1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn kinh doanh quốc tế Đề tài những khác biệt quốc gia về kinh tế chính trị

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Khác Biệt Quốc Gia Về Kinh Tế Chính Trị
Tác giả Nhóm 9
Người hướng dẫn ThS. Võ Thùy Dung
Trường học Trường Đại Học Văn Lang
Chuyên ngành Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 508,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính của chương này cũng như chương kế tiếp là giúp nhận thức và đánh giá đúng những khác biệt của các quốc gia về hệ thống chính trị, kinh tế, luật pháp và văn hóa dân tộc.. M

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG

BỘ MÔN QUẢN TRỊ VẬN HÀNH



TIỂU LUẬN MÔN KINH DOANH QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI: NHỮNG KHÁC BIỆT QUỐC GIA VỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TP.Hồ Chí Minh, ngày 27 , tháng 11, năm 2024

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM

MỨC

ĐỘ HOÀN THIỆN NHIỆM VỤ(%)

GHI CHÚ

Trang 3

Lời cảm ơn

Tiểu luận có thể được xem là một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ Do vậy để hoàn thành một đề tài tiểu luận là một việc không dễ dàng đối với sinh viên chúng em Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Văn Lang đã đưa môn học Kinh Doanh Quốc Tế vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến giảng viên bộ môn – Cô Võ Thùy Dung , người đã dùng những tri thức

và tâm huyết của mình để có thể truyền đạt cho chúng em vốn kiến thức quý báu, cảm ơn Cô

đã giúp đỡ và hướng dẫn chúng em tận tình trong suốt thời gian viết bài tiểu luận này, tạo cho

chúng em những tiền đề, những kiến thức để tiếp cận, phân tích giải quyết vấn đề

Môn Kinh Doanh Quốc Tế là lĩnh vực thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Chúng em đã cố gắng vận dụng những kiến thức đã học được trong học kỳ qua để hoàn thành bài tiểu luận này nhưng

do chưa có nhiều kinh nghiệm làm đề tài cũng như những hạn chế về kiến thức nên chắc chắn

sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Chúng em cũng xin cảm ơn bạn bè, anh chị đã tận tình chỉ bảo chúng em trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận, tạo điều

kiện cho chúng em hiểu thêm về những kiến thức thực tế

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Mục lục

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 6

I HỆ THỐNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ 6

1 Chế độ chuyên chế (totalitarianism) 6

2 Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism) 6

3 Chế độ dân chủ (democracy) 7

II CÁC HỆ THỐNG KINH TẾ 8

1) NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8

1.1Khái niệm: 8

1.2 Các chủ thể chính tham gia vào nền kinh tế thị trường: 9

1.3 Ưu điểm: 9

1.4 Nhược điểm: 10

2) NỀN KINH TẾ CHỈ HUY 10

2.1 Khái Niệm 10

2.2 Ưu điểm 11

2.3 Nhược điểm 11

3) NỀN KINH TẾ HỒN HỢP 11

3.1 Khái Niệm 11

3.2 Ưu điểm 12

3.3 Nhược điểm 12

4) VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ 12

III HỆ THỐNG LUẬT PHÁP 13

1 Thông luật (Common Law) 14

2 Dân luật (Civil Law) 15

3 Thần luật 15

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 5

MỞ ĐẦU

Kinh doanh quốc tế phức tạp hơn nhiều so với kinh doanh trong nội địa xuất phát từ những điểm khác biệt giữa các quốc gia Các quốc gia khác nhau có các hệ thống chính trị, kinh tế

và pháp luật khác nhau Thực tiền văn hóa của các quốc gia có thể rất khác nhau, cũng như trình độ giáo dục và kỹ năng của dân cư và các quốc gia cũng có mức phát triển kinh tế khác nhau Toàn bộ khác biệt đó có thể và có ảnh hướng lớn đến hoạt động thương mại quốc tế Chúng ảnh hưởng nhiếu tới lợi nhuận, chi phí cũng như rủi ro kèm theo các hoạt động kinh doanh tại các quốc gia khác nhau; tới cách thức quản lý các hoạt động kinh doanh ở những quốc gia khác nhau; và tới chiến lược của các công ty quốc tế trong việc thuyết phục các quốc gia khác nhau Nội dung chính của chương này cũng như chương kế tiếp là giúp nhận thức và đánh giá đúng những khác biệt của các quốc gia về hệ thống chính trị, kinh tế, luật pháp và văn hóa dân tộc Mục tiêu khác nữa của hai chương này là mô tả cách thức phát triển các hệ thống chính trị, kinh tế, luật pháp và văn hóa dân tộc của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới và rút ra tác động của sự khác biệt đối với hoạt động thương mại quốc tế

Một số vấn đề nêu trong chương này được mô tả qua tình huống mở đầu Là thuộc địa của Anh từ năm 1957 đến những năm đầu của thập niên 90 Ghana không phải là quốc gia dân chủ, kinh tế vận hành theo chủ nghĩa xã hội, và nạn tham nhũng tràn lan Đây không phải là quốc gia phát triển, đúng hơn, Ghana là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới Bắt đầu cải tố vào năm 1992, Ghana chuyển sang nền kinh tế năng động hơn ở Châu Phi Bùng nổ nhu cầu về 3 mặt hàng xuất khấu chủ yếu: ca cao, vàng và từ 2010 là dầu, đã đóng góp cho sự thành công của Ghana Nhưng ở các quốc gia đang phát triền khác có thể thấy khi có sự bùng

nổ các mặt hàng sẽ thấy hiện tượng doanh thu bị chảy vào túi các chính trị gia tham nhũng Tuy nhiên, điều này dường như không xảy ra ở Ghana, với mức tăng trưởng ổn định, hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài vào kinh doanh

Chương này tập trung vào sự khác biệt về hệ thống chính trị, kinh tế, luật pháp của các quốc gia Chúng ta đề cập đến các hệ thống này như những thành phần của hệ thống kinh tế chính trị của một quốc gia Chúng ta sử dụng thuật ngữ kinh tế chính trị (các hệ thống chính trị, kinh

tế và pháp luật của một quốc gia) để nhấn mạnh rằng các hệ thống chính trị, kinh tế và pháp luật của một quốc gia là có phụ thuộc lẫn nhau; chúng tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau và qua đó, chúng có tác động đến mức độ vững mạnh của nền kinh tế Trong chương 3, chúng ta khám phá chi tiết làm thế nào sự khác biệt về chính trị, kinh tế và pháp luật tác động đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và quỹ đạo tăng trưởng tương lai của họ Chương 4, chúng

ta sẽ xem sự khác biệt về văn hóa xã hội và sự khác biệt này ảnh hưởng như thế nào đến thực hành thương mại quốc tế Tuy nhiên, như chúng ta thấy trong chương 4, văn hóa xã hội ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế và hệ thống pháp luật của một quốc gia và vì vậy đến sự giàu có của quốc gia Chúng ta cũng thảo luận những nghịch lý có thể xảy ra thế nào - Làm thế nào

hệ thống chính trị, kinh tế và luật pháp có thể định hình văn hóa xã hội

Trang 6

NỘI DUNG

I HỆ THỐNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Chức năng cơ bản của hệ thống chính trị là đảm bảo sự ổn định của quốc gia dựa vào nền tảng luật pháp, bảo vệ đất nước khỏi những nguy cơ đe dọa từ bên ngoài, và điều tiết sự phân phối các tài nguyên có giá trị giữa các thành phần xã hội Mỗi quốc gia có một hệ thống chính trị

có thể coi là độc nhất, được phát triển trong bối cành lịch sử, kinh tế, văn hóa đặc trưng của quốc gia đó Mỗi hệ thống chính trị được lập ra dựa trên nhu cầu của cử tri và dựa trên sự phát triển của quốc gia và thế giới Cử tri là những cá nhân và tố chức ủng hộ cơ chế chính trị đó

và cũng là đồi tượng thụ lợi từ chế độ chính trị đó

Trong lịch sử gần đây, có 3 loại hình chế độ chính trị có thể phân biệt rõ: chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa, và chế đô dân chủ

1 Chế độ chuyên chế (totalitarianism)

Một số quốc gia được coi là có chế độ chuyên chế như Đức (1933 - 1945), và Tây Ban Nha (1939 - 1975) và cả Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông Ngày nay, một vài nhà nước ở khu vực Trung Đông và châu Phi vẫn còn giữ một số yếu tố của chế độ chuyên chế Chế độ chuyên chế là chế độ chính trị trong đó nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội Một chính phủ chuyên chế thường tìm cách kiểm soát không chỉ các vấn đề kinh

tế chính trị mà cả thái độ, giá trị, và niềm tin của nhân dân nước mình Quyền lực được duy trì bằng cảnh sát ngầm, thông tin truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng do nhà nước kiếm soát, các cuộc thảo luận và phê bình đều có sự giám sát của nhà nước Qua thời gian, hầu hết các nhà nước chuyên chế đều đã biến mất hoặc chuyển sang đường lối dân chủ và xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên sự chuyển đổi không hề dễ dàng, và những nhà nước chuyên chế

doanh Nhiều quốc gia vẫn đặc trưng với thủ tục pháp lý cồng kềnh rườm rà, các quy định về thuế và kế toán hết sức quan liêu, cũng như hệ thống pháp lý không đủ bảo vệ cho hoạt động kinh doanh, và cơ sở hạ tầng yếu kém (đường xá, thông tin liên lạc, công nghệ thông tin), gây trở ngại cho kinh doanh

2 Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism)

Nguyên lý cơ bản của xã hội chủ nghĩa là vốn và sự giàu có cần phải được sử dụng trước hết như một phương tiện để sản xuất, chứ không phải như một nguồn lợi nhuận

Điều này dựa trên tư tưởng tập thể trong đó cho rằng tổng phAustralia lợi của mọi người sẽ lớn hơn rất nhiều so với phAustralia lợi của cá nhân Các nhà xã hội chủ nghĩa tin

Trang 7

3 Chế độ dân chủ (democracy)

Chế độ dân chủ trở thành chế độ chính trị ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới Chế

độ này có hai đặc trưng cơ bản sau:

Quyền sở hữu tư nhân: chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân Tài sản

ở đây là cả tài sản hữu hình, như đât đai, nhà cửa, và tài sản vô hình, như cố phần, hợp đồng, bằng sáng chế, và các tài sản trí tuệ

Các chính phủ dân chủ xây dựng các bộ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Cá nhân và các doanh nghiệp có quyền sở hữu, sử dụng, mua hoặc bán, và ủy nhiệm chúng cho bất kỳ ai họ muốn Những quyền này là hết sức quan trọng vì chúng khuyến khích sự chủ động, tham vọng, và cấp tiến, cũng như tính cần kiệm và mong muốn làm giàu Con người có xu hướng không có những phẩm chất này nếu họ không chắc chắn về việc mình có được kiểm soát tài sản và lợi nhuận sản sinh từ tài sản của mình hay không

Quyền lực có giới hạn của chính phủ: chính phủ nơi đây chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốc phòng, duy trì luật pháp

và trật tự xã hội, quan hệ ngoại giao, xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng như đường xá, trường học, và các công trình công cộng Sự kiểm soát và can thiệp của chính phủ đối với các hoạt động kinh tế của cá nhân và các doanh nghiệp được giảm thiểu Bằng cách cho phép quy luật thị trường chi phối hoạt động kinh tế, các nguồn tài nguyên được đảm bảo phân phối một cách

có hiệu quả

Dưới chế độ dân chủ, những mưu cầu của cá nhân và của các doanh nghiệp có thể không tương đồng với sự công bằng và công lý Do mỗi người có khả năng và nguồn tài chính khác nhau, nên mỗi người có được mức độ thành đạt khác nhau, dẫn tới bất bình đẳng Các nhà phê bình chủ nghĩa dân chủ thuần túy cho rằng khi vượt quá giới hạn bất bình đẳng, cần có sự can thiệp của chính phủ để bình đằng hóa sân chơi Ở những nền dân chủ như Nhật Bản, Đức, Thụy Điển, quyền lợi và tự do dân chủ của cá nhân nằm trong lợi ích chung của đất nước chứ không tách rời Mỗi xã hội sẽ cân bằng tự do cá nhân và mục tiêu lớn hơn của đất nước

Hầu hết các chế độ dân chủ đều bao hàm một số yếu tố của xã hội chủ nghĩa, ví dụ như sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động của các cá nhân và doanh nghiệp Xu hướng xã hội chủ nghĩa nổi lên xuất phát từ việc lạm dụng hoặc những ngoại ứng xấu nảy sinh trong chế độ dân chủ thuần túy Ví dụ, Nhật Bản đã phải rất nỗ lực trong việc duy trì trạng thái cân bằng cần thiết giữa dân chủ và xã hội Vào những năm 1990, năng lực quản lý yếu kém cộng với khủng hoảng kinh tế đã đẩy hàng ngàn doanh nghiệp Nhật Bản vào tình trạng phá sản Để duy trì công ăn việc làm và ổn định kinh tế, chính phủ Nhật Bản đã can thiệp và hỗ trợ rất nhiều ngân hàng và doanh nghiệp lớn, mà nếu trong chế độ dân chủ thuần túy, thì chắc chắn đã phá sản Tuy nhiên những chính sách cứu trợ như vậy vô tình đã tạo nên sự thụ động trong nền kinh tế nước này và trì hoãn những cải tổ về cơ cấu cần thiết Rất nhiều quốc gia, bao gồm cả Australia, Canada, và Hoa Kỳ, và một số quốc gia châu Âu, được cho là có chế độ chính trị hỗn hợp, đặc

Trang 8

trưng bởi khu vực kinh tế tư nhân năng động và khu vực kinh tế nhà nước hùng mạnh (với sự điều tiết và kiểm soát nhất định của chính phủ)

II CÁC HỆ THỐNG KINH TẾ

Cần hiểu rõ qua tham khảo những phần trước rằng hệ tư tưởng chính trị và các hệ thống kinh

tế liên quan với nhau Ta thường thấy các hệ thống kinh tế thị trường tự do tại những quốc gia coi trọng lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể Ngược lại, tại những quốc gia mà lợi ích tập thể được đánh giá cao hơn thì Nhà nước thường kiểm soát nhiều doanh nghiệp và thị trường tại các quốc gia này thường bị kiểm chế chứ không được tự do Ta có thể thấy ba dạng chính của các hệ thống kinh tế - đó là kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy và kinh tế hỗn hợp

1) NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Khái niệm:

Trong nền kinh tế thị trường thuần túy, mọi hoạt động sản xuất đều do các cá nhân sở hữu chứ không phải do nhà nước quản lý

Sản phẩm và dịch vụ do quốc gia sản xuất ra không được bất kỳ ai lên kế hoạch

Sản xuất được quyết định bởi tương tác giữa cung và cầu và báo hiệu cho nhà sản xuất qua hệ thống giá cả Nếu cầu cho một sản phẩm vượt quá mức cung thì giá sẽ tăng và nhà sản xuất tăng thêm nhiều sản phẩm hơn Nếu lượng cung vượt quá cầu thì giá sẽ giảm, nhà sản xuất giảm bớt sản phẩm đi Trong hệ thống này, khách hàng là thượng đế Mô hình mua bán của khách hàng, như tín hiệu cho nhà sản xuất qua cơ chế của hệ thống giá cả, sẽ quyết định cái

gì cần sản xuất và số lượng bao nhiêu

Để thị trường vận hành theo cách này thì không kiểm soát nguồn cung Việc hạn chế nguồn cung xuất hiện khi một công ty riêng lẻ chiếm thế độc quyền thị trường Trong những tình huống đó, thay vì tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, nhà sản xuất độc quyến

sẽ có thể hạn chế sản lượng khiến giá cả tăng lên.Việc này khiến cho nhà sản xuất độc quyền kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Mặc dù việc này tốt đối với nhà sản xuất độc quyền nhưng lại là xấu đối với người tiêu dùng vì họ phải trả giá cao hơn Và cũng có thể xấu đối với phúc lợi xã hội Vì nhà sản xuất độc quyền không có đối thủ cạnh tranh nên họ không có động cơ

để tìm cách giảm chi phí sản xuất Đương nhiên, việc này chi đơn giản là chuyển chi phí cho người tiêu dùng chịu thông qua việc tăng giá Cuối cùng kết quả là nhà sản xuất độc quyền trở nên ngày càng kém hiệu quả, sản xuất làm ra có giá thành cao, chất lượng thấp và hậu quả xã hội phải gánh chịu Căn cứ vào những hiểm họa vốn có của sự độc quyền, vai trò của chính phủ đối với nền kinh tê thị trường là khuyến khích tự do và cạnh tranh công bằng giữa các nhà sản xuất tư nhân Chính phủ thực hiện điều này bằng cách nghiêm cấm các nhà sản xuất độc quyền và hạn chế kinh doanh theo kiểu độc chiếm thị trường (Tại Hoa Kỳ, Luật chống độc quyền thực hiện chức năng này) Sở hữu tư nhân cũng khuyến khich nâng cao tinh cạnh tranh

và hiệu quả kinh tế.Sở hữu tư nhân đảm bảo rằng các chủ doanh nghiệp có quyền đối với lợi nhuận họ kiếm được bằng nỗ lực của minh Điều này khuyến khích các chủ doanh nghiệp thương mại kiểm cách thức tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Vấn đề này có

Trang 9

thể được thực hiện qua việc giới thiệu sản phẩm mới, phát triển những quy trình sản xuất hiệu quả hơn, ứng dụng những dịch vụ marketing và hậu mãi tốt hơn hay chi đơn thuần thông qua việc quản lý kinh doanh hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh Quay trở lại, việc liên tục

cải tiến sản phẩm và quy trình, kết quả của việc khuyên khích đối mới, có tác động tích cực

đáng kể tới sự phát triển và tăng trưởng kinh tế hay không

Ví dụ:

1 ví dụ điển hình về kinh tế thị trường là Hoa Kỳ Trong nền kinh tế này, các doanh nghiệp tự

do cạnh tranh để cung cấp hàng hóa và dịch vụ, và người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mà họ muốn mua Giá cả được xác định dựa trên cung và cầu

1.2 Các chủ thể chính tham gia vào nền kinh tế thị trường:

Có 3 chủ thể chính tham gia vào nền kinh tế thị trường:

a) Nhà nước

- Chủ thể này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế

- Nhà nước sẽ thực hiện các chức năng cơ bản như:

b) Doanh nghiệp

• Là chủ thể trực tiếp sản xuất ra các loại sản phẩm/ dịch vụ được trao đổi ở trên thị trường

• Vai trò của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu hiện tại của xã hội mà còn thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế

c) Người tiêu dùng

• Sức mua cũng như nhu cầu của người tiêu dùng là tiền đề quan trọng cho hoạt động sản xuất

• Bởi vì bản chất của nền kttt là nền kinh tế được sản xuất ra nhằm mục đích chính là để bán

1.3 Ưu điểm:

1 Là động lực để cho doanh nghiệp phát triển: trong kinh tế thị trường,khi cầu lớn hơn cung thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, kéo theo đó lợi nhuận cũng tăng theo

Đây chính là động lực lớn để doanh nghiệp:

Trang 10

• Phát triển

• Không ngừng đổi mới

• Mở rộng thị trường

2 Tạo ra lực lượng sản xuất lớn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dung: Vì nguồn cung lớn nên giúp cho kttt tạo ra rất nhiều sản phẩm, dịch vụ giúp thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng

3 Tạo công ăn việc làm cho người lao động giải quyết thất nghiệp: Cùng với động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh Kttt còn gián tiếp tạo ra nhiều việc làm hơn cho thị trường lao động

1.4 Nhược điểm:

1 Gia tăng khoảng cách giàu nghèo, dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội: Cạnh tranh đã trở thành điều tất yếu trong sản xuất, kinh doanh hiện nay Nếu không chịu đổi mới, những nhà sản xuất nhỏ lẻ sẽ bị nhà sản xuất lớn hơn thôn tính Vô hình chung điều này đã dẫn tới tình trạng phân chia giai cấp, gây bất bình đẳng xã hội Và tình trạng độc quyền chi phối sẽ xuất hiện

2 Gây mất cân bằng cung cầu khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng: Không phải lúc nào cơ chế hoạt động của kinh tế thị trường cũng tạo ra sự cân đối về giá cả và hàng hóa Vốn dĩ thị trường có rất nhiều biến động như chiến tranh, dịch bệnh, thiện tai, cấm vận…Rất cả những điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng kinh tế Ngoài ra, vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ mở rộng sản xuất, kinh doanh Khi tình trạng cung lớn hơn cầu kéo dài

sẽ khiến khủng hoảng kinh tế

3 Tác động môi trường: Hoạt động kinh tế không kiểm soát có thể gây ra ô nhiễm và tổn hại môi trường

2) NỀN KINH TẾ CHỈ HUY

2.1 Khái Niệm

Trong nền kinh tế chỉ huy thuần túy, chính phủ sẽ lên kế hoạch những hàng hóa và dịch vụ

mà quốc gia sẽ sản xuất cũng như số lượng và giá bán các sản phẩm, dịch vụ đó Tương tự như hệ tư tưởng sở hữu tập thể, mục tiêu của nền kinh tế chi huy là Chính phủ sẽ xác định các nguồn lực vì "lợi ích xã hội"

Ngoài ra, trong nền kinh tế chi huy thuần túy, mọi cơ sở kinh doanh đều do nhà nước quản lý

vì Nhà nước có thể chỉ đạo trực tiếp những cơ sở này đầu tư vì lợi ích tốt nhất cho quốc gia chứ không phải vì lợi ích của các cá nhân Trong lịch sử, có thể thấy dạng kinh tế chi huy tại những nước xã hội chủ nghĩa, nơi mà lợi ích tập thể được đặt trên lợi ích cá nhân

Trong khi mục tiêu của nền kinh tế chỉ huy là huy động các nguồn lực kinh tế nhằm phục vụ lợi ích chung của xà hội thì có vẻ như xu hướng đối lập cũng xuất hiện Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ sở hữu các doanh nghiệp có ít động cơ phát triển để kiểm soát chi phí và tăng hiệu quả vì những doanh nghiệp này không thể giải thể Cũng vậy, sự thủ tiêu của chế độ

Ngày đăng: 18/04/2025, 09:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w