1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ

47 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Văn Hóa Đông Nam Bộ
Tác giả Đặng Thái Quyền, Nguyễn Nhật Xuân, Quỳnh Nguyễn Quốc Trung, Trần Diệu Uyên
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Ngọc Minh
Trường học Trường Cao Đẳng Thực Hành FPT Polytechnic
Chuyên ngành Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 26,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT VỀ ĐÔNG NAM BỘ (6)
    • 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển vùng Đông Nam Bộ (6)
    • 1.2. Điều kiện địa lý tự nhiên (7)
      • 1.2.1. Vị trí địa lý (7)
      • 1.2.2. Địa hình đất đai (8)
      • 1.2.3. Khí hậu, sông ngòi (9)
      • 1.2.4. Tài nguyên (10)
    • 1.3. Văn hóa – xã hội của vùng Đông Nam Bộ (12)
      • 1.3.1. Dân số (12)
      • 1.3.2. Văn hóa (13)
      • 1.3.3. Xã hội (16)
  • CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG CỦA VÙNG VĂN HÓA ĐÔNG NAM BỘ (19)
    • 2.1. Văn hóa vật chất (19)
      • 2.1.1. Ẩm thực (19)
      • 2.1.2. Trang phục (21)
      • 2.1.3. Nhà ở của vùng Đông Nam Bộ (24)
      • 2.1.4. Phương tiện di chuyển của vùng Đông Nam Bộ (26)
    • 2.2. Văn hóa tinh thần (27)
      • 2.2.1. Tín ngưỡng (27)
      • 2.2.2. Tôn giáo (28)
      • 2.2.3. Di tích – văn hóa vùng (29)
      • 2.2.4. Nghề thủ công và làng nghề truyền thống (31)
      • 2.2.5 Âm nhạc và lễ hội (31)
        • 2.2.5.1 Âm nhạc (31)
        • 2.2.5.2 Lễ hội (33)
    • 2.3. Văn hóa xã hội (35)
      • 2.3.1. Tổ chức gia đình (35)
      • 2.3.2. Tổ chức cộng đồng (35)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ĐÔNG (37)
    • 3.1. Thực trạng (37)
    • 3.2. Hạn chế (38)
    • 3.3. Giải pháp (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (47)

Nội dung

Lịch sử hình thành và phát triển vùng Đông Nam Bộ Năm 1957, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khu vực này mang tên Miền ĐôngNam phần, đại diện bởi Tòa Đại biểu Chính phủ cho 13 tỉnh thành: Đô

TỔNG QUÁT VỀ ĐÔNG NAM BỘ

Lịch sử hình thành và phát triển vùng Đông Nam Bộ

Vào năm 1957, trong thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, khu vực Miền Đông Nam phần được đại diện bởi Tòa Đại biểu Chính phủ, bao gồm 13 tỉnh thành: Đô thành Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An Đây là một đơn vị hành chính quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa.

Vào năm 1963, Đệ Nhất Cộng Hòa đã bị lật đổ và khu vực Miền Đông Nam phần bị xóa bỏ, nhưng thuật ngữ này vẫn được sử dụng phổ biến để chỉ khu vực địa lý đó.

Giai đoạn 1966-1975 trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, Miền Đông Nam phần bao gồm 12 tỉnh thành: Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Bình Phước, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An.

Năm 1975, các tỉnh thành được sáp nhập để hình thành những tỉnh thành mới lớn hơn tại miền Đông Nam Bộ, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là tỉnh Gia Định, Đô thành Sài Gòn, quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa và quận Phú Hòa của tỉnh Bình Dương), Sông Bé (gồm tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long), Tây Ninh và Đồng Nai (bao gồm Biên Hòa, Long Khánh và Phước Tuy) Tỉnh Bình Tuy cũ được nhập vào tỉnh Thuận Hải thuộc miền Trung, trong khi tỉnh Long An được sáp nhập vào miền Tây Nam Bộ.

Năm 1979, miền Đông Nam Bộ gồm 4 tỉnh thành và 1 đặc khu: Thành phố

Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai và Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo

Năm 1991, miền Đông Nam Bộ có 5 tỉnh thành gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Từ năm 1997 đến nay, vùng Đông Nam Bộ có 6 tỉnh thành gồm: Thành phố

Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa –Vũng Tàu.

Điều kiện địa lý tự nhiên

1.2.1 Vị trí địa lý Đông Nam Bộ là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, khu vực tập trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên là những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản Phía Tây và Tây - Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long nơi có tiềm năng lớn về nông nghhiệp, là vựa lúa lớn nhất nước ta; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, giàu tài nguyên hải sản, dầu mỏ và khí đốt và thuận lợi xây dựng các cảng biển tạo ra đầu mối liên hệ kinh tế thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế; phía Tây Bắc giáp vớiCampuchia có cửa khẩu Tây Ninh tạo mối giao lưu rộng rãi với Cam puchia, TháiLan, Lào, Mianma Với vị trí này Đông Nam Bộ là đầu mối giao lưu quan trọng của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế.

Địa hình đất đai ở Đông Nam Bộ có nhiều lợi thế, với 27,1% tổng quỹ đất được sử dụng cho nông nghiệp Vùng này có 12 nhóm đất, trong đó 3 nhóm đất quan trọng nhất là đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan và đất xám trên nền phù sa cổ, với diện tích lớn và chất lượng tốt, thích hợp cho việc trồng các loại cây như cao su, cà phê, điều, lạc, mía, đỗ tương và cây lương thực Đồng thời, đất chưa sử dụng chiếm 22,7% diện tích tự nhiên, cho thấy tỷ lệ đất phục vụ cho nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất thổ cư cao hơn mức trung bình của cả nước.

Hình 1.2: Một góc tổng quan thành phố ở Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ, nằm trong miền khí hậu phía Nam, có đặc điểm khí hậu cận xích đạo với nhiệt độ cao ổn định quanh năm và sự phân hoá rõ rệt theo mùa, phù hợp với hoạt động của gió mùa Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 đến 2.000 mm, với khí hậu tương đối điều hoà và ít thiên tai Tuy nhiên, vào mùa khô, lượng mưa giảm gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Hệ thống sông Đồng Nai, một trong ba con sông lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong nguồn nước mặt đa dạng của đất nước Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.500 đến 2.000 mm, tương ứng với khoảng 183 tỷ m3 nước Bên cạnh đó, khu vực phía Đông còn có một số hồ với tổng dung tích đáng kể, góp phần vào nguồn nước của khu vực.

300 triệu m3 Với lượng nước mặt này đủ cung cấp nước cho vùng bao gồm cả cho phát triển công nghiệp.

Nguồn nước ngầm có trữ lượng khá lớn, nhưng mực nước sâu từ 50 - 200 mét phân bố chủ yếu khu vực Biên Hoà- Long An, thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.4 Tài nguyên a) Tài nguyên rừng

Diện tích rừng của Đông Nam Bộ chỉ khoảng 532.200 ha, chiếm 2,8% tổng diện tích rừng cả nước và phân bố không đồng đều giữa các tỉnh Rừng trồng chủ yếu tập trung tại Bình Dương và Bình Phước với 15,2 nghìn ha, trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu có 14,3 nghìn ha.

Rừng Đông Nam Bộ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp gỗ cho nhu cầu dân dụng, bảo vệ cây công nghiệp, giữ nước và duy trì cân bằng sinh thái cho khu vực Đặc biệt, rừng quốc gia Cát Tiên không chỉ là nơi nghiên cứu lâm sinh mà còn là một điểm đến du lịch hấp dẫn.

Hình 1.3: Vườn quốc gia Cát Tiên b) Tài nguyên khoáng sản

Dầu khí với trữ lượng dự báo từ 4-5 tỷ tấn dầu và 485-500 tỷ m3 khí đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng và quốc gia Bên cạnh đó, quặng bôxit có trữ lượng khoảng 420 triệu tấn, tập trung chủ yếu tại Bình Phước và Bình Dương.

Các khoáng sản tại Việt Nam bao gồm đá ốp lát, chiếm 27% giá trị khoáng sản trên đất liền, phân bố chủ yếu ở Tánh Linh (Bình Thuận) và Phú Túc (Đồng Nai) Cao lanh với trữ lượng khoảng 130 triệu tấn được tìm thấy tại Bình Dương và Bình Phước Ngoài ra, mỏ cát thủy tinh ở Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) cung cấp nguyên liệu cho nhà máy thủy tinh Biên Hòa và xuất khẩu.

Hình 1.4: Khai thác cát ở Bình Châu c) Tài nguyên biển

Bờ biển dài 350 km của vùng Ninh Thuận - Bà Rịa Vũng Tàu là một trong bốn ngư trường trọng điểm của Việt Nam, với trữ lượng cá đạt khoảng 290-704 nghìn tấn, chiếm 40% tổng trữ lượng cá của vùng biển phía Nam Khu vực này còn có diện tích tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản lên đến 11,7 nghìn ha.

Thiên nhiên ưu đãi cho Đông Nam Bộ bãi biển Vũng Tàu, Long Hải phát triển ngành du lịch trong vùng.

Văn hóa – xã hội của vùng Đông Nam Bộ

Theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, vùng Đông Nam Bộ có dân số 14.025.387 người, chiếm 16.34% tổng dân số Việt Nam và là khu vực có tốc độ tăng dân số nhanh nhất, nhờ vào việc thu hút nhiều dân nhập cư từ các vùng khác Tuy nhiên, chỉ sau 10 năm, số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê năm 2019 đã chỉ ra những thay đổi đáng kể trong tình hình dân số khu vực này.

Vùng Đông Nam Bộ của Việt Nam có tổng dân số là 17.828.907 người, không bao gồm số người tạm lưu trú lâu dài Diện tích của vùng này là 23.564,4 km2, với mật độ dân số trung bình đạt 706 người/km2, chiếm 18.5% tổng dân số cả nước.

Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế phát triển hàng đầu tại Việt Nam, đóng góp hơn 2/3 thu ngân sách hàng năm và có tỷ lệ đô thị hóa cao.

Đình làng vùng Đông Nam Bộ thường có miếu thờ “sơn quân” ở sân trước, phản ánh tín ngưỡng đặc trưng của khu vực rừng núi Tín ngưỡng này khác biệt với chức năng trấn áp tà ma của Đạo giáo, thể hiện qua các biểu tượng như hình cọp hay rồng trong đình, chùa Việc thờ “Sơn quân” thể hiện qua các khái niệm như “ông Cả cọp” hay “Thần hổ”, xuất phát từ mối đe dọa của môi trường rừng nhiệt đới với nhiều thú dữ, trong đó cọp là loài gây hại nhất Ngoài ra, tín ngưỡng thờ sơn quân có thể là tàn dư của vật hình giáo, với các “tô tem” thú vật dần chuyển hóa thành thần bảo hộ con người Bên cạnh tín ngưỡng thờ thần hổ, nhiều đình miền Đông còn thờ thần núi và thần sông, như đình Hiệp Ninh và đình An Hoà ở Tây Ninh.

Hình 1.7: Tín ngưỡng thờ Bà Đen

Miền Đông Nam Bộ thể hiện đời sống tín ngưỡng tôn giáo phong phú, thích nghi với môi trường biển qua các lễ hội như Nghinh Ông và Nghinh Cô, nhằm cầu nguyện cho sự bảo trợ của các thế lực siêu nhiên trong nghề cá đầy rủi ro Các cư dân bản địa như Chơro và Stiêng cũng tổ chức lễ hội Cúng Thần Rừng (Yang Bri) và mừng lúa mới, phản ánh sự kết nối giữa con người và thiên nhiên Tây Ninh, nằm trong miền Đông, là cái nôi của tôn giáo Cao Đài, một tôn giáo đặc trưng với sự kết hợp đa dạng của văn hóa Nam Bộ.

Hình 1.8: Cư dân Chơro cúng thần lúa

Vùng đất này nổi bật với hệ thống tín ngưỡng thờ nữ thần như Linh Sơn Thánh Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu và Thiên Hậu Thánh Mẫu, thu hút hàng triệu người tham gia các lễ hội lớn như lễ hội Diêu Trì Kim Mẫu ở Tây Ninh và lễ hội Bà Thiên Hậu tại Bình Dương Những lễ hội này chủ yếu mang ý nghĩa cầu an và cầu đời sống ấm no, phản ánh dấu ấn văn hóa sâu sắc từ thiên nhiên và lịch sử di dân Tín ngưỡng thờ bà Chúa Xứ cũng phổ biến tại miền Đông, xuất phát từ niềm tin rằng mỗi vùng đất đều có một nữ thần bảo hộ cư dân nơi đó.

Xứ nương nương bị đồng hóa là Linh sơn thánh mẫu, một vị thần ở núi, bảo hộ cho cư dân sinh sống ở vùng núi rừng.

Dân cư miền Đông Nam Bộ có đời sống ổn định, nền nếp và phong phú, với nền văn hóa phát triển Mặc dù trải qua nhiều giai đoạn chiến tranh và sự tàn phá của thời gian, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của một vùng đất trù phú và văn hóa độc đáo Cư dân miền Đông thường tụ cư theo các loại hình địa hình tự nhiên.

Cư trú bìa rừng đang gia tăng do nhu cầu cao về gỗ quý để xây dựng nhà cửa, sản xuất đồ gia dụng, đóng ghe thuyền và hàng mỹ nghệ Cư dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề khai thác lâm sản, dẫn đến sự hình thành của các trại cưa xẻ gỗ gần rừng và sông để thuận tiện cho việc vận chuyển.

Cư trú dạng nhà vườn mang đến không gian sống yên bình giữa thiên nhiên xanh mát, với những ngôi nhà truyền thống kiểu chữ đinh ba gian bề thế và cổ kính Lối sống phong lưu tại các làng quê được thể hiện rõ qua cảnh quan vườn trái cây và vườn cảnh, tạo nên một bầu không khí tĩnh lặng và thanh bình.

Cư trú dọc theo sông, rạch là hình thức sống lý tưởng cho cư dân, đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt và sản xuất Trong thời kỳ xa xưa, sông rạch là tuyến giao thông an toàn và phổ biến, trong khi đường bộ thường xuyên phải đi qua rừng sâu nguy hiểm Các cư dân văn hóa Đồng Nai, cũng như hiện nay, thường lập làng ven sông, sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, buôn bán và chuyên chở đường thủy.

Hình 1.9: Đồng Nai (minh họa cư trú theo sông rạch)

Cư trú trên cù lao là một hình thức đặc trưng tại Nam Bộ, nơi được hình thành từ trầm tích phù sa sông Trước khi có người sinh sống, cù lao là vùng hoang dã và cô lập Những người đầu tiên khai phá cù lao đã phải đối mặt với nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, đất cù lao màu mỡ cho năng suất cao gấp 3-4 lần so với trồng lúa, cùng với môi trường sinh thái trong lành, đã thu hút nhiều người đến cư trú Nơi đây còn nổi bật với những ngôi nhà cổ kính của các dòng họ giàu có, tạo nên không gian tĩnh lặng giữa vườn cây trái bạt ngàn Tại Bình Dương, các cù lao như Mỹ Hoà, Mỹ Quới, Rùa và Thạnh Hội được biết đến là những vùng đất trù phú.

Người Khmer và lưu dân Việt ở miền Trung thường ưa thích cư trú trên các giồng, đồi, gò phù sa cổ, đặc biệt là những khu vực có địa hình cao ráo và thoáng đãng Những nơi này thường phân bố theo hình thức “mảng” như giồng Gò, giồng Cấm, hoặc nằm thành tuyến dọc theo những đường uốn lượn của đất đai như Gò Dầu Thượng và Gò Dầu Hạ, nơi có đất đỏ bazan màu mỡ.

Cư trú quanh các bàu suối là hình thức sống gần nguồn nước, thuận tiện cho sinh hoạt, nhưng thường nằm trong rừng sâu, khó khăn về giao thông Miền Đông có nhiều dạng địa hình như bàu, bưng, trấp, láng, với đặc điểm là những vùng đất trũng, thấp và hoang vu.

Cư trú ven biển tại miền Đông, đặc biệt là ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh, hình thành nên những làng chài và làng xóm ven biển, nơi cư dân gắn bó với đời sống biển cả.

Hình 1.10: Vũng Tàu (minh họa cư trú ven biển)

ĐẶC TRƯNG CỦA VÙNG VĂN HÓA ĐÔNG NAM BỘ

Văn hóa vật chất

Ẩm thực của các dân tộc miền Đông thể hiện sự thích nghi với môi trường địa lý và sinh thái nơi đây Miền Đông, với cảnh quan rừng núi hoang dã, cung cấp cho cư dân nguồn sản vật phong phú Các loại rau rừng miền Đông Nam Bộ là một phần quan trọng trong ẩm thực địa phương Trong thời kỳ khẩn hoang, người dân đã phát triển kỹ năng săn bắt và hái lượm, đặc biệt là trong việc nhận biết các loại rau an toàn Họ biết rằng chỉ những loại đọt lá cây có màu sắc đỏ hoặc nâu mới có thể ăn được, trong khi đọt lá màu trắng thường chứa độc tố Ngoài ra, rau mọc hoang ven sông, suối như rau chiếc, rau sơn, rau mốp, lá cóc, và quế vị cũng góp phần làm phong phú thêm bữa ăn của họ.

Ẩm thực chay ở miền Đông, đặc biệt trong cộng đồng tín đồ đạo Cao Đài, là một trong những điểm đặc sắc nổi bật Trong các lễ hội và sinh hoạt tôn giáo, nghệ thuật chưng nghi và chưng kết của cư dân Nam Bộ thể hiện sự sáng tạo trong việc sắp xếp trái cây cúng Theo phong tục cổ truyền, “ghế nghi” được đặt ở đầu bộ ngựa để bày trí trái cây trong các dịp giỗ và Tết Chưng kết không chỉ là cách trình bày hoa quả mà còn mang ý nghĩa cầu phúc, cầu an, với các hình tượng như long, phụng, lân, phước, lộc, thọ Hai loại chưng kết phổ biến là chưng khô và chưng ướt, tùy thuộc vào tính chất của trái cây Bên cạnh đó, Đông Nam Bộ còn là khu vực có nền kinh tế phát triển nhất cả nước, nổi bật với các khu công nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh Nơi đây cũng có nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng làm nức lòng các thực khách khi tới đây.

Bánh bèo bì là một đặc sản nổi tiếng của Bình Dương, có lịch sử hơn 100 năm và được du khách yêu thích Món bánh này được làm từ nguyên liệu đơn giản như thịt heo và da heo ram cắt mỏng, trộn với thính và gia vị, tạo nên hương vị thơm ngon hấp dẫn Bánh bèo thường được ăn kèm với bì thái nhỏ, thịt lợn luộc, nhân đậu xanh, mỡ hành và cà rốt, tất cả được chan ngập nước mắm chua ngọt, mang lại sự đậm đà cho món ăn.

Củ Chi, huyện gần trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, mang đến cho du khách cảm giác như lạc vào một thế giới khác Nơi đây không chỉ nổi tiếng với các di tích lịch sử mà còn thu hút bởi những món ăn đặc sản, đặc biệt là bò tơ Củ Chi, một trong những món ngon nổi bật của Đông Nam Bộ.

Hình 2.2: Bò tơ Củ Chi

Bò tơ ở đây nổi tiếng với thịt thơm và mềm Những con bò từ 5-6 tháng tuổi, có da mềm mại và hương vị đặc trưng, được lựa chọn kỹ lưỡng Trong giai đoạn này, nguồn thức ăn chủ yếu là sữa từ bò mẹ, vì vậy khi chế biến, nên hạn chế gia vị để giữ được hương vị thuần khiết của thịt bò.

Trước những năm 70 của thế kỉ XX:

Áo bà ba là biểu tượng văn hóa của phụ nữ Nam Bộ, đặc biệt là ở Đông Nam Bộ, với chất liệu vải dễ giặt và mau khô Thiết kế áo xẻ hai bên hông mang lại sự thoải mái cho người mặc, cùng với hai túi lớn gần vạt áo rất tiện lợi để đựng các vật dụng nhỏ như diêm quẹt và tiền bạc Nhờ vào tính tiện dụng và sự thoải mái, áo bà ba trở thành trang phục lý tưởng cho nhiều hoạt động như đi làm, đi chợ hay đi chơi.

Phụ nữ Đông Nam Bộ thường kết hợp áo bà ba với khăn rằn có thiết kế ô vuông hai màu, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc và duyên dáng Chiếc khăn rằn quàng nhẹ trên vai không chỉ làm nổi bật trang phục mà còn tôn vinh vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ vùng đất này.

Bên cạnh những người phụ nữ, trang phục ấy được cánh đàn ông sử dụng như đặc điểm nhận biết người dân Nam Bộ

Hình 2.3: Áo bà ba Những năm 70:

Áo bà ba truyền thống đã được phụ nữ thành thị cải tiến, mang vẻ đẹp hiện đại nhưng vẫn giữ được nét dân tộc Phụ nữ người Kinh luôn tự hào về hình ảnh chiếc áo dài truyền thống, được thiết kế ôm sát cơ thể với cổ cao Chiếc áo dài có hai tà trước và sau kéo dài từ cổ đến mắt cá chân, trùm lên quần ống rộng chạm đất.

Hình 2.4: Áo dài xưa Tuy nhiên áo dài ngày nay được biến tấu và cách tân đầy màu sắc hơn.

Hình 2.5: Áo dài ngày nay

Trong thời đại phát triển hiện nay, xu hướng thời trang đang dần thay đổi, với việc người tiêu dùng học hỏi từ các nước phương Tây và ưa chuộng các trang phục hiện đại Những bộ trang phục này không chỉ gọn gàng và dễ mặc, mà còn phù hợp với tính chất công việc và hoàn cảnh sống.

Hình 2.6: Áo quần hiện đại

Mặc dù có nhiều trào lưu thời trang hiện đại, vẫn có những người giữ gìn trang phục bà ba, thể hiện vẻ đẹp giản dị và truyền thống của người dân Đông Nam Bộ.

2.1.3 Nhà ở của vùng Đông Nam Bộ

Người dân Đông Nam Bộ thường bố trí nhà ở trên đất giồng, gò, đồi và dọc theo sông rạch, giúp họ thuận lợi trong lao động sản xuất và hoạt động bán buôn Với câu nói "nhất cận thị, nhị cận giang", họ tìm kiếm đất sinh nhai và hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống Các cư dân thường sống tập trung thành cụm dân cư, không có ranh giới rõ ràng giữa các làng, mà chỉ được phân chia bởi những con đường mòn nhỏ hoặc mương nước hẹp.

Hình 2.7: Nhà cửa ở vùng nông thôn

Với sự phát triển không ngừng của xã hội và nhu cầu ngày càng cao, nhiều tòa nhà cao tầng và căn hộ đắt đỏ đã nhanh chóng được xây dựng.

Hình 2.8: Biêt thự (hình ảnh minh họa)

Hình 2.9: Chung cư (hình ảnh minh họa)

2.1.4 Phương tiện di chuyển của vùng Đông Nam Bộ

Vào thời kỳ đầu khai phá miền Đông, hình ảnh chiếc ghe bầu của người Việt và ghe chài của người Hoa di cư đã trở thành biểu tượng đáng nhớ, đánh dấu sự khởi đầu trong việc phát triển các tuyến đường thủy trên sông Vàm Cỏ Đông Những chiếc ghe này không chỉ phục vụ cho sản xuất và kinh doanh mà còn đáp ứng nhu cầu sống của người dân địa phương.

Hệ sinh thái rừng cây Đông Nam Bộ không chỉ cung cấp lâm thổ sản cho cộng đồng cư dân mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho việc cưa xẻ các loại gỗ như sao, sến, căm xe, cà chất, vên vên, và dầu Những loại gỗ này được sử dụng để đóng ghe, xuồng, phục vụ cho giao thông và vận chuyển hàng hóa trong khu vực.

Các làng chài miền đông Nam Bộ, đặc biệt là tại Phước Tỉnh và Phước Hải thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu, nổi bật với các cơ sở đóng tàu phục vụ cho ngành đánh bắt hải sản.

Hình 2.10: Tàu (Hình ảnh minh họa)

Văn hóa tinh thần

Đình làng miền Đông thường có miếu thờ “Sơn quân” ở sân trước, thể hiện tín ngưỡng đặc trưng của vùng rừng núi Tín ngưỡng này cần được phân biệt với chức năng trấn áp tà ma của Đạo giáo, mà thường thấy qua các biểu tượng như tấm bình phong chạm hình cọp trong đình, chùa.

“Sơn quân” được hiểu qua các hình tượng như “ông Cả cọp”, “Thần hổ”, “Bạch hổ tướng quân”, phản ánh sự tôn thờ đối với sức mạnh của loài hổ trong văn hóa Việc lập miếu thờ “Sơn quân” tại đình không chỉ là biểu hiện của tín ngưỡng mà còn xuất phát từ nỗi lo sợ trước những mối đe dọa từ môi trường rừng nhiệt đới, nơi mà cọp là một trong những loài thú dữ gây hại lớn nhất cho con người.

Ngoài việc thờ thần hổ, nhiều đình ở miền Đông còn có bàn thờ thần núi và thần sông, như đình Hiệp Ninh tại thị xã Tây Ninh và đình An Hoà ở Trảng Bàng, Tây Ninh.

Miền Đông Nam Bộ có đời sống tín ngưỡng tôn giáo phong phú, thích nghi với môi trường biển qua việc thờ các thế lực siêu nhiên nhằm bảo vệ ngư dân và nghề cá Điều này được thể hiện rõ qua các lễ hội như Nghinh Ông và Nghinh Cô Các cư dân bản địa như Chơro, Stiêng cũng tổ chức lễ hội Cúng Thần Rừng (Yang Bri) và mừng lúa mới Đặc biệt, Tây Ninh là nơi hình thành tôn giáo bản địa Cao Đài, một tín ngưỡng mang đậm ảnh hưởng văn hóa Nam Bộ.

2.2.2 Tôn giáo Đạo Cao Đài được phát triển mạnh mẽ ở miền Đông Nam Bộ, được một nhóm trí thức và giới thượng lưu thời Pháp thành lập vào năm 1926, hỗn hợp giáo lý của các tôn giáo đương thời (kiểu tôn giáo Islam) nhuốm mầu sắc Đạo giáo về nội dung và phương pháp hành lễ lấy kinh nghiệm tổ chức đạo của Công giáo, tôn Đấng Chí tôn ngồi trên đài trên cao như một Đấng tối cao, đứng trên các vị sáng lập các tôn giáo Đông Tây theo nguyên tắc Tam giáo đồng nguyên, ngũ chi hợp nhất (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo, Công giáo và đạo Phong thần của Khương TửNha).

Về phương diện tôn giáo, điều đáng lưu ý nhất là đạo Cao Đài mang tính thực tiễn.

2.2.3 Di tích – văn hóa vùng

Di tích kiến trúc văn hóa Óc Eo bao gồm các di tích cư trú, đền tháp và mộ táng, được xây dựng từ gỗ, gạch và đá Các dấu tích như cọc nhà sàn và các cấu kiện trang trí cho thấy sự đa dạng trong kiến trúc Đặc biệt, vật liệu đá với kích thước lớn không chỉ là chi tiết trang trí mà còn là phần quan trọng của công trình, được lắp ghép bằng kỹ thuật chốt mộng Hầu hết các phế tích đều cho thấy đây là đền tháp theo kiểu Ấn Độ, với bình đồ hình vuông và nền móng dày hơn 1m, sử dụng gạch, đất sét và đá sỏi để đảm bảo khả năng chịu lực cho các công trình lớn.

Hình 2.12: Tháp cổ Bình Thạnh (Tây Ninh)

Văn hóa Óc Eo không chỉ nổi bật với những kiến trúc độc đáo mà còn lưu giữ những thành lũy đặc biệt, phản ánh một thời kỳ lịch sử đầy biến động của dân tộc Những di tích như Bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn và địa đạo Củ Chi là những chứng tích quan trọng về quá khứ đẫm máu của đất nước.

Hình 2.13: Bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn)

2.2.4 Nghề thủ công và làng nghề truyền thống Đông Nam Bộ có một tiềm năng du lịch làng nghề rất lớn bởi có một hệ thống các nghề, làng nghề với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, mang đậm nét văn hóa của dân tộc, của địa phương như: làng gốm Bình Dương, làng đúc lư đồng Thông Tây Hội, làng gốm Biên Hòa, làng dệt Bảy Hiền,… Đây đều là những làng nghề truyền thống, là những biểu tượng của văn hóa Việt Nam nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng

2.2.5 Âm nhạc và lễ hội

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ, xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, là sự kết hợp giữa nhạc cung đình Huế và văn học dân gian Các nhạc cụ chủ yếu bao gồm đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, đờn sến, đờn độc huyền (đờn bầu) và nhịp điệu từ song lang Đờn ca tài tử không chỉ là một loại hình âm nhạc đặc sắc của Nam bộ mà còn thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Đờn ca tài tử, hay còn gọi là Chầm riêng Chà pây, là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của người Khmer Nghệ thuật này đã trở nên phổ biến vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX trong các phum sóc của đồng bào Khmer tại Nam bộ.

Nghệ nhân Chầm riêng Chà pây cần có khả năng hát và tự chơi nhạc cụ, thực hiện đơn ca độc tấu và ca kể chuyện Trong quá trình biểu diễn, nghệ nhân vừa đàn từng đoạn nhạc vừa tự hát những câu ứng tác liên quan đến một đề tài đã được chuẩn bị trước.

Hình 2.15: Nghệ nhân Thạch Mâu (Trà Cú – Trà Vinh) trình diễn Nghệ thuật

Chầm riêng Chà pây thể hiện sự đa dạng âm nhạc của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, bao gồm cả người Việt và người Khmer Đồng bào các dân tộc thiểu số thường ca hát và diễn xướng ở nhiều nơi khác nhau, từ hát cải lương, trên đường, trên rẫy cho đến trong các lễ hội, lúc vui chơi hay thậm chí trong đám ma Họ cũng thường hát ru con, ru em trong không gian gia đình, thể hiện sự gắn bó văn hóa qua âm nhạc và tiếng đàn.

2.2.5.2 Lễ hội Đầu tiên là các lễ hội có nguồn gốc lễ nghi tín ngưỡng-tôn giáo như: lễ hội núi Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh), lễ hội chùa bà Thiên Hậu ( Bình Dương),… Các lễ hội này thường là những ngày lễ để các giáo đồ của các tôn giáo tập trung để kính dâng lòng thành cũng như nguyện vọng lên các vị thần linh Và các lễ hội này cũng là chỗ dựa tinh thần, đức tin cho những tín đồ của các tôn giáo.

Lễ hội núi Bà Đen ở Tây Ninh là một trong những lễ hội quan trọng đối với ngư dân Các lễ hội có nguồn gốc từ nghi lễ ngư nghiệp như Lễ hội đình thần Thắng Tam và Lễ hội Nghinh Cô tại Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng với Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ, TP.HCM, đều mang ý nghĩa cầu nguyện cho sóng yên biển lặng và tôm cá đầy khoan.

Các lễ hội văn hóa đương đại như Lễ hội Áo dài TP.HCM, Festival Diều quốc tế Vũng Tàu, và Festival Lúa gạo Nam Bộ không chỉ nhằm quảng bá văn hóa Việt Nam mà còn thu hút du khách trong nước và quốc tế Những sự kiện này mang đến trải nghiệm hấp dẫn và mới mẻ, giúp người Việt, đặc biệt là giới trẻ, hiểu rõ hơn về văn hóa dân tộc.

Hình 2.18: Festival biển quốc tế Vũng Tàu 2020

Văn hóa xã hội

Chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại trong một số cộng đồng như người Chăm và M’Nông, nơi phụ nữ, đặc biệt là những người phụ nữ cao tuổi, giữ vai trò chủ gia đình Con gái theo họ mẹ, và khi lập gia đình, con trai thường ở rể nhà vợ, trong khi con gái, nhất là con gái út, được thừa hưởng gia sản nhiều hơn Ngược lại, trong gia đình người Hoa và người Việt, chế độ phụ hệ chiếm ưu thế, với chồng là người đứng đầu hộ gia đình, con cái mang họ cha, và chỉ con trai được thừa kế tài sản, với con trai cả nhận phần lớn hơn, thể hiện sự trọng nam khinh nữ.

Dù tổ chức gia đình theo hình thức nào, các gia đình vẫn có điểm chung là sống tập trung thành đại gia đình qua nhiều thế hệ Tuy nhiên, hiện nay, phần lớn các gia đình đã có sự thay đổi, chỉ chung sống từ 1 đến 2 đời.

2.3.2 Tổ chức cộng đồng Ở những nơi có các dân tộc thiểu số sinh sống như: người Chăm, M’Nông… đồng bào thường thường sinh sống thành các làng nhỏ, mỗi làng thường có vài chục nóc nhà, trong làng các khoảng ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ, ông trưởng làng đóng vai trò to lớn trong dân làng. Đối với người Hoa, người Việt…thường thích cư trú ở những khu đô thi sầm uất, tập trung thành làng xóm hoặc đường phố, tạo thành các khu vực đông đúc và gắn bó với nhau.

Hình 2.19: Phố người Hoa giữa lòng Sài Gòn

GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ ĐÔNG

Thực trạng

Đông Nam Bộ là một trong bảy vùng du lịch chủ chốt của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển du lịch toàn quốc Vùng này bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, tạo nên tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng.

Hồ Chí Minh cùng các tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh tạo thành một vùng kinh tế năng động, đóng vai trò chủ chốt trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đây là khu vực quan trọng nhất của nền kinh tế phía Nam Việt Nam.

Vùng Đông Nam Bộ sở hữu tài nguyên du lịch phong phú với địa hình đồng bằng và bình nguyên rộng lớn, cùng khí hậu cận xích đạo ổn định, ít thiên tai và bão Khu vực này có nhiều sông lớn, hồ lớn và hệ sinh thái rừng đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch Các điểm du lịch núi nổi bật như Núi Bà Đen, Núi Bà Rá, Núi Dinh và Núi Chứa Chan không chỉ có giá trị tự nhiên mà còn mang ý nghĩa văn hóa lịch sử Tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng của vùng Đông Nam Bộ góp phần thu hút ngày càng nhiều du khách.

Nguồn khách đến tham quan vùng phụ thuộc rất nhiều số lượng khách đến

TP Hồ Chí Minh là trung tâm giao thông quan trọng, nơi tập trung nhiều hãng lữ hành quốc tế, thu hút đông đảo khách du lịch quốc tế Trong khi đó, TP Vũng Tàu nổi bật là điểm đến lý tưởng cho du khách nội địa tìm kiếm kỳ nghỉ dưỡng bên bờ biển.

Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch toàn vùng giai đoạn 2000 –

2013 đạt 11,2%, trong đó tăng trưởng khách du lịch quốc tế là 10,4%, khách du lịch nội địa là 11,4%; năm 2000 đón được 5,9 triệu lượt khách, đến năm 2013 đạt 23,3 triệu lượt khách

Từ năm 2000 đến 2013, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt trung bình 10,4%, với số lượng khách tăng từ 1,2 triệu lên 4,5 triệu lượt, gấp 4 lần so với năm đầu Đặc biệt, TP Hồ Chí Minh đón nhận hơn 4,009 triệu lượt khách quốc tế, chiếm 89% tổng số lượt khách của vùng.

Bà Rịa – Vũng Tàu đón được 380 ngàn lượt khách, du lịch Bình Dương đón được

54 ngàn lượt khách và du lịch Đồng Nai đón được 50 ngàn lượt khách…

Cơ cấu thu từ khách du lịch tại Việt Nam chủ yếu bị chi phối bởi TP Hồ Chí Minh, nơi có lượng khách du lịch lớn nhất cả nước Dịch vụ lưu trú đang có xu hướng tăng trưởng ổn định từ 12-15% mỗi năm, chiếm 50-58% trong tổng chi tiêu trung bình của khách du lịch Dịch vụ ăn uống tại nhà hàng đóng góp từ 20-28%, trong khi doanh thu từ kinh doanh lữ hành chiếm 14-21% Các lĩnh vực khác như vận chuyển, vui chơi giải trí và mua sắm cũng góp phần, tuy nhiên dịch vụ vui chơi giải trí đang có dấu hiệu giảm sút.

Hạn chế

Tốc độ tăng trưởng lao động trực tiếp trong năm 2013 đạt 21,9%, tương ứng với 87,9 ngàn lao động, trong đó TP Hồ Chí Minh dẫn đầu với mức tăng trưởng 32% và 59 ngàn lao động, chiếm 68% tổng lao động trong Vùng Đồng Nai theo sau với 23,9% và 7,3 ngàn lao động, trong khi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng trưởng thấp nhất là 13%, với 15 ngàn lao động, đứng thứ hai sau TP Hồ Chí Minh Về lao động gián tiếp trong ngành du lịch, ước tính có khoảng 160 ngàn lao động Cơ cấu lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp lưu trú và nhà hàng chiếm từ 58-62% toàn ngành, doanh nghiệp vận chuyển chiếm 15%, doanh nghiệp lữ hành chiếm 8%, và doanh nghiệp dịch vụ vui chơi giải trí có tỷ lệ thấp nhất Chất lượng lao động không đồng đều, với TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu có chất lượng tương đối cao, trong khi các khu vực khác còn lại có chất lượng thấp hơn.

Tốc độ tăng trưởng du lịch đạt 11,2% mỗi năm, là mức cao nhất cả nước, nhưng vẫn chưa phản ánh đúng tiềm năng và điều kiện của khu vực Hiện tại, tỷ lệ khách du lịch quốc tế chỉ chiếm 17% tổng số lượt khách.

Số ngày lưu trú trên địa bàn thấp dẫn đến tổng thu từ khách du lịch không cao.

Thị trường khách du lịch hiện đang thiếu ổn định, với số lượng du khách chủ yếu tập trung tại TP Hồ Chí Minh Các tỉnh khác vẫn chưa phát triển được thị trường tiềm năng cho khách du lịch quốc tế.

Sản phẩm du lịch trên địa bàn hiện nay còn trùng lặp và đơn điệu, gây nhàm chán cho du khách Chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao, không đủ sức hấp dẫn và cạnh tranh với các sản phẩm du lịch trong khu vực Các dịch vụ vui chơi giải trí tại nhiều tỉnh chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến khả năng thu hút khách du lịch và kéo dài thời gian tham quan rất hạn chế Hơn nữa, chưa có sản phẩm du lịch nào mang thương hiệu riêng cho du lịch vùng.

Công tác đầu tư trong lĩnh vực du lịch hiện nay còn phân tán và thiếu sự tập trung vào các điểm chính, dẫn đến việc chưa xây dựng được khu du lịch hoàn chỉnh với đầy đủ các yếu tố cần thiết để thu hút du khách.

Nhiều khu vực và điểm du lịch có tiềm năng tài nguyên du lịch nổi bật nhưng chưa được định hướng và ưu tiên đầu tư rõ ràng, dẫn đến sản phẩm du lịch vẫn chỉ ở dạng tiềm năng.

Công tác quy hoạch chi tiết các khu du lịch tại tỉnh diễn ra chậm trễ, gây ảnh hưởng đến việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch mới và hấp dẫn hơn.

Các doanh nghiệp du lịch tại địa phương chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung vào lĩnh vực lưu trú và nhà hàng, nhưng chất lượng dịch vụ vẫn chưa đạt tiêu chuẩn Đồng thời, số lượng công ty lữ hành còn hạn chế, dẫn đến việc thiếu khả năng và trình độ cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng Hiện tại, trình độ năng lực của cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, và chưa có đủ đội ngũ chuyên gia có tay nghề cao tại địa phương.

Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch của nhiều tỉnh và doanh nghiệp vẫn chưa đủ mạnh để tiếp cận thị trường quốc tế, với nội dung tuyên truyền còn đơn điệu và kinh phí đầu tư hạn chế Điều này dẫn đến hiệu quả thấp trong việc tìm kiếm thị trường khách du lịch Một số tỉnh cũng phụ thuộc vào Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại để thực hiện các hoạt động quảng bá này.

Du lịch của tỉnh nên phần nào bị hạn chế.

Công tác liên kết cùng phát triển du lịch chưa hiệu quả rõ rệt, chưa rõ khả năng liên kết của các doanh nghiệp du lịch.

Giải pháp

Để đạt được hiệu quả trong việc phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030, cần thực hiện các nhóm giải pháp cụ thể.

1) Chính sánh, cơ chế phát triển du lịch

Dựa trên Luật Du lịch và các quy định liên quan, Ủy ban Nhân dân các địa phương cần nghiên cứu và hoàn thiện các cơ chế chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Các lĩnh vực cần chú trọng bao gồm xây dựng chính sách thuế hỗ trợ du lịch, áp dụng cơ chế xã hội hóa trong ngành du lịch, thiết lập chính sách bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, cùng với các chính sách đầu tư cho lĩnh vực này.

2) Đầu tư và huy động vốn đầu tư Đầu tư du lịch: Xúc tiến đầu tư để thu hút nguồn vốn cho phát triển du lịch vùng thông qua các diễn đàn xúc tiến đầu tư du lịch; Xây dựng chương trình, lộ trình và kinh phí xúc tiến đầu tư du lịch trong vùng; Tạo ra sự liên kết, phối hợp các doanh nghiệp, các địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn vùng. Cải thiện môi trường đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Xây dựng và điều chỉnh các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình đặc điểm của vùng, có cơ chế mở để cho các địa phương vận dụng phù hợp với từng địa bàn cụ thể; Có chính sách ưu tiên cho các địa phương còn khó khăn, chưa đủ năng lực phát triển du lịch; tổ chức định kỳ Hội nghị phát triển du lịch vùng nhằm thu hút được nhiều ý kiến từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp.

Huy động nguồn vốn cho du lịch là cần thiết để đảm bảo đủ nguồn lực tài chính từ nhân dân và các tổ chức trong và ngoài nước Cần mở rộng và đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư như BOT, BTO, BT, và PPP, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến và tạo cơ chế ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Ngoài ra, việc thu hút nguồn vốn từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài và tăng cường xã hội hóa đầu tư cho bảo vệ, tôn tạo di tích, cũng như phục dựng các lễ hội và hoạt động văn hóa dân gian là rất quan trọng Để đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, cần xã hội hóa các loại hình và sản phẩm du lịch, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho việc huy động nguồn vốn cho ngành du lịch.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo nghề du lịch, cần chú trọng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, đồng thời tăng cường công tác đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực địa phương và hội nhập quốc tế Phát triển đội ngũ nhân lực du lịch cần đảm bảo đủ số lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý nhà nước về du lịch và cán bộ quản lý doanh nghiệp, cũng như các khu du lịch tại địa phương Cuối cùng, việc tăng cường năng lực chuyên môn cho cán bộ Trung tâm xúc tiến du lịch cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch trong vùng.

Tăng cường trao đổi kinh nghiệm và hợp tác giữa các địa phương trong phát triển du lịch là cần thiết, bao gồm việc khai thác tài nguyên, xây dựng sản phẩm và chương trình du lịch, cũng như xúc tiến quảng bá du lịch một cách thống nhất Đồng thời, cần nâng cao sự phối hợp và hỗ trợ giữa các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là liên kết giữa các công ty lữ hành với doanh nghiệp lưu trú và vận chuyển khách để phục vụ tốt hơn cho du khách Mở rộng liên kết vùng với các địa phương lân cận và các trung tâm du lịch phát triển như Đà Nẵng, Huế, Hà Nội sẽ tạo ra cơ hội mới cho ngành du lịch.

5) Quy hoạch và quản lý quy hoạch

Các tỉnh, thành phố trong vùng Đông Nam Bộ cần đồng bộ hóa quy hoạch phát triển du lịch bằng cách rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng kế hoạch phù hợp Cần nhanh chóng triển khai quy hoạch các khu du lịch quốc gia và đô thị du lịch, đồng thời cập nhật và đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch để cung cấp thông tin cho nhà đầu tư Việc xây dựng quy hoạch cụ thể cho các khu du lịch chức năng và các dự án đầu tư cho từng khu vực là rất quan trọng.

Để nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch du lịch, cần tổ chức phổ biến thông tin quy hoạch đến tất cả các tầng lớp xã hội và cộng đồng Việc cắm mốc giới cho các dự án đã được xác định và có nhà đầu tư là cần thiết nhằm bảo vệ đất đai và tài nguyên du lịch Đồng thời, cần giám sát các chỉ tiêu kinh tế du lịch và tiêu chuẩn bảo vệ môi trường Quản lý tổng hợp các dự án đầu tư từ các ngành khác trong khu vực quy hoạch du lịch cũng rất quan trọng Cuối cùng, cần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu về quản lý quy hoạch, tài nguyên và môi trường du lịch tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Cần khẩn trương hoàn thiện tổ chức xúc tiến và quảng bá du lịch, đồng thời xây dựng chương trình và lộ trình hoạt động cho từng địa phương trong vùng Nghiên cứu cơ chế xúc tiến và quảng bá du lịch chung cho toàn vùng, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa và đa dạng hóa các hình thức quảng bá Phát huy vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ xúc tiến và quảng bá du lịch cho vùng Đông Nam Bộ Tăng cường công tác quảng bá du lịch tại các thị trường tiềm năng nhằm nâng cao hình ảnh du lịch của vùng.

7) Ứng dụng khoa học và công nghệ

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và thống kê du lịch là rất quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực này sẽ giúp cải thiện quản lý và khai thác tài nguyên du lịch Đồng thời, cần chú trọng ứng dụng khoa học và công nghệ trong thống kê du lịch, đánh giá môi trường và biến đổi khí hậu Hơn nữa, việc chủ động xây dựng và đề xuất các dự án tài trợ từ các nguồn vốn hợp tác quốc tế và tổ chức quốc tế cũng là một bước đi cần thiết.

8) Phát triển thị trường và sản phẩm du lịch

Khuyến khích phát triển các hãng lữ hành mạnh mẽ, có khả năng thu hút thị trường khách du lịch, đặc biệt là lữ hành quốc tế Xây dựng chiến lược thị trường khách nhằm phát triển du lịch bền vững và ổn định Ưu tiên hình thành các khu, điểm du lịch quốc gia để tạo sức lan tỏa cho sự phát triển du lịch trong toàn vùng Tập trung vào việc phát triển.

Du lịch hội nghị và hội thảo đang trở thành sản phẩm du lịch chủ đạo của vùng Đông Nam Bộ, với mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên biển, đảo, sông, hồ và các giá trị văn hóa Để đa dạng hóa loại hình du lịch, cần đầu tư và phát triển các khu dịch vụ vui chơi giải trí chất lượng cao, nhằm tăng cường chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

9) Bảo vệ tài nguyên môi trường

Giáo dục và tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch và tài nguyên môi trường là rất quan trọng Cần ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để quản lý và phát triển tài nguyên, đồng thời khuyến khích các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường Hỗ trợ cộng đồng tham gia đầu tư phát triển du lịch, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm trong khai thác tài nguyên là cần thiết Cần xây dựng các giải pháp kỹ thuật hiệu quả để bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường, cũng như thực hiện các biện pháp phòng chống thiên tai Cuối cùng, rà soát và điều chỉnh quy hoạch phù hợp với kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng là điều cấp bách.

10) Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các địa phương trong vùng; giữa ngành

Du lịch cần sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Công an và Quốc phòng để đảm bảo an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia Việc triển khai các dự án phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ an ninh, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là giữa các tỉnh biên giới và nước láng giềng Sự liên kết này không chỉ góp phần phát triển du lịch mà còn giúp giữ vững toàn vẹn lãnh thổ.

Miền Đông Nam Bộ, với hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển, nổi bật với vị trí địa lý thuận lợi và cộng đồng cư dân đoàn kết, đã trở thành một trong những địa phương có nền kinh tế năng động nhất Việt Nam Khu vực này không chỉ lưu giữ nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu của văn hóa Nam Bộ mà còn thể hiện sự giao lưu văn hóa đa dạng giữa các dân tộc thông qua các lễ hội dân gian Những sự kiện này không chỉ phản ánh ước mơ và nguyện vọng của người dân mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, đồng thời góp phần bảo tồn những bản sắc văn hóa độc đáo của từng dân tộc.

Ngày đăng: 13/04/2025, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ Đông Nam Bộ 1.2.2. Địa hình đất đai - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.1 Bản đồ Đông Nam Bộ 1.2.2. Địa hình đất đai (Trang 8)
Hình 1.2: Một góc tổng quan thành phố ở Đông Nam Bộ - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.2 Một góc tổng quan thành phố ở Đông Nam Bộ (Trang 9)
Hình 1.3: Vườn quốc gia Cát Tiên - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.3 Vườn quốc gia Cát Tiên (Trang 10)
Hình 1.4: Khai thác cát ở Bình Châu c) Tài nguyên biển - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.4 Khai thác cát ở Bình Châu c) Tài nguyên biển (Trang 11)
Hình 1.5: Bãi Sau ở Vũng Tàu 1.3. Văn hóa – xã hội của vùng Đông Nam Bộ - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.5 Bãi Sau ở Vũng Tàu 1.3. Văn hóa – xã hội của vùng Đông Nam Bộ (Trang 12)
Hình 1.6: Người dân (hình ảnh minh họa) - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.6 Người dân (hình ảnh minh họa) (Trang 13)
Hình 1.7: Tín ngưỡng thờ Bà Đen - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.7 Tín ngưỡng thờ Bà Đen (Trang 14)
Hình 1.8: Cư dân Chơro cúng thần lúa - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.8 Cư dân Chơro cúng thần lúa (Trang 15)
Hình 1.10: Vũng Tàu (minh họa cư trú ven biển) - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 1.10 Vũng Tàu (minh họa cư trú ven biển) (Trang 18)
Hình 2.5: Áo dài ngày nay - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.5 Áo dài ngày nay (Trang 23)
Hình 2.4: Áo dài xưa  Tuy nhiên áo dài ngày nay được biến tấu và cách tân đầy màu sắc hơn. - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.4 Áo dài xưa Tuy nhiên áo dài ngày nay được biến tấu và cách tân đầy màu sắc hơn (Trang 23)
Hình 2.10: Tàu (Hình ảnh minh họa) - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.10 Tàu (Hình ảnh minh họa) (Trang 27)
Hình 2.11: Tôn giáo - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.11 Tôn giáo (Trang 29)
Hình 2.12: Tháp cổ Bình Thạnh (Tây Ninh) - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.12 Tháp cổ Bình Thạnh (Tây Ninh) (Trang 30)
Hình 2.19: Phố người Hoa giữa lòng Sài Gòn - Đề tài  Đặc trưng văn hóa Đông nam bộ
Hình 2.19 Phố người Hoa giữa lòng Sài Gòn (Trang 36)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm