Hầu hết những hộ tham gia nghề đan lọp cá linh,lao động trẻ tuổi thay đổi nghề trong mùa lũ như làm công nhân tại Bình Dương, làm thuê nông nghiệp tại các xã lân cận có đê bao.. Một số k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANGKHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
PHẠM NGỌC ÁNH
ANH HƯỚNG LŨ THAP DEN NGHE DAN LỌP CÁ
LINH TAI CON COC XA PHUOC HUNG,
HUYEN AN PHU, TINH AN GIANG
BAO CAO KHOA LUAN TOT NGHIEP
KY SU NGANH PHAT TRIEN NONG THON
KHOA HỌC: 2008 - 2012
Giáo Viên Hướng Dẫn
Ths Hồ Thị Ngân
Trang 2Lời cảm ta
Tôi chân thành gửi long biết ơn của tôi đến:
Cha mẹ đã nuôi dạy tôi nên người, quan tâm động viên việc học tập của
tôi.
Cô Phạm Huỳnh Thanh Vân, Cô Hồ Thị Ngân và Thầy Võ Duy Thanh cùng với các Thầy Cô Trường Đại Học An Giang, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu và tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này để em có thể
áp dụng được vào những kiến thức đã học trong quá trình làm việc saunày.
Các Cô, Chú và anh chị em tại UBND xã Phước Hưng cùng tòan thé bà con tại cồn Cóc đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tôi những thông tin hữu ích trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp tại địa
phương.
Trân trọng
Trang 3Tóm lược
Đề tài: “Ảnh hưởng lũ thấp đến nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc, xã Phước
Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang” được thực hiện nhằm mục đích: (1) Tìm
hiểu nhận định của người dân về mối liên hệ giữa lũ thấp và nghề đan lọp cá
linh tại cồn Cóc; (2) Xác định những ảnh hưởng của lũ thấp đến hoạt động sảnxuất nghề đan lọp cá linh; (3) Tìm hiểu cách ứng phó của người dân đối với sự
suy giảm mực nước lũ Trong nghiên cứu này áp dụng 4 công cụ thu thập
thông thin như: phỏng vấn KIP (người am hiểu), phương pháp đánh giá nhanh
nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), phỏng vấn nông hộ (bằngbảng hỏi), phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp địa điểm nghiên cứu Kết quảnghiên cứu cho thấy trong mùa lũ nghề đan lọp cá linh đem lại nguồn thu nhậpchính cho người dân tại cồn Cóc Nghề dan lop cá linh tạo việc làm cho nhiềulao động nhàn rỗi tại địa phương trong mùa lũ Lũ thấp năm 2010 ảnh hưởng
đến nghề đan lop cá linh cụ thé là suy giảm số lượng hộ làm lop va sản lượng
lọp cá linh tiêu thụ so với năm 2009 có lũ Năm 2010 người sản xuất lọp cá
linh không tìm được nguồn tiêu thụ, nhiều chủ hộ làm lọp cá linh để sử dụnggia đình, hoặc bảo quản đến mùa lọp cá linh năm 2011 tiêu thụ Nhiều chủ hộphải bỏ nghề đan lọp cá linh rơi vào tình trạng thiếu nợ, những chủ hộ làm lọp
cá linh thuê thu nhập giảm Hầu hết những hộ tham gia nghề đan lọp cá linh,lao động trẻ tuổi thay đổi nghề trong mùa lũ như làm công nhân tại Bình
Dương, làm thuê nông nghiệp tại các xã lân cận có đê bao.
Tuy nhiên, sau mùa lũ 2010 nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc vẫn được duy trì
do mực nước lũ cao và nhu cầu sử dụng lọp cá linh tăng Dự đoán xu hướngphát triển nghề đan lọp cá linh trong năm 2012 sẽ tăng số lượng hộ và sảnlượng lọp cao hơn mùa lũ năm 2011 Một số kiến nghị giúp nghề đan lọp đượcduy tri trong tương lai: Cần hỗ trợ vốn dé chủ hộ làm lop cá linh tiếp tục duytrì, mở rộng quy mô sản xuất, cần được dự báo về lũ sớm và chính xác để giúp người dân tham gia nghề dan lop cá linh chủ động trong việc lựa chọn hướng sinh kế trong mùa lũ, đồng thời tránh những tổn thất trong đầu tư sản xuất xảy
ra như trong mùa lũ thấp 2010
ii
Trang 4Mục Lục
Danh sách Dang ssssssossoaceasonsceceveonsotesssensntcbontopsnensalesessssniscdocssnstscsengsspescéses 1H Danh sách hình ssesseebeose204(044001/101910107126661x0x15)43144/8801204003011px54s iv
Danh sách hộp thông tinr cssoccssersccscsossnsgresesvanscssscasecsosecaceesossessasscasssasessnoeseos V
Danh sách chữ việt t8t sessanondi ni 0000000761000 122 lmÙÒ vi
Chương 1: Giới thiỆu s- <2 5 222515 39393353939391950 3910191980080800010108 1
1.1 DBt-VAN đề xa nsessniejpptpif0T010070000000001101000//101101-23% |
1.2 Mục tiêu nghiÊn CỨU ocsosso5 16216 1939161696463 c903006069656080480804004048481044080401044084 2
12.1 Mục tiêu,GHUTiĐ ‹« ccc222115606155125164039139144)38084kexa411601461512511Á55555435151.58.41xsae 2
1/22 Mục tiêu cụ thế »»ss«esnbnoanliÏ00))1110711/00ptuesnlt8fsolGlniIBiluBidee 2
1.3 Câu hỏi nghiÊn CỨU cocoso2scs 20006003 1003019113001636463666644860406400086000008001066 2
1:4: Giới-hạn đề tal samssssnnuaennddiriirgtiiriilroimiprimrdortirspstovbetedtee 2
1.4.1 Giới hạn nội unp ooss so S296 61939964 01 9605 0045003908048404084040808048000560 2 1.4.2 Giới hạn thoi Bi4H o co so 0 9591569893101 9389800801 90801083808008468484000900 2
Chương 2: Lược khảo tài liỆu << csssS555Ă S3 99110110611 883
3.1 Giới thiệu địa điểm nghiền pữUsopse 0i dát 1200m6 seliliodavdoilgesfesobe 3 2.2: Neubdn gốc nghệ dan lop G8, Linhse cau 0 00011A/s22xeseAglbfoibitl80n66xe 5 2:3 Sơ lure lãng ngoc sz0aaes001110101f8011011141sasxi01d00 1 nDan2sl)ifsllbee 5 2.3.1 khúi,rfệm nghề seseisassdpsitectdisifrd10 assubdaaadftlebuidesalnatbee 5 2:31, Khal niệm Jane Hehe, seduseioiloyEi0i10n016susoiokbaisDdaddlspsie 6
2.3.2 Tiêu chí được công nhận là làng nghề tiểu thủ công nghiệp (UBND tinh
An Giang ban hành quyết định số 3195/2005/OD-UBND 29/11/2005) 6
9.4: Mbt số khiiinÌÊ saasbskesenpbragpilidbfu0fb:0iálGnásiossnadileDsiesesiesire 6
DAA Một số khải niệm ll‹oiisbsasapsarnpaoyinlirtndnsrsastonbesnpnanilanainle 6
2.4.2 Một số ngư cụ và phương pháp đánh bát G0 DHRCT xeitaxegsaggvaazkbba if
3:8 Diễn biên 1 gũi cát HP crises coeur ceva rmanndtdilchisiseaditeasan 0inssiiae 7
2.6 Thực trạng đánh bắt cá ở DB SCLinidendiniinandindiommnnmesipedionsires 8
2.7 Đặc điểm lao động tham gia nghề sản xuất ngư cụ ‹c-sceccesseee 8
2.8 Tac động của lũ đến nghề sản SPDT Hơn P0000 xiawiiiiiftriuxdosfldiuioe 8
2.8.1 Lũ thấp ảnh hưởng đến sự suy giảm nghề sản SUEY BÉ CŨ seemitidesaea 8 2.8.2 Lũ thấp ảnh hưởng thu nhập người dân tham gia nghề sản xuất ngư cụ 9
2.9 Thuận lợi và khó khăn nghề sản xuất ngư Cụ ‹«« ‹s«c<-seecssexss 10
DD THUÊ De 1s 0666eccgRYc1256xã8688.8:555512sg1:1b4x81ixiS8ax5tsn2013X8E2okiSEiLS/ã8T309838 10 2.02 KHÓ KHIỂ servasssesssvscsratercesesdsviseesscovecvoseseoccotevevossvanstereseccesssssuacosesaseasassecasah 11
SIO TA trường nghề sinx"IETf:SGVssraanaiutiesulteniepirisesrnrtiEnliesee 12 2.11 Chính sách hỗ trợ làng nghề sản xuất ngư Cụ -««-‹-sssecesseee 13
Chương 3: Phương pháp nghiên CỨU 5-5555 S<1‡SỲYeeerisee 15
iii
Trang 53.1 Phương pháp nghiên GỨUny0000/0n1/00ï0007n1710710000/0:00400ui11101/0100/01 n5 15
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp -‹«c-.s.ssecsssecvsssesvvvseeee 15
3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ CAp sssssesssssessssecssssesssssccsssecsssccesseseneccesss l5
3.2 Đối tượng nghiện G00n/10101 0010011100000 1107 011060 hoeiox20lvNai l6
3.3 Xử lý Số TSU can n0 n0 TT nano 0n 17Chương 4: Kết quả tHả0 IMG 777111717112211 ánoscseesadoiaeanbi 184.1 Thông tin chung của người dân đan lop cá linh tại cồn Cóc 184.1.1 Độ tuôi hộ lắm Lop cá TH nhi n can gnynaanoanauipnnrai 18
4.1.2 Kinh nghiệm nghệ dat lop GA litttssrsssssstuttsssnesesssssssseronsescovsssssonesosoavsecons 184.1.3 Trinh d6 hoc van NG MAMPLOP! CAM 701111700011 2004110464)014651144y3419445616239115113) 194.1.4 Nguồn lực lao động của nhóm hộ làm lop cá linh - «‹.sss¿ 204.1.5 Cơ cấu lao động tham gia nghề đan lop cá linh - «-‹s‹see.s‹se 214.1.6 Nguồn lực đái GAL 0ï ¡r0 tssssvisstoosssiosssossvconsossazosusovssoonss 224.2 Sáng kiến trong nghệ dan Lop CA LDH sssseississoassresssosvorvnsovonvoonsonseesssconvesoseos 224.3 Thời điểm áp dụng những sáng kiến mới vào quá trình dan lop cá linh 24HAT jel thối ÿ7100/19)001110077)11011 1n ng nhan caeanneooerasooesiogeuS 264.5 Nguồn thu nhập của người dân làm lop cá linh .ss-c.se5cssesss 27 4.6 Quan điểm của người dân về lũ thấp và sự suy giảm nghề đan lọp cá linh
` ẽẽ.e.ẽ`* 28
4.6.1 Quan điểm của người dân về lũ thấp trong những năm gần đây 284.6.2 Mối tương quan giữa mực nước lũ và sự suy giảm nghề đan lọp cá linh
D0117 71711//11417170/11211/77011xrmtrorttttăgttbxrmit ion dt rẻ 20
4.6.3 Tầm quan trọng của thu nhập nghề đan lọp cá linh trong sinh kế hộ làm
Loop &áig014ãs46gãudduuftgsiflsdorfdiYoftti\ ilthwqiwguiigsenudtadpuie 30
4.6.4 Các khó khăn hiện tai của nghề đan lop cá linh -s¿-scsss5s+ 314.7 Những ảnh hưởng của hoạt động lũ thấp đến hoạt động làm lọp cá linh 334.7.1 Các nguồn thu nhập của nông hộ tham gia nghề dan lop cá linh 334.7.2 Nguồn vốn đầu tư nghề đan lop cá linh -.-.scc-ssc-secssecsssssssee 364,8 Suy iim số lượng Bồ lath lop 0 HON non ksoaiaaasnnstnaaiiiaadgonasgndaea 38
4.9 THỊ trường tiểu: tHỦ: OP CAIN cccsssssscnsesosossoosssbevssssoesecesssesesacssecssovasesesgasons 39
4.10 Chiến lược thích ứng của người dân đối với sự suy giảm nghề đan lọp 39
4.10.1 Cách ứng phó của người dân dan lop cá linh -s s«-s«s«5<<s 39
4.10.2 Chính sách hỗ trợ nghề dan lop cá linh -¿5-52 ©sssesssesss 40Chương 5: Kết luận — kiến nghị -ss-se csscssecrsecssrrssrrrsrrree 43
UL HẺEEIMRiusenmaussanttrdrtisrmnauuirutrieitidnpdwanwngpitatiiorvnsaieoirmskri 43
Si Kiến TRuasanaarnnianaaraattiaonaiiaitiint05iNNN0SE00090/9i0006i01i8100016i8080i 43
-Lài, 6i THAT KHẢO ccsssasesesciseticcesaesestatsecoterslicestisitvaacasttevredessstbencestyecuseasbrseseea’ 45
iv
Trang 6Phụ Chương -occccsc n1 040560664460 18648000805848014440058850044509899906598085s08
Phụ chương A: Kết qua PRA sssssexgnatrib 0011 614422x34)643060304688805411oe l3 48
Phụ chương B: Một số hình ảnh nghề đan lop cá linh -. -s<‹-e: 49 Phụ chương C: Phiếu phỏng vấn nông hộ dan lop cá linh -.-.‹ s- 51
Trang 7Bảng 6: Sản lượng lop cá linh tiêu thụ (2009 — 2011) 29
Bảng 7: Tầm quan trọng của nghề đan lọp cá linh trong sinh kế hộ làm lọp
s05 8219 /1931595181911100100151771Enn81i1iiT7./11/110101/0, (Or Dinh Sada đit oh bee 30
Bảng 8: Các khó khăn của nghề đan lop cá linh - :c-cccc: 32Bảng 9: Dự đoán sự phát triển của nghề dan lop cá linh - 33
Bảng 10: Bình quân thu nhập của thợ làm lọp cá linh thuê trong giai đoạn năm
tíinh †: Elen điển! pún Cú 1v l0 011116 soisbaiiesskeudaisbkuiuan 4
HÌn.Z: TGR THAT 1077 Dị HHH, 0Ì cac be T maeensrsiieassmivsisrrenngseesvsee 23
Hình 3:1H10b mau lop 06 TH Mol uaba 6/1120ándiuaogknsrnnnaaoiinanaeseaybne 24
Hình 4:-Khung-dét-than-lop:ca'linh sss minnie 25
Hình 5: Lich thời vụ của nghề dan lop cá linh tại cồn Cóc - 27
VỊ
Trang 8Danh sách hộp thông tin
Hộp thông tin 1: Tình hình thuê lao động làm lọp cá linh tại cồn Cóc 20
Hộp thông tin 2: Áp dụng sáng kiến vào nghề dan lop cá linh - 25
Hộp thông tin 3: Năng suất sản xuất nghề dan lop cá linh - - 26
Hộp thông tin 4: Vai trò của nghề dan lop cá linh trong xóa đói giảm nghèo 31 Hộp thông tin 5: Tình hình vay vốn của chủ hộ sản xuất lop cá linh 37
Hộp thông tin 6: Nguyên nhân chủ hộ nghỉ dan lop cá linh : 38
Hộp thông tin 7: Thị trường tiêu thụ lọp cá linh tại PON CÓO son Euii diyynm 39 Hộp thông tin 8: Khó khăn và nhu cầu nguồn vốn của chủ hộ làm lọp cá linh
42
0000600000000000000000040000000000000/0690000006000600660060090900006042626/660000006000909090000909909990909969669006006069
Danh sách chữ viết tắt
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
PRA: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
NN: Nông nghiệp
GDP: Thu nhập bình quân theo đầu người
vii
Trang 9đình Li về dem theo nhiều loại thủy sản cùng dòng nước từ thượng nguồn đổ
về làm cho các nghề sản xuất lưỡi câu, lưới 3 màng, lọp cua, lọp tép, lọp cá linh bắt đầu hoạt động sản xuất, chủ yếu tập trung ở tỉnh An Giang Cáclàng nghề này vượt qua những khó khăn, duy trì được hoạt động từ 20 năm
đến trên 50 năm và trở thành nghề truyền thống không thể thiếu ở vùng sông nước An Giang Trải qua mỗi mùa lũ, người tham gia nghề đã trở nên chuyên
nghiệp, biết chủ động sáng tạo trong từng khâu sản xuất, sản phẩm làm ra bóng, đẹp, chắc, bền (Thu Trang, 2011) Nghề đã giải quyết nhu cầu việc làm
thường xuyên, thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động ở địa phương Thi
trường tiêu thụ của các nghề là khu vực ĐBSCL, miền Trung và xuất khẩu
sang thị trường Thái Lan, Campuchia (Thu Trang, 2009).
An Phú là huyện đầu nguồn của tỉnh An Giang, có nhiều mô hình người dân
sống chung với lũ, trong đó có mô hình nghề đan lọp cá linh tồn tại khỏang 15 năm tại cồn Cóc, xã Phước Hưng Nghề tập trung sản xuất vào mùa lũ Lọp cá
linh là phương tiện để đánh bắt cá linh non — một loại đặc sản của huyện đầu
nguồn, khu vực giáp với biên giới Campuchia Khi mùa lũ về, cá linh non
cũng bắt đầu xuất hiện ở đầu nguồn rồi xuôi theo dòng nước đến các dòng kênh, rạch, tràn lên những cánh đồng ngập lũ (Quốc Dũng - Lương Phúc —
Thanh Vũ, 2009).
Tuy nhiên năm 2010 lũ không về, người dân tham gia nghề sản xuất lọp cá linh gặp nhiều khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ và nguồn thu nhập trong mùa lũ Chủ hộ sản xuất lọp không tiêu thụ được lọp, thị trường bap
bênh từ đó nghề dan lop cá linh bắt đầu giảm.
Nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến nghề sản xuất ngư cụ ở An Giang nói
chung và nghề đan lọp cá linh nói riêng gồm lũ thấp, nguồn cá tự nhiên giảm,
thị trường tiêu thụ giảm, thu nhập giảm là những nguyên nhân dây chuyền đo
lũ thấp gây ra Vì vậy nguyên nhân lũ thấp ảnh hưởng đến nghề đan lọp cá
linh là quan trọng nhất Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ tập trung vào yếu tố
lũ thấp ảnh hưởng đến sự suy giảm nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc, xã Phước
Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Trang 101.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu những ảnh hưởng lũ thấp đến nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc, xã
Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang và cách ứng phó của người dân
đối với sự suy giảm mực nước lũ.
- Tìm hiểu cách ứng phó của người dân đối với sự suy giảm mực nước lũ.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận định của người dân về mối liên hệ giữa lũ thấp và sự suy giảm nghề
đan lọp cá linh như thế nào?
- Lũ thấp có những ảnh hưởng đến nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc như thế
nào?
- Cách ứng phó của người dân làm nghề đan lọp cá linh trước hiện tượng lũ
thấp như thé nào?
1.4 Giới hạn đề tài
1.4.1 Giới hạn nội dung
- Tìm hiểu nguyên nhân sự suy giảm số lượng hộ làm lọp và sản lượng lọp cá
- Tìm hiểu cách ứng phó của những nông hộ tham gia nghề đan lọp cá linh với
hiện tượng lũ thấp nhằm duy trì nghề đan lọp và chiến lược sinh kế của họ
trong thời gian tới.
- Tìm hiểu những chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với nghề
đan lọp cá lính.
1.4.2 Giới hạn thời gian
Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 02/2012 đến 05/2012.
Trang 11Chương 2
Lược khảo tài liệu
2.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu :
An Phú là huyện đầu nguồn của tỉnh An Giang Huyện An Phú có địa thế chialàm 3 phần, sông Hậu chạy xuyên ở giữa chia đôi mảnh đất, đồng thời saunhiều năm phù sa tích tụ tạo nên cù lao An Phú nằm giữa sông chia thành 2
nhánh nhỏ: nhánh phụ phía tây rộng khoảng 300m (gọi là sông Bình Di),
nhánh chính phía tây rộng hơn Huyện An Phú có địa danh bao gồm: 2 thịtrấn, 12 xã, 58 khóm ấp, diện tích đất tự nhiên là 22.641,71 ha trong đó diệntích đất nông nghiệp là 18,984.92 ha chiếm 83,5 % tổng diện tích toàn huyện (niên giám thống kê huyện An Phú, 2010) Phần lớn đất nông nghiệp là đất
phù sa ven sông Hang năm, An Phú chịu ảnh hưởng của mùa lũ hay còn gọi là
mùa nước nỗi Khoảng tháng 6 hang năm, mực nước trên sông MeKong dângcao, mưa nhiều kết hợp với lượng nước tích tụ tại Biển Hồ (Campuchia) làmgần như toàn bộ khu vực này bị bao quanh bởi nước lũ, độ ngập trung bìnhkhoảng 2m - 3m Thời gian ngập lũ kéo dài khoảng 6 tháng ảnh hưởng rất lớnđến tập quán sinh hoạt và thu nhập của người dân
Sinh kế trong mùa khô của người dân sống ở An Phhú đa dạng như: canh tác nông nghiệp, đánh bắt cá tự nhiên, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, công nghiệp Tuy nhiên, dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù của địa phương, tận dụng lợi thế mùa lũ người dân đã chủ động tạo việc làm từ các hoạt động phi nông nghiệp như đánh bắt cá tự nhiên, sản xuất ngư cụ, làm khô cá nước ngọt Những ngành nghề này không chỉ tạo việc làm mà còn cải thiện thu nhập cho người dân vào mùa lũ Đối với một số
hộ gia đình nguồn thu nhập từ các hoạt động này được xem là nguồn thu nhập chính Riêng đối với nghề sản xuất ngư cụ chủ yếu là nghề làm lọp cá linh, một loại ngư cụ đặc trưng phổ biến dùng đánh bắt cá của vùng lũ huyện An
Phú.
Phước Hưng là xã có địa hình dọc theo Tỉnh lộ 956 và sông Hậu, không nằm
trong khu vực vùng sâu vùng xa, nằm xa biên giới được gọi là xã nội địa.Phước Hưng có tổng diện tích đất tự nhiên được xác định là 1.523,29 ha trong
đó diện tích đất nông nghiệp 1.246,80 ha chiếm 82,8 % tổng diện tích toàn xã,
dân số của xã có 2.630 hộ với tổng số nhân khẩu 11.201 người phân bố trên 4
ấp gồm Phước Hòa, Phước Khánh, Phước Thạnh, Phước Mỹ và 100% dân cưngười Kinh (Đề án xây dựng nông thôn mới xã Phước Hưng, 2010).
Ngoài phần đất liền xã Phước Hưng bao gồm một cồn nhỏ tên là cồn Cóc,
được hình thành qua quá trình tích tụ đất phù sa dần dần đưới tác động của
Trang 12dòng luân chuyên trên sông Hậu, cồn Cóc là một cồn Iai, đất phù sa ven sông,nằm giữa dòng sông Hậu và kênh Vĩnh Lộc Diện tích tự nhiên của cồn Cóc là
47 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 37,9 ha chiếm 80,6% tông diện tích đất của cồn, 19,4% đất còn lại bao gồm đất thổ cư và đất vườn (báo cáo
kinh tế xã hội -— an nỉnh quốc phòng 2010).i ee was
Trong năm 2009 toàn xã có 89 hộ làm nghề đan lọp và câu lưới, trong đó có
86 hộ làm nghề đan lọp cá linh tập trung ở cồn Cóc, giải quyết việc làm tại chỗ
cho 711 lao động nhàn rỗi (Báo cáo kinh tế xã hội — an ninh quốc phòng, 2009) Đến năm 2010 số hộ làm lọp giảm còn lại 53 hộ tham gia vào nghề đanlọp cá linh Năm 2011 số lượng hộ tham gia làm lọp tăng lên 63 hộ đan lọp.Nghề đan lọp cá linh phát triển hay suy giảm tùy thuộc vào mực nước lũ mỗinăm và nhu cầu thị trường sản phan lop tại Campuchia
Trang 132.2 Nguồn gốc nghề đan lọp cá linh
Điểm chung nhất các nghề, làng nghề san xuất ngư cụ phụ thuộc vào mực
nước lũ Mỗi năm vào tháng 4 hay tháng 5 các nghề, làng nghề sản xuất ngư
cụ bắt đầu sản xuất Một số làng nghề sản xuất ngư cụ đánh bắt thủy sản mùa
nước nổi tại tỉnh An Giang như: lọp cua, lưới 3 màng (huyện Châu Phú), lọp
cá linh (huyện An Phú), lưỡi câu, dầm, chèo (thành phố Long Xuyên), ghe,
xudng (Choi Mới) giải quyết việc làm hàng ngàn lao động nhàn rỗi tại địa
phương trong mùa lũ (Thu Trang, 2011).
Mùa lũ lớn năm 1997, cá linh nhiều, người dân chủ yếu sử dụng ngư cụ chài, giăng câu, giăng lưới không ai nghĩ đến đánh bắt cá bằng lọp Trong một lần
ông Nuyễn Văn Tong (tổ trưởng tổ sản xuất lop tại cồn Cóc) di dự đám gid
nhà họ hàng ở Vàm Sáng (xã Châu Phong, huyện Tân Châu), quan sát ngoài
đồng có vài người đánh bắt cá linh bằng lọp Cá linh là loài cá đặc trưng vùng
lũ huyện An Phú, Ông mua về | chiếc lop với mẫu lop hình chóp, 3 chân Ong
tự tìm hiểu cách đan và đưa vào sử dụng thí nghiệm đánh bắt cá tại địa
phương Ban đầu làm hơn chục cái đánh bắt cá ở cánh đồng xã Vĩnh Lộc,trung bình khoảng 5g đánh bắt được 4kg cá linh lọp Nhận định mô hình hiệuquả, người dân trong vùng đến gia đình hỏi mua lop và học nghề Kể từ đó,nghề đan lọp cá linh phát triển mạnh trong mùa lũ Sau khoảng thời gian 2năm đến 3 năm hình thành nghề đan lọp, do nhu cầu người tiêu dùng và điều
kiện địa phương ông Tòng tạo ra mẫu lọp mới hình chóp cụt, 2 chân.
Những năm lũ lớn, người dân địa phương chuẩn bị xuồng, ghe rồi lên nhữngcánh đồng tiếp giáp Campuchia đánh bắt cá linh bằng lọp, người dânCampuchia tìm học cách sử dụng và đến cồn Cóc đặt mua lọp đánh bắt trongmùa lũ Mỗi năm từ tháng 4 đến tháng 8 là khách hàng Campuchia và các xãtrong huyện bắt đầu đến đặt mua hàng chục ngàn cái lọp ở cồn Cóc Riêng hộông út Tong trung bình mỗi mùa nước nỗi tiêu thụ trên 2.000 chiếc lop sang
thị trường Campuchia (Hữu Huynh, 2011).
2.3 Sơ lược làng nghề
2.3.1 Khái niệm nghề
Các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phương nào đó được gọi lànghề khi tạo ra được một khối lượng sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thườngxuyên và những người sản xuất, hoặc hộ sản xuất đó lấy nghề làm nguồn thuchủ yếu thì mới được xem là có nghề (Phạm Sơn, 2012)
2.3.1 Khái niệm làng nghề
Theo UBND tỉnh Vĩnh Phúc làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp(làng nghề) là làng có ngành nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-
Trang 14TTCN) phát triển tới mức trở thành nguồn thu nhập quan trọng, nguồn sốngchính của người dân trong làng.
2.3.2 Tiêu chí được công nhận là làng nghề tiểu thủ công nghiệp (UBND
tỉnh An Giang ban hành quyết định số 3195/2005/QĐ-UBND 29/11/2005)
Thứ nhất: Làng nghề tiểu thủ công nghiệp là địa bàn dân cư (tô, liên tổ, khóm,
ấp, phường, xã ) có hoạt động sản xuất và dịch vụ một hoặc nhiều sản phẩm
tiêu thủ công nghiệp khác nhau, nhưng cùng một nguyên liệu hay một nhóm
nguyên liệu tương tự.
Thứ hai: Làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống (làng nghề truyền
thống) là làng nghề tiểu thủ công nghiệp, mà nghề được hình thành từ nhiều
năm và được lưu truyền ít nhất 3 thế hệ hoặc từ 75 năm trở lên, tạo ra sản
phẩm có tính riêng biệt, nổi tiếng ở địa phương được nhiều người biết đến và
có nghệ nhân được cơ quan có thấm quyền phong tặng.
Thứ ba: Tên của làng nghề tên của làng nghề gắn liền với tên của nghề và địa
danh (khóm, 4p, xã, phường, thị tran ) Nếu trên địa bàn có nhiều nghề thì tên
của làng nghề vẫn được lấy tên của nghề gắn với địa danh.
Thứ tu: Biểu tượng của làng nghề là làng nghề có thể có biểu tượng (Logo) để
các thành viên của làng nghề sử dụng và nhằm làm tăng thêm vị thế cạnh
tranh, quảng bá sản phẩm Biểu tượng của làng nghề phải nêu được đặc trưng
hình tượng hóa của làng nghề và tuân thủ các quy định hiện hành về biểu
trưng, biểu tượng.
Thứ năm: Thành viên của làng nghề bao gồm cá nhân, hộ sản xuất, tổ hợp tác,
hợp tác xã, các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các hiệp
hội, hội nghề nghiệp có tham gia sản xuất cùng ngành nghề.
2.4 Một số khái niệm
2.4.1 Một số khái niệm lũ
Theo Lê Anh Tuấn (2007) đưa ra một số khái niệm về lũ
Lit lụt
Li lụt là một hiện tượng tự nhiên, gần như xảy ra hàng năm Lũ do nước sông
dâng cao trong mùa mưa Số lượng nước dâng cao xảy ra trên một con sông ở
mức tạo ra thành lũ có thể xảy ra một lần hoặc nhiều lần trong năm Khi nước
sông dâng lên cao (do mưa lớn hoặc/và triều cao) vượt qua khỏi bờ, tràn vào
ving tring và gây ra ngập trên một diện rộng trong một khoảng thời gian gọi
là ngập lụt Lũ lụt được gọi là lớn và đặc biệt lớn khi nó gây ra nhiều thiệt hại
lớn và kéo đài về người và của cải.
Lũ được phân biệt thành các loại
- Lấ nhỏ là loại lũ có đỉnh lũ thấp hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm.
Trang 15- Lữ trung bình là loại lũ có đỉnh đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm.
- _ Lữ lớn là loại lũ có đỉnh đạt mức cao hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm.
2.4.2 Một số ngư cụ và phương pháp đánh bắt cá ĐBSCL
Theo Đặng Văn Thắng (2010) đưa ra một số khái niệm ngư cụ và phươngpháp đánh bắt được sử dụng phổ biến ở ĐBSCL như sau:
Lop (lop cua, lop tép, lop cá, lop tôm)
Lop có hình trụ tròn, đường kính trung bình 35cm, dai 50cm, được thực hiện
từ những nan tre và giữ chặt nhờ dây kẽm, dây gân Đầu lọp có gắn hom,
đường kính bằng đường kính của miệng lop, đáy hom nhỏ và xéo lên 1/3 thân
lọp tính từ miệng, có gắn hom thứ hai có đáy nhỏ hơn hom thứ nhất Day lop
có gắn mặt chặn và có cửa để đỗ cá ra.
Lo
Lo được dan từ những nan tre nhỏ, mong, chỉ sử dụng hai ba mùa lỗ con nước
(một tháng có hai con nước) Cách làm lờ cũng đơn giản: Sau khi đan được
một mảnh tre dài 90cm, rộng 4 cm, người thợ cuốn lại, có cửa để đỗ cá ra Hai
đầu của lờ có gắn hai mặt dựng, có gắn hom ở giữa tạo lờ bánh ú, hay cuốn
tròn lại, gắn một hay hai hom tạo lờ ống.
Lưới
Lưới cũng giống như chài, nhiều gia đình sống ven sông, kênh rạch thường sử
dụng loại ngư cụ này Đặc biệt, có nhiều gia đình chuyên sống nghề này tạo
thành một xóm, gọi là xóm lưới Tùy theo kích cỡ cá mà người dân tạo ra
những loại lưới khác nhau.
Đăng
Đăng là một loại ngư cụ đánh bắt cá phổ biến ở ĐBSCL Đăng có tác dụng chan cá, gắn liền với đăng thường là đó — dụng cụ dé hứng cá.
Bung — lờ - lọp
Vào tháng 11 đến tháng 2, vào gần cuối mùa mưa năm trước cho đến cuối mùa
khô năm sau là lúc nước cạn, cá theo nước ra sông là lúc người dân đặt bung
để bắt
2.5 Diễn biễn lũ qua các năm
Năm 2010, đỉnh lũ trên sông Tiền tại Tân Châu dat mức 3,15m, trên sông Hậu tại Châu Đốc là 2,6m, thấp hon gần 1m so với trung bình trong giai đoạn 2000
- 2010 So với năm 2009, đỉnh lũ trên sông tiền tại Tân Châu đạt mức 4,12m,
trên sông Hau tại Châu Đốc là 3,52m Đỉnh lũ năm 2000 là 5,0óm, nguyên
nhân dẫn đến tình trạng lũ không về ĐBSCL là do lượng mưa ở thượng nguồn
thấp so với trung bình nhiều năm (B Đại, 2010) Dinh lũ năm 2011 là 4,86m
trên sông tiền tại tân Châu.
Trang 162.6 Thực trạng đánh bắt cá ở ĐBSCL
Theo thống kê của Chi cục Thuỷ sản tỉnh An Giang, hang năm tỉnh An Giang
có khoảng 100.000 tấn cá đánh bắt tự nhiên, trong đó số lượng cá linh có thể
chiếm trên 30% Với số lượng cá linh nhiều được đánh bắt trong thời điểm
nhất định khoảng tháng 6 đến tháng 11 mùa cá (Trung Liêm, 2010).
Riêng đối với huyện An Phú tổng sản lượng cá nuôi trồng và đánh bắt năm
2010 là 1.612 tắn, giảm so với năm 2009 là 2.785 tấn (Niên giám thống kê
huyệ An Phú, 2010).
2.7 Đặc điểm lao động tham gia nghề sản xuất ngư cụ
Làng nghề làm lưỡi câu xã Mỹ Hòa (Thành phố Long Xuyên): Nghề hình
thành ở địa phương và đã gắn bó với người dân lao động trên 30 năm, khoảng
300 hộ tham gia nghé, giải quyết việc làm cho gần 700 lao động nông nhàn tại
địa phương, nhiều nhất so với các làng nghề sản xuất phương tiện phục vụ
mùa lũ trong tỉnh An Giang (Lê Như Giang, 2009).
Làng lưới Thơm Rơm (phường Tân Hưng, quận Thốt Nót, TP Cần Thơ): Hiện
nay làng nghề có 30 cơ sở sản xuất, giải quyết việc làm cho khoảng 800 - 900 lao động nông nhàn tại địa phương Khi mùa lũ về, mỗi cơ sở thu hút 30 - 40 lao động từ các cụ già cho đến trẻ em trên 7 tuổi đều tham gia được Ngoài ra
còn có hơn 100 hộ gia đình ở địa phương nhận hàng từ các cơ sở sản xuất về
làm gia công tính tiền theo sản phẩm (Phương Kiều, 2008).
Nghề lam lop cua Mỹ Đức (xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, An Giang): Nghề
đan lọp cua ở xã Mỹ Đức được công nhận làng nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống vào năm 2009, có 63 hộ sản xuất thường xuyên với 215 lao động.
Đa số những người đan lọp cua đều là những người trung niên hoặc phụ nữ Còn thanh niên ở địa phương chọn cho mình một nghề năng động hơn vào mùa lũ, thu nhập cũng không thua kém, đó là nghề đánh bắt cua bằng lọp
(Thanh thảo, 201 1).
2.8 Tác động của lũ đến nghề sản xuất ngư cụ
2.8.1 Lũ thấp ảnh hưởng đến sự suy giảm nghề sản xuất ngư cụ
Năm 2009 có lũ các làng nghề sản xuất phương tiện chuẩn bị cho mùa nước
nổi ở tỉnh An Giang như làm lưỡi câu, dầm chèo (thành phố Long Xuyên),
đóng xuồng (Chợ Mới), lop cua, lưới 3 màng (Châu Phú), lop cá linh (An Phú)
đã nhộn nhịp vào cao điểm, thu hút hàng ngàn lao động tham gia nghề với
thu nhập bình quân 50.000 - 100.000 đồng "ngày Giải quyết nhu cầu việc làm
thường xuyên, thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động ở địa phương (Thu
Trang, 2009).
Trang 17Tuy nhiên, năm 2010 lũ không về, lượng cá tự nhiên giảm người dân tham gia
nghề đánh bắt không có nhu cầu khai thác thủy sản nên các nghề sản xuất ngư
cụ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm thị trường tiêu thụ Tại các làng nghề sản
xuất lờ, lọp, lưới, lưỡi câu Châu Phú, An Phú, Chợ Mới, Long Xuyên (An
Giang) đang chờ khách hàng đến tiêu thụ (Hồng Thạnh, 2010).
2.8.2 La thẤp ảnh hướng thu nhập người dân tham gia nghề sản xuất ngư
cụ
Lũ năm 2010 đến muộn và thấp hơn nhiều năm trước, cư dân tham gia nghề sản xuất ngư cụ gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất, kinh doanh làng nghề
của mình.
Làng nghề lưỡi câu Mỹ Hòa (Thanh Phố Long Xuyên): Nghề này có từ lâu đời
và mang tính chất mùa vụ Toàn ấp có 421 hộ thì có khoảng 200 hộ làm lưỡi câu thường xuyên, số hộ còn lại thường chỉ làm vào những tháng mùa nước
nổi.Trong đó, có 7 cơ sở sản xuất quy mô lớn thu hút gần 700 lao động ở địa
phương có việc làm ổn định với mức thu nhập từ 25.000 - 70.000
đồng/người/ngày Năm 2010 thị trường của làng nghề lưỡi câu tiêu thụ giảm 1⁄2 so với năm 2009 thu nhập chủ hộ sản xuất và hộ làm lưỡi câu thuê giảm
(Quốc Dũng, 2010)
Làng nghề lọp cua Mỹ Đức (Châu Phú, An Giang): Năm lũ lớn, ngay từ đầu
vụ tất cả lao động gia đình đều tham gia nghề đủ cung cấp hàng cho thương lái Trung bình cứ khoảng 4 — 5 ngày, một hộ sản xuất được 100 cái lọp cua.
Giá lọp cua cũng được thương lái mua dao động theo con nước ngoài sông,
đầu mùa lũ lọp có giá 30.000 đồng 'chiếc, giữa mùa lũ tăng lên đến 40.000 đồng 'chiếc Trừ chỉ phí, mỗi hộ thu lợi nhuận khoảng 15.000 đồng 'chiếc,
vậy trung bình 4 — 5 ngày thu nhập 1.500 đồng 'hộ (Thanh Thảo, 2011) Vào
những năm lũ thấp (2010) thì nghề đan lọp cua ở Mỹ Đức thu nhập thấp,
không tìm được thị trường tiêu thụ (Quốc Dũng, 2010).
Làng lưới Thom Rom (phường Tân Hưng, quận Thốt Nót, TP Cần Thơ): Năm
2009, làng lưới Thơm Rơm thu nhập theo sản phẩm, trung bình mỗi ngày
người thợ thu nhập được 35.000 - 40.000 đồng 'ngày Đối với những người
thợ giỏi, tay nghề cao thu nhập từ 60.000 - 70.000 đồng 'ngày (Quốc Dũng,
Lương Phúc, Thanh Vũ, 2009) Năm 2010 thu nhập những người thợ nam
mỗi ngày được 70.000 — 80.000 đồng “người, thợ nữ thì 50.000 — 60.000 đồng 'người Lúc vào chính mùa lưới cũng là lũ chính vụ có thể thu nhập trung bình mỗi ngày người thợ được 80.000 - 100 đồng "người Nhiều em học
sinh nghèo tranh thủ mùa hè nhàn rỗi đến làm thêm những công đoạn đơn giản
như luồn lưới, kẹp chì có thu nhập 10.000 — 15.000 đồng “ngày Ở nông thôn,
Trang 18đặc biệt là mùa lũ có khoản thu nhập từ nghề đan lưới tham gia công việc nhẹ
nhàng, môi trường thoáng mát rất quan trọng Nhờ nghề đan lưới, nhiều hộ
thoát nghèo, con cái được học hành tốt (Thanh Tâm, 2010).
Năm 2011, thu nhập ngời dân tham gia các làng nghề sản xuất ngư cụ phục vụ trong mùa lũ ở tỉnh An Giang, thu nhập bình quân trên 100.000 đồng/ngày/lao
động chính va 60.000 - 80.000 đồng/ngày/lao động làm gia công (Thu Trang,
2011).
2.0 Thuận lợi và khó khăn nghề sản xuất ngư cụ
2.0.1 Thuận lợi
Tạo nguồn thu nhập ổn định
Khi mùa lũ về người dân sinh sống trong vùng nông thôn không có việc làm,
không tạo được nguồn thu nhập, chỉ có nghề sản xuất ngư cụ tạo thu nhập và
việc làm cho người tại địa phương Một số hộ thì thu nhập từ nghề là thu nhập
chính nông hộ Thu nhập trung bình một người thợ tham gia làng nghề sản xuất ngư cụ là 80.000 — 150.000 đồng 'ngày, nguồn thu nhập cao cho người
dân sinh sống ở nông thôn Tiền công lao động được tính theo sản phẩm người
thợ làm ra trong một ngày (Lưu Vỹ, 2011).
Lao động
Hàng năm trung bình mỗi nghề sản xuất ngư cụ giải quyết việc làm cho 300
lao động địa phương Nghề này có điều kiện thuận lợi tận dụng nguồn lao
động nhàn rỗi tại địa phương, công việc không phân biệt về giới tính và độ
tuổi lao động (Thu Trang, 2009)
Phong tục tập quán sản xuất
Sống chung với lũ là tập quán lâu đời của cư dân vùng sông Cửu Long Mùa
nước nổi người dân sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nguồn lợi thuỷ sản
nước ngọt mang lại, trong đó có con cá linh (Trung Liêm, 2010) Nghề tiểu thủ công nghiệp sản xuất ngư cụ hình thành cách đây trên 20 năm, được truyền đạt kinh nghiệm từ các thế hệ trước Mỗi năm đến mùa lũ các nghề sản xuất ngư cụ nhộn nhịp sản xuất phục vụ nhu cầu đánh bắt cá người dân vùng lũ, đã trở thành phong tục sinh hoạt hàng năm mỗi làng nghề Những năm lũ thấp các làng nghề không sản xuất, người dân không có việc làm mọi người đều
trong tâm trạng buồn, ảnh hưởng đến sinh hoạt người dân hàng ngày trong
mùa lũ, thu nhập thấp (Quốc Dũng, 2010).
2.9.2 Khó khăn
Lit thấp
Người dân sinh sống ở ĐBSCL tận dụng lợi thế mùa lũ là thu hoạch nguồn lợi
thủy sản tự nhiên, đối với những hộ nghèo thu nhập từ nghề đánh bắt cá là thu
10
Trang 19nhập chính Cho nên những năm không có If một bộ phận nông dân ĐBSCL gặp khó khăn tìm việc làm và nguồn thu nhập Khi sống chung với lũ, khái
niệm lũ ở ĐBSCL gần như không còn, thay vào đó là mùa nước nổi Nước
càng cao, người dân trong vùng có việc làm, thu nhập ổn định, một số hộ thoát
nghèo nhờ mùa nước nổi nghề đánh bắt cá phát triển kéo theo nghề sản xuất
ngư cụ phát triển (Thanh Tâm, 2010).
Năm 2010 lũ thấp, nguồn lợi thủy sản suy giảm trên các con sông ở ĐBSCL,ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ dân sống bằng nghề đánh bắt cá mùa lũ ĐồngTháp đã mắt đi hàng trăm tỷ đồng nguồn lợi từ thủy sản do mùa lũ đem lại và
chắc chắn năm nay có nhiều hộ dân sẽ rơi vào hoàn cảnh tái nghèo (Lê Hiền,
2010).
Bên cạnh đó, hàng trăm ngàn người dân ở An Giang bắt tay vào khai thác tiềm
năng lợi thế mùa lũ tăng thu nhập và làm giàu Bây giờ ĐBSCL nói chung và
người dân An Giang nói riêng không còn sợ lũ, mà trông đợi lũ về để làm việc
tạo nguồn thu nhập, một số người làm giàu nhờ lũ An Giang có một số hộ chỉ
khai thác thủy sản mùa lũ đã có tích lũy cho nhiều tháng trong năm (Tố
Quyên, 2009).
Tại An Giang, mùa lũ mỗi năm mang lại doanh thu khoảng 1.500 tỷ đồng, giải
quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động Năm 2010 không có lũ, tỉnh có
thé mắt hàng trăm tỷ đồng từ thu nhập mùa lũ (Anh Nhi — Hồng Lĩnh, 2010)
Trong nhiều khó khăn thì lũ thấp ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề sảnxuất ngư cụ nhiều nhất Đặc trưng của nghề là sản xuất tùy thuộc vào lượngcá
tự nhiên, lũ thấp nhiều hộ đánh bắt cá không tham gia vào nghề nữa, thị trường
của nghề giảm mạnh, thu nhapgiam do không tiêu thụ đợc sản phẩm Khi lũ
thấp không có khách hàng tiêu thụ sản phâm các chủ cơ sở rơi vào tình trạng
lỗ vốn hay nhốt vốn Lũ thấp là một khó khăn các chủ co sở sản xuất ngư cụkhông thể dự đoán chính xác và chưa có cách ứng phó
Khan hiếm nguồn tài nguyên thủy sản tự nhiên
Theo T.Thủy (2010) vùng ĐBSCL với những lợi thế về đất đai (có bờ biển dài700km, vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 360.000 km”), sông, biển và
nguồn sinh vật đa dạng, phong phú mỗi năm đóng góp khoảng 18% GDP cảnước, chiếm 65% sản lượng nuôi trồng và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản
cả nước được đánh giá là vùng có tiềm năng lớn trong sản xuất thủy sản HiệnĐBSCL đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản nghiêm
trọng do nhiều nguyên nhân như: ô nhiễm môi trường nước, tình trạng khai
thác quá mức tràn lan
I1
Trang 20Vì vậy, sản lượng thủy sản tự nhiên ở ĐBSCL đang có nguy cơ cạn kiệt
nghiêm trọng Nguyên nhân một phần do thị hiếu của người tiêu dùng, bởi cá
nuôi ngày càng tràn lan thì người tiêu dùng lại càng muốn tìm đến những
giống cá tự nhiên với chất lượng thịt ngon, đảm bảo an toàn dù giá cao hơn cá
nuôi gấp 2 - 3 lần Qui luật cung — cầu, cá tự nhiên có giá thì người đánh bắt
phải dùng mọi cách để có được bằng nhiều kiểu đánh bắt không được phép
như xung điện, cào điện, đánh bắt bằng lưới mùng, hoặc các loại ngư cụ có mắc lưới rất nhỏ có thể đánh bắt được cá con, cá bột, cá tạp, Những hành
động này không chỉ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản tự nhiên mà còn
phá hủy sinh cảnh của cả vùng
Mua lỗ người dân sinh sống trong vùng ĐBSCL tìm nguồn thhu nhập từnguồn lợi thuỷ sản nước ngọt, trong đó có con cá linh Tuy con cá linh đã
mang lại nguồn lợi thuỷ sản vô tận, nhưng gần đây sản lượng cá linh giảm dần
do tác động của môi trường và do khai thác quá mức của con người Theo
nhiều nhà khoa học chuyên ngành thuỷ sản thì nguyên nhân sâu xa hơn đó là
do bàn tay con người ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống,
nhất là các nước thượng nguồn ngăn sông xây đập thuỷ điện dòng sông
MeKong làm biến đổi dòng chảy, biến đổi khí hậu và tất nhiên sẽ ảnh hưởng
đến cuộc sống cư dân toàn vùng Càng thấy rõ ràng hơn cách đây không lâu
nhiều loại cá nước ngọt như cá leo, cá hô, cá mè, cá cốc,v.v khang hiếm thì
nay cá linh đang cạn kiệt dần, nếu con người không tự biết nâng cao ý thức
bảo vệ nó, và khi sản vật này cạn kiệt nguồn sống của cư dân trong vùng sẽ
thu hẹp đời sống sẽ gặp khó khăn (Trung Liêm, 2010).
Thị trường tiêu thụ giảmĐặc trưng nghề phục vụ đánh bắt cá là cung cấp sản phẩm cho người dân sống
trong vùng lũ, các nghề sản xuất ngư cụ ở ĐBSCL tạo được thị trường trong
nước và xuất khâu sang Campuchia, Thái Lan, Lào Thị trường xuất khẩu là thị trường chính của nghề, có nhu cầu rất lớn về sản phẩm lọp cá linh, lọp cua, lưới 3 màng, lưỡi câu Những năm gần đây thị trường các làng nghề này đã
và đang thu hẹp nên tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là năm
2010 lũ thấp các nghề sản xuất ngư cụ không có thị trường tiêu thụ (Thanh
Tâm, 2010).
2.10 Thị trường nghề sản xuất ngư cụ
Các sản phẩm lưỡi câu, lưới, lợp cá, lop cua đều đã hình thành 20 - 50 năm, trở thành nghề truyền thống nên người tham gia nghề đã chuyên nghiệp, sản
xuất theo dây chuyền, sản phẩm làm ra đều tay, chắc chắn, bền, đẹp; không
2
Trang 21chỉ thu hút thị trường khu vực ĐBSCL, miền Trung mà còn xuất khẩu sang thị
trường Thái Lan, Campuchia (Thu Trang, 2009).
Làng nghề lưỡi cấu Muong Thi (phường Mỹ Hòa, TP Long Xuyên, AnGiang): Làng nghề đã sản xuất đa dạng mẫu mã sản phẩm, trong đó có lưỡi
câu làm bằng chất liệu inox nên không bị gãy, không bị oxi hóa đáp ứng được
thị hiếu người tiêu dùng Hiện nay làng nghề vươn đến thị trường tiêu thụkhắp các tỉnh ĐBSCL, bên cạnh làm lưỡi câu cá nước ngọt, người dân còn sảnxuất lưỡi câu ếch, rùa, đặc biệt là câu cá bién , đưa sản phẩm ra các tỉnh Miền
Trung tiêu thụ và xuất khâu sang thị trường Campuchia nhờ có độ sắc bén,
bền, hiệu quả và giá rẻ (Hồng Thạnh, 2010)
Làng lưới Thom Rom (phường Tân Hưng, quận Thốt Nét, TP Cần Thơ): Ban
đầu làng lưới Thơm Rơm sản xuất ra tiêu thhụ cho thị trường địa phương vàcác huyện lân cận ở Ô Môn, Cờ đỏ Hiện nay làng nghề lưới đã sản xuất nhiềuloại lưới phục vụ đánh bắt cá trong mùa lũ, nhận được đơn đặt hàng từ các tỉnh
An Giang, Đồng Tháp về lẻ cho dân địa phương Không ngừng ở thị trường
trong các tỉnh lân cận làng lưới đã đưa sản phẩm đến thị trường nhiều chợ
trong vùng ĐBSCL (Thu Trang, 2009).
Làng nghề làm lop cua, lop tép Mỹ Đức (xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, An
Giang): Làng nghề này tăng cường tìm thị trường tiêu thụ cho cư dân vùng lũ
Làng nghề sản xuất sản phẩm đa dạng, đặt cua, đặt tép đánh bắt được sản
lượng cao Thị trường trong nước tiêu thụ cua mạnh, nên nhiều hộ ở
Campuchia cũng bắt đầu tìm nguồn thu nhập bằng nghề đánh bắt cua, họ mua
lọp cua của các thương lái Việt Nam Sản phẩm tiêu thụ mạnh ở các tỉnh
ĐBSCL và xuất khẩu sang thị trường Campuchia (Thanh Tâm, 2010)
Lũ ở ĐBSCL nước lên từ từ mang theo phù sa bồi đắp cho ruộng vườn và
lượng cá, tôm đồi dào Đây là nguồn thu nhập chính của cư dân vùng lũ
ĐBSCL Do nước lũ năm 2010 về muộn và thấp, nên sản phẩm của các làngnghề sản xuất ra khó tiêu thụ, nhiều làng nghề lượng tiêu thụ giảm khoảng80%, đời sống người đân khó khăn (Thanh Tâm, 2010)
2.11 Chính sách hỗ trợ làng nghề sản xuất ngư cụ
Năm 2011, Bộ NN&PTNT đã có Quyết định 2636/QD-BNN về việc phêduyệt Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề Nhiều giải pháp đã được
xây dựng, nhằm góp phần phát triển bền vững khu vực nông thôn những năm
tới, trong đó có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi
trường làng nghề và đất đai (Hiền Hòa, 2012)
Tỉnh An Giang chủ trương ưu đãi nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xãhội, giải quyết bình quân từ 5 - 10 triệu đồng 'hộ để đầu tư nguyên vật liệu và
13
Trang 22làm sản phẩm dự trữ, kịp thời đáp ứng nhu cầu thị trường, kể cả lúc cao điểm, tạo việc làm thường xuyên cho lao động tại chỗ, nhất là trong 4 tháng nhàn rỗi
mùa nước nổi vẫn có nguồn thu nhập cho gia đình, để người dân thật sự yên
tâm sống chung với lũ (Thu Trang, 201 1)
Theo Huỳnh Thế Năng (2011), ngày 01 tháng 08 năm 2011 quyết định số
31/2011/QĐ-UBND, ban hành quy định một số chính sách khuyến khích phát
triển nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang.
14
Trang 23Chuong 3
Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập từ những nguồn có sẵn liên quan từ cấp
xã đến cấp huyện, những bài báo, tạp chí, và những thông tin được thông báo
trên đài truyền thanh Nội dung thông tin thu thập như sau: báo cáo tình hình
lũ từ năm 2009 - 2011, sự hình thành và phát triển nghề đan lọp, tổng số lượng
hộ tham gia hoạt động đan lọp và tổng số lượng lọp sản xuất giai đoạn 2009
-2011, nguyên nhân suy giảm nghề, yếu ảnh hưởng đến nghề, các chính sách
hỗ trợ nghề đan lọp cá linh, xu hướng phát triển nghề trong tương lai.
3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Sau khi thu thập thông tin thứ cấp tiến hành thu thập thông tin sơ cấp hoàn
chỉnh nội dung bài nghiên cứu Thông tin sơ cấp thu thập từ địa điểm nghiên
cứu thông qua các công cụ như: Phỏng vấn KIP, PRA, phỏng vấn nông hộ,
phỏng van sâu, quan sát trực tiếp địa bàn nghiên cứu.
Phỏng vấn KIP: Phỏng vấn phó chủ tịch xã, tổ trưởng tổ vay Ngân hàng chính sách xã hội, t6 trưởng tổ sản xuất lop, chủ hộ có nhiều kinh nghiệp trong
nghề đan lọp cá linh tại cồn Cóc Nội dung thu thập thông tin: Tổng quan về
nghề đan lọp cá linh gồm số lượng hộ tham gia, sản lượng lọp trong mùa lũ,đời sống người dân tham gia hoạt động nghề đan lọp cá linh, mức độ ảnh
hưởng của nghề đan lọp đến đời sống người dân, xu hướng phát triển của nghề
đan lọp cá linh trong tương lai.
PRA: Thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm, mỗi nhóm khoảng 5 - 7 người bao
gồm nhóm chủ hộ làm lọp và nhóm hộ làm lọp thuê Hai nhóm được phỏngvấn vào thời gian khác nhau dùng những câu hỏi mở gợi ý để thu thập những
thông tin có liên quan đến nghề đan lọp và sự ảnh hưởng mực nước lũ Một số
công cụ sử dụng thu thập thông tin gồm: Sơ lược lịch sử, lịch thời vụ, cây vấn
đề, phân tích xu hướng
Mục đích của thảo luận nhóm là ghi nhận những nhận định của người dân về
ảnh hưởng lũ thấp đến sự suy giám nghề đan lọp cá linh, quan điểm của ngườidân về tình hình sản xuất lọp hiện tại, mức độ ảnh hưởng nghề đến sinh kế
người dân trong mùa lũ Bên cạnh đó, thảo luận nhóm cung cấp những thông
tin về những khó khăn, thuận lợi và cách ứng phó hiện tại và tương lai của
nghề, xu hướng phát triển nghề đan lọp cũng được ghi nhận Cuối cùng là thu
thập thêm thông tin về những chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương
đối với việc phát triển nghề đan lọp cá linh ở hiện tại và tương lai
15
Trang 24Phong vấn nông hộ (phỏng vấn bằng bảng hỏi): Thu thập những thông tin cụ
thể về hộ tham gia hoạt động đan lọp cá linh, vai trò của nghề đan lọp trong
sinh kế mùa lũ đối với những chủ hộ làm lọp và những hộ làm lọp thuê tại cồn
Cóc, xác định những nguyên nhân làm suy giảm nghề đan lọp đặc biệt vai trò
lũ thấp đối với nghề đan lọp Do điều kiện tổ hợp mẫu tại địa phương có 63
mẫu, nghiên cứu chọn số mẫu 30 hộ bao gồm: Nhóm chủ hộ làm lop 15 hộ và
nhóm hộ làm lop thuê 15 hộ Trước khi thực hiện phỏng vấn hộ chính thức,
tiến hành phỏng vấn thử 5 hộ, sau đó điều chỉnh bảng hỏi để thực hiện cuộc
thu thập những nhận định các chủ hộ làm lọp về xu hướng phát triển nghề lọp.
Phóng vấn sâu: Trong quá trình phỏng vấn bằng hỏi đối với chủ hộ làm lọpfe
và hộ làm lop thuê chọn 4 đối tượng thực hiện cuộc phỏng vấn sâu như: Một chủ hộ thoát nghèo từ nghề đan lọp cá linh, một hộ có nguồn thu nhập chủ yếu vào nghề đan lọp thuê trong mùa lũ, một chủ hộ nghỉ làm lọp, phỏng vấn một
hộ có nguồn thu nhập chủ yếu từ nghề sản xuất lọp Nội dung thu thập thông tin của cuộc phỏng van sâu là sự hình thành nghề, tầm quan trọng của nghề
trong sinh kế hộ gia đình vào mùa lũ, giải quyết viêc làm cho lao động địa phương Những nhận định của người dan về ảnh hưởng của lũ thấp đến nghề đan lọp cá linh, thu nhập trung bình của hộ tham gia nghề đan lọp, những
nguyên nhân chủ hộ nghỉ làm lọp và xu hướng phát triển nghề đan lọp trong
tương lai
Quan sát trực tiếp địa điểm nghiên cứu: Tham gia cùng cộng đồng trong
thời điểm nghiên cứu nhằm trực tiếp quan sát quy trình làm lop, ding máy ảnh ghi nhận một số hình ảnh và máy ghi âm ghi nhận lại cuộc trò chuyện với
người đan lọp thuê và chủ hộ làm lọp, ghi nhận thông tin thông qua tiếp xúc trực tiếp với hộ làm lọp Mục tiêu nhằm đưa ra bức tranh chung về nghề đan
lọp (sáng kiến trong nghề đan lop, mẫu mã sản phẩm, tình hình sản xuất, thị
trường tiêu thụ) Quan sát trực tiếp giúp hiểu rõ vấn đề nghiên cứu.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào 2 nhóm đối tượng bao gồm:
- - Nhóm chủ hộ làm nghề đan lọp cá linh
- Nhóm hộ làm lọp cá linh thuê
Ngoài ra, nhóm hộ nghỉ làm lọp cá linh đã chuyển đổi nghề khác cũng được
tham van.
Qua 2 đối tượng nghiên cứu trên mức độ ảnh hưởng lũ thấp đến nghề đan lọp
cá linh và đời sống người dân tham gia vào nghề này.
16
Trang 253.3 Xử lý số liệu
ị Nghe lại băng ghi âm, xem lại hình ảnh, kiểm tra lại thông tin và phân tích câu
chuyện.
Kiểm tra phiếu điều tra: Nhằm mục đích phát hiện, bổ sung kịp thời các thông
tin chưa chính xác, thiếu xót, loại bỏ những phiếu điều tra không tin cậy.
| Sau khi thu thập thông tin từ bảng hỏi tiến hành nhập và xử lý số liệu bằng
phần mềm Microsoft Exel, sử dụng công cụ này để thống kê, tính phần trămtần suất các thông tin trong bảng hỏi phục vụ cho bài báo cáo
17
Trang 26Chương 4
Kết quả thảo luận
4.1 Thông tin chung của người dân làm lọp cá linh tại cồn Cóc
4.1.1 Độ tuổi hộ làm lop cá linh:
Kết quả phỏng vấn nông hộ cho thấy nhóm chủ hộ làm lọp có độ tuổi cao nhất
là 70 tuổi, trung bình là 43 tuổi và thấp nhất là 18 tuổi Những chủ hộ làm lop
có độ tuổi trên 70 vẫn còn tham gia vào nghề, do sức khỏe vẫn được đảm bảo,
họ đảm nhận một số công đoạn đơn giản, nhẹ nhàng như: đưa nan vào công cụ
kéo nan lọp, đưa na vào khung dệt thân lọp, chuốt nhọn một đầu nan lọp Ngoài ra có một số chủ hộ làm lọp gia đình có trẻ em trên 7 tuổi cho tham gia vào nghề, đảm nhận một số công đoạn không yêu cầu tay nghề cao, tỉ mỉ như
làm đáy lọp Kết quả nghiên cứu độ tuổi lao động của nhóm chủ hộ làm lọp cho thấy nghề đan lọp không phân biệt độ tuổi, cần sức khỏe được đảm bảo.
Tuy nhiên đối với những hộ làm lọp thuê, độ tuổi cao nhất của họ tham gia
vào nghề là 71 tuổi, trung bình là 40 tuổi, thấp nhất là 15 tuổi Ở độ tuổi lao
động tham gia nghề, nhóm chủ hộ làm lọp và nhóm hộ làm lọp có độ tuổi
trung bình tương đương nhau, người từ 30 tuổi đến 50 tuổi Những người đã
lập gia đình chiếm tỷ lệ cao trong nghề, do họ phải chăm sóc gia đình, sức
khỏe không đảm bảo làm công việc vất vả, có đất sản xuất nông nghiệp nên họ
không di cư lao động đến các khu công nghiệp Lao động làm lọp thuê ở độ
tuổi từ 18 tuổi đến 30 tuổi, hay những người chưa lập gia đình, đa số họ chọn
di cư lao động đến các khu công nghiệp tìm nguồn thu nhập cao hơn, một
phần nguyên nhân do thiếu việc làm ở nông thôn
4.1.2 Kinh nghiệm nghề đan lọp cá linhNghề đan lọp cá linh hình thành cách đây khoảng 15 năm tại cồn Cóc Vì vậy
phần lớn chủ hộ làm lọp có số năm kinh nghiệm không cao so với nghề sản xuất ngư cụ khác như: Nghề làm lưỡi câu Mỹ Hòa (thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang) hình thành 30 năm, làng lưới Thơm Rom (quận Thốt Nót,
thành phố Cần Thơ) là 32 năm, làng nghề lọp cua ở Mỹ Đức (huyện Châu
Phú, tỉnh An Giang) là 50 năm Số năm của nghề đan lọp cá linh của cồn Cóc
Phước Hưng, huyệ An Phú, tỉnh An Giang không cao nhưng đủ bề dày các hộ
hoạt động tốt trong nghề Đối với nhóm chủ hộ làm lọp có số năm kinh
nghiệm trung bình là 8,8 năm, éao nhất là 17 năm, thấp nhất là 3 năm (phỏng
vấn nông hộ, 2011) Một số hộ có 17 năm kinh nghiệm cao hơn so với năm
nghề hình thành tại cồn Cóc, do họ có vài năm tham gia nghề đan lọp cá linh
tại Vàm Sáng (Châu Phong, huyện Tân Châu nơi mà người dân cồn Cóc mua
18
Trang 27lọp về học nghé) rồi sau đó lập gia đình và định cư tại cồn Cóc (Thảo luận
nhóm, 2011).
Trong khi đó, nhóm hộ làm lọp cá linh thuê có số năm kinh nghiệm trung bình
thấp hơn nhóm chủ hộ làm lop 1,3 năm, kinh nghiệm trung bình là 7,5 năm và
cao nhất là 13 năm, thấp nhất 3 năm Vì những năm đầu hình thành nghé lop
sản xuất với số lượng ít, chủ hộ làm lọp không thuê lao động và tận dụng lao
động gia đình.
Với số năm kinh nghiệm cao trong nghề giúp cho người thợ nói chung, chủ hộ
làm lọp và hộ làm lọp thuê nói riêng thuận lợi trong việc sản xuất Trước tiên
đối với những chủ hộ làm lọp cá linh giúp họ giảm thất thoát trong đầu tư
nguồn vốn vào nguyên vật liệu, tiền công thuê lao động và kiến tạo ra những
công cụ làm lọp hiện đại tăng nâng suất lao động Số năm kinh nghiệm giúp
chủ hộ làm lop có sáng kiến trong nghề dé thay đổi một số công cụ trong quá
trình sản xuất như: Dùng kéo cắt phan du lop, sử dụng khung dệt, công cụ kéo
nan lọp (phụ chương) Sáng kiến hình thành và được đưa vào áp dụng trong
quy trình sản xuất lọp, tăng năng suất giảm tiền công thuê lao động, công việc
nhẹ nhàng hơn.
Ngoài ra, số năm kinh nghiệm cao trong nghề giúp họ tạo ra sản phẩm đẹp, độ
đồng đều cao, năng suất cao, giao hàng đúng kỳ hạn giúp họ có nhiều chủ hộ
làm lọp thuê.
4.1.3 Trình độ học vấn của hộ đan lọp cá linh
Kết qủa nghiên cứu (Bảng 1) cho thấy trình độ học vấn của nhóm chủ hộ làm
lọp thấp, trung bình là cấp tiểu học (lớp 4), cao nhất là tốt nghiệp trung học cơ
sở (lớp 9) và thấp nhất là mù chữ Nhóm hộ làm lọp thuê có trình độ học vấn
cao nhất tương đương với nhóm chủ hộ làm lọp là tốt nghiệp trung học cơ sở
(lớp 9), trình độ học vấn trung bình là cắp tiểu học (lớp 5), và thấp nhất là học
lớp 2 Đối với yêu cầu quan trọng của nghề đan lọp là kỹ thuật chuyên môn,
không yêu cau trình độ học van; vì quy trình sản xuất nghề chủ yếu là làm thủ công, cần sự khéo léo, tính kiên trì và tỉ mỉ trong công việc tạo ra sản phẩm
đẹp, bền và độ đồng đều cao
Tóm lại, trình độ học vấn nhóm chủ hộ làm lọp và nhóm hộ làm lọp thuê là
thấp do một số nguyên nhân trước đây đang trong giai đoạn đi học gia đình
nghèo không đủ điều kiện đến trường Cuộc sống mưu sinh vất vả chủ hộ
không đủ điều kiện tiếp tục đầu tư vào học van, nên da số trình độ học vấn của
họ thâp.
19
Trang 28Bảng 1: Đặc điểm của chủ hộ tham gia nghề đan lọp cá linh
Thông tin chủ hộ Nhóm chủ hộ làm lọp Nhóm hộ làm lop thuê
Nguồn: Phỏng van nông hộ, 2011
4.1.4 Nguồn lực lao động của nhóm hộ làm lọp cá linh
Qua điều tra những hộ tham gia nghề đan lọp thấy rằng nhóm chủ hộ làm lọp
sử dụng lao động gia đình là chính trong quá trình sản xuất lọp (100% ý kiến) Trong gia đình có bao nhiêu người đủ điều kiện tham gia nghề, đến mùa lọp
tất cả mọi người cùng tham gia, còn lại trẻ em dưới 7 tuổi và người già không
còn khả năng lao động không tham gia nghề Đặc trưng của nghề là “lấy công
làm lời”, các chủ hộ làm lọp tận dụng công lao động gia đình để giảm chi phí
thuê lao động, tích ltiy lợi thuận, tang nguồn thu nhập cho gia đình Ngoài ra,
quy mô sản xuất lọp lớn chủ hộ tận dụng nguồn lao động gia đình và thuê
thêm thợ sản xuất khi vào đỉnh điểm mùa lọp Việc thuê lao động ít hay nhiều không chỉ phụ thuộc vào quy mô sản xuất, còn phụ thuộc vào mực nước lũ
hàng năm và thị trường tiêu thụ lọp.
Hộp thông tin 1: Tình hình thuê lao động làm lop cá linh tại cồn Cóc
Ông Nguyễn Văn Tòng, tổ trưởng sản xuất lọp tại cồn Cóc cho biết: Hiện nay
mỗi chủ hộ làm lọp thuê trung bình 1 lao động, làm công đoạn ráp lọp một
ngày hoàn thành từ 10 — 20 chiếc lọp Bắt đầu vào tháng 6, nước lũ bắt đầu “
nhảy khỏi bờ” thì các chủ hộ làm lop sẽ thuê lao động tăng 2 — 5 lao động.
(Phỏng vấn sâu ông Nguyễn Văn Tong, Te6 trưởng tổ sản xuất lop tại con Cóc,
có 8 năm kinh nghiệm, ấp Phước Khánh, xã Phước Hưng, phỏng vấn ngày 18
20
Trang 29tạo thu nhập cao cho gia đình Số lao động gia đình trung bình tham gia các
ngành nghề khác 2 lao động chiếm 50% tổng số hộ tham gia làm lọp thuê
Nghề làm lop thuê thu nhập không cao hơn so với các nghề làm thuê khác ở
địa phương hay di cư lao động lên các khu công nghiệp ở Bình Dương, Thành
phố Hồ Chí Minh Công việc làm lọp thuê không vắt vả, môi trường làm việc
thoáng mát, vừa làm vừa chăm sóc gia đình phù hợp với phụ nữ, trẻ em và
người cao tuổi Những người nam tham gia nghề làm thuê nông nghiệp, làm
thuê phi nông nghiệp, hay làm lọp thuê ở những công đoạn quan trọng như
đan hom lọp và đan miệng lọp (Thảo luận nhóm, 2011).
4.1.5 Cơ cấu lao động tham gia nghề đan lọp cá linhKết quả phỏng vấn nông hộ, nhóm chủ hộ làm lọp cần số lao động tham gia
nghề trung bình là 5 người bao gồm lao động gia đình và lao động làm thuê
Số lao động gia đình tham gia trung bình vào nghề là 4 lao động (45% ý kiến)
và thuê thêm 1 lao động đan lọp thuê (70% ý kiến) Trong nhóm chủ hộ làmlọp 100% hộ sử dụng tất cả nguồn lao động gia đình vào nghề lọp, cao nhất là
4 lao động Đặc trưng của nghề là lấy công làm lời nên chủ hộ làm lọp tận
dụng tối đa sức lao động gia đình
Tuy nhiên, nhóm hộ làm lọp thuê thì số lượng lao động gia đình tham gia nghềlàm lop thuê là 1 người chiếm 70% tổng số hộ tham gia phỏng van, cao nhát là
2 lao động trong gia đình chiếm 30% Số lao động làm thuê chiếm 20% trong
tổng số lao động tham gia nghề đan lọp Số lao động tham gia nghề khác nhưlàm thuê nông nghiệp, làm thuê phi nông nghiệp, đánh bắt cá là 2 người chiếm50% trong tổng số hộ tham gia nghiên cứu Số lao động tham gia nghề làmthuê khác thu nhập cao hơn, nhưng không ổn định do không có việc làm
thường xuyên.
21
Trang 30Nhóm hộ làm lọp Lao động tham gia nghề 6 30
cá linh đan lọp cá linh 4 9 45
5 2, 10
6 1 5Lao động tham gia nghề 0 2 20
Nhóm hộ làm lọp khác 1 3 30
cá linh thuê 2 5 50
Lao động làm lọp cá linh 2 3 30 thuê 1 7 70
Nguồn: Phỏng vấn nông hộ, 2011
4.1.6 Nguồn lực đất đai
Kết qủa điều tra nông hộ cho thấy 85% nhóm chủ hộ làm lọp có đất sản xuất nông nghiệp, điện tích trung bình 0,37 ba "hộ, còn lại 15% số hộ không có đất sản xuất nông nghiệp, thu nhập chính của nông hộ từ nghề làm thuê và nghề
sản xuất lọp trong mùa lũ
Bên cạnh đó, nhóm hộ làm lọp thuê có diện tích đất nông nghiệp trung bình là 0,23 ha Thộ nhỏ hơn nhóm chủ hộ làm lop là 0,14 ha “hộ, có 62,5% hộ có dat
sản xuất nông nghiệp và 37,5% hộ không có đất sản xuất Nhóm hộ làm lọp
thuê có đất sản xuất thấp hơn nhóm chủ hộ làm lọp là 22,5%.
Tóm lại những hộ không có đất nông nghiệp của cả hai nhóm hộ làm lọp
thường là làm lọp theo mùa vụ, làm thuê nông nghiệp, và hầu hết là làm thuê phi nông nghiệp quanh năm Một số hộ di cư lao động đến các khu công
nghiệp làm công nhân Những hộ có đất sản xuất nông nghiệp ngoài tham gia làm lọp và làm lọp thuê, họ đánh bắt cá bằng lọp, chai, lưới, câu trong mùa
lũ.
Bảng 3: Diện tích đất nông nghiệp của hộ làm lọp cá linh Diện tích đất _ Nhóm chú hộ làm lop (ha) _ Nhóm hộ làm lop thuê (ha)
Trung bình 0,37 0,23Nhiều nhất 0,90 0,40 Thấp nhất 0,00 0,00
Nguồn: Phỏng vấn nông hộ, 2011
4.2 Sáng kiến trong nghề đan lọp cá linh
22
Trang 31Kết quả thảo luận nhóm (2011), nghề đan lọp cá linh hình thành cách đây
khoảng 15 năm (1997), lop cá linh xuất hiện tại An Phú do ngư dân tại Vàm Sáng (Châu Phong) thuộc huyện Tân Châu đến An Phú đặt lọp Trong thời
điểm này, kiểu dáng lọp cá linh hình chóp, 3 chân (mẫu cũ) Cá linh vào lọp
rất nhiều, do vậy ngư dân An Phú bắt đầu sử dụng kiểu lop này dé đánh bắt cá
linh Do điều kiện địa hình ở An Phú (huyện đầu nguồn) nước chảy mạnh, lục
bình và cỏ thường bị vướng vào chóp lop và cuốn mắt lop, nên sau đó ngư dân
đã thiết kế lại mẫu lọp cá linh mới dựa trên kiểu lọp cũ Mẫu lọp mới hình
chóp cụt, 2 chân, mục đích tạo mẫu lọp mới khắc phục khuyết điểm mẫu lọp
cũ để phù hợp với điều kiện tự nhiên địa phương, hạn chế mat lop do nước
cuốn trôi và dễ vận chuyền
Hình 2: Hình mẫu lọp cũ
23
Trang 32Hình 3: Hình mẫu lọp mới
Bảng 4: Đặc trưng của chiếc lọp cá linh ở cồn Cóc
Khuyết điểm mẫu lọp cũ Ưu điểm mẫu lọp mới
- Hình chóp, 3 chân cần nhiều nguyên - Mẫu lop cá linh hình chóp cụt thấp,
liệu tre và mat nhiều thời gian hoàn
thành công đoạn ráp chân lọp, làm lọp
cao hơn hình chóp cụt can trở trong
quá trình vận chuyén
- Hình chóp sử dụng đánh bắt cá khi
vào mùa lũ rút đến ngang chóp lọp,
lọp cản lục bình, cỏ trôi trên sông
vướn vào chóp (đỉnh) của lọp nên bị
Trang 33Hộp thông tin 2: Áp dụng sáng kiến vào nghề đan lọp cá linh
“Trong giai đoạn năm 2000 — 2008, mùa làm lọp bắt đầu từ tháng 4 đến tháng
7 hàng năm, nhà nghèo, làm lọp thuê mỗi ngày Sáng khoảng 6 giờ bắt đầu đi
làm tới trưa khỏang 10 giờ ăn cơm xong tiếp tục làm, buổi chiều đi làm lọp
đến khoảng 5 giờ chiều mới về ăn cơm, tối tiếp tục làm đến bao giờ mệt mỏi
không làm tiếp Lúc chưa có khung dệt, kéo dùng cắt lop, công cụ kéo nan lop,
người thợ làm lọp thuê sử dụng dao cắt, chuốt, giữ chặt nan lọp nên khi đingủ cảm thấy ué oải do sử dụng lực tay nhiều Ngày xưa một người thợ làm
lọp cần thời gian khoảng 2 - 3 ngày để hoàn thành một chiếc lọp Bây giờ làm
lọp đơn giản hơn giai đoạn trước, do bây giờ mẫu mã lọp thay đổi theo nhu
cầu khách hàng, lọp hình chóp cụt có 2 chân Lọp 2 chân làm đơn giản, tiết
kiệm nguyên vật liệu và thời gian hơn mẫu lọp cũ 3 chân, hình chóp Một
người thợ tay nghề cao mỗi ngày ráp hoàn thành từ 10 — 20 chiếc lop thu nhập
trung bình khỏang 10.000 đồng 'chiếc.
(Phỏng vấn sâu ông Nguyễn Văn Teong, có 8 Năm kinh nghiệm, chủ hộ lam lop
tại cần Cóc, dp Phước Khánh, xã Phước Hưng, phỏng vấn ngày 18 tháng 09
năm 2011)
4.3 Thời điểm áp dụng những sáng kiến mới vào quá trình đan lọp cá linhKết quả thảo luận nhóm (2011), trước đây người thợ làm lọp sử dụng các công
cụ đơn giản như dao, búa đến năm 2005 một sáng kiến đã hình thành và
được mở rộng sử dụng đến nay là tạo khung dệt lọp, kéo cắt phần dư lọp, công
cụ kéo nan lọp để tăng năng suất, người thợ làm việc không vat vả và nguồn
Hình 4: Khung đệt thân lọp e
á linh
25
Trang 34Hộp thông tin 3: Năng suất sản xuất nghề dan lop cá linh
Mẫu lọp cũ sản xuất theo quy trình chưa áp dụng công cụ mới vào sản xuất,
làm lop mat nhiều thời gian Người thợ làm lop thuê hay chủ hộ làm lop phải dùng dao chuốt từng nan lọp độ đồng đều không bằng dùng công cụ kéo nan
lọp, một ngày người thợ làm công đoạn chuốt nan lọp chỉ được 1.000 nan lọp,
người thợ làm công đoạn dệt minh lop ngày làm khoảng 7 — 10 thân lop (Ithân
lop từ 60 — 65 nan lop) Người thợ đảm nhận vai trò cắt phần dư lọp tai bị thương và đau nhức do dùng sức quá nhhiều Sau này do học hỏi được nhiều kinh nghiệm và sử dụng sáng kiến mới vào nghề, một người thợ giỏi mat làm
công đoạn dệt thân lọp một ngày 3.250 nan lọp Quá trình cải tiến công cụ sản
xuất giúp người thợ làm lọp thuê ít vất vả, tập trung vào công việc, nâng cao
năng suất,tăng thu nhập.
(Phỏng vấn sâu chi V6 Thị Tuyết, 11 năm kinh Nghiễm, hộ làm lọp cá linh thuê
tại côn Cóc, ấp Phước Khánh, xã Phước Hưng, phỏng vấn ngày 19 tháng 09
nam 2011).
4.4 Lich thời vu nghề đan lọp cá linh
Kết quả thảo luận nhóm (201 1) cho thấy rằng nghề đan lọp cá linh diễn ra theo
mùa vụ đối với chủ hộ làm lọp, đối với hộ làm lọp thuê thì nghề mang tính
thời vụ Nhóm chủ hộ làm lọp cho biết họ bắt đầu chuẩn bị nguyên vật liệu từ
đầu tháng 2, đến đầu tháng 4 vào vụ mùa sản xuất chính đến cuối tháng 7 kết thúc mùa lọp, đối với mùa lũ cao và lũ trung bình Chủ hộ bắt đầu thuê thợ
làm lọp từ đầu tháng 4 trở về cuối mùa lọp, đầu vụ không thuê thợ do sản xuất
ít sử dụng lao động gia đình Khi lũ thấp (2010) mùa lọp rút ngắn thời gian,
chỉ ưong vòng 3 tháng, bắt từ tháng 2 đến tháng 5 kết thúc mùa lọp Những tháng còn lại trong năm chủ hộ có đất sản xuất nông nghiệp, làm thuê nông
nghiệp tìm nguồn thu nhập vào mùa khô, mùa lũ tham gia nghề đan lọp cá linh
và đánh bắt cá.
Tuy nhiên, nhóm hộ làm lọp thuê mùa lọp ngắn hơn nhóm chủ hộ làm lọp,
thông thường mùa lọp bắt đầu vào tháng 4 đến tháng 7 kết thúc vào những năm lũ cao và lũ trung bình Năm lũ thấp (2010) mùa lọp chỉ tập trung một số
hộ có người thuê nhưng chỉ kéo dài trong thời gian khoảng 15 ngày, một số hộ
không được thuê đan lọp Tìm các công việc làm khác như: buôn bán nhỏ, làm
thuê nông nghiệp tại các xã lân cận, làm thuê phi nôngnghiệp, đánh bắt cá những hộ có đất ở nơi khác thì trồng hoa màu mùa lũ, còn đất ở khu vực cồn
Cóc thì không thể sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra, mùa lũ năm 2011 bắt đầu vào đầu tháng 6, lũ lên cao 4,86m mùa lũ
xuống vào cuối tháng 9 kéo dài được 1 tháng so với năm 2009, 2010 Mùa lọp
26