-Khẳng định vai trò của bài thơ như một biểu tượng của tinh thần yêu nước và quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc trong lịch sử Việt Nam.. Sơ bộ tìm hiểu các dị bản và nhan đề tác phẩm a N
Trang 1TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 2
CHUYÊN ĐỀ NGỮ VĂN
BÁO CÁO:
NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM BÀI THƠ ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ CỦA
LÝ THƯỜNG KIỆT
Giáo viên hướng dẫn : Trần Thị Hồng Anh
Lớp : 11C9 Nhóm 3
Trang 2MỤC LỤC:
MỞ ĐẦU
Trang 3I LÝ DO CHỌN TÁC PHẨM
II MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
NỘI DUNG
I TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1 Tác giả
2 Tác phẩm
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN BẢN
1 Sơ bộ tìm hiểu nhan đề tác phẩm và các dị bản
1 Nhan đề tác phẩm
2 Tìm hiểu sơ bộ các dị bản
2 So sánh nội dung bài thơ ở các dị bản và xác định bản đáng tin cậy III GIẢI MÃ VĂN BẢN
1 Hai câu đầu
2 Hai câu cuối
3 Giá trị nội dung, nghệ thuật
KẾT LUẬN
MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN TÁC PHẨM
Trang 4Bài thơ Nam quốc sơn hà được xem là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của Việt Nam,
có giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc Nó không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ
mà còn khẳng định chủ quyền đất nước trước những kẻ xâm lược
2.Việc nghiên cứu bài thơ giúp chúng ta làm rõ cách thức sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh trong văn học cổ để truyền tải những tư tưởng lớn lao về quốc gia, dân tộc và ý chí bảo vệ đất nước 3.Nhóm chọn bài thơ này vì cảm thấy hứng thú với cách tác phẩm khắc họa lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc qua những câu thơ ngắn gọn nhưng đầy sức mạnh, đồng thời khơi dậy sự tôn trọng đối với truyền thống lịch sử của dân tộc
II MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.Mục tiêu
-Làm rõ giá trị nghệ thuật và nội dung lịch sử của bài thơ Nam quốc sơn hà
-Khẳng định vai trò của bài thơ như một biểu tượng của tinh thần yêu nước và quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc trong lịch sử Việt Nam
2.Nhiệm vụ
-Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và văn hóa khi bài thơ ra đời để làm rõ thông điệp tác phẩm truyền tải
-Phân tích các yếu tố nghệ thuật trong bài thơ, bao gồm ngôn ngữ, hình ảnh, và giọng điệu, nhằm làm sáng tỏ sức mạnh tinh thần mà tác phẩm mang lại
-Đánh giá giá trị và ảnh hưởng của bài thơ đối với đời sống văn hóa và tinh thần dân tộc qua các thời kỳ, đặc biệt là trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng
Đối tượng : Tác phẩm Nam Quốc Sơn Hà
2 Phạm vi
a,So sánh, đối chiếu các văn bản Nam quốc sơn hà từ các tài liệu và phiên bản khác nhau để
xác định tính chính xác và đầy đủ của nội dung
b,Giải mã văn bản: Làm rõ các yếu tố chủ quyền quốc gia, tính chính danh của dân tộc Đại
Việt, tinh thần yêu nước và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ trong bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống Tống
C, Phân tích tư tưởng chính nghĩa: Xem xét cách bài thơ thể hiện quan điểm về thiên mệnh,
chủ quyền, và sự thất bại tất yếu của kẻ thù xâm lược
d,Đề xuất nghiên cứu mới: Đưa ra những luận điểm về tác động lâu dài của Nam quốc sơn
hà đối với các cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập của dân tộc.
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 51 Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu bối cảnh lịch sử ra đời, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống
Tống và vai trò của nhà Lý
2 Phân tích – tổng hợp: Phân tích nội dung, ngôn ngữ, tư tưởng chính nghĩa và tổng hợp giá
trị lịch sử, nghệ thuật
3 Phương pháp so sánh: Đối chiếu với các tác phẩm cùng chủ đề để làm rõ nét độc đáo về tư
tưởng và nghệ thuật
4 Phương pháp ngữ văn: Nghiên cứu thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng điệu hào hùng và cách
sử dụng hình ảnh biểu tượng
Những phương pháp này giúp đánh giá toàn diện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
NỘI DUNG
I VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1 Tác giả
Tác giả của tác phẩm: Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một danh tướng, một hoạn quan đời nhà Lý có công lớn trong việc đánh bại quân nhà Tống vào năm 1075 – 1077 Ông được cho là đã viết ra bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc “Nam Quốc Sơn Hà”
Tác giả của bản dịch: Lê Thước và Nam Trân, tác giả bản dịch bài thơ Nam quốc sơn
hà mới được đưa vào sách giáo khoa lớp 7, đều là những dịch giả tiếng tăm một thời -Lê Thước (1891-1975) là nhà giáo dục, nhà biên khảo Việt Nam ở thế kỷ 20 Ông là thành viên Hội đồng cố vấn Học chính sau Cách mạng tháng Tám 1945 Nam Trân (1907-1967) là nhà thơ, học giả, từng làm quan lại dưới thời Nguyễn rồi đến với cách mạng Năm 1959, Nam
Trân về công tác tại Viện Văn học, phụ trách Tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán Nhật ký trong tù
của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bản dịch thơ Nam quốc sơn hà trong sách Ngữ văn 7, Tập 1 do hai học giả dịch, được in trong cuốn Thơ văn Lý Trần, tập 1, xuất bản năm 1977
-Nam Trân tên thật Nguyễn Học Sỹ, sinh 15 tháng 2 năm 1907 tại làng Phú Thứ Thượng, nay
là xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam và mất ngày 21 tháng 12 năm 1967 tại Hà Nội, lúc 60 tuổi Nam Trân cũng sớm tham gia cách mạng Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà Văn Việt Nam Ông cũng là một trong những giảng viên lớp đại học Hán Nôm đầu tiên ở miền Bắc Ông chính là người chủ trì dịch tập Ngục trung nhật ký Nói về các ông là nói về những cây đa cây đề trong làng chữ nghĩa Hán Nôm
2 Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác
Có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, trong đó có truyền thuyết: Năm 1077, quân Tống
do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt, bỗng một đêm, quân sĩ nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát có tiếng ngâm bài thơ này
b) Thể thơ
Trang 6Thất ngôn tứ tuyệt
c) Bố cục
-Hai câu thơ đầu: Lời khẳng định chủ quyền
-Hai câu thơ sau: Quyết tâm bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN BẢN
1 Sơ bộ tìm hiểu các dị bản và nhan đề tác phẩm
a) Nhan đề tác phẩm
Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà)
- Nam quốc sơn hà: tức là Sông núi nước Nam được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Bởi đó là lời khẳng định đanh thép chủ quyền lãnh thổ của quốc gia dân tộc cũng như nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ th
b) Tìm hiểu sơ bộ các dị bản
"Nam Quốc Sơn Hà" là một bài thơ nổi tiếng được xem như bản "Tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của Việt Nam Tác phẩm này xuất hiện trong lịch sử Việt Nam vào thời kỳ chống quân Tống xâm lược Qua thời gian, bài thơ có nhiều dị bản khác nhau do sự ghi chép và truyền khẩu từ nhiều nguồn Sau đây là sơ bộ về các dị bản của tác phẩm này:
Dị bản phổ biến nhất
Dị bản này thường được gắn với sự kiện Lý Thường Kiệt đọc bài thơ ở sông Như Nguyệt (1077) trong cuộc kháng chiến chống Tống:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao quân giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tan tành
2 Dị bản thời Nguyễn
Trong một số tư liệu từ triều Nguyễn, bài thơ có khác biệt ở câu cuối:
Trang 7Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Hành khan thủ bại hư
Câu cuối bỏ chữ “nhữ đẳng” (các ngươi), tạo cảm giác ngắn gọn hơn
3 Dị bản từ các bộ sử khác nhau : Một số sách sử và tài liệu như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Điện U Linh Tập chép bài thơ với những thay đổi nhỏ ở ngữ pháp và chữ viết như
là :“Tiệt nhiên” được thay bằng “Duy nhiên” trong một số phiên bản ,Một số chữ Hán được viết theo lối cổ, gây ra sự khác biệt nhỏ khi dịch nghĩa
4 Dị bản dân gian
Trong dân gian, bài thơ có thể được biến tấu hoặc truyền khẩu dưới dạng khác Một số bản truyền miệng thêm bớt từ để nhấn mạnh tinh thần dân tộc hoặc làm cho vần điệu phù hợp với cách hát, đọc trong dân gian
5 Ảnh hưởng và dị bản hiện đại
Do ý nghĩa lịch sử và biểu tượng, bài thơ được tái hiện trong nhiều văn bản, sách giáo khoa, và
cả các sáng tác thơ văn hiện đại Trong quá trình này, những dị bản mới có thể xuất hiện do diễn giải hoặc dịch sai chữ Hán
2.So sánh nội dung bài thơ ở các dị bản và xác định bản đáng tin cậy
Nếu trước đây, bài thơ: “Nam quốc sơn hà” được dịch là: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” thì nay ở trang 62 sách Ngữ văn lớp 7 tập I, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
(NXBGDVN) phát hành lại dịch như sau: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ”
Về nội dung: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư" bị chuyển thành "Vằng vặc sách trời chia xứ sở", sử dụng từ "vằng vặc" không phù hợp và thêm từ “xứ sở", làm mất ý nghĩa độc lập của nguyên tác "Nghịch lỗ" được dịch thành "giặc dữ, vô tình nhấn mạnh sức mạnh của giặc Câu cuối sử dụng “chúng mày" và "nhất định phải", khiến bài thơ mất đi tính hùng hồn và khách quan vốn có
1 2 Biên soạn : Bộ Giáo dục sửa đổi câu chữ trong bản dịch, làm bài thơ càng thêm lủng củng Bbản dịch Nam quốc sơn hà của Lê Thước và Nam Trân, được đưa vào sách giáo khoa lớp 7 Có thể bản dịch cũ của Trần Trọng Kim bị thay thế vì lý do chính trị, dù bản dịch cũ được người dân yêu thích Nhưng cách dịch này không làm sai lệch tinh thần bài thơ Vấn đề là chúng ta đã quá quen với vần điệu cũ, nên thấy cái này hơi gợn, khó tiếp nhận”
Bản dịch "Sông núi nước Nam, vua Nam ở" có một cách dịch dễ hiểu, ngắn gọn và trực tiếp hơn, trong khi đó, bản dịch "Định phận tại thiên thư" mở rộng hơn, nhấn mạnh khía cạnh thiên mệnh và sự vĩnh cửu của chủ quyền đất nước
Trang 8III GIẢI MÃ VĂN BẢN
1.Hai câu đầu
."Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư."
là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền và độc lập của dân tộc Việt Nam
Mở đầu bài thơ (câu khởi) Lý Thường Kiệt đưa ra một chân lí, một sự thật “hiển nhiên và đơn giản” mà ai cũng có thể thấy được: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước Nam vua Nam ở) Cái sự thực hiển nhiên, rõ ràng tưởng như vô cùng đơn giản ấy với đất nước ta lúc bấy giờ lại là một điều rất khó khăn Để giành được cái quyền ở trên đất của mình ấy dân tộc
ta đã phải đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Trung Hoa trong suốt gần một nghìn năm Bắc thuộc và gần 150 năm sau kể từ khi Ngô Quyền đại thắng quân xâm lược nhà Hán trên sông Bạch Đằng, năm 938 Phải đặt bài thơ trong bối cảnh đó ta mới thấy được sự quí giá, thiêng liêng của cái chân lí “hiển nhiên và đơn giản” ấy “Quốc” là “nước” nhưng bọn phong kiến phương Bắc chỉ dùng từ này để gọi đất nước của bọn chúng mà thôi còn với nước ta chúng chỉ coi là quận, huyện của “Bắc quốc” Cũng tư tưởng ấy vua Trung Hoa tự coi mình là “Hoàng đế”, cho mình cái quyền làm vua của các vị vua Bởi vậy vua của đất nước Trung Hoa mới được gọi là “đế” (Hoàng đế) còn vua của Việt Nam chỉ được gọi là “vương”, vương là vua của nước chư hầu và do Hoàng đế Trung Hoa phong cho (chúng phong cho Đinh Bộ Lĩnh tước Giao Chỉ quận vương hoặc sau này phong tước cho Lý Anh Tông là An Nam quốc vương …) Tuy nhiên đến thời kì này, với sự lớn dậy mạnh mẽ của dân tộc Đại Việt về mọi mặt, với sức mạnh của một người vừa dạy cho kẻ thù một bài học (sự kiện Đại Việt vừa đem quân đánh phủ đầu nhà Tống tới tận Quảng Đông) Lý Thường Kiệt đã đủ tự tin, vững vàng để dõng dạc tuyên
bố về sự bình đẳng cũng như độc lập chủ quyền của đất nước Đại Việt với Tống triều Lý Thường Kiệt xưng “Nam quốc” là để khẳng định sự ngang hàng với “Bắc quốc”, “Nam đế” là
sự khẳng định ngang hàng với “Bắc đế” Với sự khẳng định về sự bình đẳng dân tộc này Lý Thường Kiệt đã thể hiện đầy đủ về ý thức quốc gia, thể hiện một chiều sâu về nhận thức: nước Việt Nam vua Việt Nam ở, vua Việt Nam cũng có nghĩa là nhân dân Việt Nam (theo quan niệm thời phong kiến thì vua là tiêu biểu cho dân tộc, cho nhân dân; là người đại diện cho dân tộc, cho nhân dân) Nhận thức này của Lý Thường Kiệt sau này tiếp tục được Nguyễn Trãi kế thừa
để tuyên bố về độc lập chủ quyền của đất nước với nhà Minh trong “Bình Ngô đại cáo”: “Việt Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc/ Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương” (Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên xưng đế một phương)
Câu thơ thứ hai (câu thừa) tiếp tục triển khai, hợp pháp hóa, cụ thể hóa ý của câu thơ thứ nhất: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) Ở trên, câu thơ thứ nhất nêu lên một chân lí thì trong câu thơ thứ hai, nhà thơ đã đưa ra cơ sở pháp lí của chân
lí đó “Tiệt” là cắt ra, chia ra; “tiệt nhiên” là chia ra rõ ràng như thế, không thể khác được;
“định phận” là định phần, định phần nào ra phần ấy; “thiên thư” là sách trời Như vậy nội dung câu thơ đã rõ: Sách trời đã phân định rõ ràng bờ cõi nước Nam Như vậy là Lý Thường Kiệt đã chỉ ra cơ sở pháp lí của chủ quyền dân tộc theo quan điểm đương thời của Trung Hoa phong kiến Cơ sở pháp lí này mang tính thần bí nhưng thực tế nó đã tồn tại trong sách thiên văn cổ của Trung Hoa và được con người nhiều thời đại tin theo Theo quan niệm này thì đất đai trên
Trang 9mặt địa cầu đều ứng với mỗi vùng sao (tinh phận) ở trên trời Sao trên trời chia vùng thì dưới mặt đất cũng nước nào cõi ấy Đây là ý trời, sách trời đã chia; là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Cụ thể trong “Thiên quan thư” (Sử ký) của Tư Mã Thiên và nhiều sách khác có ghi vùng sao Dực, sao Chẩn ứng với vùng nước Nam (tức vùng Bách Việt) Câu thơ thứ hai là một
sự vận dụng “luật pháp” khôn khéo của nhà thơ Lý Thường Kiệt đã dùng “gậy ông đập lưng ông”, dùng thư tịch của người Trung Hoa để bác bỏ âm mưu xâm lược, bành trướng của hoàng
đế Trung Hoa đương thời, đồng thời khẳng định bờ cõi lãnh thổ đất nước Có thể nói cơ sở pháp lí này đã đưa ra được yếu tố cơ bản thứ ba (ranh giới lãnh thổ) để cùng với hai yếu tố (đất nước độc lập, con người bản địa làm chủ) nêu ở câu thơ thứ nhất góp phần hoàn thiện về khái niệm độc lập chủ quyền của đất nước và cũng là khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc Đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, bài thơ đêm đêm được vang lên từ đền thờ Thần trên phòng tuyến sông Như Nguyệt hẳn đã có những tác động về mặt tâm lí đối với quân ta và quân địch Nó khẳng định tính chất chính nghĩa và phi nghĩa của cuộc chiến với quân đội hai bên đang tham gia Với ý nghĩa này thì quân dân Đại Việt với sức mạnh chính nghĩa sẽ sẵn sàng xông lên quyết tử cho tổ quốc quyết sinh còn với đội quân xâm lược nhà Tống hẳn sẽ không khỏi hoang mang, khiếp đảm bởi làm trái với đạo trời
2 Hai câu sau
Câu thơ thứ ba (câu chuyển): “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm” (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây) Đây là một câu nghi vấn Lý Thường Kiệt hỏi trực tiếp kẻ thù Câu hỏi này được bắt nguồn từ hai câu thơ ở trên, điều này cho thấy tư duy logic, nghệ thuật lập luận của tác giả bài thơ rất chặt chẽ, sắc xảo Chân lí về độc lập chủ quyền dân tộc rất rõ ràng, được ghi ở “sách trời” Chân lí ấy ai cũng biết và phải tôn trọng Lẽ thường ấy không biết bọn giặc kia có biết hay không mà dám xâm phạm? Nghệ thuật lập luận như thế vừa không chỉ bộc lộ sự ngạc nhiên mà còn thể hiện sự coi thường, khinh bỉ Nhà thơ ngạc nhiên là bởi quân tướng của
“thiên triều”, của “hoàng đế” mà không biết gì về luật trời, dám cả gan vi phạm vào điều cấm của “sách trời” Còn coi thường, khinh bỉ là bởi vì bọn giặc không chỉ tham lam (đi cướp đất của người khác) mà còn ngu xuẩn (bởi chúng cho mình là “hoàng đế”, tức là “thiên tử”, nghĩa
là con trời, con trời nhưng lại làm trái lệnh trời) Có lẽ vì quá coi thường và khinh bỉ quân tướng Tống triều nên Lý Thường Kiệt mới gọi bọn chúng là “ngịch lỗ”, nghĩa là quân cướp phản nghịch chứ không chỉ gọi là giặc một cách chung chung Cách gọi này đã thể hiện một sắc thái biểu cảm rất sâu sắc, hạ uy danh của quân tướng thiên triều một cách ghê gớm Và ẩn đằng sau phát ngôn ấy, chúng ta cũng thấy được tư thế đường hoàng, một tầm cao vòi vòi của người hỏi Người hỏi vừa thể hiện được bản lĩnh tự tin vừa tư thế làm chủ của mình, tư thế của người nắm được lẽ phải, hiểu biết về pháp luật Câu hỏi của Lý Thường Kiệt đã dồn cho lũ giặc cướp kia vào cảnh danh không chính và ngôn không thuận Bởi thế câu hỏi đó cũng chính
là lời kết án đanh thép cho hành động xâm phạm phi đạo lí, thất nhân tâm gây chiến tranh phi nghĩa của quan quân Tống triều Lời kết án ấy cũng chính là dấu hiệu báo trước những thất bại của bọn chúng ở câu thơ cuối
Câu thơ cuối (câu hợp): “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (Chúng mày nhất định phải tan vỡ) là lời cảnh báo, răn đe quân xâm lược Lời cảnh báo này được Lý Thường Kiệt chỉ ra
từ kết quả của những hành động “đại nghịch bất đạo” của quân Tống đối với nhân dân Đại Việt Hành động đi ngược với lẽ trời ấy tất phải chuốc lấy những thất bại thảm hại Có lẽ, ở
Trang 10đây Lý Thường Kiệt không chỉ đơn giản là mượn lời trời, lời thần để cảnh báo, răn đe quân xâm lược mà còn thể hiện một sức mạnh, một ý chí, một quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước Việt Nam Phải chăng đây cũng chính là lời thề “sống chết bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc” (Trần Đình Sử) Đến đây chúng ta thấy chân lí về chủ quyền dân tộc không chỉ được khẳng định bằng sức mạnh của chính nghĩa mà còn được củng cố bằng sức mạnh yêu nước của con người Đây chính là kết tinh đẹp đẽ nhất của tinh thần yêu nước Việt Nam, là truyền thống quí báu của dân tộc trong suốt trường kì lịch sử chống ngoại xâm Bài thơ khép lại với một âm hưởng trang nghiêm, tràn đầy hùng khí gợi lên niềm tự hào sảng khoái, niềm tin tất thắng và sự trường tồn của đất nước Việt Nam
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam) có bốn câu ngắn gọn, từ ngữ chính xác, hoàn toàn bằng khẩu ngữ nhưng đã nêu lên chân lí “thiên kinh địa nghĩa” Với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc yêu nước và nghệ thuật nghị luận sắc sảo, bài thơ đã trở thành một tuyên ngôn về độc lập của đất nước Việt Nam, về chủ quyền của dân tộc Việt Nam Đặt vào thời điểm ra đời bài thơ đã thể hiện được tinh thần và sức mạnh của đất nước Đại Việt trong thời kì xây dựng quốc gia độc lập hồi thế kỉ XI
BẢN DỊCH
Câu đầu khẳng định rõ ràng chủ quyền dân tộc "Sông núi" tượng trưng cho lãnh thổ thiêng liêng, "vua Nam" thể hiện vị thế độc lập của người Việt Câu thơ mang tính chất tuyên ngôn, khẳng định quyền tự chủ không thể chối cãi, bác bỏ mọi ý đồ xâm lấn
Câu thứ hai nhấn mạnh sự chính đáng và bất khả xâm phạm của chủ quyền này "Sách trời" mang ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện rằng ranh giới lãnh thổ đã được trời định, không ai có quyền thay đổi
Hai câu thơ dịch, với lời lẽ ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu hơn nhưng vẫn giữ được tinh thần mạnh
mẽ và ý chí quật cường của dân tộc
"Sao kẻ thù lại dám đến xâm xâm " câu thơ thể hiện sự phẫn nộ trước những hành động
đi ngược với lẽ phải, trái với ý trời Câu thơ vang lên với câu hỏi vô cùng cứng rắn dõng dạc Cuối bài thơ là khẳng định chủ qvuyền lãnh thổ đất nước Nam và những kẻ coi thường chân lý lẽ phải sẽ lãnh những hậu quả thất bại xứng đáng Hai câu thơ cuối thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập, chủ quyền ấy thể nói, đây chính là đòn tấn công mạnh mẽ dành cho kẻ thù xâm lược, vừa có ý nghĩa khích lệ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm của nhân dân với Tổ quốc
SO SÁNH ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ VÀ ‘PHÒ GIÁ VỀ KINH’
PHÒ GIÁ VỀ KINH
Dịch thơ
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ lực,