Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về Theo Điều 26 Luật hôn nhân gia đình năm 2000: “Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định t
Trang 1M C L C Ụ Ụ
I – Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ, chồng theo luật định 2
1.Phát sinh và chấm dứt quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng 2
2 Nội dung của nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ chồng 3
a Nghĩa vụ và quyền thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng 3
b Nghĩa vụ và quyền lợi thể hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của vợ chồng 4
c Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về 5
II – Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình .5 1 Phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ chồng 5
2 Nội dung của nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ, chồng 6
2.1 Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng 6
2.2.Quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng 17
2.3.Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng 19
III – Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật các nước trên thế giới 21
1.Chế độ tài sản dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) 21 2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (còn gọi là chế độ pháp định) 22
Trang 2QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
Sự kiện kết hôn đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và các nghĩa vụ và quyền về tài sản
Xuất phát từ mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững,
do đó Luật hôn nhân và gia đình khi điều chỉnh các quan hệ giữa vợ chồng đã dựa trên các nguyên tắc tiến bộ - bình đẳng Các nguyên tắc đó thể hiện rõ nét trong các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và về tài sản giữa vợ chồng
I – Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ, chồng theo luật định
1.Phát sinh và chấm dứt quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng
Sự kiện pháp lý là kết hôn làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng vì vậy cũng làm phát sinh nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ và chồng Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng mang yếu tố tình cảm, là lợi ích tinh thần giữa vợ
và chồng gắn liền với bản thân vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng gắn liền với nhân thân của vợ chồng mà không thểchuyển giao cho người khác Chỉ với tư cách là vợ chồng với nhau thì họ mới có các quyền và nghĩa vụ đó, như vậy nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ chồng chấm dứt khi họ ly hôn hay một hoặc hai người chết Trong trường hợp một người bị tuyên
bố chết hay mất tích thì vợ hoặc chồng của người đó có quyền xin Tòa án giải quyết cho ly hôn, trong trường hợp này quan hệ hôn nhân của họ không còn vì vậy cũng chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân với nhau, quyết định cho ly hôn của Tòa án vẫn có hiệu lực nếu như người bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết quay về
Trang 32 Nội dung của nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ chồng
Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ chồng là những lợi ích tinh thần, tình cảm, không mang nội dung kinh tế và cũng không phụ thuộc vào yếu tố tài sản Theo quy định tại chương III luật hôn nhân gia đình năm 2000, các quy phạm pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ chồng được chia thành hai nhóm như sau:
a Nghĩa vụ và quyền thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng
Quyền và nghĩa vụ thể hiện mối quan hệ tình cảm vợ chồng được quy định trong các điều 18, 21,23 Luật hôn nhân gia đình năm 2000
Tình nghĩa vợ chồng là tình cảm phù hợp với đạo lý, làm vợ chồng phải hiểu rõ và hành động theo tình cảm, bổn phận và nghĩa vụ của mình, vì lợi ích của vợ chồng, gia đình Do đó điều 18 quy định “vợ chồng chung thủy, yêu thương, quý trọng, chămsóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.” Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau Mối quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở tình yêu thương giữa nam và nữ khi nam nữ yêu thương nhau thì họ quyết định xác lập quan hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng.Về mặt đạo đức cũng như pháp luật đòi hỏi tình cảm đó vẫn phải được duy trì trong suốt thời kì hôn nhân Chính vì vậy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung thủy với nhau Nghĩa vụ chung thủy thể hiện ở việc pháp luật nghiêm cấm các quan hệ ngoài hôn nhân của những người đã có vợ, có chồng
Vợ chồng phải quý trọng lẫn nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Sự quý trọng chăm sóc, giúp đỡnhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách xử sự và thái độ của họ đối với nhau
Đó là sự yêu thương, tôn trọng giữ gìn danh dự, uy tín nhân phẩm, lắng nghe ý kiến của nhau, quan tâm, động viên lẫn nhau, tạo điều kiện để vợ hoặc chồng phát huy khảnăng bản thân, lựa chọn nghề nghiệp, học tập.Theo điều 21 luật hôn nhân gia đình
2000 thì: “Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau Cấm
Trang 4vợ hoặc chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau” Như vậy, vợ chồng không được phép xúc phạm đến danh dự, uy tín của nhau Thể hiện qua hành vi như người chồng (vợ) trực tiếp có lời lẽ xúc phạm, chửi rủa người chồng (vợ) của mình.
Điều 23 quy định: Vợ chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng
b Nghĩa vụ và quyền lợi thể hiện quyền bình đẳng, tự do, dân chủ của vợ chồng
Đó là các quy phạm pháp luật không những được quy định ở chương III mà còn đượcthể hiện ở các chương khác của Luật hôn nhân gia đình 2000
Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau,
có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” Thứ nhất quyền bình
đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình thể hiện rõ nét ở nghĩa vụ và quyền của họ trong việc nuôi dạy con, Khoản 4 Điều 2 “cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội”, do vậy vợ chồng đều bình đẳng trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, tạo điều kiện cho con được sống trong môi
trường gia đình lành mạnh Thứ hai, vợ chồng bình đẳng với nhau về nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (Khoản 3 Điều 2) Thứ ba, quyền
bình đẳng được thể hiện trong việc vợ chồng đại diện cho nhau trước pháp luật ( Điều24); vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch
mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; vợ chồng cũng cóthể đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên
kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật của người đó Thứ tư, vợ
chồng có quyền lựa chọn nơi cư trú, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa
Trang 5giới hành chính (Điều 20) Thứ năm, quyền yêu cầu ly hôn (Khoản 1 Điều 85) đó là
vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn
Điều 22: “Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào”
Điều 23: “Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề
nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi
người” Việc vợ, chồng được chọn nghề nghiệp riêng cho bản thân là hoàn toàn chínhđáng, nó vừa khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng, vừa đảm bảo khuyến khích
vợ chồng phát huy khả năng của bản thân để cống hiến cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước
c Quan hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về
Theo Điều 26 Luật hôn nhân gia đình năm 2000: “Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Dân sự mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục; trong trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.”
II – Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình
1 Phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ chồng
Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ chồng chỉ phát sinh khi có sự kiện kết hôn Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ, chồng bao gồm: Quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế Những quyền và nghĩa vụ về tài sản trên chấm dứt trong từng trường hợp thì có sự khác biệt nhưng nó đều đương nhiên chấm dứt khi cả vợ và chồng cùng chết tại một thời điểm
Trang 62 Nội dung của nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa vợ, chồng
2.1 Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
2.1.1 Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
a Tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2000, tài sản chung của vợ chồng
là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung, các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung Do vậy, bình thường chúng ta không thể xác định phần tài sản của riêng vợ (chồng) trong khối tài sản chung, chỉ khi nào
có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung đó
Để đảm bảo quyền bình đẳng về mọi mặt của vợ chồng trong quan hệ gia đình trong
đó có bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sảnchung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của người kia Đồng thời xuất phát
từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo nên khối tài sản nhằm xây dựng gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội Vì vậy, pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng chỉ căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh tài sản mà không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi người vào việc tạo dựng và phát triển khối tài sản đó tức
là không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ chồng nhiều hay ít, có lao động trực tiếp hay không Có thể do điều kiện sức khỏe, đặc điểm công việc và nghề
nghiệp nên sự đóng góp công sức của vợ chồng vào việc xây dựng khối tài sản chung không ngang bằng nhau, nhưng quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang
Trang 7bằng nhau Điều 27 Luật hôn nhân gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng,
sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu (Điều 239), xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy (Điều 240), xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 241), xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc (Điều 242), xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 243), xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều 244)
Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;
Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung;
Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luậtquy định là tài sản chung mà cụ thể là trường hợp quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng (quy định như vậy bởi vì quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính cho vợ chồng, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp
về quyền sử dụng đất thì cần quy định như vậy)
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị lớn khác…thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng
Trang 8Đối với những tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp nhưng không chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của một bên thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng Quy định này nhằm khuyến khích tăng khối tài sản chung nhằm bảo đảm nhu cầu chung của gia đình.
Như vậy, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là tài sản hợp pháp được quy định tại Điều 27 luật hôn nhân gia đình, khối tài sản đó tồn tại từ khi có sự kiện kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt
b Quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản chung (Khoản 2 Điều 219 Bộ luật dân sự và Khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân gia đình)
Theo Khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân gia đình thì đối với những tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến những tài sản đó phải có sự bàn bạc , thỏa thuận của cả hai vợ chồng, có như vậy thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý Việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Nếu pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn phải được ký kết bằng văn bản (hợp đồng mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất…) thì hình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật Vợ, chồng phải cùng trực tiếp ký vào văn bản (hợp đồng); nếu chỉ có một bên trực tiếp ký thì phải có giấy ủy quyền cho vợ, chồng ký thay, hợp đồng mới có hiệu lực
Cụ thể hóa những quy định này và xuất phát từ thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình, Điều 4 Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định:
1 Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống
Trang 9duy nhất của gia đình; việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến định đoạt tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó
đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thỏa thuận của vợ chồng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…)
2 Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc tài sản đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản riêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng…
Như vậy, đối với các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà
có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình; hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản riêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình đều phải có sự thỏa thuận của vợ chồng theo đúng hình tức mà pháp luật quy định Nhắm tạo cơ sở pháp lý vững chắc giúp Tòa án giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ chống, khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP còn quy định:
3 Tài sản có giá trị lớn của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng.
4 Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà không có sự đồng ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố
Trang 10giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật dân sự (nay là Điều 122) và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật dân sự (nay là Điều 137).
Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung có giá trị không lớn nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ,chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng Ví dụ, hàng ngày vợ, chồng dùng tiền bạc bảo đảm các nhu cầu về ăn ở, học hành, chữa bệnh…thì các giao dịch này luôn được coi là đã
có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng Người chồng hoặc người vợ không thể nại rằng hợp đồng đó không có giá trị vì chưa có sự bày tỏ ý chí của mình.Một trong những quy định cụ thể của luật hôn nhân gia đình năm 2000 liên quan đến quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung khẳng định quyền bình đẳng của vợ
chồng đối với khối tài sản chung đó là quy định tại khoản 2 Điều 27: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ
chồng”.Các tài sản thuộc tài sản chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải
ghi tên của cả vợ chồng bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất, xe ô tô, mô tô, tàu, thuyền đánh cá…
Cuộc sống chung giữa vợ chồng và nhu cầu đời sống của gia đình đòi hỏi vợ chồng phải có mối quan hệ (giao dịch) với nhiều người khác Nhiều khi, tài sản chung của
vợ chồng không đủ đáp ứng với quyền lợi của gia đình nên phải vay mượn tiền bạc, tài sản của người khác vì nhu cầu của gia đình, đó chính là khoản nợ mà vợ chồng phải có nghĩa vụ thanh toán cho chủ nợ Nếu là nợ chung (là khoản nợ mà vợ chồng vay để đáp ứng nhu cầu đời sống của gia đình) thì cả hai vợ chồng phải có nghĩa vụ trả nợ (có thể trích từ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc xác định nghĩa vụ của cả hai vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm chi trả khoản nợ đó) Ngược lại, nếu vợ,
Trang 11chồng vay nợ sử dụng vào mục đích riêng thì người vợ, chồng đó phải có nghĩa vụ thanh toán bằng tài sản riêng mà không buộc người vợ, người chồng kia phải liên đới trách nhiệm Thực tiễn có những trường hợp có những món nợ do một bên vợ, chồng vay hoặc cả hai người cùng đi vay, nhưng chỉ có một bên vợ, chồng ký vào giấy vay
nợ Khi có tranh chấp, việc xác định nợ chung hay nợ riêng giữa vợ chồng với chủ nợthường gặp nhiều khó khăn, một giải pháp đã được Luật Hôn nhân gia đình năm 2000
dự liệu đó là Điều 25: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”.
c Chia tài sản chung
Xuất phát từ tình hình thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời cũng nhằmbảo vệ lợi ích chính đáng của vợ chồng về vấn đề tài sản, Luật hôn nhân gia đình quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng Đó là: chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồngchết trước hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết và chia tài sản chung của vợ chồng khi
vợ chồng ly hôn
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Theo Điều 29 Luật hôn nhân gia đình thì chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân được tiến hành trong các trường hợp sau:
Trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho
vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn kinh doanh Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của hoạtđộng đầu tư kinh doanh gây ra
Trang 12 Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ (chồng) phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trường hợp có lý do chính đáng khác Như trong thực tiễn có trường hợp vì lí
do nào đó, vợ chồng dù có mâu thuẫn sâu sắc, nhưng không muốn li hôn mà chỉ muốn ra ở riêng và có yêu cầu chia tài sản chung (như vợ chồng đã già, dù
có mâu thuẫn nhưng ly hôn sợ ảnh hưởng sâu sắc đến con cháu, hàng xóm chê cười…)
Vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung, việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Bên cạnh việc tôn trọng quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng, Luật hôn nhân gia đình
đã dự liệu đến những trường hợp có thể vợ, chồng lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khácđược pháp luật bảo vệ nên tại Khoản 2 Điều 29 đã quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”
Pháp luật chỉ cho phép chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại trong trường hợp thật sự cần thiết vì lợi ích của gia đình, của các đương sự hoặc của ngườithứ ba Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định cụ thể hơn tại Điều 6 nghị định 70/2001NĐ-CP của Chính phủ như sau:
Điều 6. Chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
1 Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản
và ghi rõ các nội dung sau đây:
Trang 13a) Lý do chia tài sản;
b) Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong
đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; c) Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;
d) Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;
đ) Các nội dung khác, nếu có.
2 Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể
có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3 Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Điều 8 nghị định trên:
Điều 8 Hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
1 Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
2 Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.
3.Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn