1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Hôn nhân gia đình - đề tài - QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

41 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa cha mẹ và con
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Hôn Nhân Gia Đình
Thể loại Bài Tập Nhóm
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 60,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên nguyên tắc được quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ thì con chungcủa vợ chồng được xác định trong các trường hợp sau: - Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa n

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON

Lớp: Hôn nhân gia đình sáng

Trang 2

A CĂN CỨ PHÁT SINH QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON

I Quan hệ giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện sinh đẻ

Trước khi nhà nước và pháp luật ra đời, loài người đã biết gần gũi và sinh đẻtheo bản năng Việc pháp luật quy định và ràng buộc mối quan hệ giữa các thành viêntrong gia đình tạo ra những chuẩn mực nhất định để các thành viên cư xử và gìn giữcác quan hệ phù hợp với các quan hệ xã hội khác Bên cạnh đó, nhà nước có cơ sở đểbảo vệ các quan hệ gia đình, buộc các thành viên có trách nhiệm đối với các thànhviên còn lại Đặc trưng nhất trong quan hệ gia đình là mối quan hệ giữa cha mẹ - con.Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi tìm hiểu về quan hệ giữa cha mẹ - con phát sinhtrên sự kiện sinh đẻ và thủ tục khai nhận quan hệ cha mẹ - con

1.1 Xác định cha mẹ cho con trong giá thú

a, Khái niệm

Khái niệm “giá thú” được hiểu là việc lấy vợ lấy chồng được pháp luật thừanhận, khái niệm này gần giống với khái niệm “hôn nhân” Vậy con trong giá thú làcon mà cha mẹ là vợ chồng có hôn nhân hợp pháp

b, Xác định cha, mẹ, con trong giá thú

Căn cứ trên sự kiện sinh đẻ của người mẹ, để xác định quan hệ cha mẹ và con,Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã sửa đổi, bổ sung (về sau viết tắtthành: Luật HN&GĐ) quy định:

đó là con chung của vợ chồng.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.

2 Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Trang 3

Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”

Có thể thấy được, pháp luật đã căn cứ vào thời kì hôn nhân của vợ chồng đểsuy đoán mối quan hệ cha mẹ và con

Dựa trên nguyên tắc được quy định tại Điều 63 Luật HN&GĐ thì con chungcủa vợ chồng được xác định trong các trường hợp sau:

- Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận: Khi consinh ra, cha mẹ của người con đó chưa chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luậtnên đứa trẻ không thể được coi là con trong giá thú, sau khi cha mẹ kết hôn và thừanhận con thì đứa con sẽ trở thành con trong giá thú Đây chính là quy định “mở” theohướng công nhận người con sinh ra trong trường hợp này cũng là con chung trongđiều kiện là cha mẹ kết hôn và tự nguyện thừa nhận đứa con là con chung Sở dĩ luậthôn nhân và gia đình quy định như vậy cũng là do thực trạng xã hội hiên nay, nhiềuđôi nam nữ đã chung sống với nhau như vợ chồng, hoặc có quan hệ sinh lý rồi sinhcon, sau đó mới kết hôn

Điều 63 Luật HN&GĐ cũng dự liệu thêm trường hợp sau đây để phù hợp vớitình hình thực tế

- Con được thụ thai trước ngày đăng ký kết hôn và sinh ra trong thời kỳ hônnhân: Pháp luật thực định không hề quy định một thời gian mang thai tối thiểu bắtbuộc kể từ ngày đăng kí kết hôn, mà chỉ quy định con được sinh ra trong thời kỳ hônnhân là con chung của vợ chồng Do đó, bất kể ở thời điểm nào trong thời kỳ hônnhân người vợ sinh con thì đứa trẻ đương nhiên được xác định là con chung của vợchồng

- Con được thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định trên đây,thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi kếthôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (do người chồng chết hoặc vợchồng ly hôn, tính từ khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật) Nếu

Trang 4

người vợ sinh con trong thời kỳ hôn nhân này, về nguyên tắc, con đó được xác định làcon chung của hai vợ chồng Tức là người chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là chacủa đứa trẻ đó

- Con được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ra sau khi hôn nhânchấm dứt: Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật HN&GĐ, được coi là “có thaitrong thời kỳ hôn nhân” là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu trong hạn

300 ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng đượcxác định là “con chung” của hai vợ chồng Tức là người chồng của mẹ đứa trẻ đã chết,hoặc đã ly hôn sẽ được “suy đoán” là cha của đứa trẻ đó Con sinh ra trong thời kỳhôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung trong giá thú của hai

vợ chồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, trường hợp quan hệ hôn nhân chấm dứttrước pháp luật (từ ngày người chồng chết hoặc phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệulực pháp luật), người vợ không đợi sau 300 ngày đã kết hôn ngay với người khác; nếusau này người vợ sinh con thì con đó được xác định là “con chung của vợ chồng”, tức

là con của người chồng lấy sau (theo nguyên tắc suy đoán “con sinh ra trong thời kỳhôn nhân là con chung của vợ chồng”)

Pháp luật coi sự có mặt của người chồng khi đăng ký khai sinh cho đứa trẻ do

vợ mình sinh ra, tại cơ quan hộ tịch là sự mặc nhiên công nhận đứa trẻ đó là “conchung của hai vợ chồng”

- Việc xác định lại quan hệ cha, mẹ, con, tại Điều 63 Luật HN&GĐ cũng quy

định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải

được toà án xác định” Trong nhiều trường hợp khi người vợ sinh con, người chồng

đã làm giấy khai sinh cho đứa trẻ, lấy họ tên mình là họ tên cha của đứa trẻ, mặc dùđứa trẻ đó về mặt sinh học không phải là con của người chồng nhưng về nguyên tắctrước tiên người chồng vẫn được xác định là cha, sự im lặng của người chồng đượccoi là sự mặc nhiên thừa nhận mối quan hệ cha con

Tuy nhiên trong thực tế, có trường hợp vì nghi ngờ người vợ không chungthủy, đã có hành vi thông gian, ngoại tình với người khác; sau khi người vợ sinh con,

Trang 5

người chồng đã “không thừa nhận” đứa trẻ đó là con của mình Về nguyên tắc, ngườichồng phải có nghĩa vụ chứng minh đứa trẻ do vợ mình sinh ra không phải là con củangười chồng Việc chứng minh của người chồng dựa trên sự thừa nhận của người vợ

là đã “có thai” với người khác từ trước khi kết hôn hoặc người chồng chứng minh đã

đi công tác “xa vắng” trong thời kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó Nhưvậy, trong trường hợp người chồng không thừa nhận con do người vợ sinh ra là concủa mình, khi chứng minh, người chồng có quyền đưa ra bất kỳ chứng cứ nào chứng

tỏ con đó không phải là con của mình (như trường hợp người chồng mắc bệnh vô sinh,

bị bất lực hoàn toàn về sinh lý, không thể có khả năng có con; hoặc người chồng thực

sự đi “công tác xa vắng”, không thể có “quan hệ vợ chồng” ở vào thời kỳ người vợ cókhả năng thụ thai đứa con đó; hoặc có thể trưng cầu giám định về gien…) Nếu ngườichồng chỉ vì nghi ngờ, không chứng minh được thì Tòa án vẫn buộc họ phải nhận con

do người vợ sinh ra là con chung của hai vợ chồng Đối với các trường hợp này, trướckhi kết luận giải quyết vụ việc, Tòa án cần phải điều tra thận trọng, đánh giá chínhxác

Nếu người mẹ, không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì người mẹ cũngphải cung cấp chứng cứ để chứng minh Vì trên thực tế có nhiều trường hợp do vô ýhoặc cố ý dẫn đến việc nhiều đứa trẻ bị lẫn lộn hoặc bị đánh tráo… Tuy nhiên, hiệnnay trong các văn bản pháp luật có liên quan không có một hướng dẫn cụ thể nào vềvấn đề này Điều đó cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể

1.2 Xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú

  a Khái niệm

Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ không phải là vợ chồng hợp pháp, hoặc tuycha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật côngnhận là vợ chồng

Bao gồm một số trường hợp sau:

          - Người mẹ không có chồng mà sinh con;

Trang 6

          - Người mẹ có chồng nhưng ngoại tình, có con với người khác;

         - Hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, trong thời gian sốngchung giữa hai người có con chung với nhau, nhưng cha mẹ không có đăng kí kết hôn(kể cả trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó

họ lại tái hợp cùng chung sống với nhau nhưng không đăng kí kết hôn lại theo thủ tụcLuật định) Nếu người mẹ sinh con trong thời kì này con đó là con chung ngoài giáthú

b, xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú

Vấn đề xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú trong thực tiễn lại rất phức tạp,gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi có yêu cầu Vì giữa cha, mẹ của người con không

có hôn nhân hợp pháp, tức là không có thời kỳ hôn nhân thì không thể suy đoán theonguyên tắc quy định theo khoản 1 Điều 63 Luật HN&GĐ

Trong thực tế, có thể nảy sinh trường hợp người mẹ sau khi sinh con ngoài giáthú, vì lý do nào đó đã bỏ con, người khác đã nhận nuôi đứa trẻ đó, sau này người mẹsinh con ngoài giá thú mới xin nhận lại con thì có nghĩa vụ phải chứng minh chínhmình đã sinh ra đứa trẻ đó; cũng có thể có trường hợp người con ngoài giá thú đãthành niên có yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ của mình hoặc theo Luật định, mộtngười có yêu cầu Toà án xác định một người đã chết là cha, mẹ, con của mình

Đối với trường hợp yêu cầu Toà án xác định cha cho con ngoài giá thú, Tòa án

có thể dựa vào những căn cứ sau:

- Trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người đàn ông được khai là cha củađứa trẻ và người mẹ đứa trẻ đã công nhiên chung sống với nhau như vợ chồng;

- Hai người đã yêu thương nhau hứa hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian cóthể thụ thai đứa con đã ăn nằm với nhau như vợ chồng, rồi sau khi có con, bỏ khôngcưới hỏi gì nữa;

Trang 7

- Người mẹ đã bị người này hiếp dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụthai đứa con;

- Sau khi sinh đứa con, người này đã thăm nom, chăm sóc đứa con như là concủa mình;

- Có những thư từ mà người này viết xác nhận đứa con do người phụ nữ đósinh ra là con của họ

Ngoài ra, có thể quy định thêm các biện pháp y học cần thiết, điều này sẽ làmtăng độ chính xác trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con nói chung, đặc biệt làxác định quan hệ cha con đối với con ngoài giá thú

Thực tế giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ và con ngoài giá thú rấtphức tạp, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Người thẩm phán giải quyết vụ việc đòihỏi phải là người có trình độ pháp luật, vốn sống, kinh nghiệm thực tế, am hiểu vànắm được các đặc tính về tâm lý của đương sự (vì thông thường các đương sự thườngngần ngại, lo lắng khi nhận con ngoài giá thú, do nhiều yếu tố tác động) Đồng thờitrong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, cần kết hợp với các biện pháp khác nhưgiám định y học: thử máu, khả năng sinh lý và đặc biệt là giám định về gen khi có yêucầu… Tòa án cần đánh giá tổng hợp các chứng cứ để có quyết định chính xác, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

=> Con ngoài giá thú được xác định trong những trường hợp cụ thể sau:

- Thứ nhất, con được sinh ra do cha mẹ chung sống với nhau như vợ chồngkhông có đăng ký kết hôn: Khái niệm chung sống như vợ chồng trong trường hợp nàycần được hiểu theo nghĩa rộng nhất Bao gồm cả trường hợp như hai bên nam nữ chỉquan hệ sinh lý với nhau trong khoảng thời gian có thể thụ thai đứa con Quan hệ này

có thể là công khai, có thể là lén lút và kết quả là đứa trẻ đã ra đời từ quan hệ đó Khi

có đủ căn cứ trên, về nguyên tắc hai bên nam nữ được xác định là cha mẹ của đứa conngoài giá thú đó

Trang 8

Đối với trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987được coi là có giá trị pháp lý thì áp dụng căn cứ nào để xác định cha mẹ con Vì quan

hệ của cha mẹ đứa con được pháp luật thừa nhận là có giá trị pháp lý cho dù họ khôngđăng ký kết hôn Do vậy, cha mẹ đứa con là vợ chồng trước pháp luật, vậy có đươngnhiên được áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha mẹ con theo quy địnhtại Điều 63 Luật HN & GĐ hay không Theo quan điểm của giới luật học thì do cácvăn bản hướng dẫn riêng cho trường hợp này quy định đứa con sinh ra trong quan hệnày vẫn là con chung của vợ chồng, khi đứa con đó sinh ra trước ngày cha mẹ đăng kýkết hôn thì chỉ khi cha mẹ đăng ký kết hôn, thì mới căn cứ vào giấy chứng nhận kếthôn của cha mẹ để ghi phần họ tên cha, cũng như ghạch bỏ phần con ngoài giá thútrong sổ đăng ký kết hôn nên về nguyên tắc, khi cha mẹ chung sống như vợ chồng màkhông đăng ký kết hôn thì đứa con vẫn là con ngoài giá thú Vì vậy không được ápdụng nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha mẹ con như đối với trường hợp cha

mẹ có hôn nhân hợp pháp Tuy vậy, pháp luật có thể bổ sung tính mặc nhiên thừanhận tư cách cha, mẹ, con trong trường hợp cha mẹ chung sống với nhau như vợchồng trước ngày 3/1/1987 mà không đăng ký kết hôn, theo một nguyên tắc suy đoánpháp lý tương tự như điều 63 Luật HN&GĐ để áp dụng pháp luật được rõ ràng vàthống nhất trong thực tiễn

- Thứ hai, con được sinh ra do người mẹ không có chồng: Việc xác định chađứa con này được dựa vào căn cứ: trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người mẹcủa đứa con đã có quan hệ yêu đương lâu dài với ai, có quan hệ sinh lý với ai hoặcngười mẹ này đã bị hiếp dâm, cưỡng dâm để xác định người đàn ông đó là cha củađứa con này

- Thứ ba, con được thụ thai hoặc sinh ra khi cha mẹ kết hôn trái pháp luật vàtòa án đã hủy việc kết hôn đó: Đối với trường hợp này, bởi vì việc kết hôn bị hủy nêncoi như cha mẹ của đứa con chưa từng kết hôn, chưa từng tồn tại thời kỳ hôn nhân.Cha mẹ đứa trẻ được coi là đã chung sống với nhau như vợ chồng Do vậy, con dongười mẹ có thai hoặc sinh ra trong quan hệ này cần xác định cụ thể như sau:

Trang 9

Nếu đứa con được sinh ra trong khoảng thời gian mà việc kết hôn chưa bị tòa

án chưa xử hủy, về nguyên tắc vẫn là con chung của vợ chồng và là con trong giá thú

Nếu đứa con được sinh ra sau khi việc kết hôn bị hủy thì đương nhiên là conngoài giá thú Việc xác định cha mẹ con sẽ áp dụng theo những căn cứ xác định cha

mẹ con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp Trường hợp này nếu các bên tựnguyện thừa nhận quan hệ cha con, mẹ con đều vẫn phải áp dụng căn cứ là trong thờigian có thể thụ thai đứa trẻ, người mẹ đã có quan hệ tình dục với ai…

Ý nghĩa: Xác định cha, mẹ, con xác lập quan hệ cha,mẹ và con đồng thời xác

lập quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể này với nhau, là cơ sở giải quyết các tranhchấp đối với loại án kiện xác định quan hệ cha, mẹ, con trong thực tế; liên quan đếnviệc giải quyết ổn thỏa, chính xác các tranh chấp về cấp dưỡng, nuôi dưỡng, thừa kế,bồi thường thiệt hại… theo quy định của pháp luật

1.3 Xác định cha mẹ cho con sinh ra theo phương pháp khoa học

Việc xác định quan hệ cha mẹ con trong trường hợp con được sinh ra theophương pháp khoa học được Chính phủ quy định Cụ thể tại Nghị định số12/2003/NĐ-CP Đối với những cặp vợ chồng vô sinh hoặc đối với người phụ nữ độcthân nhưng muốn sinh con thì họ được dùng những phương pháp hỗ trợ sinh sản đểthực hiện quyền làm cha, làm mẹ của mình

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm (khoản 1Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP) Nghị định này cũng quy định cụ thể điều kiệnđối với những trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học:

trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng, phụ nữ sống độc thân có nhu cầu sinh con đã được cơ sở y tế xác định có noãn bảo đảm chất lượng để thụ thai

Trang 10

Noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người Người nhận noãn phải

là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ có nhu cầu sinh con nhưng không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai

là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng” (Điều 9)

Điều 20 Nghị định 12/2003/NĐ-CP quy định việc xác định cha mẹ cho consinh ra theo phương pháp khoa học như sau:

“1 Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người

mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân.

2 Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”

Đứa trẻ được sinh ra là kết quả của kĩ thuật hỗ trợ sinh sản từ người nhận phôi,nhận noãn, nhận tinh trùng, đương nhiên người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh vàngười phụ nữ độc thân sinh con theo phương pháp này được xác định là mẹ của đứatrẻ, chồng của người mẹ được xác định là cha của đứa trẻ

Xuất phát từ nguyên tắc rằng những người cho – nhận tinh trùng, cho – nhậnnoãn, cho - nhận phôi không hề biết thông tin gì về nhau nên khi đứa trẻ được sinh ratheo phương pháp này không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôidưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi

1.4 Trình tự, thủ tục khai nhận quan hệ cha, mẹ và con

Theo luật định, thủ tục khai nhận quan hệ cha, mẹ và con bao gồm thủ tục hànhchính và thủ tục tư pháp

Trang 11

Việc xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục hành chính: thường do người

cha, người mẹ hoặc cả hai người đều tự nguyện nhận con; dù quan hệ hôn nhân củacha mẹ là hợp pháp hay không hợp pháp, thông qua thủ tục đăng ký khai sinh cho contại cơ quan hộ tịch để xác định thực về mặt pháp lý quan hệ cha mẹ và con đó Trongthời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con;nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đikhai sinh cho trẻ em (Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ ngày27/12/2005)

Trong giấy khai sinh của đứa trẻ, ủy ban nhân dân cơ sở ghi rõ họ tên của hai

vợ chồng trong giấy chứng nhận kết hôn là cha mẹ của đứa trẻ; hoặc ghi rõ họ tên của

mẹ đứa trẻ sinh con ngoài giá thú, hay họ tên của người đàn ông được khai và tựnguyện nhận con, sẽ là cha của đứa trẻ ngoài giá thú

Về thủ tục đăng ký khai sinh

Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP qui định:

và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài

cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha

mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

2 Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng

ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

Trang 12

3 Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

Việc đăng ký khai sinh về trẻ em bị bỏ rơi, Điều 16 Nghị định số158/2005/NĐ-CP của chính phủ qui định:

cho UBND hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ em bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.

tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, địa chỉ của người phát hiện Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại UBND cấp xã, nơi lập biên bản, một bản giao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ

Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của đứa trẻ Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ sơ sinh bị bỏ rơi Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng đứa trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.

của người đi khai sinh; nếu không có cơ sở để xác định ngày sinh và nơi sinh, thì ngày phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày sinh; nơi sinh là địa phương nơi lập biên bản; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được để trống Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “trẻ bị bỏ rơi” Trong trường hợp có người nhận trẻ làm con nuôi, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi

để ghi tên cha, mẹ nuôi vào phần ghi về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh phải ghi

Trang 13

rõ “cha, mẹ nuôi ”; nội dung ghi chú này phải được giữ bí mật, chỉ những người có thẩm quyền mới được tìm hiểu.

và thông báo tìm cha, mẹ đẻ của trẻ em cũng được thực hiện theo qui định tại khoản 1

và khoản 2 Điều này Khi đăng ký khai sinh, những nội dung liên quan đến khai sinh được ghi theo lời khai của trẻ; nếu trẻ không nhớ được thì căn cứ vào thể trạng của trẻ để xác định năm sinh, ngày sinh là ngày 01 tháng 01 của năm đó; họ, tên của trẻ được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam; những nội dung không xác định được thì để trống Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “trẻ bị bỏ rơi”.

Việc xác định cha, mẹ cho con theo thủ tục tư pháp: dựa trên phán quyết của

Tòa án Quyền nhận con, nhận cha, mẹ của đương sự được pháp luật tôn trọng và bảohộ

Dựa trên quyền yêu cầu của đương sự về việc xác định một người là cha, mẹhoặc con của mình mà Tòa án xác định quan hệ cha mẹ con cho họ:

“Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác

nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha” (Điều 65, Luật HN&GĐ)

Những người có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thànhniên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự bao gồm những người được quyđịnh tại Điều 66 Luật HN&GĐ:

Trang 14

“1 Mẹ, cha hoặc người giám hộ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

2 Viện Kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự.

3 Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự:

a) Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

4 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện Kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự”.

1.5 Hậu quả pháp lý của việc xác định cha, mẹ, con

        - Dựa trên sự kiện sinh đẻ, bằng hành vi của cha, mẹ đăng ký khai sinh cho contại cơ quan hộ tịch đã hợp thức hóa quan hệ cha, mẹ và con Nội dung của quan hệpháp luật giữa cha mẹ và con bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và tài sảncủa cha mẹ và con (được quy định tại chương IV, từ Điều 34 đến Điều 46 Luật

HN&GĐ) Theo nguyên tắc “nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử

giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong gia thú và con ngoài giá thú” (khoản 5 Điều 2 Luật HN&GĐ) Con ngoài giá thú được cha mẹ nhận

hay được tòa án nhân dân cho nhân cha, mẹ có mọi quyền, nghĩa vụ như con trong giáthú

Trang 15

         - Thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính nhân đạo xã hộichủ nghĩa Luật hôn nhân gia đình quy định không chỉ xác định cha, mẹ cho con tronggiá thú mà còn xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú Bảo vệ quyền lợi cho nhữngngười phụ nữ không chồng mà sinh con và quyền lợi của những người con ngoài giáthú

II Quan hệ cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nhận nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ con giữa người nhận nuôi connuôi và người được nhận làm con nuôi Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha,

mẹ và con lâu dài, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm chocon nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Một phầncũng vì nhu cầu tình cảm của những người muốn nhận nuôi con nuôi, những người giàyếu, cô đơn mong muốn có được mái ấm gia đình

2.1 Điều kiện nhận nuôi con nuôi

2.1.1 Điều kiện về chủ thể

a Đối với người được nhận nuôi

Theo quy định tại Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì người được nhậnnuôi về nguyên tắc phải là trẻ em dưới 16 tuổi và một người chỉ được làm con nuôicủa một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sauđây thì có thể là người được nhận nuôi:

- Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

- Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi

b Đối với người nhận nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi trong nước:

Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định đối với những trường hợp nuôicon nuôi trong nước người nhận con nuôi phải có đầy đủ các điều kiện sau:

Trang 16

Thứ nhất, phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Nghĩa là, người nhận nuôi

con nuôi phải từ đủ 18 tuổi trở lên và không từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị Toà ántuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

Thứ hai, phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

Thứ ba, phải có điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc,

nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi

Thứ tư, phải có tư cách đạo đức tốt.

Thứ năm, không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối

với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáodục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về mộttrong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của ngườikhác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có côngnuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm phápluật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

Trong trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng củachồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì khôngcần thoả mãn điều kiện hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên và có điều kiện về sức khoẻ,kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:

Điều 28 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định các trường hợp nuôi con nuôi

có yếu tố nước ngoài gồm có:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nướccùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ emViệt Nam làm con nuôi

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nướcngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:

Trang 17

- Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi

- Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ được nhận làm con nuôi

- Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc các bệnh hiểm nghèokhác làm con nuôi

- Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ítnhất là 1 năm

Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm connuôi

Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam

Đối với người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài thì ngoài việc họ cần có đầy

đủ những điều kiện như những người nhận con nuôi trong nước thì pháp luật còn quyđịnh họ phải đáp ứng thêm điều kiện sau:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nướcngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định củapháp luật nước nơi người đó thường trú và điều kiện đối với người nhận con nuôitrong trường hợp nuôi con nuôi trong nước

- Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điềukiện đối với người nhận con nuôi trong trường hợp nuôi con nuôi trong nước và phápluật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú

Trang 18

Nếu cả cha và mẹ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xácđịnh được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ.

- Trường hợp nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải được sự đồng ý của trẻ

Như vậy, việc nhận con nuôi phải dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với mục

đích tốt đẹp của việc nuôi con nuôi

và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật nuôicon nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thườngtrú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấychứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đạidiện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người được giới thiệu làm connuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Sở Tư pháp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Sở Tư phápđăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch và tổ chức

lễ giao nhận con nuôi tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt của đại diện Sở Tư pháp,trẻ em được nhận làm con nuôi, cha mẹ nuôi, đại diện cơ sở nuôi dưỡng đối với trẻ em

Trang 19

trẻ em đối với trẻ em được xin nhận làm con nuôi từ gia đình Việc nuôi con nuôi giữacông dân Việt Nam với nhau trước ngày 01/01/2011 mà chưa đăng ký tại cơ quan nhànước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này cóhiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thờiđiểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi

- Tại ngày 01/01/2011, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bêncòn sống

- Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụcnhau như cha mẹ và con

Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi trên có giá trị pháp lý kể từ thờiđiểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi

2.2 Hậu quả pháp lí của việc nhận nuôi con nuôi

- Kể từ ngày giao nhận con nuôi thì quan hệ cha mẹ con phát sinh và cha mẹnuôi và con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ của quan hệ cha mẹ con, đó là các quyền

về tài sản và nhân thân

- Cha mẹ nuôi có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi họtên của con nuôi theo họ tên của mình, đối với trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên thì việc thayđổi họ tên phải được sự đồng ý của trẻ em đó

- Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của chanuôi, mẹ nuôi

- Kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ nuôidưỡng, chăm sóc, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý,định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là chấm dứt hoàn toàn quan hệ của người con nuôi với cha mẹ đẻ cả mình, đặcbiệt là trong quan hệ tình cảm giữa người con nuôi vói cha mẹ đẻ Theo Điều 26 củaLuật này, cha mẹ đẻ có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có các căn cứquy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 25 và Điều 13 của Luật này

Trang 20

Lưu ý: Khác với quan hệ cha mẹ con phát sinh trên sự kiện sinh đẻ,quan hệ cha

mẹ con phát sinh trên sự kiện nhận nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt do những nguyênnhân quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi 2010 Theo đó, những trường hợp chấmdứt nuôi con nuôi gồm:

- Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi connuôi;

- Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi

có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

- Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

- Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật nuôi con nuôi

Sau khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa cha

mẹ con nuôi cũng chấm dứt Trường hợp con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên

mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động đê tự nuôi sống bảnthân thì tòa án giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng,giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó Tài sản riêng của con nuôi (nếu có) đươngnhiên thuộc về người con nuôi, trường hợp con nuôi có đóng góp vào tài sản chungcủa gia đình thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏathuận với cha mẹ nuôi, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết

Ngoài ra: còn có căn cứ nữa làm phát sinh quan hệ cha mẹ con, đó là sự kiện

sống chung giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế Mẹ kế, bố dượng với con riêng sốngchung, cùng thực hiện quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con,như mẹ con Pháp luật cũng căn cứ vào thực tế mối quan hệ hình thành khi người mẹhoặc người cha của đứa trẻ có cuộc hôn nhân mới mà quy định những quyền, nghĩa vụcủa cha dượng, mẹ kế với con riêng

Ngày đăng: 14/04/2025, 18:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w