ĐẶT VẤN ĐỀ Đau thần kinh tọa hay còn gọi là đau thần kinh hông to là một hội chứng đau rất phổ biến trên lâm sàng. Bệnh không ảnh hưởng tới sinh mạng nhưng làm suy giảm khả năng lao động và chất lượng cuộc sống người bệnh. Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ mắc hội chứng này khoảng 13 đến 40% [34]. Có nhiều nguyên nhân gây ra đau thần kinh tọa trong đó có hai nguyên nhân phổ biến nhất là thoái hóa cột sống thắt lưng và thoát vị một hoặc nhiều đĩa đệm cột sống thắt lưng. Việc điều trị hội chứng đau thần kinh tọa nhằm mục đích đưa người bệnh trở lại sinh hoạt và làm việc bình thường. Trong Y học hiện đại (YHHĐ) có nhiều phương pháp điều trị như dùng thuốc chống viêm giảm đau (NSAIDs hoặc steroid), thuốc giãn cơ, vitamin nhóm B liều cao, tiêm ngoài màng cúng- tiêm cạnh sống, vật lý trị liệu, kéo dãn cột sống… Khi các phương pháp trên chỉ định không đạt hiệu quả thì một số trường hợp phải dùng phương pháp phẫu thuật. Phương pháp này đòi hỏi ký thuật cao, tốn kém, đôi khi có biến chứng nặng nề [41], [39]. Trong Y học cổ truyền (YHCT), đau thần kinh tọa được mô tả trong phạm vi chứng thống tý. Tý có nghĩa là tắc, chứng tý theo Y học cổ truyền là một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay và chân… do khí huyết không thông, bế tắc kinh lạc. Theo các y văn cổ như Hoàng đế nội kinh tố vấn bệnh đau thần kinh tọa được mô tả với nhiều bệnh danh khác nhau tùy thuộc vào vị trí hoặc nguyên nhân gây bệnh: Yêu cước thống (đau lưng – chân), yêu thoái thống (đau lưng – đùi), Yêu cước đông thống (đau lưng – chân vào mùa đông), Tọa điến phong (đau hông do phong tà), tọa cốt phong (đau lưng có tính chất di chuyển xuống dưới). Nguyên nhân gây ra hội chứng này do ngoại nhân (phong, hàn, thấp), nội thương (suy giảm chức năng các tạng phủ) hoặc do bất nội ngoại nhân (chấn thương, sai tư thế, ngồi lâu…). Y học cổ truyền cũng đạt được nhiều thành tựu trong điều trị đau thần kinh tọa. Các phương pháp điều trị bằng Y học cổ truyền đã dược nghiên cứu và chứng minh có hiệu quả như: châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, dưỡng sinh, phương pháp dùng thuốc… Trong châm cứu, cấy chỉ hay còn gọi là nhu châm, là một phương pháp châm đặc biệt. Phương pháp này đưa một đoạn chỉ catgut dùng trong y khoa chôn ở đúng vị trí huyệt cần châm để tạo kích thích liên tục, kích thích kéo dài. Phương pháp này có xuất xử từ Trung Quốc nhưng được nghiên cứu và ứng dụng tại Việt Nam từ những năm 60 trong điều trị chứng bệnh mãn tính trong đó có các bệnh về cơ xương khớp, bệnh lý thần kinh… Cùng với việc phát triển của khoa học công nghệ, việc tìm tòi kết hợp đa trị liệu đang là xu thế được quan tâm. Sản phẩm Didicera có nguồn gốc từ phương thuốc “Độc hoạt tang ký sinh”, là bài cổ phương thường được dùng để điều trị đau vùng thắt lưng hông, có tác dụng khu phong tán hàn trừ thấp, bổ can thận. Tuy nhiên để mang lại hiệu quả lâu dài cần phối hợp thêm các phương pháp không dùng thuốc kèm theo như cấy chỉ. Đây là một trong những phương pháp điều trị phối hợp được áp dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc. Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu khoa học được tiến hành có hệ thống để đánh giá tác dụng của phương pháp phối hợp này. Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng bằng phương pháp cấy chỉ kết hợp với chế phẩm Độc hoạt tang ký sinh” với 2 mục tiêu: 1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc. 2. Đánh giá hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng bằng cấy chỉ kết hợp với chế phẩm Độc hoạt tang ký sinh.
TỔNG QUAN
Đau thần kinh tọa theo y học hiện đại
Dây thần kinh tọa, hay còn gọi là dây thần kinh hông to, là dây thần kinh lớn nhất trong cơ thể, bắt nguồn từ cột sống và kéo dài đến ngón chân cái, có vai trò quan trọng trong việc điều khiển vận động và cảm giác của chi dưới Đau dây thần kinh tọa là tình trạng đau xuất hiện dọc theo đường đi của dây thần kinh này, bắt đầu từ vùng thắt lưng và lan xuống hông, đùi, bắp chân, cẳng chân và bàn chân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động của người bệnh.
1.1.2 Đặc điểm về giải phẫu thần kinh tọa
Thần kinh tọa, hay còn gọi là thần kinh ngồi hoặc thần kinh hông to, được hình thành từ đám rối cùng (sacral plexus) Đám rối cùng bao gồm các dây thần kinh từ vùng chậu, đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển cảm giác và vận động ở phần dưới cơ thể.
(2) nhánh trước của ba thần kinh sống cùng đầu tiên (S1, S2, S3) và
(3) một phần nhánh trước của thần kinh sống cùng IV.
Thân thắt lưng là do nhánh trước thần kinh thắt lưng IV (L4) và nhánh trước thần kinh thắt lưng V (L5) tạo thành Nó xuất hiện ở bờ trong của cơ thắt lưng và đi vào chậu hông bé trước khớp cùng-chậu Thân thắt lưng kết hợp với các thần kinh cùng I-III (S1, S2, S3) để hình thành thần kinh ngồi.
Thần kinh ngồi bao gồm thần kinh chày và mác chung, thường chỉ tách rời nhau ở đỉnh hố khoeo Thần kinh chày được hình thành từ các sợi trước của thân thắt lưng-cùng và ba thần kinh cùng đầu tiên, trong khi thần kinh mác chung được tạo nên từ các sợi sau của thân thắt lưng-cùng và hai thần kinh cùng đầu tiên Hai thần kinh này có thể tách rời nhau sớm hơn ở bất kỳ vị trí nào, và nếu tách rời ngay tại đám rối, thần kinh mác chung thường xuyên đi qua cơ hình lê.
Hình 1.1 Cấu tạo và đường đi của dây thần kinh tọa [23]
Dây mác chung: xuất phát từ các sợi sau, ngành trước của L4 - L5 - S1 - S2. Dây chày: xuất phát từ các sợi trước, ngành trước của L4 – L5 – S1 – S2 – S3.
Thần kinh ngồi, thần kinh lớn nhất cơ thể với đường kính lên tới 2 cm tại nguyên uỷ, rời khỏi chậu hông qua lỗ ngồi lớn dưới cơ hình lê, đi xuống vùng mông và đùi sau, đến đỉnh trám khoeo thì chia thành hai nhánh: thần kinh chày và thần kinh mác chung Tại vùng mông, thần kinh này nằm giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn, ở phía trước cơ mông to và bắt chéo sau cơ bịt trong, các cơ sinh đôi và cơ vuông đùi; thần kinh bì đùi sau và động mạch mông dưới nằm trong thần kinh ngồi Trong đùi sau, thần kinh ngồi đi sau cơ khép lớn và bị bắt chéo phía sau bởi đầu dài cơ nhị đầu đùi.
Hình chiếu của thần kinh ngồi trên bề mặt tương ứng được xác định bởi một đường kẻ từ điểm giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn đến đỉnh hố khoeo Thần kinh ngồi phân nhánh thành các nhánh khớp cho khớp hông và các nhánh cơ cho các cơ nhị đầu đùi, cơ bán màng, cơ bán gân, cùng với phần bám vào củ ngồi của cơ khép lớn.
Thần kinh ngồi phân nhánh thành hai dây thần kinh tận là thần kinh chày và thần kinh mác chung, chịu trách nhiệm về cảm giác và vận động ở vùng cẳng chân và bàn chân.
+ Đường đi và liên quan:
Thần kinh chày tách ra từ đỉnh trám khoeo và đi thẳng xuống qua hố khoeo, nằm trước cung cơ dép ở cẳng chân sau Nó tiếp tục đi xuống đến mặt sâu hãm gân gấp, nơi tận cùng bằng các thần kinh gan chân trong và ngoài Hình chiếu của thần kinh chày trên bề mặt là một đường thẳng đứng từ đỉnh khoeo đến điểm giữa gân gót và mắt cá trong Gần hố khoeo, thần kinh nằm ngoài và nông hơn các mạch khoeo, nhưng khi đến ngang đường khớp gối thì bắt chéo sau các mạch khoeo để nằm trong động mạch khoeo Ở cẳng chân sau, thần kinh chày đi cùng các mạch chày sau, nằm trên mặt sau cơ chày sau và được che phủ bởi cơ dép; tuy nhiên, ở 1/3 dưới, nó chỉ được che phủ bởi da và mạc Ban đầu, thần kinh chày nằm trong các mạch chày sau, sau đó bắt chéo sau và đi xuống bên ngoài chúng đến chỗ chia đôi.
Các nhánh bên của thần kinh chày bao gồm các nhánh cơ, thần kinh bì bắp chân trong, nhánh gót trong, cùng với các nhánh khớp và nhánh mạch.
Các nhánh cơ ở khoeo tách ra giữa các đầu cơ bụng chân, chi phối cho cơ khoeo, cơ gan chân, cơ dép Thần kinh tới cơ khoeo còn bao gồm thần kinh gian cốt cẳng chân, di chuyển gần xương mác để tới khớp chày-mác xa Các nhánh cơ ở cẳng chân phục vụ cho cơ dép, cơ chày sau, cơ gấp các ngón chân dài và cơ gấp ngón cái dài.
Thần kinh bì bắp chân trong (medial sural cutaneous nerve) tách ra ở khoeo và đi xuống giữa hai đầu cơ bụng chân, xuyên qua mạc cẳng chân tại chỗ nối 1/3 trên và 1/3 giữa cẳng chân Nó tiếp nhận nhánh nối mác của thần kinh mác chung để hình thành thần kinh bắp chân Thần kinh bắp chân cùng với tĩnh mạch hiển bé đi xuống ngoài gân gót và phân nhánh vào da vùng sau-ngoài của 1/3 dưới cẳng chân Tại khu vực giữa gót và mắt cá ngoài, nó tách ra các nhánh gót ngoài và trở thành thần kinh bì mu chân ngoài, tiếp tục đi dọc bờ ngoài của bàn chân và ngón chân út.
Các nhánh gót trong (medial calcaneal branches): Các nhánh này xuyên qua hãm gân gấp để tới da gót.
Thần kinh gan chân trong (Medial plantar nerve):
Thần kinh chày có một nhánh tận lớn hơn nằm ngoài động mạch gan chân trong, đi vào gan chân dưới sự che phủ của cơ giạng ngón cái Nó lộ ra giữa cơ giạng ngón cái và cơ gấp các ngón chân ngắn, sau đó tách ra một thần kinh gan ngón chân riêng cho bờ trong ngón cái và chia thành ba thần kinh gan ngón chân chung.
Các nhánh bì xuyên qua cân gan chân để đi vào da gan chân.
Các nhánh cơ của thần kinh gan chân bao gồm nhánh tới cơ giạng ngón cái, cơ gấp các ngón ngắn và cơ gấp ngón cái ngắn Nhánh tới cơ giun thứ nhất tách ra từ thần kinh gan ngón chân chung thứ nhất Mỗi thần kinh gan ngón chân chung phân chia thành hai thần kinh gan ngón chân riêng, với hai nhánh đầu tiên đi vào các bờ ngón chân thứ nhất và thứ hai, hai nhánh tiếp theo vào các bờ ngón chân thứ hai và thứ ba, và hai nhánh cuối cùng vào các bờ ngón chân thứ ba và thứ tư.
Thần kinh gan chân ngoài (Lateral plantar nerver):
Thần kinh gan chân ngoài di chuyển về phía trước, nằm cạnh động mạch gan chân ngoài Nó đi giữa cơ gấp các ngón chân ngắn và cơ vuông gan chân, và tận cùng tại nền xương đốt bàn chân V với hai nhánh: nhánh nông và nhánh sâu Trước khi tận cùng, thần kinh này còn phân nhánh vào cơ vuông gan chân, cơ giạng ngón V và da phần ngoài gan chân.
Nhánh nông chia thành một thần kinh gan ngón riêng cho bờ ngoài ngón
Thần kinh gan ngón chung V chia thành hai nhánh gan ngón riêng, đi vào các bờ kề nhau của ngón chân IV và V Nhánh gan ngón chân riêng cung cấp cảm giác cho bờ trong ngón V và phân nhánh vào cơ gấp ngón út ngắn cùng các cơ gian cốt trong khoang gian xương của bàn chân thứ tư.
Đau thần kinh tọa theo y học cổ truyền
1.2.1 Bệnh danh đau thần kinh tọa Đau thần kinh tọa được mô tả trong chứng thống tý của YHCT Tý có nghĩa là tắc, chứng tý theo YHCT là một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay và chân… do khí huyết không thông, bế tắc kinh lạc. Trong các y văn cổ như Hoàng đế nội kinh tố vấn đã mô tả bệnh đau thần kinh tọa với nhiều bệnh danh khác nhau tùy thuộc vào vị trí hoặc nguyên nhân gây bệnh: Yêu cước thống (đau lưng – chân), yêu thoái thống (đau lưng – đùi), Yêu cước đông thống (đau lưng – chân vào mùa đông), Tọa điến phong (đau hông do phong tà), tọa cốt phong (đau lưng có tính chất di chuyển xuống dưới).
1.2.2 Bệnh nguyên và bệnh cơ
Theo y học cổ truyền, quan niệm “Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông” nhấn mạnh rằng khi khí huyết bị tắc nghẽn trong kinh lạc, sẽ dẫn đến đau đớn tại vị trí bị tắc Chứng tý xuất hiện do sự yếu kém của dinh vệ, tấu lý không chặt chẽ, cùng với sự xâm nhập của phong hàn vào cơ thể, khiến cho kinh mạch không lưu thông và gây ra cơn đau.
Hành tý là tình trạng đau do phong gây ra, với đặc điểm là cơn đau di chuyển và không có điểm đau cố định Khi vận động, cơn đau sẽ tăng lên, nhưng sẽ giảm khi nghỉ ngơi.
Đau do hàn tà thường gây ra cơn đau dữ dội, đau buốt như xuyên, kèm theo hiện tượng co rút gân Triệu chứng này thường nặng hơn vào ban đêm và trong mùa đông lạnh Việc chườm nóng có thể giúp giảm đau hiệu quả.
Trước tý: chủ yếu do thấp tà gây ra, với tính chất đau nhức nhối, mỏi, cảm giác tê nặng nề, tê dại, lâu ngày có thể teo cơ [21] [6]
Theo cơ chế bệnh sinh của YHCT, đau thần kinh tọa do các nguyên nhân sau [6]:
Tà khí từ bên ngoài câm nhập vào cơ thể gây bệnh
Phong là yếu tố liên quan đến gió và mùa xuân, có đặc điểm di chuyển và xuất hiện bất ngờ Do đó, chứng “tọa cốt phong” cũng phát sinh đột ngột, với diễn biến nhanh chóng và cơn đau lan tỏa theo đường đi của kinh bàng quang và kinh Đởm.
Hàn có tính chất ngưng trệ, gây tắc nghẽn huyết kinh lạc và làm tăng co rút gân cơ Tình trạng này dẫn đến cảm giác đau buốt như bị xuyên thấu Đồng thời, hàn cực sinh nhiệt, khiến một số bệnh nhân cảm thấy nóng rát tại vị trí đau.
Thấp xâm phạm vào bì phu kinh lạc có thể gây tắc nghẽn kinh lạc, dẫn đến cảm giác tê bì nặng nề, ra mồ hôi chân và lưỡi có rêu nhờn dính.
Vùng eo lưng trở xuống là khu vực quan trọng trong mạch đới, nơi đới hạ khu liên quan đến thấp và đới thượng khu liên quan đến phong Thấp tà ở đới hạ khu có mối liên hệ chặt chẽ với tạng tỳ, vì tỳ chủ yếu điều tiết thấp.
Rối loạn chức năng của tạng can và thận thường gặp do chính khí suy yếu, ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể Can có vai trò quan trọng trong việc tàng huyết và nuôi dưỡng cân, nên khi chức năng can bị hư, sẽ dẫn đến tình trạng cân yếu mỏi hoặc co rút Thận, với vai trò chủ cốt tủy và tàng tinh, cũng có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe lưng, vì thận liên quan đến phủ Bàng quang Khi thận hư, xương cốt yếu và huyết hư sẽ góp phần gây ra các triệu chứng như yêu thống và tọa cốt thống.
Rối loạn chức năng của gan và thận ảnh hưởng đến hoạt động của đởm và bàng quang, dẫn đến sự trở trệ trong tuần hoàn khí huyết Kinh khí bị tắc nghẽn dọc theo đường đi của kinh bàng quang và kinh đởm gây ra đau đớn và hạn chế khả năng vận động, do hai kinh này chạy song song với dây thần kinh tọa.
1.2.2.3 Do bất nội ngoại nhân
Do lao động quá sức, sau khi mang vác vật nặng, bị đánh, bị té ngã… làm khí trệ huyết ứ mà gây đau [2].
1.2.3 Phân thể lâm sàng và điều trị
Đau thần kinh tọa được phân loại thành 5 thể theo YHCT dựa trên nguyên nhân gây bệnh, bao gồm thể phong hàn, thể phong hàn thấp tý, thể can thận hư, thể phong thấp nhiệt và thể huyết ứ.
1.2.3.1 Thể phong hàn (đau thần kinh tọa do lạnh)
YHCT còn gọi là hàn tý hay thống tý Do phòng hàn tà gây ra
Triệu chứng đau xuất hiện sau khi tiếp xúc với lạnh, với đặc điểm đau từ thắt lưng lan xuống mông, mặt sau đùi và cẳng chân Cơn đau tăng lên khi trời lạnh và giảm khi được chườm nóng Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc đi lại, thường có điểm đau khu trú mà chưa có dấu hiệu teo cơ Người bệnh cảm thấy sợ gió và lạnh, tay chân lạnh, đại tiện bình thường hoặc nát, tiểu trong, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, và mạch có dấu hiệu phù hoặc phù khẩn.
Khu phong tán hàn, thông kinh lạc
Bạch truật 12g Phụ tử chế 6g
Can khương thương truật linh phụ thang
Can khương 4g Bạch linh 12g Đương quy 12g Bạch chỉ 12g
Xuyên khung 8g Phụ tử chế 4g
Làm thang sắc uống 1 thang / ngày, sắc làm 2 lần uống sáng- chiều.
Do phong hàn thấp gây ra.
Triệu chứng đau thắt lưng lan xuống chân dọc theo thần kinh tọa thường kéo dài và tái phát, với cơn đau tăng lên khi thời tiết lạnh và ẩm Người bệnh có cảm giác chân tay lạnh, mệt mỏi, sợ lạnh, cảm giác tê bì hoặc kiến bò ở chân, và thường thích uống nước ấm, ăn đồ ấm Ngoài ra, họ còn gặp phải hoa mắt, chóng mặt, đau lưng, mỏi gối, ù tai, và tình trạng ăn ngủ kém Lưỡi có màu nhợt, chất lưỡi nhờn, rêu lưỡi dày, cùng với mạch trầm nhược hoặc nhu hoãn là những dấu hiệu đi kèm.
Bệnh lâu ngày có thể ảnh hưởng đến can, thận và tỳ, dẫn đến các triệu chứng như đau lưng, ù tai, mỏi gối, hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi, ăn ngủ kém, teo cơ, táo bón, tiểu tiện vàng, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ và mạch trầm tế hơi sác.
Khu phong tán hàn trừ thấp, thông kinh lạc
Nếu bệnh nhân có phối hợp thêm can thận hư, pháp điều trị: Khu phong tán hàn trừ thấp, thông kinh lạc, bổ can thận
Phương dược: Độc hoạt tang ký sinh Độc hoạt 12g Đảng sâm 12g
Tang ký sinh 12gg Bạch linh 10g
Ngưu tất 10g Xuyên khung 10g Đỗ trọng 12g
Làm thang sắc uống 1 thang / ngày, sắc làm 2 lần uống sáng- chiều.
Nguyên nhân Đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng ở người lớn tuổi.
Chức năng can thận suy kém dẫn đến phong hàn thấp xâm nhập vào kinh bàng quang hoặc kinh đởm, gây tắc nghẽn kinh khí và làm rối loạn lưu thông khí huyết Sự không điều hòa của khí huyết gây ra đau đớn và hạn chế vận động Nếu tình trạng thấp kéo dài mà không được giải quyết, sẽ hình thành hỏa, đồng thời kinh cân bị thiểu dưỡng dẫn đến cơ bắp yếu và teo nhẽo.
Triệu chứng Đau mỏi vùng cột sống thắt lưng kèm theo ù tai, đau mỏi gối, hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi, ăn ngủ kém, teo cơ, mạch trầm tế.
Phương pháp cấy chỉ
1.3.1 Giới thiệu về phương pháp cấy chỉ
Phương pháp cấy chỉ (Acupoint Catgut Embedding) là một phân nhóm của châm cứu đã nhanh chóng phát triển tại Trung Quốc trong 60 năm qua.
Do vận hành đơn giản, hiệu quả rõ rệt và bền vững, phương pháp này dần được áp dụng cho các bệnh nhân mắc bệnh mãn tính [7].
Cấy chỉ là phương pháp đưa catgut tự tiêu vào huyệt, giúp duy trì hiệu quả của châm cứu và tạo ra sự kích thích liên tục tại vị trí huyệt Phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc điều trị các cơn đau mãn tính, bao gồm các bệnh cơ xương khớp như đau lưng thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm thắt lưng, vai đông cứng, viêm khớp gối, cũng như các tình trạng như béo phì, mày đay mãn tính, hội chứng tiền mãn kinh và trầm cảm.
1.3.2 Nguyên lý tác dụng của phương pháp cấy chỉ
Chỉ catgut là loại chỉ phẫu thuật ngoại khoa tự tiêu, có nguồn gốc tự nhiên với 97-98% collagen nguyên chất từ chất nhầy ruột cừu và huyết thanh trong ruột bò Chỉ này phân hủy nhờ quá trình enzym và thực bào, thường tự tan trong vòng 20-25 ngày sau khi đưa vào cơ thể Việc cấy chỉ nhiều lần, cách nhau 15-20 ngày, giúp kích thích cơ thể sản sinh kháng thể bao vây không đặc hiệu, làm thay đổi cách đáp ứng miễn dịch mà không gây ra triệu chứng dị ứng.
Chỉ catgut là một Protit trong quá trình tự tiêu phản ứng hóa – sinh tại chỗ làm tăng tái tạo Protein, hydratcarbon và tăng dinh dưỡng tại chỗ.
Chỉ catgut được cấy vào huyệt vị tạo ra kích thích cơ học tương tự như châm cứu, do đó có cơ chế tác dụng giống với châm cứu trong y học cổ truyền.
Châm cứu là phương pháp kích thích gây ra cung phản xạ mới, có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý Cấy chỉ, phương pháp đưa chỉ catgut vào huyệt châm cứu, giúp duy trì sự kích thích lâu dài, tạo tác dụng tương tự như châm cứu Cơ chế của cấy chỉ kết hợp tác dụng kinh lạc của châm cứu và tác dụng vật lý liên tục tại huyệt, từ đó cơ chế giảm đau của cấy chỉ được giải thích chủ yếu qua cơ chế giảm đau của châm cứu.
Cơ chế tác dụng tại chỗ:
Châm cứu có khả năng ức chế tín hiệu đau truyền qua synap, giúp giảm cơn đau hiệu quả Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các huyệt tại chỗ, được gọi là A thị huyệt trong y học cổ truyền.
Cơ chế tại tủy sống
Cơ chế của “hệ thống kiểm soát cửa” của Melzack và Wall cho thấy rằng khi con đường dẫn truyền trong lem (voies lemniscales) được kích hoạt, nó có thể ức chế một phần hoặc hoàn toàn con đường dẫn truyền ngoài lem (voies extra lemniscales), con đường chính chịu trách nhiệm dẫn truyền cảm giác đau.
Cơ chế tầng trên tủy
Những công trình nghiên cứu đã chứng minh việc phóng thích các morphin nội sinh như Endophines, Enkephalines… sau châm cứu có tác dụng giảm đau rất mạnh.
Qua cơ chế vỏ não
Nghiên cứu cho thấy, ngoài cơ chế giảm đau tương tự như châm cứu, việc sử dụng chỉ catgut cấy vào huyệt có thể làm tăng sự đồng hóa của cơ, giảm dị hóa, và cải thiện chuyển hóa dinh dưỡng Cụ thể, sau khi cấy chỉ, nồng độ protein và carbohydrate trong cơ tăng lên, trong khi đó acid lactic và sự phân giải acid trong cơ giảm xuống.
Cấy chỉ giúp tăng cường lưới mao mạch và huyết quản, từ đó cải thiện lưu thông máu và dinh dưỡng cho vùng chi của bệnh nhân Điều này góp phần làm giảm đau trong thoái hóa khớp, nhờ vào việc tăng cường tuần hoàn tại khu vực bị ảnh hưởng.
1.3.3 Chỉ định và chống chỉ định của phương pháp cấy chỉ
Các bệnh nhân có bệnh mạn tính sau liệu trình điều trị bằng châm cứu, ra viện chờ liệu trình tiếp theo.
Các bệnh nhân có bệnh mạn tính không có điều kiện đến châm cứu hàng ngày
Tăng huyết áp: huyết áp tối đa trên 140mmHg, HA tối thiểu trên 90 mmHg.
Các bệnh nhân có chống chỉ định về châm cứu.
Các bệnh nhân dị ứng với chỉ Catgut.
Mỗi lần cấy chỉ tự tiêu mang lại hiệu quả trong khoảng 14-21 ngày Sau khi chỉ tự tiêu, có thể tiến hành liệu trình tiếp theo tùy thuộc vào tình trạng bệnh và thể chất của người bệnh.
1.3.5 Điều trị đau thần kinh tọa bằng phương pháp cấy chỉ
Yingrong Zhang và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của phương pháp cấy chỉ trong điều trị đau thần kinh tọa, cho thấy phương pháp này kích thích liên tục vào huyệt và có tác dụng kéo dài từ 2 đến 4 tuần, giúp cải thiện đáng kể sự tuân thủ của bệnh nhân Cấy chỉ không chỉ giảm đau mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân bị đau vùng lưng dưới một cách rõ rệt.
Nghiên cứu của Hyun-Jong Lee và cộng sự cho thấy cấy chỉ trong điều trị hội chứng đau thắt lưng hông mang lại cải thiện đáng kể về chỉ số VAS, SF-MPQ và ODI, đồng thời không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng nào Các xét nghiệm huyết học và sinh hóa sau cấy chỉ đều cho kết quả trong giới hạn bình thường.
Bài thuốc độc hoạt tang ký sinh và ứng dụng trong bệnh lý đau thần
Nghiên cứu của Đỗ Thị Thùy Nhân và cộng sự chỉ ra rằng chế phẩm Độc hoạt ký sinh thang LĐ, bao gồm bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh kết hợp với dây đau xương, có khả năng chống viêm mạn tính hiệu quả trong mô hình tạo mô hạt trên chuột, tương đương với tác dụng của Meloxicam ở liều 8mg/kg trọng lượng cơ thể.
Y Chen và cộng sự cũng nghiên cứu tác dụng của bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh đối với sự thoái hóa sụn trên mô hình gây viêm khớp ở động vật thực nghiệm cho thấy sau 6 tuần điều trị ở nhóm dùng Độc hoạt tang ký sinh, sự thoái hóa chậm hơn so với nhóm chứng, mức độ biểu hiện của các chất trung gian hóa học của quá trình viêm (VEGF và HIF-1α) thấp hơn so với nhóm chứng Điều này chứng tỏ Độc hoạt tang ký sinh có tác dụng điều trị đáng kể trên thỏ bị viêm xương khớp [53].
Giới thiệu về chế phẩm độc hoạt tang ký sinh
Phân Loại: Thuốc không kê đơn
Dạng bào chế: Hoàn cứng
Quy cách đóng gói: Hộp 10 gói x 5g
Công ty sản xuất: Công ty cổ phần công nghệ cao Traphaco
Hình 1.4 Chế phẩm Độc hoạt tang ký sinh
1.5.2 Thành phần, hàm lượng
Chế phẩm “Độc hoạt tang ký sinh” (Didicera)
Thành phần cho 1 gói: Độc hoạt 0,6 g.
Tế tân 0,4 g. Đỗ trọng 0,4 g. Đương qui 0,4 g.
Trừ phong thấp, bổ khí huyết, bổ can thận.
1.5.4 Chỉ định, chống chỉ định
Viêm, đau thần kinh ngoại biên: thần kinh toạ, đau vai gáy.
Viêm khớp, đau nhức khớp xương. Đau mỏi lưng.
Người bị phong thấp mãn tính.
Người đang trong các đợt cấp của phong thấp mãn tính.
Người mẫn cảm với thành phần của thuốc.
Phụ nữ có thai hoặc trong thời gian hành kinh.
Người bị phong thấp thể nhiệt.
1.5.5 Liều dùng, cách dùng
Uống 1 - 2 gói 5 g/lần x 3 lần/24 giờ, uống sau bữa ăn.
Thời gian sử dụng: 1-2 tháng hoặc lâu hơn tùy từng tình trạng bệnh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 40 bệnh nhân được chẩn đoán đau thần kinh tọa, đến khám và điều trị tại Khoa khám bệnh – Hồi sức tích cực - chống độc- bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng từ tháng 6/2021 đến tháng 9/2022.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân theo Y học hiện đại
Bệnh nhân được khám và xác định chẩn đoán đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống có các triệu chứng sau:
2.1.1.1 Lâm sàng Đau dọc đường đi của dây thần kinh tọa, đau tại cột sống thắt lưng lan tới mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mắt cá ngoài và tận ở các ngón chân Tổn thương rễ L4 đau đến khoeo chân; tổn thương rễ L5 đau lan tới mu bàn chân tận hết ở ngón chân cái (ngón I); tổn thương rễ L5 đau lan tới lòng bàn chân (gan chân) tận hết ở ngón V (ngón út).
Hệ thống điểm đau Valleix là những điểm đau dọc theo đường đi của thần kinh tọa, gây ra cảm giác đau chói Dấu chuông bấm được xác định bằng cách ấn ngón cái giữa các mỏm gai L4-L5 hoặc L5-S1, dẫn đến cơn đau lan theo rễ thần kinh.
Dấu hiệu Lasègue dương tính được xác định khi bệnh nhân nằm ngửa, người thực hiện nghiệm nâng chân lên cao và duỗi thẳng chân Nếu bệnh nhân cảm thấy đau dọc theo dây thần kinh tọa, việc hạ thấp chân trở lại sẽ làm giảm hoặc mất cảm giác đau.
Các dấu hiệu khác có giá trị tương đương với dấu hiệu Lasègue bao gồm dấu hiệu Chavany, trong đó bệnh nhân nằm ngửa và khi nâng đồng thời dạng chân sẽ cảm thấy đau Ngoài ra, dấu hiệu Bonnet cũng được ghi nhận, khi bệnh nhân nằm ngửa và nâng chân, khép đùi từng bên một sẽ gây ra cơn đau.
Phản xạ gân xương: Phản xạ gân bánh chè giảm hoặc mất trong tổn thương rễ L4, phản xạ gân gót giảm hoặc mất trong tổn thương rễ S1.
Hình ảnh X-quang thường quy: dựa vào ba dấu hiệu cơ bản của thoái hóa cột sống [23].
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân theo Y học cổ truyền
Chọn bệnh nhân thuộc thể phong hàn thấp và thận hư
2.1.2.1 Thể Phong hàn thấp Đau thắt lưng lan xuống chân dọc theo thần kinh tọa
Khởi phát cơn đau đột ngột thường xảy ra sau khi tiếp xúc với gió lạnh, ẩm thấp, và cơn đau có xu hướng tăng lên khi thời tiết lạnh và ẩm ướt Người bệnh cảm thấy chân tay lạnh, toàn thân sợ lạnh, và có cảm giác nặng nề Ngoài ra, chân có thể xuất hiện cảm giác tê bì hoặc kiến bò, người bệnh thường thích uống nước ấm và ăn thức ăn nóng Cơn đau thường tập trung ở một bên, và khi ấn vào cơ phía bên lưng bị đau, có hiện tượng co cứng Chất lưỡi của người bệnh thường nhợt bệu, nhớt, và có rêu lưỡi dày.
Mạch trầm nhược hoặc nhu hoãn.
2.1.2.2 Thể thận hư Đau thắt lưng lan xuống chân dọc theo thần kinh tọa
Nếu thận dương hư là chính thì thêm những triệu chứng chân tay lạnh, sắc mặt trắng, lưỡi nhạt, mạch trầm tế nhược.
Nếu thận âm hư là nguyên nhân chính, người bệnh có thể gặp các triệu chứng như tâm phiền, mất ngủ, mỏi gối, khô miệng họng, gò má đỏ, lòng bàn tay và chân nóng, lưỡi đỏ và mạch tế sác.
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
Bệnh nhân đau thần kinh tọa không thuộc thể hàn thấp và thận hư.
Bệnh cột sống khác như: lao đốt sống, trượt đốt sống, các bệnh lý đĩa đệm.
Người mắc các bệnh mạn tính quan trọng như: suy thận, xơ gan, nhiễm HIV, tâm thần…
Bệnh ngoài da, vết thương hở ở vùng thắt lưng.
Bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc như thuốc giảm đau, thuốc kháng viêm, thuốc giãn cơ, cũng như các bài thuốc Y học cổ truyền có tác dụng hành khí, hoạt huyết, khu phong, trừ thấp, tán hàn hoặc bổ thận, có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Bệnh nhân dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Cấy chỉ có một số chống chỉ định quan trọng cần lưu ý, bao gồm những người có sức khỏe yếu, tinh thần không ổn định, bệnh nhân vừa lao động mệt mỏi, và những người dị ứng với các thành phần của chỉ catgut.
Bệnh nhân không tuân thủ theo quy trình điều trị hoặc không tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Chất liệu, phương tiện và trang thiết bị nghiên cứu
2.2.1 Chỉ catgut và dụng cụ cấy chỉ
Hình 2.1 Chỉ Chromic catgut dùng trong cấy chỉ
Thông tin sản phẩm Chromic catgut:
Chỉ Chromic catgut là loại chỉ phẫu thuật tự tiêu sinh học, được làm từ sợi collagen thiên nhiên tinh khiết và tẩm muối Chrome, mang lại tính an toàn và hiệu quả Chỉ này có màu nâu sẫm và được đóng gói trong dung dịch alcohol và EO dạng lỏng, đảm bảo độ vô trùng cao trong quá trình sử dụng.
Các thông số kỹ thuật:
Loại chỉ: Chromic Catgut của Công ty cổ phần dược phẩm và sinh học y tế (Mebiphar).
Hình kim: bán nguyệt, độ dài kim 26mm
Quy cách đóng gói: hộp 30 gói, mỗi gói chứa chỉ và kim, dung dịch bảo quản
Dụng cụ cấy chỉ và các trang thiết bị khác
Kim cấy chỉ được làm từ kim tiêm hoặc kim chọc dò tủy sống (size kim số 23) Chiều dài kim 40-50cm.
Khay đựng dụng cụ, Panh, kéo, kẹp không mấu, bông vô khuẩn, cồn
70 0 sát trùng, băng dính, găng tay vô khuẩn.
2.2.2 Chế phẩm Độc hoạt tang ký sinh
Phân Loại: Thuốc không kê đơn
Dạng bào chế: Hoàn cứng
Quy cách đóng gói: Hộp 10 gói x 5g
Công ty sản xuất: Công ty cổ phần công nghệ cao Traphaco
Hình 2.3 Chế phẩm Độc hoạt tang ký sinh
Thành phần cho 1 gói: Độc hoạt 0,6 g.
Bạch linh 0,4 g. Đỗ trọng 0,4 g. Đương qui 0,4 g.
Liều dùng: Uống 2 gói/ ngày chia làm 2 lần sáng- tối Uống sau bữa ăn.
2.2.3 Dụng cụ và trang thiết bị nghiên cứu khác
Bệnh án khám điều trị của bệnh nhân
Phiếu theo dõi đánh giá
Các phương tiện thăm khám bệnh nhân: Máy đo huyết áp, Ống nghe, Đồng hồ, thước dâu đo tầm vận động cột sống thắt lưng
Thước đo điểm đau theo thang điểm VAS
Bộ câu hỏi đánh giá chức năng vận động cột sống (Chỉ số khuyết tật ODI)
Hình 2.4 Thước đo độ đau VAS
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, đánh giá trước và sau điều trị
Lấy cỡ mẫu thuận tiện với cỡ mẫu tối thiểu là 40 bệnh nhân.
Tất cả bệnh nhân đến khám từ tháng 6/2021 đến tháng 9/2022 đều được sàng lọc và có cơ hội tham gia nghiên cứu thông qua hai bước lựa chọn.
Bước 1: Khám sàng lọc Bệnh nhân, lựa chọn bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán để tham gia nghiên cứu.
Bước 2: Giải thích cho bệnh nhân, những bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ tham gia nghiên cứu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2021 đến tháng 9/2022 tại Khoa khám bệnh – Hồi sức tích cực – chống độc của Bệnh viện Y học cổ truyền Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ câu hỏi theo phụ lục 1,2
Các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số và chỉ số dịch tễ
Tuổi: Chia làm 4 nhóm tuổi: dưới 40 tuổi, từ 40 đến dưới 50 tuổi, Từ
50 tuổi đến dưới 60 tuổi, từ 60 tuổi trở lên
Nghề nghiệp: nghỉ hưu/ chưa nghỉ hưu, nông nghiệp, thợ công nghiệp, buôn bán, công nhân viên chức, nghề khác
Khu vực sống: Thành thị, Nông thôn
Dân tộc: Kinh, K' Ho, Châu Mạ, khác
2.6.2 Các biến số và chỉ số liên quan tới bệnh tật
Tiền sử: chấn thương, thoát vị địa đệm CSTL, loãng xương…
Yếu tố khởi phát bệnh: không rõ, do mang vác vật nặng, ngồi lâu, gặp lạnh…
Các triệu chứng bệnh theo tiêu chuẩn chẩn đoán của YHHĐ và YHCT
Thang điểm VAS (Visual analog scale) [32]
Mức độ đau của bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm VAS từ 0 đến
Thang đo độ đau VAS, được giới thiệu lần đầu bởi hai tác giả Woodforde và Merskey, là một công cụ đánh giá mức độ đau với thang điểm số học Nó bao gồm hai mặt, giúp người dùng dễ dàng xác định và biểu thị cảm giác đau của họ.
Một mặt: Chia thành 11 vạch đều nhau từ 0 đến 10 điểm.
Một mặt: Có 5 hình tượng, có thể quy ước và mô tả ra các mức để bệnh nhân tự lượng giá cho đồng nhất độ đau như sau:
Hình 2.5 Thước đo độ đau VAS Hình tượng thứ nhất (tương ứng 0 điểm): Bệnh nhân không cảm thấy bất kỳ một đau đớn khó chịu nào.
Hình tượng thứ hai (tương ứng 1- 2,5): Bệnh nhân thấy hơi đau, khó chịu, không mất ngủ, không vật vã và các hoạt động khác bình thường.
Hình tượng thứ ba (tương ứng > 2,5 - 5 điểm): Bệnh nhân đau khó chịu, mất ngủ, bồn chồn, khó chịu, không dám cử động hoặc có phản xạ kêu rên.
Hình tượng thứ tư (tương ứng > 5 - 7,5 điểm): Đau nhiều, đau liên tục, bất lực vận động, luôn kêu rên.
Hình tượng thứ năm (tương ứng > 7,5 - 10 điểm): Đau liên tục, toát mồ hôi, có thể choáng ngất.
Đo độ giãn cột sống thắt lưng (nghiệm pháp Schober)
Để đo độ giãn cột sống thắt lưng, bệnh nhân đứng thẳng với hai gót chân sát nhau và hai bàn chân mở một góc 60 độ Đánh dấu ở bờ trên đốt sống S1, đo lên 10cm và đánh dấu tại điểm đó Sau đó, yêu cầu bệnh nhân cúi tối đa và đo lại khoảng cách giữa hai điểm đã đánh dấu Ở người bình thường, khoảng cách này dao động từ 14cm đến 15cm Độ giãn cột sống thắt lưng được coi là giảm khi chỉ số này giảm xuống dưới 4cm.
Đo khoảng cách tay - mặt đất
Để đo khoảng cách tay đất, bệnh nhân cần đứng thẳng với hai gót chân sát nhau và hai bàn chân mở một góc 60 độ Khớp gối phải duỗi thẳng và không được gập Bệnh nhân tự cúi xuống, duỗi thẳng hai tay cho đến khi không thể cúi thêm Khoảng cách từ đầu ngón tay giữa đến mặt đất được xác định là khoảng cách tay đất, và khoảng cách này sẽ tăng khi có giá trị lớn hơn 0 cm.
Chỉ số khuyết tật Oswestry (Oswestry Disability Index: ODI - Phiên bản 2.0) do Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh phát triển, là công cụ đánh giá mức độ hạn chế chức năng của người bệnh do đau thắt lưng hông.
Bộ câu hỏi Owestry Disability: có 10 câu hỏi về tình trạng hạn chế trong sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của bệnh nhân là:
Cường độ đau cột sống thắt lưng
Cuộc sống xã hội Đánh giá kết quả, được chia làm 5 mức độ:
Mức 1 (không mất chức năng) với điểm ODI từ 0-4 cho thấy bệnh nhân có thể tự sinh hoạt bình thường mà không cần điều trị Tuy nhiên, cần hướng dẫn về tư thế lao động và sinh hoạt, bao gồm việc bê vác và giảm cân nếu cần thiết.
Mức 2 (mất chức năng nhẹ) được xác định với ODI từ 5-14 điểm, bệnh nhân thường xuyên cảm thấy đau lưng gia tăng khi ngồi, bê vác hoặc đứng Việc tham gia các hoạt động xã hội và du lịch trở nên khó khăn hơn, tuy nhiên có thể áp dụng phương pháp điều trị nội khoa để cải thiện tình trạng.
Mức độ 3 (mất chức năng trung bình) với chỉ số ODI từ 15-24 điểm cho thấy đau lưng là vấn đề chính của bệnh nhân, gây trở ngại trong sinh hoạt hàng ngày, hoạt động xã hội, đời sống tình dục và giấc ngủ Do đó, cần thiết phải có phác đồ điều trị cụ thể để cải thiện tình trạng này.
Mức 4 (mất chức năng nặng) được xác định khi ODI từ 25-34 điểm Đau lưng ở giai đoạn này có tác động nghiêm trọng đến cuộc sống và công việc của bệnh nhân, do đó cần áp dụng phác đồ điều trị tích cực để cải thiện tình trạng.
Mức 5 (mất hoàn toàn chức năng) có chỉ số ODI từ 35-50 điểm, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc di chuyển, thậm chí phải nằm tại chỗ hoặc trải qua cơn đau dữ dội Trong trường hợp này, cần thiết phải có một phác đồ điều trị tổng hợp và sự chăm sóc đặc biệt để cải thiện tình trạng sức khỏe.
Bệnh nhân chọn 1 mức trả lời phù hợp nhất với tình trạng của mình.
Đặc điểm X quang cột sống thắt lưng ở bệnh nhân đau thần kinh tọa thể Phong hàn thấp và thận hư
Triệu chứng theo y học cổ truyền
Tính chất đau, sợ gió lạnh, ẩm; triệu chứng ù tai, chất lưỡi, rêu lưỡi, mạch
Các tác dụng không mong muốn
Tác dụng không mong muốn của phương pháp cấy chỉ: Chảy máu, Sưng nề, Đau kéo dài, Nhiễm khuẩn…
Tác dụng không mong muốn của chế phẩm “Độc hoạt tang ký sinh”: đau bụng, tiêu chảy, dị ứng…
Các quy trình thực hiện
Chuẩn bị người thực hiện: Người thực hiện là nghiên cứu viên và là bác sỹ được đào tạo về cấy chỉ.
Chuẩn bị dụng cụ: đầy đủ các dụng cụ sau:
Khay đựng dụng cụ, panh, kéo, kẹp không mấu, cồn sát trùng, cồn iod, gạc vô khuẩn, bông, băng dính y tế, khay đựng chỉ.
Chỉ tự tiêu: chỉ Chromic catgut được cắt bỏ kim Các đoạn chỉ được cắt ngắn từ 0,5 – 1 cm và luồn vào trong lòng kim cấy chỉ.
Tăm bông vô khuẩn tẩm cồn iod để đánh dấu vị trí cấy chỉ
Chuẩn bị người bệnh là bước quan trọng trong nghiên cứu, sau khi người bệnh được lựa chọn theo tiêu chuẩn, họ sẽ được thăm khám kỹ lưỡng một lần nữa trước khi tiến hành cấy chỉ theo quy trình đã định.
Người bệnh được thăm khám cẩn thận, đo Mạch, Huyết áp, nhiệt độ.
Giải thích cho người bệnh để họ yên tâm phối hợp với thầy thuốc.
Người bệnh nằm tư thế nằm sấp, kê đầu và để tay thoải mái, tránh để căng cơ.
Hình 2.6 Tư thế bệnh nhân
Bộc lộ vùng huyệt ở lưng.
Bước 2: Thực hiện cấy chỉ
Để xác định các huyệt cấy chỉ, cần chú ý đến các huyệt quan trọng như Giáp tích L2-L4, Đại trường du, Trật biên, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Thừa phù, Phong thị, Huyền chung, Thừa sơn, Địa ngũ hội, Túc tam lý và Thận du Sau khi xác định, hãy đánh dấu các huyệt này bằng cồn iod để đảm bảo độ chính xác trong quá trình cấy chỉ.
Rửa tay sạch, đi găng tay vô trùng.
Xác định chính xác huyệt định cấy chỉ Sát trùng vùng huyệt.
Châm kim nhanh qua da và từ từ đẩy tới huyệt, với hướng kim cấy chỉ tùy thuộc vào từng huyệt cụ thể Tư thế cấy chỉ đứng được áp dụng cho những vùng huyệt có cơ dày, trong khi châm chếch được sử dụng cho những vùng cơ mỏng và huyệt nằm nông Đối với những huyệt không có cơ, như vùng da đầu, cần thực hiện châm dưới da.
Trong quá trình tiến kim, cần thường xuyên hỏi cảm giác của bệnh nhân; nếu có cảm giác đau buốt, có thể kim đã châm vào mạch máu, còn nếu cảm thấy đau như điện giật, kim có thể đã châm trúng dây thần kinh Trong trường hợp này, nên rút kim ra và điều chỉnh vị trí châm để tránh tổn thương Đồng thời, ngón trỏ của tay trái cần ấn nhẹ lên da vùng kim để cảm nhận đầu kim, đặc biệt khi châm chếch hoặc châm dưới da.
Sau khi châm đến độ sâu của huyệt, bệnh nhân cảm nhận được đắc khí, lúc này tiến hành từ từ đẩy nòng kim cấy chỉ Khi nòng đã đẩy hết cỡ, nhẹ nhàng rút kim ra và đặt gạc vô trùng lên huyệt vừa cấy chỉ.
Cố định gạc bằng băng dính.
Hình 2.7 Thao tác cấy chỉ
Bước 3: Theo dõi toàn trạng người bệnh 15-30 phút sau cấy chỉ.
Bước 4: Dặn dò bệnh nhân theo dõi các tác dụng không mong muốn:đau, sưng nề tại chỗ, chảy máu, dị ứng, chóng mặt… [20].
2.7.2 Quy trình xử lý biến cố bất lợi trong quá trình cấy chỉ
Nhận định phản ứng bình thường:
Sau khi cấy một loại protein lạ vào cơ thể, chỉ một số ít bệnh nhân có thể gặp hiện tượng viêm vô khuẩn nhẹ như sưng, nóng, đỏ và đau tại vùng cấy chỉ trong 1 - 3 ngày, mà không cần xử lý Một số bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi và căng tức, đặc biệt là ở những trường hợp cấy chỉ dài Nếu cấy ở vùng chân, bệnh nhân có thể cảm thấy căng tức khi di chuyển, hiện tượng này thường kéo dài từ 1 - 3 ngày và sẽ tự hết Ngoài ra, sau 4 - 24 giờ, nhiệt độ cơ thể của một số bệnh nhân có thể tăng lên khoảng 37,5 - 38 độ C, nhưng sẽ trở lại bình thường sau 2 - 4 ngày.
Nguyên nhân: do thao tác không tuân thủ tốt nguyên tắc vô trùng
Triệu chứng của viêm nhiễm sau khi cấy chỉ bao gồm sưng, nóng, đỏ và đau nhiều tại vị trí cấy, có thể kèm theo mủ Nếu có viêm mô tế bào, sưng nóng đỏ và đau sẽ lan rộng quanh vết cấy Bệnh nhân cũng có thể trải qua sốt và các dấu hiệu nhiễm trùng nhiễm độc.
Xử trí: thì phải xử lý chống nhiễm khuẩn cục bộ và toàn thân (nếu có)
Nhiễm khuẩn toàn thân: đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được nhập viện và điều trị theo phác đồ điều trị nhiễm khuẩn.
Nhiễm khuẩn tại chỗ cần được xử lý kịp thời bằng cách rút chỉ nếu đầu chỉ nhô ra khỏi bề mặt da Sau đó, cần làm sạch vùng nhiễm khuẩn bằng nước muối sinh lý vô khuẩn và sát khuẩn bằng các dung dịch như cồn 70% hoặc betadin 20%.
Nếu sau cấy chỉ thấy đầu chỉ nhô lên thì sát trùng và rút chỉ ra.
Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm bệnh nhân quá đói hoặc quá no, tư thế không phù hợp, cảm thấy quá mệt mỏi, hoặc đang trong trạng thái tâm lý đặc biệt như sợ hãi, lo lắng Thêm vào đó, việc thực hiện các thủ thuật một cách thô bạo cũng có thể góp phần làm gia tăng vấn đề.
Triệu chứng: bệnh nhân sắc mặt trắng bệch, chóng mặt, tim đập nhanh, thở nhanh, buồn ói, ói, nặng thì ngất, mạch trầm đại.
Xử trí bệnh nhân bằng cách ngừng cấy chỉ và cho bệnh nhân nằm ở tư thế đầu bằng hoặc đầu thấp để nghỉ ngơi Cần giữ ấm và đảm bảo thông thoáng không khí để bệnh nhân dễ thở, đồng thời giải thích tình trạng cho bệnh nhân Trong trường hợp nặng với triệu chứng mạch nhanh và huyết áp tụt, cần thở oxy, lập đường truyền tĩnh mạch và xử trí tương tự như shock phản vệ Theo dõi mạch và huyết áp một cách thường xuyên.
Trước khi tiến hành cấy chỉ, cần tư vấn kỹ lưỡng cho bệnh nhân để đảm bảo họ không quá no hoặc quá đói Bệnh nhân nên được nghỉ ngơi khoảng 15 phút trước khi thực hiện cấy chỉ Trong quá trình cấy chỉ, thao tác cần được thực hiện từ từ và nhẹ nhàng, đồng thời luôn theo dõi tình trạng của bệnh nhân.
Nguyên nhân: Do trong quá trình cấy chỉ tổn thương mạch máu nên có thể gây ra hiện tượng sưng do chảy máu.
Xử trí: Khi chảy máu thì ấn gòn khô để tránh chảy máu, nếu sưng lên thì chườm lạnh lên vùng sưng.
Để đảm bảo an toàn trong quá trình tiêm, người thực hiện cần nắm rõ giải phẫu và vị trí của các mạch máu lớn Khi tiến kim, nên thực hiện từ từ; nếu cảm thấy có cảm giác buốt, điều đó có thể báo hiệu kim đã trúng mạch máu Trong trường hợp này, hãy rút nhẹ kim ra và chuyển sang hướng khác để tránh.
Triệu chứng: vùng da quanh chỗ cấy nổi sẩn ngứa.
Xử trí: chống quá mẫn cho bệnh nhân bằng thuốc kháng histamin.
2.7.3 Các bước thực hiện nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức cơ sở và Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y dược, Đại học Huế phê duyệt Bệnh nhân sẽ được khám sàng lọc tại ba thời điểm: D0 (khám sàng lọc), D7 (sau 1 tuần nghiên cứu) và D14 (sau 14 ngày nghiên cứu).
Bước 1: Khám sàng lọc
Giải thích rõ cho bệnh nhân về nghiên cứu Lấy phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu (D0).
Khám lâm sàng để chẩn đoán bệnh theo tiêu chuẩn chẩn đoán.
Ghi lại hồ sơ bệnh án: Hoàn thiện phần hành chính, tuổi, giới, đặc điểm dịch tễ, đặc điểm tiền sử, bệnh sử.
Đánh giá mức độ bệnh theo thang điểm đau VAS, ODI.
Bước 2: Khám tại thời điểm D0
Thăm khám lâm sàng: đánh giá theo bảng điểm VAS, ODI
Chia bệnh nhân vào 2 nhóm:
Nhóm điều trị: được cấy chỉ và kê đơn thuốc cho 14 ngày, hẹn tái khám sau 7 ngày và sau 14 ngày.
Nhóm chứng: kê đơn thuốc cho 14 ngày, hẹn tái khám sau 7 ngày và sau
Bước 3: Bệnh nhân được cấy chỉ và dùng thuốc
Cấy chỉ theo Quy trình cấy chỉ.
Phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc, hướng dẫn tuân thủ chế độ dùng thuốc và chế độ theo dõi, chăm sóc vùng cấy chỉ sau khi cấy.
Bước 4: Theo dõi và đánh giá tại thời điểm D7 và D14
Thăm khám lâm sàng: đánh giá theo bảng điểm VAS, ODI.
Đánh giá các tác dụng không mong muốn nếu có.
Bước 5: Xử lý, phân tích số liệu.
Bước 6: Báo cáo kết quả nghiên cứu.
Tiêu chuẩn theo dõi và đánh giá
Nhóm bệnh nhân nghiên cứu đều được khám và đánh giá bằng bảng theo dõi. Đánh giá vào các thời điểm:
Bắt đầu tham gia điều trị D0.
Đánh giá kết quả điều trị.
Đánh giá tác dụng không mong muốn sau điều trị.
Các thang điểm đánh giá:
Chỉ số khuyết tật Oswestry (Oswestry Disability Index: ODI)
Đánh giá hiệu quả điều trị
Đánh giá mức độ đau theo thang nhìn VAS
Bảng 2.1 Cách cho điểm và đánh giá mức độ đau
Kết quả Mức độ đau Điểm a = 0 Không đau 4 điểm
5 < a ≤ 7,5 Đau nặng 1 điểm a > 7,5 Đau không chịu nổi 0 điểm
Đo độ giãn cột sống thắt lưng (Nghiệm pháp Schober) [36]
Cách cho điểm: gọi d là hiệu số khoảng cách giữa 2 điểm được đánh dấu
Bảng 2.2 Cách cho điểm và đánh giá mức độ độ giãn cột sống thắt lưng
Kết quả Mức độ Điểm d ≥ 4cm Tốt 4 điểm
2 cm ≤ d < 3cm Trung bình 2 điểm
1 cm ≤ d < 2cm Kém 1 điểm d < 1 cm Rất kém 0 điểm
Đo khoảng cách tay - mặt đất [36]
Cách cho điểm: gọi d là khoảng cách từ mặt đất đến đầu ngón tay giữa
Bảng 2.3 Cách cho điểm và đánh giá mức độ khoảng cách tay – mặt đất
Kết quả Mức độ Điểm d ≤ 2 cm Tốt 4 điểm
3 cm < d ≤ 4 cm Trung bình 2 điểm
4 cm < d ≤ 5cm Kém 1 điểm d > 5cm Rất kém 0 điểm
Đánh giá theo thang điểm ODI (Owestry disability index)
Bảng 2.4 Cách cho điểm hạn chế chức năng theo Oswestry Điểm Kết quả
0-4 Tốt (hạn chế không đáng kể)
15-24 Trung bình (hạn chế vừa)
35-50 Rất kém (hạn chế rất nhiều)
Đánh giá vùng đau, rối loạn cảm giác
Cách cho điểm đánh giá độ lan rộng vùng đau hoặc rồi loạn cảm giác như sau: Với mỗi bên cơ thể, điểm số đánh giá như sau:
Bảng 2.5 Đánh giá vùng đau
Vùng đau (hoặc vùng rối loạn cảm giác) Điểm số
Lan tới cẳng chân 4 điểm
Lan tới bàn chân 5 điểm
Ví dụ nếu đau 2 bên, 1 bên lan tới mông và 1 bên lan tới cẳng chân kèm theo tê bì 1 bên tới cẳng chân thì điểm số sẽ là:
Độ rộng vùng đau = 2 điểm + 4 điểm = 6 điểm
Độ rộng vùng tê bì = 4 điểm
Cách cho điểm độ rộng của vùng làm nghiệm pháp valleix dương tính: với mỗi bên cơ thể điểm số được tính như sau
Vùng ấn điểm Valleix dương tính Điểm số
Điểm số cho các vị trí trên cơ thể được phân loại như sau: 0 điểm cho không có âm tính, 1 điểm cho ụ ngồi, 2 điểm cho ụ ngồi cộng với mông, 3 điểm cho ụ ngồi, mông và giữa mặt sau đùi, 4 điểm cho ụ ngồi, mông, giữa mặt sau đùi và giữa lằn khoeo, 5 điểm cho ụ ngồi, mông, giữa mặt sau đùi, giữa lằn khoeo và đầu trên xương mác, 6 điểm cho ụ ngồi, mông, giữa mặt sau đùi, giữa lằn khoeo, đầu trên xương mác và giữa bắp chân, và 7 điểm cho ụ ngồi, mông, giữa mặt sau đùi, giữa lằn khoeo, đầu trên xương mác và mắt cá ngoài.
Đánh giá tác dụng không mong muốn
Tác dụng không mong muốn của Didicera: đau bụng, tiêu chảy, táo bón, dị ứng.
Tác dụng không monng muốn của phương pháp cấy chỉ: đau, sưng nề,chảy máu, nhiễm khuẩn.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm STATA 14.0
Thống kê mô tả: Được tính theo tần số, tỉ lệ % và được trình bày dưới hình thức bảng, biểu.
Phân tích thống kê sử dụng phép kiểm χ² và tỷ lệ rủi ro (RR) với mức ý nghĩa 5% và khoảng tin cậy 95% nhằm đánh giá sự khác biệt trong các mối liên hệ của kết quả nghiên cứu.
Sử dụng các phương pháp kiểm định như ANOVA, Fisher và Wilcoxon để so sánh trung bình điểm số của các triệu chứng lâm sàng, VAS và ODI trước và sau điều trị sau 1 tuần và 2 tuần.
đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được thực hiện sau khi nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng đạo đức cơ sở, Hội đồng Khoa học cấp cơ sở, và Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y dược - Đại học Huế.
Các đối tượng nghiên cứu đã được thông báo và giải thích rõ ràng về nghiên cứu, đồng thời họ đã đồng ý tham gia một cách tự nguyện Mọi thông tin cá nhân và bệnh tật của họ được bảo mật thông qua mã hóa trên máy vi tính, nhằm đảm bảo quyền lợi riêng tư cho người tham gia.
Các đối tượng nghiên cứu được phép rút ra khỏi nghiên cứu mà không cần bất cứ lý do gì và ràng buộc gì.
Sơ đồ nghiên cứu tổng quát
Lấy phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu
Xử lý kết quả nghiên cứu
Ghi nhận các thông tin về dịch tễ…
Các triệu chứng lâm sàng theo tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ Điểm VAS, ODI
Các xét nghiệm CLS: XQ cột sống thắt lưng
Khám sau điều trị 14 ngày (D14)
Các triệu chứng lâm sàng, VAS, ODI
Tác dụng không mong muốn
Khám sau điều trị 7 ngày (D7)
Các triệu chứng lâm sàng theo thang điểm VAS
Tác dụng không mong muốn