổ sung khác, nhằm làm rõ hoặc nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng Ví dụ, tên gọi “chùa Một Cột” không chỉ mô tả đặc điểm kiến trúc mà còn phản ánh cách người Việt tri nhận không gian – vật thể qua hình ảnh cụ thể, gần gũi với đời sống.

1.1.2 Các phương thức định danh

1.1.2.1 Định danh theo phương thức ẩn dụ

Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ là việc sử dụng tên gọi của A để chỉ B khi giữa chúng tồn tại mối quan hệ tương đồng Ví dụ, di tích Thạch Sàng ở làng Phù Ninh được đặt tên do di tích này có hình dáng lớn bằng đá giống như chiếc giường, thể hiện rõ cách thức chuyển nghĩa ẩn dụ qua hình dáng của nó.

Ẩn dụ là một hình thức so sánh giữa hai sự vật, trong đó giữ lại vế được so sánh thông qua sự liên tưởng và những điểm tương đồng về hình thức.

1.1.2.2 Định danh theo phương thức hoán dụ

Phương thức chuyển nghĩa hoán dụ là việc sử dụng tên gọi của A để chỉ B khi A và B có mối quan hệ gần gũi Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tượng đều liên quan đến nhiều sự vật, hiện tượng khác, dẫn đến sự đa dạng của hoán dụ Đặc biệt, trong việc định danh các di tích lịch sử, phương thức này thường dựa vào việc lấy tên địa danh, sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử để đặt tên cho di tích.

Ví dụ như tên di tích lịch sử chùa Sở Thượng được tạo nên từ tên làng

Chùa Sở Thượng mang tên gọi đặc trưng của địa danh nơi tọa lạc, trong khi di tích đền Kim Ngưu tại đền Tây Hồ lại được đặt tên dựa trên sự kiện lịch sử Tên gọi Kim Ngưu (Trâu Vàng) gắn liền với một huyền thoại, giải thích nguồn gốc của hồ Tây.

1.1.2.3 Định danh kết hợp cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ

Trong quá trình định danh, tên gọi của sự vật thường được hình thành từ hai cơ chế chuyển nghĩa: ẩn dụ và hoán dụ Sự kết hợp này không chỉ làm phong phú khả năng biểu đạt của ngôn ngữ mà còn thể hiện rõ mối quan hệ giữa tri nhận, ngôn ngữ và văn hóa.

Theo Lakoff & Johnson (1980), ẩn dụ khái niệm là hiện tượng trong đó

Trong ngôn ngữ tự nhiên, hình thức chuyển nghĩa phổ biến bao gồm phép ẩn dụ và hoán dụ Theo "Metaphors We Live By", phép ẩn dụ là việc sử dụng một lĩnh vực kinh nghiệm để hiểu một lĩnh vực khác Trong khi đó, hoán dụ, theo Dirven (1993), là chiến lược nhận thức mà một yếu tố trong một phạm vi khái niệm được dùng để biểu đạt toàn bộ phạm vi đó Sự kết hợp của cả hai cơ chế này trong một định danh phản ánh một quá trình nhận thức phức tạp.

Di tích đình Nghè Mọc là nơi thờ thành hoàng, một nhân vật có công lao với làng hoặc đất nước Theo tài liệu mô tả, "nghè" mang ý nghĩa đặc biệt trong văn hóa địa phương.

"Nghè Mọc" mang hai lớp nghĩa sâu sắc Trước hết, từ "Mọc" là tên nôm của làng Mọc, thể hiện phương thức hoán dụ, nơi địa danh được dùng để chỉ vị trí thờ tự, một cách phổ biến trong việc định danh di tích Thứ hai, "nghè" không chỉ đơn thuần là kiến trúc thờ tự mà còn tượng trưng cho không gian linh thiêng, thể hiện quyền lực văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng làng xã Sự chuyển đổi này từ công trình vật chất sang khái niệm xã hội và tín ngưỡng cho thấy tính biểu trưng và sự khái quát hóa trong nhận thức của con người.

Về di tích lịch sử

1.2.1 Khái niệm về di tích lịch sử

Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa định nghĩa di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, chứa đựng các giá trị lịch sử tiêu biểu, được hình thành từ hoạt động sáng tạo của con người qua các thời kỳ.

Theo Luật Di sản Văn hóa Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được định nghĩa là các công trình xây dựng, địa điểm cùng với di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia liên quan, tất cả đều mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học.

Di tích lịch sử là những công trình kiến trúc do người xưa xây dựng, liên quan đến địa danh, nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lớn Chúng bao gồm các công trình gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình dựng nước và giữ nước, cũng như những địa điểm liên quan đến thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước Ngoài ra, di tích còn có thể là quần thể các công trình kiến trúc hoặc các công trình đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc và nghệ thuật qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Di tích lịch sử văn hóa bao gồm không gian vật chất cụ thể và cảnh quan thiên nhiên, như các công trình kiến trúc, di tích văn hóa, cổ vật và bảo vật Những địa điểm này không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động của con người mà còn gắn liền với các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, và danh lam thắng cảnh Ngoài ra, chúng còn chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần, thường được gọi là văn hóa phi vật thể, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa của một khu vực.

1.2.2 Phân loại di tích lịch sử

Di tích lịch sử là thành phần quan trọng trong di sản văn hóa của mỗi quốc gia, phản ánh dấu ấn quá khứ và sự phát triển của dân tộc Phân loại di tích lịch sử giúp nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về ý nghĩa của lịch sử Dựa trên nhiều tiêu chí, di tích lịch sử được chia thành các nhóm với những đặc điểm riêng biệt.

Theo Điều 29 của Luật Di sản văn hóa năm 2001, đã được sửa đổi và bổ sung năm 2009, di tích lịch sử – văn hóa được phân loại thành ba cấp độ dựa trên giá trị tiêu biểu và tầm quan trọng của chúng.

Di tích cấp tỉnh là những di tích tiêu biểu, mang giá trị văn hóa và lịch sử quan trọng của địa phương Chúng bao gồm các công trình xây dựng và địa điểm ghi dấu các sự kiện lịch sử quan trọng, hoặc liên quan đến những nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương qua các thời kỳ.

Di tích quốc gia là những di sản có giá trị tiêu biểu, bao gồm các công trình xây dựng và địa điểm ghi dấu các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc Những di tích này thường gắn liền với anh hùng dân tộc, danh nhân, và các nhà hoạt động nổi tiếng trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, nghệ thuật và khoa học, có ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình lịch sử của đất nước.

Di tích quốc gia đặc biệt là những di tích mang giá trị tiêu biểu, bao gồm các công trình xây dựng và địa điểm liên quan đến các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc Những di tích này thường gắn liền với anh hùng dân tộc hoặc các danh nhân có ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử của đất nước.

Theo Điều 28, khoản 1 của Luật Di sản văn hóa năm 2001, đã được sửa đổi và bổ sung năm 2009, một địa điểm được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa phải đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí quy định.

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương.

Công trình xây dựng và địa điểm gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhân và nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và địa phương qua các thời kỳ lịch sử Những địa điểm này không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nguồn cảm hứng cho các thế hệ mai sau.

- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu

Công trình kiến trúc và nghệ thuật, cùng với quần thể kiến trúc và tổng thể kiến trúc đô thị, phản ánh giá trị tiêu biểu của nhiều giai đoạn phát triển trong lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật Những địa điểm cư trú này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn thể hiện sự phát triển văn hóa qua từng thời kỳ.

Việc phân loại di tích lịch sử mang lại cái nhìn tổng thể về sự đa dạng của hệ thống di sản và là cơ sở cho công tác bảo tồn hiệu quả Mỗi loại di tích không chỉ chứa đựng câu chuyện và bài học quý giá mà còn phản ánh tinh thần của các thế hệ trước, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc.

Chương 1 đã trình bày những cơ sở lý luận quan trọng liên quan đến đề tài, bao gồm các khái niệm, phương thức, vai trò và ý nghĩa của định danh,cũng như một số đặc điểm về ngôn ngữ học tri nhận Trước hết, định danh được xem là quá trình ngôn ngữ giúp con người nhận diện, phân biệt và gọi tên sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Cùng với đó, tổ hợp định danh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập và mở rộng hệ thống từ vựng,phản ánh cách con người tư duy và tri nhận thực tế.

Chương 1 không chỉ làm rõ các phương thức định danh mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của định danh trong giao tiếp, tư duy, văn hóa và đời sống thực tiễn Ngôn ngữ giúp con người xác lập danh tính cho sự vật và kết nối với lịch sử, truyền thống và bản sắc dân tộc Ngoài ra, chương này còn đề cập đến một số đặc điểm của ngôn ngữ học tri nhận, giải thích cách thức con người tổ chức và hệ thống hóa tri thức thông qua định danh.

Mô tả đặc điểm định danh di tích lịch sử Hà Nội

Đặc điểm cấu tạo tên gọi di tích lịch sử Hà Nội

2.1.1 Mô hình định danh đơn

Qua khảo sát và phân tích dữ liệu, chúng tôi đã xác định được 7 mô hình định danh đơn cho các di tích lịch sử tại Hà Nội Dưới đây là danh sách các mô hình định danh kèm theo số lượng và tỷ lệ phần trăm tương ứng.

Bảng 2.1 Các mô hình định danh đơn

STT Các mô hình định danh đơn Số lượng Tỉ lệ (%)

1 Định danh theo địa danh 87 52,10

2 Định danh theo hình dạng 2 1,20%

3 Định danh theo đối tượng lịch sử 40 23,95

4 Định danh theo người xây dựng 3 1,80

5 Định danh theo chức năng 1 0,60

6 Định danh theo đặc điểm 18 10,78

7 Định danh theo cơ quan kháng chiến 1 0,60

8 Định danh theo sự kiện lịch sử 15 8,98

Dựa vào phần thống kê, chúng tôi có được biểu đồ định danh đơn sau:

Biểu đồ 2.ă Các mô hình định danh đơn

Hệ thống định danh di tích lịch sử ở Hà Nội chủ yếu dựa vào hai mô hình: theo địa danh và theo đối tượng lịch sử Trong đó, định danh theo địa danh chiếm ưu thế với 87/167 trường hợp, tương đương 52,10%, cho thấy thói quen gắn tên di tích với không gian địa lý cụ thể, một đặc điểm đặc trưng trong cách gọi tên truyền thống của người Việt.

Mô hình định danh theo đối tượng lịch sử chiếm 23,95%, đứng thứ hai trong các nhóm định danh, phản ánh xu hướng tôn vinh các nhân vật và thực thể liên quan đến sự kiện hoặc giai đoạn lịch sử cụ thể Điều này chứng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa lịch sử và ngôn ngữ định danh trong văn hóa đặt tên di tích.

Các mô hình định danh như theo đặc điểm (10,78%) và theo sự kiện lịch sử (8,98%) tuy không chiếm tỉ lệ lớn nhưng thể hiện sự đa dạng trong cách định danh, góp phần làm phong phú nội dung và hình thức biểu đạt Mặc dù các mô hình ít phổ biến như định danh theo hình dạng, theo người xây dựng, theo chức năng, hay theo cơ quan kháng chiến chỉ chiếm dưới 2%, nhưng chúng phản ánh những góc nhìn đặc thù và gắn liền với bối cảnh lịch sử cũng như giá trị riêng biệt của từng di tích.

Cụ thể đi vào từng nhóm mô hình như sau:

2.1.1.1 Mô hình định danh theo địa danh

Kiểu định danh lựa chọn 1 thuộc tính là tên một địa danh của các di tích lịch sử có mô hình như sau:

Di tích lịch sử + địa danh

Chúng tôi đã thống kê được 73 tên gọi, được thể hiện qua biểu đồ, bao gồm các địa danh nổi bật như “Khu Di tích Cổ Loa”, “Gò Đống Đa” và “Đình Kim”.

Liên”, “Đình An Định”, “Đình An Hòa”, “Đình An Lãng”, “Đình An Phú”,

“Đình An Thái”, “Đình Áng Phao”, “Đình An Định”, “Đình An Trai”,

“Đình Ân Phú”, “Đình Bá Dương”, “Đình Bách Lộc”, “Đình Bát Tràng”,

“Đình Bác Lãm”, “Đình Bùi Xá”, “Đình Bảo Vệ”, “Đình Bột Xuyên”,

“Đình Bồng Mạc”, “Đình Bạch Trữ”,…

Có thể phân tích một số trường hợp dựa vào địa danh của các di tích lịch sử để đặt tên:

Khu di tích Cổ Loa, nằm tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, từng là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới triều đại An Dương Vương vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước phong kiến Ngô Quyền vào thế kỷ 10 Thành Cổ Loa không chỉ gắn liền với những truyền thuyết kỳ thú của dân tộc Việt, như việc vua An Dương Vương xây thành và chiếc nỏ thần Kim Quy, mà còn chứa đựng câu chuyện bi thương của mối tình Mỵ Châu – Trọng Thuỷ Những nhân vật lịch sử và huyền thoại này đã trở thành một phần không thể thiếu trong tiềm thức của người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Đình Kim Liên, tọa lạc tại số 176 phố Kim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội, là một trong bốn ngôi đền thiêng bảo vệ thành Thăng Long Đền thờ thần Cao Sơn Đại Vương và lưu giữ tấm bia đá cổ từ năm 1772 cùng bài minh ca ngợi thần được soạn từ năm 1510, cùng với 39 đạo sắc phong của các triều đại.

Bảng 2.2 Các di tích lịch sử được định danh theo địa danh

STT Tên chung Địa danh Tên đầy đủ

1 Khu di tích Cổ Loa Khu di tích Cổ Loa

2 Gò Đống Đa Gò Đống Đa

Kim Liên Đình Kim Liên

4 An Định Đình An Định

5 An Hòa Đình An Hòa

6 An Lãng Đình An Lãng

7 An Phú Đình An Phú

8 An Thái Đình An Thái

9 An Thịnh Đình An Thịnh

10 Áng Phao Đình Áng Phao

11 An Trai Đình An Trai

12 Ân Phú Đình Ân Phú

13 Bá Dương Đình Bá Dương

14 Bách Lộc Đình Bách Lộc

15 Bát Tràng Đình Bát Tràng

16 Bác Lâm Đình Bác Lãm

17 Bùi Xá Đình Bùi Xá

18 Bảo Vệ Đình Bảo Vệ

19 Bột Xuyên Đình Bột Xuyên

20 Bồng Mạc Đình Bồng Mạc

21 Bạch Trữ Đình Bạch Trữ

22 Canh Nậu Đình Canh Nậu

23 Cam Thịnh Đình Cam Thịnh

24 Canh Hoạch Đình Canh Hoạch

26 Cát Bi Đình Cát Bi

27 Cấn Xá Đình Cấn Xá Thượng

28 Cổ Miếu Đình Cổ Miếu

29 Cống Vị Đình Cống Vị

31 Cổ Nghõa Đình Cổ Nghõa

32 Châu Mai Đình Châu Mai

33 Chàng Sơn Đình Chàng Sơn

34 Cù Sơn Trung Đình Cù Sơn Trung

35 Cự Đồng Đình Cự Đồng

36 Chu Quyến Đình Chu Quyến

37 Quang Húc Đình Quang Húc

38 Tây Đắng Đình Tây Đằng

39 Dịch Vọng Sở Đình Dịch Vọng Sở

40 Hoàng Mai Đình Hoàng Mai

41 Hoàng Liên Đình Hoàng Liên

42 Phương Châu Đình Phương Châu

43 Giảng Võ Đình Giảng Võ

44 Gióng Mốt Đình Gióng Mốt

45 Đông Viên Đình Đông Viên

46 Phú Hữu Đình Phú Hữu

47 Linh Đàm Đình Linh Đàm

48 Linh Quy Đình Linh Quy

49 Phú Xuyên Đình Phú Xuyên 50 Đình

Tô Khê Đình Tô Khê

51 Thượng Cung Đình Thượng Cung

52 Thượng Hiệp Đình Thượng Hiệp

53 Thượng Trì Đình Thượng Trì

54 Thổ Khối Đình Thổ Khối

55 Thọ Am Đình Thọ Am

56 Thị Cấm Đình Thị Cấm

57 Thổ Quan Đình Thổ Quan

58 Vĩnh Thịnh Đình Vĩnh Thịnh

59 Đại Lan Đình Đại Lan

60 Tự Khoát Đình Tự Khoát

61 Quỳnh Đô Đình Quỳnh Đô

Thịnh Thôn Đền Thịnh Thôn

65 Cơ Xá Đền Cơ Xá

66 Cán Khê Đền Cán Khê

68 Chi Đông Đền Chi Đông

69 Hát Môn Đền Hát Môn

70 Trấn Vũ Đền Trấn Vũ

Bồng Mạc Chùa Bồng Mạc

72 Chi Đông Chùa Chi Đông

73 Quang Húc Chùa Quang Húc

74 Đông Ba Chùa Đông Ba

79 Nghè Châu Phong Nghè Châu Phong

80 Hành cung Cổ Bi Hành cung Cổ Bi

82 Làng Đông Ngạc Làng Đông Ngạc

83 Đường Lâm Làng Đường Lâm

84 Chợ Đồng Xuân Chợ Đồng Xuân

85 Cột cờ Hà Nội Cột cờ Hà Nội

86 Di tích Khâm Thiên Di tích Khâm Thiên

87 Nhà tù Hỏa Lò Nhà tù Hỏa Lò

2.1.1.2 Mô hình định danh theo địa danh theo hình dáng

Chúng tôi không chỉ định danh các di tích lịch sử dựa vào địa danh, nhân vật lịch sử hay địa chỉ, mà còn áp dụng phương pháp định danh dựa trên hình dáng của các di tích này.

Di tích lịch sử + hình dạng

Dựa trên hai thành tố “di tích lịch sử”, “hình dạng” Mô hình định danh có tất cả 2 di tích: “Chùa Một Cột”, “Chùa Trăm Gian”

Chùa Một Cột, với kiến trúc độc đáo chỉ có một trụ đá, thể hiện sự thanh thoát và vững chãi, là biểu tượng nổi bật của Hà Nội và văn hóa Việt Nam Ngôi chùa nhỏ, mái cong, được xây dựng giữa hồ sen, mang hình dáng một đóa sen nở, tượng trưng cho sự tinh khiết và cao quý của Phật pháp Tên gọi "Một Cột" không chỉ phản ánh đặc điểm kiến trúc mà còn gắn liền với giá trị lịch sử và tâm linh của Phật giáo Việt Nam.

Chùa Trăm Gian, một ngôi chùa cổ kính tọa lạc trên đồi cao tại thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, được xây dựng vào năm 1185 dưới triều vua Lý Cao Tông Với kiến trúc đặc trưng gồm 100 gian nhà, chùa không chỉ thể hiện sự bề thế và linh thiêng mà còn mang lại cảm giác tôn nghiêm và lâu đời cho du khách.

Bảng 2.3 Các di tích lịch sử được định danh theo hình dạng

STT Tên chung Hình dáng Tên đầy đủ

1 Chùa Một cột Chùa Một Cột

2 Trăm Gian Chùa Trăm Gian

2.1.1.3 Định danh theo đối tượng lịch sử

Di tích lịch sử + đối tượng lịch sử

Khảo sát mô hình “di tích lịch sử” kết hợp “đối tượng lịch sử” đã cho thấy có 40 tên di tích đáng chú ý, trong đó có “Đền Bạch Mã” và “Đền Bà Kiều”.

Đền Bà Chúa, Đền Hai Bà Trưng, Đền Kim Ngưu, Đền Ngô Quyền, Đền Mẫu Liễu, Chùa Viên Minh, Chùa Bà Tấm, Chùa Lý Triều Quốc Sư, Đình Bà Tía, Đình Chèm, Phủ Chúa Ba và Ao Vua là những địa điểm tâm linh nổi tiếng, thu hút du khách và người dân địa phương đến tham quan, cầu nguyện và tìm hiểu văn hóa lịch sử của vùng đất.

“Nhà thờ Nguyễn Sư Mạnh, “Nhà thờ Nguyễn Bá Lân”, ….

"Đối tượng lịch sử" không chỉ bao gồm những nhân vật lịch sử có thật mà còn bao gồm các yếu tố văn hóa như truyền thuyết và tín ngưỡng lâu đời Trong nhiều nghiên cứu văn hóa, khái niệm này được mở rộng để bao gồm nhân vật lịch sử như vua chúa, danh tướng, chí sĩ, cũng như các nhân vật truyền thuyết có ảnh hưởng đến tâm thức cộng đồng như Thánh Gióng, Sơn Tinh, Bạch Mã Ngoài ra, nó còn bao gồm các biểu tượng tín ngưỡng liên quan đến các giai đoạn lịch sử, như các vị thần được thờ phụng ở đình, đền.

Đền Hai Bà Trưng là nơi thờ phụng hai vị anh hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị, những người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự thống trị của nhà Đông Hán để giành lại độc lập cho dân tộc Đền nằm tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, và được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt.

Hà Nội với lịch sử lâu đời là niềm tự hào của người dân nơi đây.

Đền Bà Tấm, hay còn gọi là đền Ỷ Lan, là di tích tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan, một nhân vật lịch sử quan trọng của dân tộc thời Lý Hiện nay, đền tọa lạc tại xã Dương Xá, huyện Gia Lâm.

Phương thức định danh

Định danh phản ánh cách con người gán tên cho các đối tượng trong thế giới khách quan Trong khảo sát di tích lịch sử tại Hà Nội, ba phương thức định danh nổi bật được ghi nhận là ẩn dụ, hoán dụ và kết hợp giữa ẩn dụ - hoán dụ Bảng 2.13 thống kê số lượng và tỷ lệ sử dụng của từng phương thức trong tổng số di tích được khảo sát.

Bảng 2.13 Bảng khảo sát các phương thức định danh di tích lịch sử ở Hà Nội

STT Phương thức định danh Ví dụ Số lượng

1 Định danh theo phương thức ẩn dụ

Chùa Một Cột, Chùa Trăm

2 Định danh theo phương thức hoán dụ

Cột cờ Hà Nội, Đình An

Hạ, Hoàng thành Thăng Long,…

3 Định danh theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ

Nhà thờ Lớn Hà Nội

Biểu đồ 2.4 Biểu đồ các phương thức định danh di tích lịch sử ở

Biểu đồ 2.4 chỉ ra ba phương thức định danh chính trong việc đặt tên các di tích lịch sử tại Hà Nội: ẩn dụ, hoán dụ và kết hợp cả hai Trong đó, phương thức hoán dụ chiếm ưu thế với 151 trường hợp, tương đương 87,8% tổng số mẫu khảo sát Những tên gọi này thường dựa vào yếu tố gần gũi như địa danh, bộ phận kiến trúc hoặc chức năng để biểu thị toàn thể, ví dụ như Cột cờ Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long, Đình An Hạ Điều này phản ánh xu hướng định danh cụ thể, minh bạch và dễ nhận biết, thể hiện tư duy thực tiễn và trực quan của cộng đồng cư dân trong việc gọi tên các công trình văn hóa – lịch sử gắn bó với đời sống hằng ngày.

Phương thức định danh theo ẩn dụ chỉ chiếm 11,6% với 20 trường hợp, như Chùa Một Cột và Chùa Trăm Gian, cho thấy khả năng liên tưởng phong phú trong tư duy ngôn ngữ của cộng đồng Tuy nhiên, mức độ phổ biến của phương thức này vẫn thấp so với hoán dụ Chỉ có Nhà thờ Lớn Hà Nội là trường hợp duy nhất kết hợp cả hai phương thức, chiếm 0,6% Điều này cho thấy sự pha trộn giữa biểu tượng và chỉ định trong đặt tên di tích không phổ biến Từ đó, có thể nhận định rằng tư duy định danh di tích của người Hà Nội thiên về tính thực dụng và địa phương hóa, phản ánh sự gắn kết giữa ngôn ngữ và không gian văn hóa – lịch sử của Thủ đô.

2.2.1 Định danh theo phương thức ẩn dụ

Phương thức ẩn dụ trong việc định danh di tích lịch sử là cách sử dụng các yếu tố biểu tượng để thể hiện đặc điểm và ý nghĩa liên quan đến di tích Việc này được thể hiện qua những từ ngữ tượng trưng, không trực tiếp nhưng mang lại những liên tưởng sâu sắc.

Chùa Trăm Gian, tên gọi mang tính ẩn dụ, không chỉ phản ánh số lượng gian phòng mà còn biểu thị sự rộng lớn và không gian vô tận của ngôi chùa.

"Trăm" trong văn hóa dân gian Việt Nam biểu trưng cho sự bao la và vĩnh cửu Tên gọi "Trăm Gian" của chùa không chỉ ám chỉ một không gian tâm linh rộng lớn mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử và tín ngưỡng Sự rộng lớn này thể hiện mối liên kết giữa con người và thế giới tâm linh, phản ánh sự toàn vẹn trong tín ngưỡng Phật giáo và văn hóa dân gian.

Giếng Thiên Quang là một biểu tượng của sự trong sáng và thuần khiết, với tên gọi "Thiên Quang" ám chỉ ánh sáng thần thánh từ trời Nước giếng trong sáng, tươi mới, không chỉ phản chiếu ánh sáng mà còn gợi lên nguồn sống tinh thần và niềm tin vào thiên trong văn hóa dân gian So với các giếng trong văn hóa khác như Well of Wishes ở Bắc Âu, tên gọi "Giếng Thiên Quang" thể hiện sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông và Tây.

Đền Voi Phục không chỉ mô tả hình dáng của một con voi phủ phục mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sức mạnh, quyền lực và sự tôn kính Voi, trong nhiều nền văn hóa, là biểu tượng của sức mạnh và quyền uy Hình ảnh voi phủ phục thể hiện sự khiêm nhường và tôn kính đối với các vị thần linh, đồng thời cũng là biểu tượng của sự bảo vệ và che chở.

Phục, vì thế, không chỉ tôn vinh một con vật mà còn tượng trưng cho sự tôn trọng và bảo vệ các giá trị tâm linh thiêng liêng.

Tháp Bút, với hình dáng giống như một cây bút hướng thẳng lên trời, là một biểu tượng ẩn dụ thể hiện trí tuệ và khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam qua ba chữ “Tả Thiên Thanh” (Viết lên trời xanh).

Chùa Trấn Quốc, với tên gọi mang ý nghĩa "trấn giữ đất nước," biểu trưng cho sự bảo vệ và sức mạnh tâm linh của quốc gia Tên gọi này không chỉ đơn thuần phản ánh chức năng hành chính hay quân sự, mà là một biểu tượng ẩn dụ thể hiện vai trò quan trọng của chùa trong việc gìn giữ an ninh và hòa bình cho đất nước.

Tên gọi “Đá Chông” xuất phát từ hình ảnh những phiến đá nhô lên với hình dáng sắc nhọn như mũi chông, tượng trưng cho tinh thần chiến đấu và sức mạnh phòng vệ của dân tộc Đây không chỉ là một miêu tả về hình khối tự nhiên mà còn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc, gợi nhớ đến những năm tháng kháng chiến oanh liệt “Đá Chông” trở thành biểu tượng cho ý chí quật cường và không gian thiêng liêng, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn làm căn cứ an toàn, càng làm tăng thêm giá trị biểu tượng của địa danh này.

Tên gọi này không chỉ mang tính chất địa lý mà còn phản ánh ý nghĩa lịch sử, tâm linh và bản sắc dân tộc của cộng đồng Cách đặt tên này thể hiện một ẩn dụ sâu sắc, diễn đạt những giá trị lớn lao thông qua hình ảnh cụ thể và giàu sức gợi.

2.2.2 Định danh theo phương thức hoán dụ

Hoán dụ là phương pháp thay thế tên gọi chính thức bằng một yếu tố có mối quan hệ gần gũi với đặc điểm hay đối tượng, thường được sử dụng để nhấn mạnh các khía cạnh đặc biệt của di tích như sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc đối tượng liên quan Đây là cách định danh phổ biến nhất trong hệ thống tên gọi di tích.

Hà Nội chiếm tỉ lệ cao nhất với 87,8% trong việc đặt tên di tích Phương thức này thường sử dụng một phần hoặc yếu tố liên quan trực tiếp đến di tích, bao gồm nhân vật lịch sử, địa danh, cấu trúc kiến trúc, chức năng hoặc sự kiện.

Đền Bạch Mã là biểu tượng của sự bảo vệ vùng đất Thăng Long Hà Nội, được đặt tên theo vị thần Bạch Mã, một hình ảnh gắn liền với truyền thuyết và lịch sử Tên gọi này không chỉ thể hiện sự kết nối với các giá trị tâm linh mà còn phản ánh lòng kính trọng của người dân đối với ngôi đền.

Ngày đăng: 21/04/2025, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các mô hình định danh đơn - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.1. Các mô hình định danh đơn (Trang 19)
Bảng 2.2. Các di tích lịch sử được định danh theo địa danh - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.2. Các di tích lịch sử được định danh theo địa danh (Trang 22)
Bảng 2.3. Các di tích lịch sử được định danh theo hình dạng - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.3. Các di tích lịch sử được định danh theo hình dạng (Trang 27)
Bảng 2.2. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng lịch sử STT Tên chung Đối tượng lịch sử Tên đầy đủ - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.2. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng lịch sử STT Tên chung Đối tượng lịch sử Tên đầy đủ (Trang 29)
Bảng 2.4. Các di tích lịch sử được định danh theo người xây dựng - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.4. Các di tích lịch sử được định danh theo người xây dựng (Trang 31)
Bảng 2.5. Các di tích lịch sử được định danh theo sự kiện lịch sử - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.5. Các di tích lịch sử được định danh theo sự kiện lịch sử (Trang 32)
Bảng 2.7. Các di tích lịch sử được định danh theo đặc điểm - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.7. Các di tích lịch sử được định danh theo đặc điểm (Trang 34)
Bảng 2.8. Các di tích lịch sử được định danh theo cơ quan kháng chiến - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.8. Các di tích lịch sử được định danh theo cơ quan kháng chiến (Trang 35)
Bảng 2.9. Các di tích lịch sử được định danh theo sự kiện lịch sử STT Tên chung Sự kiện lịch sử Tên đầy đủ - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.9. Các di tích lịch sử được định danh theo sự kiện lịch sử STT Tên chung Sự kiện lịch sử Tên đầy đủ (Trang 37)
Bảng 2.9. Các mô hình định danh phức - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.9. Các mô hình định danh phức (Trang 38)
Bảng 2.10. Các di tích lịch sử được định danh theo đặc điểm và địa danh - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.10. Các di tích lịch sử được định danh theo đặc điểm và địa danh (Trang 40)
Bảng 2.12. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng sở hữu - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.12. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng sở hữu (Trang 42)
Bảng 2.13. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng sở hữu, công trình kiến trúc và địa danh - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.13. Các di tích lịch sử được định danh theo đối tượng sở hữu, công trình kiến trúc và địa danh (Trang 43)
Bảng 2.13. Bảng khảo sát các phương thức định danh di tích lịch sử ở Hà Nội - Đặc Điểm Định danh di tích lịch sử Ở hà nội  kltn
Bảng 2.13. Bảng khảo sát các phương thức định danh di tích lịch sử ở Hà Nội (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w