Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m² đất chung của vợ chồng làphần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn T là một trong các thừ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
BÀI THẢO LUẬN NHÓM BUỔI 6 VỀ QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ THỪA KẾ + THỪA KẾ THEO DI CHÚC
MÔN HỌC NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
ST
MÃ SỐ SINH VIÊN
CHỮ KÝ XÁC NHẬN
Trang 4Mục Lục Vấn Đề 1: Di Sản Thừa Kế 1
* Tóm tắt Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc 1
* Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 2 Câu 1: Ở Việt Nam, di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 3 Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 3 Câu 3: Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 4 Câu 4: Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời? 5 Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6 Câu 6: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m² đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
6
Trang 5Câu 7: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 7 Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong
Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển
nhượng cho ông Phùng Văn K 7 Câu 9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân
bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 8 Câu 10: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? 9 Câu 11: Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m² có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
9
Câu 12: Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m² được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
10
VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÍ DI SẢN 11
* Tóm tắt: Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La 11
* Tóm Tắt Quyết định số 147/2020/DS-GĐT ngày
09/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh 11
Trang 6Câu 1: Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người
có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao? 12 Câu 2: Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13 Câu 3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản có thuyết phục
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13 Câu 4: Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản
có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số
11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 15 Câu 5: Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản
có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con
trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 17 Câu 6: Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 18 VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ 19
* Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa
kế là bất động sản 19 Câu 1: Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế
ở Việt Nam 20 Câu 3: Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn
Trang 7bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 21 Câu 4: Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 22 Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng kết hợp nêu trên (đối với thừa kế mở trước ngày 01/01/2027) 23 Vấn Đề 4: Hình Thức Của Di Chúc 23
* Tóm tắt: Bản án số 83/2009/DSPT ngày 28/12/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên 23
* Tóm tắt: Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày
22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 24 Câu 1 : Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý 24 Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý 25 Câu 3 : Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao? 26 Câu 4 : Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông này tự viết tay 27 Câu 5 : Di chúc cụ Hựu đã được lập như thế nào? 28 Câu 6: Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết định số 874 cho câu trả lời? 28
Trang 8Câu 7: Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật? 28 Câu 8: Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu? 29 Câu 9: Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu? 29 Câu 10: Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao? 30 Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ 31 VẤN ĐỀ 5: TÀI SẢN ĐƯỢC ĐỊNH ĐOẠT THEO DI CHÚC 32
* Tóm tắt Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày
28/8/2013 về “Về việc tranh chấp thừa kế” của Tòa dân
sự Tòa án nhân dân tối cao 32
* Tóm tắt Quyết định số 58/2018/DS-GĐT ngày
27-9-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội 33 Câu 1 Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời? 34 Câu 2 Đoạn nào của Quyết định số 359 cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của
vợ chồng cụ Hương? 34 Câu 3 Tòa án đã công nhận phần nào của di chúc?
Đoạn nào của Quyết định số 359 cho câu trả lời? 34 Câu 4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 36
Trang 9Câu 5 Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của
di chúc có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
37
Câu 6 Nếu tài sản được định đoạt trong di chúc chỉ
thuộc sở hữu của cụ Hương vào đầu tháng 4/2009 thì di chúc của cụ Hương có giá trị pháp lý không? Vì sao? 39 Câu 7 Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy quyền sử dụng đất của cụ C và cụ D đã bị thu hồi trước khi hai cụ chết? 40 Câu 8 Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm xác định di sản của cụ C và cụ D là
quyền sử dụng đất? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm? 40 Câu 9 Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy Tòa giám đốc thẩm theo hướng cụ C và cụ D được định đoạt theo di chúc giá trị quyền sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi? Suy nghĩ của anh/chị về hướng vừa nêu của Tòa giám đốc thẩm 41 Danh Mục Tham Khảo 44
Trang 10Vấn Đề 1: Di Sản Thừa Kế.
* Tóm tắt Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Nguyên đơn: ông Trần Văn Hòa
Bị đơn: anh Trần Hoài Nam và chị Trần Thanh Hương sinh năm 1983
Vấn đề tranh chấp: Tranh chấp thừa kế di sản
Nội dung: Bà Cao Thị Mai và ông Trần Văn Hòa kết hôn với nhau năm 1980 và
có hai con chung là anh Trần Hoài Nam và chị Trần Thanh Hương Tài sản của ông Hòa,
bà Mai gồm: 01 ngôi nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xây dựng năm
2006, trên diện tích đất 169,5m² (trong đó, diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất mang tên ông Hòa là 84m², còn lại 85,5m² còn lại ông Hòa sử dụng ổn định vàkhông có tranh chấp), địa chỉ thửa đất tại số nhà 257 đường Nguyễn Viết Xuân, phườngĐống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Theo biên bản thẩm định tài sản và địnhgiá tài sản ngày 21/02/2020, tổng tài sản có trị giá là 6.127.665.000 đồng
Tài sản các đương sự có tranh chấp: tiền cho thuê nhà và lán bán hàng từ tháng3/2018 đến thời điểm xét xử do ông Hòa đang quản lý; tiền cho thuê lán bán hàng củanăm 2017, 2018 do chị Hương quản lý Đối với đề nghị của anh Nam và chị Hương, yêucầu xác định diện tích đất 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làtài sản chung của gia đình, đề nghị này không được Hội đồng xét xử chấp nhận Đối vớidiện tích đất tăng 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Hội đồngxét xử xem xét các vấn đề để quyết định Từ các lập luận trên, tổng giá trị tài sản chungcủa ông Hòa và bà Mai là 6.151.614.000 đồng Tài sản được hình thành trong thời kỳ hônnhân và được hình thành từ tài sản của hôn nhân nên được chia đôi cho ông Hòa và bàMai mỗi người ½ giá trị, tương đương với số tiền là 3.075.807.000 đồng Ngày31/07/2017, bà Mai chết và không để lại di chúc nên di sản của bà Mai được phân chiatheo pháp luật Hiện ông Hòa đã lấy vợ mới, và đăng ký hộ khẩu tạm trú tại huyện PhúNinh, tỉnh Phú Thọ, nhà đất tranh chấp chủ yếu là cho thuê Còn anh Nam đã đóng góp ½giá trị để xây dựng nhà
Tòa án quyết định chia cho ông Hòa số tài sản tổng trị giá 2.220.664.000 đồng;diện tích đất 38,4m² ông Hòa có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
Trang 11giấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế; cho anh Nam ngôi nhà, sân tườngbao quanh và quyền sử dụng diện tích đất có liên quan đến ngôi nhà (đã được cấp giấychứng nhận), cho anh Nam sử dụng và sở hữu, số tài sản tổng trị giá 4.207.001.000 đồng;diện tích đất 47,1m² anh Nam có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấpgiấy chứng nhận sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế; chia cho chị Hương quyền sở hữu sốtiền thuê 30.000.000 đồng; buộc anh Nam thanh toán chênh lệch về tài sản cho ông Hòa
số tiền 1.880.412.000 đồng
* Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: ông Phùng Thị H1
Bị đơn: ông Phùng Văn T
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phùng Thị H3
Phần di sản thừa kế (mảnh đất có diện tích là 398m²) mà ông Phùng Văn N sau khichết để lại bà Phùng Thị G, vợ của ông, là người quản lý tài sản đã chuyển nhượng 131m²cho ông K Các con bà G đều biết và không phản đối Sau đó ông K được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất và phần đất còn lại 267,4m² của bà đã được cấp giấy chứng nhậnquyền sở hữu Sau đó bà G chết và viết di chúc để lại cho chị H1 là 90m² Các thừa kế cònlại sẽ được hưởng theo pháp luật Tòa án cấp phúc thẩm xác định mảnh đất còn lại saukhi chia cho chị H1 là 177,4m² là sai vì trong đó còn có phần tài sản phát sinh trong hônnhân của ông N và bà G vì thế vụ việc cần phải được xem xét lại, bởi phần đất mà bà Gthực chất có quyền chia di sản là 1/2 Tổng diện tích đất còn lại mà bà G đứng tên, tức133,5m² Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m² đất chung của vợ chồng làphần di sản của ông Phùng Văn N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, anh Phùng Văn
T là một trong các thừa kế không đồng ý chia nên không đủ điều kiện để chia tài sảnchung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sửdụng
Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chiathừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng
2
Trang 12Câu 1: Ở Việt Nam, di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Theo Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”
- Tại Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản như sau:
• Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
• Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tàisản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
• Di sản không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố
Cơ sở pháp lý:
Điều 164 BLDS: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có cácquyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”
Theo Khoản 1, 2 Điều 165 BLDS 2015:
“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trongphạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lạiđược người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm
vi di sản do người chết để lại”
Vì vậy, trước khi chia tài sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụcủa người chết để lại xong còn lại mới phân chia Nghĩa vụ thuộc về người thừa kế di sảncủa người quá cố
Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Việc tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thế bởi một tài sảnmới được chia thành 2 trường hợp như sau:
• Di sản đó được thay thế bởi nguyên nhân khách quan mà con người không thểkiểm soát, lường trước được hậu quả (hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, bão tố) thì tài sản mớithay thế cho tài sản cũ sẽ được coi là di sản
Trang 13• Di sản đó được thay thế bởi nguyên nhân chủ quan (được tác động bởi yếu tố conngười), trường hợp này xác định thay thế vì mục đích gì Nếu nhằm mục đích chiếm đoạttoàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởi một tài sản khác khi đó tài sản mớinày sẽ không được coi là di sản thừa kế.
Câu 3: Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá
cố không nhất thiết phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013 quy định: “trường hợp nhận thừa kếquyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhậnhoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tàisản khác gắn liền với đất.”
- Theo Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao quy định tại:
• Phần 2 Mục 1 Khoản 1.1: “Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt cótài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấychứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, LuậtĐất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản”
• Phần 2 Mục 1 Khoản 1.2: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người
đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đainăm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụthuộc vào thời điểm mở thừa kế”
• Phần 2 Mục 1 Khoản 1.3: “Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất màđất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệsinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các côngtrình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhàxưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc kháchoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp
4
Trang 14hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sảnthừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩmquyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền
sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó
b) Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp cóthẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Ủy bannhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch
và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia disản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giaoquyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành cácthủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sựtheo quy định của pháp luật về đất đai
c) Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõviệc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đấtkhông được phép tồn tại trên đất đó, thì Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tàisản trên đất đó”
Câu 4: Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời?
Trong bản án số 08, Tòa án coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất không phải là di sản. Đoạn trích của bản án cho thấy câutrả lời trên là: “đối với diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất: tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng khôngđược coi là di sản thừa kế, cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa có trách nhiệm thực hiệnnghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Đâyvẫn là tài sản ông Hòa và bà Mai, chỉ có điều là các đương sự phải thực hiện nghĩa vụthuế đối với nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Phần đề nghị này của đại diện viện
Trang 15kiểm sát không được hội đồng xét xử chấp nhận Các đề nghị khác đại diện Viện kiểm sáttại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử xem xét và quyết định”.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong bản án Số 08 về diện tích đất chưa đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý
Diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sởhữu của ông Hòa vì anh Nam sinh năm 1981, chị Hương sinh năm 1983 tài sản hìnhthành từ năm 1993 thời điểm này cả anh Nam và chị Hương đều còn nhỏ và sống phụthuộc vào gia đình Do đó có đủ căn cứ để khẳng định tài sản nêu trên là tài sản chung của
vợ chồng ông Hòa bà Mai Nên phần diện tích đất tăng 85,5m2 được giao cho ông Hòatiếp tục xử lý
Theo Điểm b Khoản 1.3 Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02/2004 ngày 10/8/2004của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Trong trường hợp đương sự không
có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợppháp, nhưng có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sửdụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất,thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” Theoông Nguyễn Ngọc Thu: “hộ ông Hòa đang sử dụng diện tích đất tăng ổn định, khôngthuộc diện quy hoạch di dời, không tranh chấp” nên có xem xét để giao quyền sử dụngđất không vi phạm quy hoạch Có căn cứ cho rằng ông Hòa là người sử dụng đất hợp nên Tòa án cho rằng diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất thì nên coi đó là di sản nếu các đương sự thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Câu 6: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m² đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Năm 1984, ông Phùng Văn N chết và không để lại di chúc nên toàn bộ tài sản đều
do bà Phùng Thị G và anh Phùng Văn T quản lý và sử dụng Năm 1991, bà Phùng Thị Gchuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m² trong tổng diện tích 398m² củathửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m² Tòa án đã xác định rằng
6
Trang 16khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì các con (các đồng thừa kế) đều chấp thuận vàkhai rằng bà G bán đất để chăm lo đời sống chung
Theo Án lệ số 16/2017/DSST, phần di sản của ông Phùng Văn N là 133,5m² (tức
Theo đó, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không đượccoi là di sản để chia vì bà Phùng Thị G chuyển nhượng 131m² đất cho ông K vào năm
1991, tức không còn thuộc phần tài sản chung để chia giữa ông Phùng Văn N và bàPhùng Thị G Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng cũng không vướng phải sự phản đối
từ các con của bà Thêm vào đó, phần đất này không trở thành di sản của bà vì đó khôngphải là tài sản riêng hay tài sản chung với người khác của bà G, theo Điều 612 BLDS2015: "di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tàisản chung với người khác”
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K
Việc Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán choông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là hoàn toàn hợp lý Bà G chuyển nhượng choông K, xét về tình và lý thì đều không vi phạm Bà G dùng số tiền để chăm lo cho con vàtrang trải cuộc sống Các con bà cũng không phản đối việc bà chuyển nhượng đất choông K Mảnh đất của ông K cũng được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất
Trang 17Theo điểm a khoản 2 Điều 617 BLDS 2015: “bảo quản di sản; không được bán,trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác.”
Bà G sử dụng số tiền với mục đích là trang trải cuộc sống và chăm lo cho các con,chứ không phải để sử dụng mục đích cá nhân hay nói cách khác, định đoạt số tiền đó nênkhông vi phạm điều này Thêm vào đó, giao dịch giữa bà G và ông K đều đáp ứng đượccác khoản của Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giaodịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựtrong trường hợp luật có quy định
Câu 9: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùngtiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó không được coi là di sản để chia
Thứ nhất, xét phần tài sản chung của vợ chồng bà G và ông N là 398m² đất, saukhi ông N mất mà không để lại di chúc hay thỏa thuận khác thì tài sản chung của hai vợchồng sẽ được chia đôi là 196m² đất theo quy định của điều 33 và điều 66 Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2014 Bà G và các con chung của hai vợ chồng đều thuộc hàng thừa kếhàng thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 nên họ sẽđược chia thừa kế như nhau, có quyền ngang nhau đối với phần di sản do ông N để lại.Thứ hai, nếu bà G tự ý bán 131m² đất cho Ông K mà không có sự đồng ý của các con của
bà và sử dụng phần tiền vì mục đích cá nhân cho riêng mình thì có thể xem bà G đã bánmột phần đất thuộc phần của mình trong khối tài sản chung của hai vợ chồng (196m²).Việc mua bán này sẽ không làm ảnh hưởng đến phần tài sản mà các đồng thừa kế khácđược hưởng và di sản của ông N (196 m²) sẽ được chia đều cho bà và các con Điều này
8
Trang 18là hoàn toàn hợp lý do bà G có quyền định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sảnchung Hơn nữa, phần tiền thu được từ giao dịch không được sử dụng vì lợi ích của cácđồng thừa kế khác nên không thể xem như đã chia thừa kế ứng với phần di sản này.
Câu 10: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên
là 133,5m2 Vì theo nhận định của Tòa án, việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất choông Phùng Văn K các con của bà đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối gì Đồngthời các con của bà Phùng Thị G có lời khai số tiền bán đất bà Phùng Thị G dùng để trangtrải cuộc sống của bà và các con, ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho nên Tòa không đưa diện tích đất bà Phùng Thị
G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia Vậy, tại thời điểm bà Phùng Thị
G chết, di sản bà Phùng Thị G trong diện tích đất để lại là ½ của 267m2 đất, tức 133,5m
2
Câu 11: Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị
G là 43,5m² có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m² là thuyếtphục Bà G còn lại 267m² đất sau khi bán cho ông Phùng Văn K Vì 267m² đất còn lại làđất chung giữa 2 vợ chồng bà G nên khi ông Phùng Văn N chết, bà được hưởng 1 nửatrong số đất chung đó là 133,5m² Khi bà G chết, bà lập di chúc để lại cho chị Phùng ThịH1 90m² đất, di chúc này được xem là hợp pháp theo Điều 630 BLDS 2015
Bà G chỉ định đoạt một phần tài sản của mình nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều
650 BLDS 2015 thì phần còn lại là 43,5 m² sẽ được chia thừa kế theo pháp luật
Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì Án lệ này có nội dung xoay quanhviệc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do mộttrong các đồng thừa kế chuyển nhượng Còn đây là nhận định của Viện trưởng Viện kiểmsát Nhân dân tối cao đối với Bản án DSPT Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định sai phầndiện tích đất mà bà G có quyền chia di sản trên đó, cụ thể: “Tòa án phúc thẩm xác địnhtoàn bộ diện tích 267m² đất là di sản của bà Phùng Thị G để chia theo di chúc cho chị
Trang 19Phùng Thị H1 90m² đất và phần đất còn lại 177,4m² chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần làkhông đúng.”
Câu 12: Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m² được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số
16 không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là khôngthuyết phục
Vì theo điểm a khoản 2 Điều 650 BLDS 2015:
“Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc”
Trong khi theo Điều 610 BLDS 2015: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền đểlại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo phápluật”
Đồng thời theo Khoản a Điểm 1 Điều 651 BLDS: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm:
vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”
Vì phần đất 43,5m2 còn lại là phần di sản được chia theo pháp luật, đáng ra phảiđược chia đều cho 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, tức bao gồm cả chị PhùngThị H1 Việc chị Phùng Thị H1 được bà Phùng Thị G chia di sản theo di chúc không hềảnh hưởng đến quyền thừa kế của chị, bởi vậy Tòa án quyết định chỉ chia cho 05 ngườicon còn lại là không đảm bảo quyền lợi cho chị Phùng Thị H
Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16/2017/AL Vì nội dung của Án lệ số
16 nằm ở đoạn 2 phần Nhận định của Tòa án, là về việc công nhận hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyểnnhượng Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó Số tiềnnhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế Bên nhậnchuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tức là về việc bàPhùng Thị G đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn K
10
Trang 20VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÍ DI SẢN.
* Tóm tắt: Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Nguyên đơn: anh Phạm Tiến H
Bị đơn: anh Phạm Tiến N
Nội dung: Bố và mẹ đẻ của anh Phạm Tiến H mất nhưng không đểlại di chúc giao cho con cái nào trong gia đình được sử dụng, quản lýngôi nhà gỗ 4 gian lợp ngói nằm trên diện tích đất 311m2 Do đó nhà vàđất không có ai quản lý vì các anh chị đã xây dựng gia đình, anh Hiệu
và anh Thiện đi chấp hành án không quản lý nhà nên ngôi nhà đãxuống cấp trầm trọng Nay anh Hiệu đã chấp hành án xong trở về cònanh Thiện thì chưa nên nguyện vọng các anh chị là giao nhà và đất choanh Hiệu quản lý và tu sửa Tuy nhiên, anh Hiệu có ý định sửa thì cháuNghĩa là con của anh Thiện ngăn cản vì lý do trước khi anh Thiệnchấp hành án đã giao cho anh Nghĩa trông coi, quản lý khối di sản này
Cả hai anh Hiệu và anh Nghĩa không có yêu cầu phân chia di sản thừa
kế mà tranh chấp về quyền quản lý tài sản
Quyết định của Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anhPhạm Tiến H Giao cho anh H được quyền quản lý di sản thừa kế củaông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T
Vì không nhất trí với bản án, anh N kháng cáo Tại phiên tòa phúcthẩm, anh H không nhất trí kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơthẩm nhưng anh N đề nghị giữ nguyên đơn kháng cáo Viện kiểm sátsửa bản án sơ thẩm về quan hệ pháp luật, không chấp nhận việc khángcáo của anh N Quyết định của Tòa án: xác định quan hệ pháp luậttranh chấp, giao cho anh H được quyền quản lý di sản thừa kế của ông
Đ và bà
Trang 21* Tóm Tắt Quyết định số 147/2020/DS-GĐT ngày
09/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn: ông Trà Văn Đạm.
Bị đơn: ông Phạm Văn Sơn Nhỏ.
Nội dung: Ông Đạm đại diện hộ gia đình đứng tên diện tích1.497m2 đất thửa số 528, thửa đất này nằm trong thửa 525 do ông Nhỏquản lý, sử dụng Ông Đạm và ông Nhỏ có thỏa thuận mở một lối đi từđất của ông Đạm qua đất của ông Ngót đến đường công cộng 2m dài21m Ông Đạm chịu chi phí bơm cát lắp một cái ao, một mương làm lối
đi, đặt bọng nước làm hàng rào, đổ 2 khối cát, 2 khối đá, đưa 1.000.000đồng để làm hàng rào tại nhà của ông Nhỏ Nay ông Đạm khởi kiện yêucầu ông Nhỏ và bà Chơi cùng những người cùng hàng thừa kế với ôngNhỏ xin mở lối đi ngang 1,5m dài 21m qua đất của ông Ngót Trong khi
đó, ông Nhỏ chỉ là người quản lý di sản của ông Ngót mà lại tự ý thỏathuận cho ông Đạm mở lối đi từ đất của ông Đạm qua đất của ông Ngótkhi chưa có sự đồng ý của bà Chơi và các đồng thừa kế thứ nhất củaông Ngót
Quyết định của Tòa án: Ông Nhỏ tự ý thỏa thuận với ông Đạm là
vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 617 BLDS 2015, Điều 167 vàĐiều 168 Luật Đất đai năm 2013
Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành địnhgiá quyền sử dụng đất là lối đi hiện đang tranh chấp để có căn cứ buộcnguyên đơn thanh toán cho giá trị quyền sử dụng đất cho bị đơn, bàChơi và các đồng thừa kế thứ nhất của ông Ngót
12
Trang 22Câu 1: Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao?
Tòa án xác định là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà
T vì: năm 2012, sau khi bà T chết, ông Thiện là người đang trực tiếpsinh sống tại nhà và đất, tiếp tục quản lý di sản của ông bà Đ T Khi ôngThiện đi chấp hành án, có giao lại cho anh Nghĩa trông coi di sản củaông bà Nhưng Giấy ủy quyền cho con trai Phạm Tiến N đề ngày 15/8/2013 của ông Phạm Tiến T không có giá trị pháp lý; không phải là
cơ sở để phát sinh quyền quản lý di sản của anh Phạm Tiến N đối với disản của ông bà Đ T những người còn lại ở hàng thừa kế thứ nhất đềunhất trí giao cho anh Phạm Tiến H quản lý khối di sản của ông Đ, bà T.Xét thấy, các ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài đều có đủnăng lực hành vi dân sự; quyết định dựa trên cơ sở hoàn toàn tựnguyện; không bị lừa dối, ép buộc; không vi phạm điều cấm của phápluật và không trái với đạo đức xã hội Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩmgiao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là phù hợp
Việc Tòa án xác định như vậy là thuyết phục vì khi mất ông Đ bà
T vẫn chưa ủy quyền quản lý tài sản cho bất kì ai, vì vậy việc xác địnhngười có quyền quản lý tài sản phải tuân theo Điều 616 của BLDS 2015thì: “người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc donhững người thừa kế thỏa thuận cử ra”
Câu 2: Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ
Trang 23của ông bà Đ T Khi ông Đ và bà T chết, cả hai ông bà đều không để lại
di chúc đối với khối di sản thừa kế nêu trên và không giao quyền quản
lý di sản thừa kế cho ai, các thành viên trong gia đình thay nhau trôngcoi, quản lý khối di sản này Vào thời điểm đó, ông Thiện là người trựctiếp sinh sống tại nhà và đất nên theo khoản 2 Điều 616 BLDS 2015:
“Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản vànhững người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đangchiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đếnkhi những người thừa kế cử được người quản lý di sản”, ông Thiện làngười đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản của ông Đ và bà T chođến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản Như vậy,ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di sản.
Câu 3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản có thuyết phục
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H)quyền quản lý di sản là có thuyết phục vì:
Căn cứ vào Điều 614 BLDS 2015: “Kể từ thời điểm mở thừa kế,những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết đểlại”.
Khoản 1 Điều 616 BLDS 2015: “Người quản lý di sản là ngườiđược chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cửra”.
Và khoản 1 Điều 618 BLDS 2015: “Người quản lý di sản quy địnhtại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ
ba liên quan đến di sản thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừakế;
14
Trang 24c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản”.
Theo hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhậnanh Phạm Tiến H thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ, bà T; ông Đchết năm 1994, bà T chết năm 2012 không để lại di chúc nên anh Hiệu
có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyềnquản lý di sản thừa kế theo quy định
Trang 25Câu 4: Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án
số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo BLDS 2015 chỉ quy định về việc người quản lý di sản cónghĩa vụ bảo quản di sản và có quyền được hưởng thù lao theo thỏathuận với những người thừa kế chứ không nói rõ về việc có quyền tôntạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 hay không Ở đây, điềuluật không có quy định cụ thể người quản lý di sản phải sử dụng cácbiện pháp, cách thức nào để thực hiện việc bảo quản di sản Do đó,
“tùy thuộc vào khả năng và điều kiện của mình, người quản lý di sản cóthể lựa chọn các biện pháp, cách thức nhằm bảo quản di sản”1 Vì vậykhi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tusửa lại di sản như trong Bản án số 11
Trong bản án số 11, khi anh Hiệu và anh Thiện đều phải đi chấphành án nên ngôi nhà không có ai trông coi quản lý đã xuống cấp trầmtrọng; đồng thời nguyện vọng của các anh chị em trong nhà là giao choanh Hiệu tu sửa lại ngôi nhà và quản lý đất đai của bố mẹ để lại để làmnơi thờ cúng bố mẹ chứ không phân chia Vì thế anh Hiệu có quyền tôntạo, tu sửa lại di sản của ông Đ, bà T nhằm giữ gìn, bảo tồn di sản, làmcho khối di sản không bị mai một, mất mát theo thời gian Bên cạnh đó,anh Hiệu có quyền yêu cầu được hưởng thù lao về việc bảo quản di sảntương xứng với công sức của người quản lý di sản đã bỏ ra
Theo quy định tại Điều 617 BLDS 2015 về nghĩa vụ của ngườiquản lý di sản:
“1 Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
1 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), tr 285.
16
Trang 26a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của ngườichết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác;
b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố,thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không đượcnhững người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế; d)Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế
2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tạikhoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố,thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gâythiệt hại;
đ) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại
di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.”
Điều 618 BLDS 2015 về quyền của người quản lý di sản quyđịnh:
“1 Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ
Trang 272 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tạikhoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợpđồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừakế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản
3 Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa
kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thùlao hợp lý.”
Như vậy, theo BLDS 2015 chỉ quy định về việc người quản lý disản có nghĩa vụ bảo quản di sản và có quyền được hưởng thù lao theothỏa thuận với những người thừa kế chứ không nói rõ về việc có quyềntôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 hay không Ở đây,điều luật không có quy định cụ thể người quản lý di sản phải sửdụng các biện pháp, cách thức nào để thực hiện việc bảo quản di sản
Do đó, “tùy thuộc vào khả năng và điều kiện của mình, người quản lý
di sản có thể lựa chọn các biện pháp, cách thức nhằm bảo quản di sản”
[1].Vì vậy khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôntạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11
Trong bản án số 11, khi anh Hiệu và anh Thiện đều phải đi chấphành án nên ngôi nhà không có ai trông coi quản lý đã xuống cấp trầmtrọng; đồng thời nguyện vọng của các anh chị em trong nhà là giaocho anh Hiệu tu sửa lại ngôi nhà và quản lý đất đai của bố mẹ để lại đểlàm nơi thờ cúng bố mẹ chứ không phân chia Vì thế anh Hiệu có quyềntôn tạo, tu sửa lại di sản của ông Đ, bà T nhằm giữ gìn, bảo tồn di sản,làm cho khối di sản không bị mai một, mất mát theo thời gian Bêncạnh đó, anh Hiệu có quyền yêu cầu được hưởng thù lao về việc bảoquản di sản tương xứng với công sức của người quản lý di sản đã bỏ
ra.
18
Trang 28Câu 5: Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con
trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lạicho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiệngiao lại cho con trai) là không có quyền Bởi vì căn cứ theo Điều 616BLDS 2015 quy định:
“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc
do những người thừa kế thỏa thuận cử ra
2 Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản vànhững người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đangchiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đếnkhi những người thừa kế cử được người quản lý di sản
3 Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa
có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì disản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.”
Mà trong bản án số 11, sau khi bố mẹ ông Thiện mất không để lại
di chúc, chưa kể việc quản lý di sản của ông cũng không có sự nhất tríbằng văn bản của đồng thừa kế Vì thế, ông Thiện là người quản lý disản không hợp pháp cho nên ông Thiện không có quyền giao lại chocon trai mình
Câu 6: Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không cóquyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản là thuyếtphục Dẫn chứng trong Quyết định cho thấy câu trả lời trên là: “Thửa