1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bài Tiểu luận dịch tể không lây nhiễm về sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư

34 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư
Tác giả Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Bảo Hưng, Nguyễn Ngọc Minh
Người hướng dẫn Th.S Kim Xuân Loan
Trường học Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 834,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Định nghĩa ung thư (8)
  • 2. Dịch tễ học ung thư (9)
  • 3. Tỷ lệ hiện mắc, mới mắc 10 loại ung thư hàng đầu (10)
  • 4. Gánh nặng bệnh tật 10 loại ung thư hàng đầu (13)
  • 1. Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư (17)
  • 2. Các bậc dự phòng (0)
  • Tài liệu tham khảo (31)

Nội dung

Dịch tể học không lây nhiễm ở sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân ung thư. Dịch tễ học ung thư Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên toàn cầu và ước tính chiếm 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018. Ung thư phổi, tuyến tiền liệt, đại trực tràng, dạ dày và gan là những loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới, trong khi ung thư vú, đại trực tràng, phổi, cổ tử cung và ung thư tuyến giáp là phổ biến nhất ở phụ nữ. Dịch tễ học nghiên cứu về sự phân bố và những yếu tố liên quan đến bệnh tật. Đưa ra yếu tố dự phòng về sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân ung thư. trong một quần thể dân cư, cung cấp thông tin có giá trị về mô hình và nguyên nhân sinh bệnh.

Định nghĩa ung thư

Ung thư là thuật ngữ chỉ một nhóm bệnh với sự phát triển của tế bào bất thường, có khả năng xâm lấn các bộ phận lân cận và lan rộng đến các cơ quan khác Các thuật ngữ như khối u ác tính và tân sinh cũng thường được sử dụng Ung thư có thể ảnh hưởng đến hầu hết mọi bộ phận của cơ thể, với nhiều phân nhóm giải phẫu và phân tử khác nhau, mỗi loại cần có các chiến lược quản lý riêng biệt.

Ung thư là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trên toàn cầu, với ước tính 9,6 triệu ca tử vong vào năm 2018 Các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới bao gồm ung thư phổi, tuyến tiền liệt, đại trực tràng, dạ dày và gan, trong khi ở phụ nữ, ung thư vú, đại trực tràng, phổi, cổ tử cung và tuyến giáp là những loại thường gặp nhất.

Ung thư là bệnh lý phát sinh từ sự tích tụ các đột biến gen bất lợi Những đột biến này có thể được di truyền từ cha mẹ hoặc xuất hiện mới trong một số cơ quan trong quá trình sống, do tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể.

Ung thư không phải là một bệnh, mà là một nhóm bệnh Cho đến nay có khoảng

200 loại UT khác nhau trên cơ thể con người đã được xác định

UT, hay u ác tính, là một nhóm bệnh liên quan đến sự phân chia tế bào không kiểm soát, dẫn đến sự phát triển vô tổ chức Các tế bào này có khả năng xâm lấn mô khỏe mạnh bằng cách phát triển vào mô lân cận hoặc di chuyển đến các vị trí xa hơn thông qua quá trình di căn.

Ung thư (UT) là bệnh ác tính của tế bào, xảy ra do rối loạn phát triển tế bào trong cơ thể Khi ADN bị đột biến, cơ chế chết theo chương trình của tế bào bị phá vỡ, dẫn đến sự hình thành khối u Các tế bào ung thư phân chia nhanh chóng, mất khả năng biệt hóa và không còn tính chất ức chế tiếp xúc, từ đó xâm lấn vào các mô lành xung quanh và có khả năng di căn đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác trong cơ thể.

Dịch tễ học ung thư

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai toàn cầu, với ước tính 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018 Các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới bao gồm ung thư phổi, tuyến tiền liệt, đại trực tràng, dạ dày và gan, trong khi ở phụ nữ, ung thư vú, đại trực tràng, phổi, cổ tử cung và tuyến giáp là những loại ung thư thường gặp nhất.

Dịch tễ học là lĩnh vực nghiên cứu sự phân bố và các yếu tố liên quan đến bệnh tật trong quần thể dân cư, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về mô hình và nguyên nhân gây bệnh.

Ghi nhận UT đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu dịch tễ học UT, giúp cung cấp cái nhìn rõ ràng và đầy đủ về gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu Thông qua các ghi nhận này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tình hình UT hiện nay.

UT và tỷ lệ tử vong do UT cũng như những biến đổi về tỷ lệ mắc bệnh do UT trên thế giới, theo nhóm tuổi, theo giới tính

Dịch tễ học ung thư (UT) cho thấy sự phân bố các yếu tố nguy cơ theo vùng miền và quốc gia, đồng thời phản ánh mối liên hệ giữa các yếu tố này với bệnh tật Chẳng hạn, tỷ lệ ung thư phổi tăng cao liên quan đến tỷ lệ người hút thuốc lá, trong khi ung thư cổ tử cung có mối liên hệ với tỷ lệ nhiễm virus HPV Điều này giúp nhận diện tỷ lệ các loại ung thư khác nhau trong cộng đồng.

Các quốc gia Đông Nam Á như Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam có lịch sử tương tác và văn hóa tương đồng, cùng với vị trí địa lý gần gũi, do đó có thể được xem xét như một nhóm trong việc kiểm soát ung thư và các bệnh không lây nhiễm khác Tỷ lệ mắc ung thư gan ở khu vực này cao hơn so với nhiều nơi khác ở châu Á, trong khi ung thư phổi là bệnh tân sinh phổ biến nhất ở nam giới Ở nữ giới, ung thư cổ tử cung và ung thư vú chiếm ưu thế Tuy nhiên, Việt Nam lại ghi nhận tỷ lệ cao về ung thư dạ dày và ung thư vòm họng Đánh giá hiện tại nhằm thu thập dữ liệu về tỷ lệ lưu hành ung thư và dịch tễ học từ PubMed để có cái nhìn toàn diện về tình hình Hy vọng rằng sự hợp tác trong tương lai sẽ thúc đẩy các chương trình kiểm soát ung thư phối hợp, giảm bớt gánh nặng cho khu vực.

Tỷ lệ hiện mắc, mới mắc 10 loại ung thư hàng đầu

Tỷ lệ mới mắc bệnh được tính bằng số ca mới mắc trong quần thể trên 100.000 dân mỗi năm, và có thể áp dụng cho nhiều vị trí khác nhau Ví dụ, số ca mới mắc toàn cầu đã tăng từ 6,4 triệu vào năm 1980 lên 7,6 triệu vào năm 1985.

10 triệu Tỷ lệ mắc theo từng loại UT hoặc tất cả các loại UT; theo chủng tộc, giới tính, theo lứa tuổi

- Ý nghĩa của tỷ lệ mới mắc:

+ Cung cấp dữ liệu về sự xuất hiện UT, mô tả gánh nặng đối với xã hội

+ Biết được mô hình bệnh UT

+ Xu hướng mắc bệnh (tăng, giảm, loại nào tăng, loại nào giảm )

+ Cơ sở để hoạch định chính sách trong tương lai phòng chống UT

- Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mới mắc gồm có:

+ Tuổi: yếu tố quan trọng nhất xác định nguy cơ, tăng theo thời gian

+ Giới tính: liên quan tiếp xúc tác nhân sinh UT

+ Địa lý: khác biệt rõ rệt giữa các vùng

+ Dân tộc: khác nhau do di truyền, lối sống

+ Tôn giáo, hoàn cảnh xã hội.[1]

Kết quả từ cơ quan đăng ký ung thư tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1995-1996 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở miền Nam Việt Nam Tổng cộng có 4.080 trường hợp ung thư ở nam và 4.338 ở nữ, với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASRs) lần lượt là 130,9 trên 100.000 ở nam và 100,7 trên 100.000 ở nữ Ung thư gan là loại phổ biến nhất ở nam giới (ASR 25.3), tiếp theo là ung thư phổi (ASR 24.6) và ung thư dạ dày (ASR 16.5) Ở nữ giới, ung thư cổ tử cung chiếm ưu thế (ASR 26.0), sau đó là ung thư vú (ASR 12.2) và ung thư dạ dày (ASR 7.5) Mặc dù có thể có sự thiếu sót trong việc ghi nhận, nhưng tỷ lệ ung thư cổ tử cung và ung thư gan cao cho thấy miền Nam Việt Nam cần triển khai chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung.

4 hiệu quả , cũng như nỗ lực ngăn chặn truyền virut viêm gan B để giảm ung thư gan tỷ lệ mắc và chương trình chống hút thuốc hiệu quả.[33]

Tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ

- Tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ là số ước tính người mắc UT trong thời một điểm nhất định hoặc trong khoảng thời gian nhất định

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư tổng thể cho từng loại ung thư hoặc tổng hợp các loại ung thư được tính trên 100.000 dân hoặc dựa vào số liệu thống kê từ bệnh viện.

- Ý nghĩa của tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ:

+ Mô tả gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng

Tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ phụ thuộc vào tỷ lệ mới mắc và thời gian sống thêm trung bình Khi thời gian sống thêm trung bình kéo dài, tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ sẽ tăng, ngay cả khi tỷ lệ mới mắc không thay đổi.

Tỉ lệ mới mắc ung thư được xác định bằng số trường hợp mới phát hiện trong quần thể 100.000 dân trong một năm, là chỉ số phản ánh tần suất mắc bệnh ung thư một cách hiệu quả nhất.

Người ta ước lượng tổng số ca ung thư mới mắc trên thế giới như sau:

Tỉ lệ mới mắc ung thư cung cấp thông tin quan trọng về sự xuất hiện của bệnh trong các nhóm dân cư khác nhau, bao gồm độ tuổi, giới tính và chủng tộc Tỉ lệ này có thể được tính cho toàn bộ dân số hoặc cho từng phân khúc cụ thể, giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố của bệnh trong các nhóm có đặc điểm khác nhau.

Ung thư phổi, dạ dày, tiền liệt tuyến, đại trực tràng và gan là 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới, trong khi ung thư vú, cổ tử cung, đại trực tràng, phổi và dạ dày là những loại ung thư thường gặp ở nữ giới Đáng chú ý, 52% số ca ung thư này xảy ra tại các nước đang phát triển.

Thống kê ung thư trên thế giới và Hà Nội hằng năm có sự giống nhau và khác nhau như sau:

Giống nhau về tỉ lệ các ung thư ở các vị trí: phổi, dạ dày, vú, trực tràng, thân tử cung

Nhiều hơn thế giới: các ung thư gan, họng miệng, vòm, u lympho ác, bệnh bạch cầu Ít hơn: các ung thư tiền liệt tuyến.[2]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 9 triệu người mắc ung thư và 5 triệu người chết vì bệnh này Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, ung thư là một trong ba nguyên nhân chính gây tử vong, với tỷ lệ tử vong lên tới 100/100.000 dân ở Úc, Trung Quốc, Tân Tây Lan và Singapore Ở Trung Quốc, mỗi năm ung thư cướp đi sinh mạng của 1,3 triệu người, trong khi tại Việt Nam, ước tính có khoảng 100.000 đến 150.000 bệnh nhân ung thư mới và từ 50.000 đến 70.000 người chết vì bệnh này hàng năm Tình hình mắc và tử vong do ung thư đang có xu hướng gia tăng Nguy cơ mắc ung thư của một cá nhân có thể được phản ánh qua tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trong một dân tộc; ví dụ, một trong năm người dân Hoa Kỳ có nguy cơ chết vì ung thư, với 564.000 ca tử vong được ghi nhận vào năm 1998, chiếm 23% tổng số ca tử vong Số liệu này không bao gồm khoảng 1 triệu người mắc ung thư da không phải u hắc tố đã được chữa khỏi hoàn toàn và 100.000 trường hợp ung thư tại chỗ, chủ yếu là ung thư cổ tử cung và ung thư vú.

Tỷ lệ chết điều chỉnh theo tuổi do ung thư đã có những thay đổi rõ rệt trong 5 thập kỷ qua Ở nam giới, tỷ lệ tử vong do ung thư đã tăng đáng kể, chủ yếu do ung thư phổi, trong khi ở phụ nữ, tỷ lệ này giảm nhẹ nhờ vào sự suy giảm tỷ lệ tử vong do ung thư tử cung, dạ dày, gan và đặc biệt là ung thư cổ tử cung Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do ung thư phổi lại gia tăng ở cả hai giới, mặc dù ở nam giới đã có dấu hiệu giảm Đối với phụ nữ, tỷ lệ tử vong do ung thư phổi vẫn tiếp tục tăng do thói quen sử dụng thuốc lá gia tăng Đồng thời, ung thư biểu mô tuyến vú ở phụ nữ có tỷ lệ cao gấp 2,5 lần so với các loại ung thư khác.

Ung thư phế quản hiện là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư ở phụ nữ, do tỷ lệ chữa khỏi thấp hơn so với các loại ung thư khác Sự giảm tỷ lệ tử vong do ung thư tử cung, bao gồm cả cổ tử cung, có thể liên quan đến việc chẩn đoán sớm và tỷ lệ điều trị cao hơn nhờ vào sàng lọc bằng phiến đồ Papanicolaou Ngoài ra, tỷ lệ tử vong do ung thư biểu mô dạ dày và gan cũng có xu hướng giảm, có thể là do sự giảm thiểu một số tác nhân gây ung thư trong thực phẩm.

Gánh nặng bệnh tật 10 loại ung thư hàng đầu

Năm 2018, số người chết do ung thư và số ca ung thư mới tại Việt Nam lần lượt là 114.871 và 164.671.[36]

Ung thư tuyến giáp có khoảng 567.000 trường hợp mới mắc trên toàn thế giới, đứng thứ chín về tỷ lệ mắc Tỷ lệ mới mắc ở phụ nữ là 10,2 trên 100.000 dân, cao gấp ba lần so với nam giới, chiếm 5,1% tổng gánh nặng ung thư nữ, tương đương 1 trong 20 chẩn đoán ung thư năm 2018 Tỷ lệ tử vong do bệnh này rất thấp, chỉ từ 0,4% đến 0,5%, với khoảng 41.000 ca tử vong Tỷ lệ mới mắc cao gấp 4-5 lần ở các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) cao so với những nước có HDI thấp, trong khi tỷ lệ tử vong tương đối giống nhau Hàn Quốc có tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao nhất ở cả nam và nữ, và đây cũng là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Tại các khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao như Bắc Mỹ, Úc/New Zealand và Đông Á, tỷ lệ mắc ở nữ giới cao hơn nhiều so với nam giới, đặc biệt ở Canada, New Caledonia và Polynesia thuộc Pháp.

Nguyên nhân gây ung thư tuyến giáp vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng bức xạ ion hóa, đặc biệt là khi tiếp xúc trong thời thơ ấu, được xác định là yếu tố nguy cơ chính Ngoài ra, các yếu tố khác như béo phì, hút thuốc, phơi nhiễm nội tiết tố và ô nhiễm môi trường cũng có thể góp phần Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp đã gia tăng ở nhiều quốc gia từ những năm 1980, chủ yếu do sự gia tăng chẩn đoán ung thư tuyến giáp dạng nhú nhờ vào cải tiến trong phát hiện và chẩn đoán Sự gia tăng này được cho là do chẩn đoán quá mức, đặc biệt sau khi các phương pháp chẩn đoán mới được giới thiệu.

Bảy kỹ thuật chẩn đoán mới đang được áp dụng, trong đó chẩn đoán quá mức ở phụ nữ ước tính chiếm tới 90% các trường hợp mới tại Hàn Quốc, từ 70% đến 80% ở Hoa Kỳ, Ý, Pháp và Úc, và khoảng 50% tại Nhật Bản, các nước Bắc Âu, Anh và Scotland.

Theo báo cáo của Globocan 2018, ung thư tuyến giáp tại Việt Nam xếp thứ 9 trong tổng số các loại ung thư ở cả nam và nữ, chỉ sau ung thư gan, phổi, dạ dày, vú, trực tràng, thanh quản, lơ-xê-mi và đại tràng Đặc biệt, ung thư tuyến giáp đứng thứ 5 trong số các loại ung thư ở nữ giới, sau ung thư vú, phổi, dạ dày và gan.

Ung thư tuyến giáp hiện có 5.418 ca mắc mới, chiếm 3,54% tổng số các loại ung thư Trong đó, nữ giới chiếm 4.538 ca, tương đương 6,1% tổng số ung thư ở nữ Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là 1/5.

Tử vong do bệnh ung thư tuyến giáp hiện chiếm 0.49%, đứng thứ 22 trong số các nguyên nhân tử vong, trong khi các loại ung thư khác như gan, phổi và dạ dày dẫn đầu Tuy nhiên, với sự tiến bộ trong chẩn đoán và nâng cao ý thức về sức khỏe, ung thư tuyến giáp đã trở nên phổ biến hơn và có thể được phát hiện sớm Điều này không chỉ mang lại hiệu quả điều trị cao mà còn giúp giảm gánh nặng ung thư cho Việt Nam và thế giới.

Bệnh nhân ung thư tại Hoa Kỳ đang phải đối mặt với gánh nặng tài chính lớn từ chi phí chăm sóc, điều này càng phức tạp hơn bởi các thách thức xã hội và tác động kinh tế của bệnh Nhiều bác sĩ và bệnh nhân thiếu hiểu biết về chi phí chăm sóc ung thư, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao tính minh bạch và giáo dục cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân Mặc dù nhiều bệnh nhân mong muốn thảo luận về chi phí, nhưng chỉ một số ít thực sự có những cuộc hội thoại này, và không có sự đồng thuận về cách thức, thời gian, nội dung hay mục tiêu cho các cuộc thảo luận Bài viết này phân tích những thách thức trong việc giáo dục bệnh nhân về gánh nặng tài chính liên quan đến ung thư.

Châu Á, với 60% dân số toàn cầu, đang phải gánh chịu một nửa số ca ung thư trên thế giới Dự báo, tỷ lệ mắc bệnh ung thư sẽ tăng từ 6,1 triệu ca vào năm 2008 lên 10,6 triệu ca vào năm 2030, chủ yếu do dân số già hóa, gia tăng và thay đổi lối sống cũng như các yếu tố kinh tế xã hội Những biến đổi về sắc tộc, văn hóa xã hội, chỉ số phát triển con người, thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống đang ảnh hưởng lớn đến gánh nặng và mô hình ung thư tại các khu vực trong châu lục này.

Gánh nặng ung thư ở châu Á đang gia tăng, yêu cầu sự công nhận chính trị như một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng và cần đầu tư vào nhận thức cộng đồng và chuyên môn Việc phòng ngừa và phát hiện sớm ung thư không chỉ mang lại kết quả sức khỏe tốt hơn mà còn giúp tiết kiệm chi phí điều trị Dịch vụ chăm sóc sức khỏe ung thư cần phát triển và đầu tư để đảm bảo tất cả các nhóm dân cư đều được tiếp cận công bằng Đánh giá này thảo luận về sự thay đổi trong gánh nặng ung thư và các chiến lược quản lý phù hợp, bao gồm thúc đẩy lối sống lành mạnh, kiểm soát thuốc lá và rượu, tiêm phòng virus viêm gan B và HPV, cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng chăm sóc sức khỏe ung thư để cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ.

Châu Á chiếm 60% dân số thế giới và một nửa gánh nặng ung thư toàn cầu, với tỷ lệ mắc bệnh ung thư dự kiến tăng từ 6,1 triệu vào năm 2008 lên 10,6 triệu vào năm 2030 do dân số già và lối sống thay đổi Những thay đổi về sắc tộc, văn hóa, và thói quen ăn uống ảnh hưởng đến mô hình ung thư ở các khu vực khác nhau Điều này kêu gọi sự công nhận chính trị cho bệnh ung thư như một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng và cần đầu tư vào nhận thức cộng đồng và chuyên môn Phòng ngừa và phát hiện sớm ung thư không chỉ cải thiện kết quả sức khỏe mà còn tiết kiệm chi phí điều trị Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ung thư cần đầu tư đáng kể để đảm bảo tiếp cận công bằng cho mọi người Bài đánh giá này thảo luận về gánh nặng ung thư ở châu Á và các chiến lược quản lý như thúc đẩy lão hóa lành mạnh, kiểm soát thuốc lá và rượu, tiêm vắc-xin HBV và HPV, cùng với dịch vụ sàng lọc ung thư.

9 việc tăng cường cơ sở hạ tầng chăm sóc sức khỏe ung thư để cải thiện khả năng tiếp cận công bằng với các dịch vụ.[42]

DỰ PHÒNG SKTT CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ

Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc trầm cảm là 57,7%, trong đó trầm cảm nhẹ chiếm 32,2%, trầm cảm vừa 18,8% và trầm cảm nặng 6,1% Nhóm lao động trí óc có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nhóm lao động chân tay (61,5% so với 58,2%, p < 0,0001) Đối với bệnh nhân ung thư, tỷ lệ mắc trầm cảm ở giai đoạn I là 47,1% và không có trầm cảm nặng, trong khi ở giai đoạn III và IV, tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn và mức độ trầm cảm nặng tăng theo giai đoạn bệnh.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh tâm thần cao gấp 1,43 lần so với nam giới Họ thường là nạn nhân trong các tình huống thiên tai, xung đột chiến tranh và bạo lực gia đình.

Trong gia đình có người mắc bệnh tâm thần

Những người có bậc cha chú mắc các bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực và rối loạn trầm cảm phổ biến có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2,52 lần so với những người không có tiền sử gia đình mắc bệnh.

Theo thống kê tại Anh, những người thuộc 20% gia đình có thu nhập thấp nhất có nguy cơ mắc bệnh tâm thần cao gấp 2-3 lần so với 80% gia đình còn lại.

Nhiễm các bệnh mãn tính khác

Một nghiên cứu cho thấy, ở các nước đang phát triển và mới phát triển, bệnh nhân mắc bệnh mãn tính có nguy cơ mắc bệnh tâm thần cao gấp 3,1 lần so với những người không mắc bệnh này.

 Chấn thương sọ não làm tăng tỉ lệ mới mắc sa sút tâm thần lên từ 15,3 đến 33% và tăng tỉ lệ hiện mắc lên từ 18,5 đến 61%.[43]

Lạm dụng rượu bia và chất kích thích khác

 Những người bị phụ thuộc rượu bia có nguy cơ mắc bệnh tâm thần cao hơn 3,6 lần những người không phụ thuộc rượu bia.[23]

 Năm 2012, 8,3% số trường hợp tử vong cả nước có liên quan đến việc sử dụng rượu, bia Có 71,7% trường hợp tử vong do xơ gan ở nam

Có ít bạn bè và các mối quan hệ lành mạnh

 Theo một nghiên cứu về chất lượng cuộc sống, việc có nhiều bạn bè làm giảm nguy cơ mắc bệnh tâm thần đáng kể.[4]

2 Chiến lược quốc gia phòng chống ung thư[7]

Giải pháp về chính sách, pháp luật và phối hợp liên nghành

Truyền thông và vận động xã hội:

Sử dụng mạng lưới thông tin truyền thông từ Trung ương đến địa phương là cần thiết để tuyên truyền và vận động các cấp, ngành, đoàn thể cùng người dân thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật liên quan đến phòng, chống BKLN.

Nghiên cứu và phát triển các chương trình cùng tài liệu truyền thông hiệu quả về phòng chống BKLN, phù hợp với các phương thức truyền thông và các nhóm đối tượng khác nhau.

Xây dựng cộng đồng nâng cao sức khỏe là một hoạt động quan trọng, cần phù hợp với từng vùng miền và nhóm đối tượng cụ thể Trong đó, cần chú trọng đến việc cải thiện sức khỏe tại trường học, nơi làm việc và phát triển thành phố vì sức khỏe.

 Đề xuất phát động phong trào toàn dân thực hiện lối sống tăng cường sức khỏe gắn với phòng, chống các BKLN

Giải pháp tăng cường hệ thống cung cấp dịch vụ và chuyên môn kỹ thuật y tế

 Tổ chức hệ thống dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý các bệnh không lây nhiễm Trung ương đến các cấp xã trong nước

Tăng cường phát hiện và điều trị ung thư tại trạm y tế xã và cộng đồng là rất quan trọng Điều này đảm bảo cung cấp dịch vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc liên tục cho bệnh nhân ung thư, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và hỗ trợ hiệu quả trong quá trình điều trị.

Tăng cường hiệu quả hoạt động của lĩnh vực y tế dự phòng là cần thiết để kiểm soát các yếu tố nguy cơ và tình trạng tiền bệnh, từ đó giúp phòng ngừa bệnh ung thư hiệu quả hơn.

Củng cố hệ thống cơ sở khám bệnh và chữa bệnh nhằm cung cấp dịch vụ toàn diện, chuyên sâu và kỹ thuật cao cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân Đồng thời, hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến dưới để đảm bảo phát hiện bệnh sớm, điều trị hiệu quả và quản lý bệnh nhân một cách liên tục và bền vững.

Giải pháp về nguồn lực

Giải pháp nghiên cứu theo dõi, giám sát

Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế

Các chương trình, dự án giai đoạn 2015-2020

Dự án truyền thông và vận động xã hội nhằm phòng, chống các bệnh không lây nhiễm như ung thư, bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản đã được triển khai trong giai đoạn 2015-2020.

- Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế

Cơ quan phối hợp bao gồm Bộ Thông tin và Truyền thông, các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan, cùng với Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.

Dự án tập trung vào việc chủ động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị các bệnh như ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản trong giai đoạn 2015-2020 Mục tiêu của dự án là nâng cao hiệu quả quản lý sức khỏe cộng đồng, giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

- Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế

- Cơ quan phối hợp: các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Dự án quản lý và giám sát hàm lượng muối, đường, chất béo và phụ gia trong thực phẩm chế biến sẵn đã được triển khai nhằm can thiệp giảm sử dụng muối trong cộng đồng Mục tiêu của dự án là phòng chống các bệnh lý như tim mạch, ung thư và đái tháo đường trong giai đoạn 2015-2020.

- Cơ quan chủ trì: Bộ Công Thương

- Cơ quan phối hợp: Bộ Y tế, các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Ngày đăng: 18/04/2025, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Quân y 103 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ UNG THƯ, DỊCH TỄ, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DỰ PHÒNGhttp://www.benhvien103.vn/vietnamese/bai-giang-chuyen-nganh/y-hoc-hat-nhan/khai-niem-co-ban-ve-ung-thu-dich-te-yeu-to-nguy-co-va-du-phong/1366/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ UNG THƯ, DỊCH TỄ, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DỰ PHÒNG
Tác giả: Bệnh viện Quân y 103
2. thuốc biệt dược Chẩn đoán và điều trị (2013) Dich tễ học mô tả bệnh ung thư, https://www.dieutri.vn/daicuongungthu/dich-te-hoc-mo-ta-benh-ung-thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dich tễ học mô tả bệnh ung thư
Tác giả: Trần Tiến Phong, Trần Trà My, Trần Phương Phương
Năm: 2013
3. Labantộ Outcha Darộ, Pierre-Emile Bruand, Daniel Gộrard, Benoợt Marin, Valerie Lameyre, Farid Boumédiène, et al. (2019) "Co-morbidities of mental disorders and chronic physical diseases in developing and emerging countries: a meta- analysis". BMC Public Health, 19 (1), 304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co-morbidities of mental disorders and chronic physical diseases in developing and emerging countries: a meta-analysis
4. Jukka Hintikka, T. Koskela, Osmo Kontula, K. Koskela, H. Viinamọki (2000) "Men, women and friends - Are there differences in relation to mental well-being?".Quality of life research : an international journal of quality of life aspects of treatment, care and rehabilitation, 9, 841-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Men, women and friends - Are there differences in relation to mental well-being
5. Dương Trung Kiên Nguyễn Kim Lưu NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN,http://www.benhvien103.vn/vietnamese/ky-yeu-cong-trinh-2010-2015/nghien-cuu-hoi-chung-tram-cam-o-benh-nhan-ung-thu-moi-duoc-phat-hien/1422/,6. Hitoshi Okamura, Yosuke Uchitomi, Mitsuru Sasako, Kenji Eguchi, Tadao Kakizoe Sách, tạp chí
Tiêu đề: NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG TRẦM CẢM Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN
Tác giả: Dương Trung Kiên Nguyễn Kim Lưu, Hitoshi Okamura, Yosuke Uchitomi, Mitsuru Sasako, Kenji Eguchi, Tadao Kakizoe
7. Bộ Y tế (2016) Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025, tế, B. Y., Government Document, 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025
8. Nguyễn Duy Tri (2018) DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP, https://khamtuyengiap.com/thong-tin/dich-te-hoc-ung-thu-tuyen-giap-63.html,9.Cancer Research UK (2009) US research suggests that cancer cells triggerdepression, https://scienceblog.cancerresearchuk.org/2009/05/19/us-researchsuggests-that-cancer-cells-trigger-depression Sách, tạp chí
Tiêu đề: DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Tác giả: Nguyễn Duy Tri
Năm: 2018
10. Vehling et al "The association of demoralization with mental disorders and suicidal ideation in patients with cancer ". Cancer, Epub 123 (17), 3394-3401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association of demoralization with mental disorders and suicidal ideation in patients with cancer
11. B. T. Allaire, D. Ekweme, T. J. Hoerger, A. DeGroff, S. H. Rim, S. Subramanian, et al. (2019) "Cost-effectiveness of patient navigation for breast cancer screening in the National Breast and Cervical Cancer Early Detection Program". Cancer Causes Control, 30 (9), 923-929 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-effectiveness of patient navigation for breast cancer screening in the National Breast and Cervical Cancer Early Detection Program
12. Levy A. R. Brown K. W., Rosberger Z., Edgar L (2003) "Psychological distress and cancer survival: a follow-up 10 years after diagnosis". Psychosom Med, 65 (4), 636-643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychological distress and cancer survival: a follow-up 10 years after diagnosis
15. Mental Health Foundation Mental health statistics: poverty, https://www.mentalhealth.org.uk/statistics/mental-health-statistics-poverty,16. Johansen C. Grassi L., Annunziata M. A., Capovilla E., Costantini A., et al (2013)"Screening for distress in cancer patients: a multicenter, nationwide study in Italy". Cancer, 119 (9), 1714-1721 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening for distress in cancer patients: a multicenter, nationwide study in Italy
Tác giả: Johansen C., Grassi L., Annunziata M. A., Capovilla E., Costantini A
Nhà XB: Cancer
Năm: 2013
17. Munjas Brett A. Grenard Jerry L., Adams John L., et al (2011) "Depression and Medication Adherence in the Treatment of Chronic Diseases in the United States:A Meta-Analysis". Journal of General Internal Medicine, 26 (10), 1175-1182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression and Medication Adherence in the Treatment of Chronic Diseases in the United States: A Meta-Analysis
18. E. Grossman, F. H. Messerli, V. Boyko, U. Goldbourt (2002) "Is there an association between hypertension and cancer mortality?". Am J Med, 112 (6), 479-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is there an association between hypertension and cancer mortality
19. Samy L. Habib, Maciej Rojna (2013) "Diabetes and risk of cancer". ISRN oncology, 2013, 583786-583786 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes and risk of cancer
20. Lordick F Hacker U, et al (2015) Current standards in the treatment of gastric cancer. Aktuelle Standards in der Therapie des Magenkarzinoms. Dtsch Med Wochenschr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aktuelle Standards in der Therapie des Magenkarzinoms
21. National Cancer Institute Psychological Stress and Cancer, https://www.cancer.gov/about-cancer/coping/feelings/stress-fact-sheet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychological Stress and Cancer
Tác giả: National Cancer Institute
Nhà XB: National Cancer Institute
23. M.D. Ismene L. Petrakis, Gerardo Gonzalez, M.D., Robert Rosenheck, M.D., John H. Krystal, M.D. Comorbidity of Alcoholism and Psychiatric Disorders An Overview, https://pubs.niaaa.nih.gov/publications/arh26-2/81-89.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comorbidity of Alcoholism and Psychiatric Disorders An Overview
Tác giả: M.D. Ismene L. Petrakis, Gerardo Gonzalez, M.D., Robert Rosenheck, M.D., John H. Krystal, M.D
Nhà XB: NIAAA
24. Pritchard M. J. (2009) "Identifying and assessing anxiety in pre-operative patients". Nurs Stand, 23 (51), 35-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identifying and assessing anxiety in pre-operative patients
25. E. E. Kent, A. Ambs, S. A. Mitchell, S. B. Clauser, A. W. Smith, R. D. Hays (2015) "Health-related quality of life in older adult survivors of selected cancers: data from the SEER-MHOS linkage". Cancer, 121 (5), 758-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life in older adult survivors of selected cancers: data from the SEER-MHOS linkage
26. U. Ladabaum, A. Mannalithara, R. G. S. Meester, S. Gupta, R. E. Schoen (2019) "Cost-Effectiveness and National Effects of Initiating Colorectal Cancer Screening for Average-Risk Persons at Age 45 Years Instead of 50 Years".Gastroenterology, 157 (1), 137-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-Effectiveness and National Effects of Initiating Colorectal Cancer Screening for Average-Risk Persons at Age 45 Years Instead of 50 Years
Tác giả: U. Ladabaum, A. Mannalithara, R. G. S. Meester, S. Gupta, R. E. Schoen
Nhà XB: Gastroenterology
Năm: 2019

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w