PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUANCỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH * CNXH và sự đi lên CNXH là quá trình của lịch sử tự nhiên Lịch sử phát triển xã hội loài người là quá trình biến đổi của n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
BÀI KIỂM TRA TỰ LUẬN LỚP 03
ĐỀ 2
Họ và tên: Trần Nguyễn Thuỳ Trang Lớp: LUKT23A – HCM23
Mã sinh viên: 19225090 Học phần: Chủ nghĩa xã hội khoa học Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thắm
Trang 2ĐỀ 2
Phân tích tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH? Anh (chị) hiểu thế nào là quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB? Chứng minh rằng Việt Nam quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB là tát yếu khách quan
Trang 3PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN
CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
* CNXH và sự đi lên CNXH là quá trình của lịch sử tự nhiên
Lịch sử phát triển xã hội loài người là quá trình biến đổi của những hình thái kinh tế-xã hội kế tiếp nhau, thay thế nhau, từ thấp đến cao, chế độ công xã nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa,
và tất yếu chuyến sang một chế độ xã hội mới, một nền văn minh cao hơn, chế độ
xã hội chủ nghĩa
Sự phát triển tất yếu của lịch sử đó là do tác động của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tình chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định Đây là quy luật có bản chất của sự phát triển xã hội loài người
Từ xã hội công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất thấp kém, do đó, sản phẩm xã hội còn ít, người nguyên thủy bất buộc phải chia đều trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và phân phối kiểu bình quân mới tồn tại được Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một mức độ nhất định, người lao động có khả năng sản xuất dù mức độ sống tối thiểu và dự thừa đôi chút thì bắt đầu xuất hiện chế
độ chiếm hữu nô lệ Quan hệ sản xuất phong kiến ra đời làm cho lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa, quan hệ sản xuất trở lên lỗi thời, đòi hỏi một quan hệ sản xuất khác phù hợp hơn đó chính là quan hệ tư bản chủ nghĩa
Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển, tình chất xã hội hóa lao động ngày càng cao, những quan hệ sản xuất trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN, làm cho quan hệ sản xuất TBCN ngày càng trở nên khống phù hợp với LĐSX do chính nó tạo ra Tình hình đã dẫn đến một thuận giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng gay gắt, đến mức độ này đó, quan hệ sản xuất TBCN tất yếu bị phá vỡ, thay thế bằng một QHSX mới, phù hợp hơn, đó là QHXS
xã hội chủ nghĩa
Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển của nó, chủ nghĩa tư bản
đã tạo ra tiền đề vật chất – kĩ thuật và xã hội ngày càng đầy đủ cho sự ra đời xã
Trang 4triển của CNTB, những mâu thuẫn nội tại và xu hướng vận động của nó C.Mác cho rằng phương thức sản xuất TBCN, không thể tồn tại vĩnh viễn mà nó là sự quá độ của lịch sử
Dự đoán thiên tài đó của Mác đã diễn ra trong thực tế, cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga vĩ đại đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ lên CNXH Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, cách mạng XHCN thành công ở một loạt các nước châu Âu, Á và châu Mỹ
Nhưng CNXH với mô hình kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp ngày càng tích tụ và bộc lộ những khuyết tật lớn, dẫn đến khủng hoảng Tromg tình hình đó, cải tổ, cải cách, đổi mới là tất yếu khách quan và phải được thực hiện
có nguyên tắc, phương pháp và bước đi đúng đắn, nhằm khắc phục những khuyết điểm của mô hình cũ, bảo đảm cho CNXH phát triển sức sống mới
Nhưng đáng tiếc là nhiều nước XHCN qua cải tổ, cải cách đã từ bỏ nguyên tắc của CNXH, thực hiện phương pháp và bước đi sai lầm, lại bị chủ nghĩa đế quốc và kẻ thù các loại lợi dụng những sai lầm đó để phá hoại CNXH,… nên đã dẫn đến hậu quả tai hại không chỉ đối với Đảng Cộng sản, đối với dân tộc mà đối với cả phong trào cách mạng trên thế giới như chúng ta đã thấy qua sự sụp đổ của nhà nước XHCN ở Liên Xô và các nước XHCN dở Đông Âu vào cuối những năm
80, đầu những năm 90 của thế kỉ XX
Mặc dù CNTB đang còn khả năng thích nghi với điều kiện mới, nhưng những khuyết tật cơ bản, những mâu thuẫn chủ yếu và sự lạc hậu về mặt lịch sử của nó đã bộc lộ rõ ràng
Sự phát triển của loài người lên CNXH là sự tiến hoá hợp quy luật của lịch
sử, mặc dù đó là quá trình lâu dài, phức tạp và không ít khó khăn, thậm chí phải trảu qua những bước lùi và quanh co như giai đoạn hiện nay
* Thực chất của thời kỳ quá độ
§ 1.2.1 Đặc điểm thời kỳ quá độ
- Thời kỳ quá độ là thời kỳ tồn tại những nhân tố của xã hội cũ xen lẫn với những nhân tố của xã hội mới, xã hội chủ nghĩa
Trang 5+ Về kinh tế, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh
tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản nhà nước Kinh
tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế độc lập, nhưng được khuyến khích phát triển mạnh
+ Về xã hội, còn tồn tại nhiều giai cấp và các tầng lớp dân cư khác nhau
- Thời kỳ quá độ là một thời kỳ còn tồn tại nhiều mâu thuẫn mà chủ yếu là mâu thuẫn cơ bản, nhằm xây dựng thành công CNXH là vấn đề thuộc về bản chất cùa thời kỳ quá độ
- Trên cơ sở không ngừng củng cố và hoàn thiện nhà nước của dân do dân và vì dân, tiến hành đồng thời những cải biến cách mạng trên mạng trên tất cả phương diện, thực hiện những nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ cũng là một đặc trưng thuộc về bản chất của thời kỳ quá độ
- Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt và lâu dài
Độ dài thời kỳ quá độ lên CNXH phụ thuộc vào các nhân tố sau:
+ Tiến hành thành công đến đâu sự nghiệp đổi mới theo đường lối của Đại hội VI, Đại hội VII và Đại hội của Đảng
+ Khả năng và bản lĩnh khai thác các thuận lợi do thời đại và công cuộc đổi mới tạo ra cũng như vượt qua những thách thức và nguy cơ như diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch
+ Khả năng và bản lĩnh khai thác đến mức nào, phát huy đến mức nào nội lực trên cơ sở khơi dậy tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội để đóng góp cho sức người, sức của của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đồng thời với phát huy nội lực và dựa chính vào nội lực mà tranh thủ đến mức cao nhất sự hợp tác và giúp đỡ từ bên ngoài
Để đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp phù hợp, hạn chế những sai lầm, phải chia thời kỳ quá độ ra nhiều chặng đường Cái khó khắn nhất
là phải biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng chặng đường, đặc biệt quan trọng là chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ
Trang 6§ 1.2.2 Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH Một là, Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là 2 chế độ xã hội khác nhau
về bản chất Trong khi, chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì áp bức, bóc lột và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng về giai cấp thì chủ nghĩa xã hội dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ áp bức, người bóc lột người, các mâu thuẫn đối kháng được giải quyết hài hòa Rõ ràng
là bản chất của 2 xã hội đã rất khác nhau, vì thế không thể ngay lập tức xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để đi lên chủ nghĩa xã hội mà cần phải có 1 thời kỳ lịch sử nhất định ở giữa 2 chế độ xã hội khác nhau Bất kỳ quá trình chuyển biến từ một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải trải qua một thời kỳ gọi là thời kỳ quá độ Đó là thời kỳ còn có sự đan xen lẫn nhau giữa các yếu tố mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau
Hai là, sự ra đời của một xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những nhân tố do xã hội cũ tạo ra Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là trên phương diện kế thừa cơ sở vật chất
kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mặc dù cũng là nền sản xuất đại công nghiệp nhưng đó là nền sản xuất đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa chứ không phải là nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa Do đó nó cũng cần phải có thời kỳ quá độ của bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa
Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đo vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển những quan hệ đó
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp Với tư cách là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể ngay lập tức có thể đảm đương được công việc ấy,
nó cần phải có thời gian nhất định
Trang 7ANH (CHỊ) HIỂU THẾ NÀO LÀ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
BỎ QUA CNTB?
*Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị nhằm xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người đều bình đẳng về kinh tế và xã hội Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tài sản tư nhân được hạn chế hoặc loại bỏ, và các phương tiện sản xuất được sở hữu chung bởi cộng đồng Chủ nghĩa xã hội được hình thành
từ thế kỷ 19, dựa trên học thuyết của Karl Marx và Friedrich Engels Marx và Engels tin rằng chủ nghĩa xã hội là một hệ thống thay thế cho chủ nghĩa tư bản với sự công bằng và bình đẳng hơn Chủ nghĩa xã hội đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, với nhiều mức độ thành công khác nhau Một số ví dụ về các quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, và Việt Nam
Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất và hoạt động sản xuất vì lợi nhuận Các đặc điểm đặc trưng của chủ nghĩa tư bản bao gồm: tài sản tư nhân, tích lũy tư bản, lao động tiền lương, trao đổi tự nguyện, một hệ thống giá cả và thị trường cạnh tranh.Trong nền kinh
tế thị trường tư bản, việc điều hành và đầu tư được quyết định bởi chủ sở hữu tài sản, tư liệu sản xuất hoặc khả năng sản xuất trong thị trường tài chính, trong khi giá cả, phân phối hàng hóa và dịch vụ chủ yếu được quyết định bởi sự cạnh tranh trong thị trường hàng hóa và dịch vụ Chủ nghĩa tư bản xuất hiện đầu tiên tại châu
Âu và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Hà Lan và Anh ở thế kỷ XVII Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ XVIII, hình thái chính trị của "nhà nước tư bản chủ nghĩa" dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế
độ phong kiến, quý tộc Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới
*Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Trang 8Dưới tác động của quá luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tình chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất-quy luật vận động và chỉ phối sự phát triển của xã hội loại người-thi tất cả các nước,các dân tộc đều đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong thực tiễn lịch sử, có những nước, những dân tộc phát triển hoàn toàn đến hình thái kinh tế-xã hội thấp đến hình thái kinh tế-xã hội cao Nhưng cũng có một số nước, một số dân tộc, trong những điều kiện nhất định, có thể phát triển một hoặc hai hình thái kinh tế-xã hội Chẳng hạn, nước Mỹ và Canada đã bỏ qua chế độ phong kiến để tiến lên chủ nghĩa tư bản Nước Ôtrâylya đã bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa Sự phát triển nhảy vọt không làm ảnh hưởng đến tình chất xã hội được hình thành truy nhiên nó phải được sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về mọi mặt
- Khả năng khách quan
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, nó mở ra khả năng thuận lợi để khắc phục những hạn chế của nước kém phát triển như thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, khả năng và kinh nghiệm quản lý yếu kém, … nhờ đó ta có thể thực hiện “con đường rút ngắn”
Thời đại ngày nay, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xu hướnh khách quan của loài người Chúng ta đã, đang và sẽ nhận được sự đồng tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người, của các quốc gia độc lập đang đấu tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình
- Tiền đề chủ quan
Những tiến để vận chất tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hơp tác kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển như: người lao động đổi mới, người tai nguyên
đa dạng, vị trí địa lý thuận lợi, những cơ sở vật chất, kỹ thuật đã được xây dựng Quyết tâm của nhân dân xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, cuộc sống ấm no, hạnh phúc sẽ trở thành lực lượng vật chất để vượt qua khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng giữ tinh thần cách mạng và sáng tạo, có đường lối đúng dân và gần bổ với nhân dân, có Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng
Trang 9được củng cố vững mạnh và khối đoàn kết toàn dân, đó là những nhân tố chủ quan
vô cùng quan trọng bảo đảm thành lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) không phải theo phương thức trực tiếp, mà phải đi qua các bước trung gian, phải bắc những “chiếc cầu nhỏ” đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN Việc
bỏ qua chế độ TBCN, về cơ bản, chính là: “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại” Bỏ qua việc xác lập vị trí chi phối của quan hệ sản xuất TBCN trong nền sản xuất xã hội đang vận động đi lên CNXH, cũng có nghĩa ở
đó còn tồn tại ở mức độ nhất định các quan hệ sản xuất tư bản và tiền tư bản, chúng vận động và tác động đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đang định hướng đi lên CNXH Chính vì vậy, trong thực tiễn cần có những chính sách để các quan hệ này vận động, đóng góp vào sự tăng trưởng chung, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực của chúng Quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Một khi lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn thấp, đa dạng, cần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, nghĩa là cần có các quan hệ sản xuất đa dạng để tạo điều kiện khai thác các nguồn lực và mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
Việc bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH không chỉ là bỏ qua xác lập vị trí chi phối của quan hệ sản xuất TBCN và kiến trúc thượng tầng TBCN, mà còn là bỏ
qua việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, cũng như việc tước đoạt tư liệu sản
xuất của người lao động, đẩy những người lao động trở thành người làm thuê
Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân và những người lao động trở thành những người chủ của xã hội mới, thực hiện xã hội hóa tư liệu sản xuất, từng bước xây dựng và đưa quan hệ sản xuất mới ngày càng chiếm vị trí chi phối trong
Trang 10dựng giai cấp thực hiện sự thống trị, bóc lột giai cấp công nhân và những người
lao động trong CNTB Song, trong thời kỳ quá độ cùng với xây dựng giai cấp công nhân là việc hình thành tầng lớp doanh nhân, cùng với những người lao động cùng làm chủ xã hội, cùng xây dựng xã hội mới Vậy bỏ qua chế độ TBCN là việc
bỏ qua sự xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, đồng thời bỏ qua việc tước đoạt ruộng đất và tư liệu sản xuất của người lao động, bỏ qua việc tạo dựng giai cấp thống trị, bóc lột người lao động, và đương nhiên tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN