1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo thực hành sinh học Đại cương quan sát hình thái và cấu trúc của tế bào thực vật, Động vật và vi sinh vật

44 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Sát Hình Thái Và Cấu Trúc Của Tế Bào Thực Vật, Động Vật Và Vi Sinh Vật
Tác giả Phạm Thành Đạt, Nguyễn Minh Anh, Huỳnh Ngô Nhựt Huy, Nguyễn Lương Xuân Khoa, Trần Thị Khánh Linh
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Lan Hương
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh Học Đại Cương
Thể loại Báo cáo thực hành
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 7,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bài 1:CÁC KỸ THUẬT CƠ BẢN TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM (5)
    • I. Mục tiêu (5)
    • II. Nguyên liệu (6)
    • III. Các bước thực hiện (10)
    • IV. Kết quả và biện luận (11)
    • V. Trả lời câu hỏi (12)
  • BÀI 2: QUAN SÁT HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT VÀ VI SINH VẬT (16)
    • II. Dụng cụ hoá chất (17)
  • BÀI 3: CÁC MÀNG SINH HỌC CỦA TẾ BÀO VÀ SỰ TRAO ĐỔI NƯỚC GIỮA CÁC TẾ BÀO THỰC VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG NGOÀI (23)
    • I. Mục đích (23)
    • II. Dụng cụ - hóa chất – nguyên liệu (23)
    • V. Câu hỏi (27)
  • Bài 4:PHÂN CHIA NGUYÊN NHIỄM (MITOSE) (30)
    • III. Thực hành (30)
  • BÀI 5: PHÂN CHIA GIẢM NHIỄM (MEIOSE) (35)
    • III. Các bước thực hành (35)
  • BÀI 6: KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG ENZYME (37)
    • IV. Biện luận, Kết quả (40)

Nội dung

• Chậu kết tinh: là dụng cụ thủy tinh đáy bằng, thành dày, có đường kính và dung tích khác nhau, được dùng để kết tinh lại các chất hoặc dùng để bay hơi dung dịch.... • Pipette Ống hút d

KỸ THUẬT CƠ BẢN TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Mục tiêu

• Hiểu được các quy tắc làm việc trong phòng thí nghiệm chuyên ngành CNSH.

• Biết được các dụng cụ trong phòng thí nghiệm.

• Thực hành thí nghiệm đơn giản với kính hiển vi.

Nguyên liệu

Ống nghiệm là dụng cụ bằng thủy tinh hoặc polymer, có hình dạng ống hẹp với đáy tròn, được thiết kế với nhiều thể tích khác nhau Chúng có thể có vạch chia hoặc không và thường được sử dụng để thực hiện các phản ứng phân tích với lượng hóa chất nhỏ.

• Phễu lọc: dụng cụ thủy tinh, sứ, hoặc polymer, thường hình nón, có cuống dài dùng để rót, lọc,

Phễu chiết, hay còn gọi là bình lóng, thường có hình dạng quả lê hoặc hình ống, với nút nhám bằng thủy tinh Gần cuối phễu, có một khóa nhám giúp tách riêng các chất lỏng không hòa tan với nhau.

Cốc thủy tinh, hay còn gọi là becher, là những cốc hình trụ với thành mỏng và dung tích đa dạng Chúng thường có hai loại: có mỏ và không có mỏ, được sản xuất từ loại thủy tinh bền và khó chảy, đảm bảo độ bền hóa học cao.

Bình Erlen, hay còn gọi là bình hình nón và bình hình tam giác, là loại bình phổ biến trong các thí nghiệm phân tích Chúng có nhiều dung tích khác nhau và được thiết kế với các kiểu dáng như có mỏ và không có mỏ, cổ rộng và cổ hẹp, phù hợp cho nhiều ứng dụng trong phòng thí nghiệm.

Bình cầu đáy bằng là dụng cụ thiết yếu trong các thí nghiệm phân tích, với nhiều dung tích khác nhau và nút thủy tinh mài nhám Chúng có thể được chế tạo từ thủy tinh thông thường hoặc thủy tinh đặc biệt, phục vụ cho nhiều mục đích nghiên cứu.

Chậu kết tinh là dụng cụ thủy tinh có đáy bằng và thành dày, với nhiều kích thước và dung tích khác nhau Chúng được sử dụng để kết tinh các chất hoặc để bay hơi dung dịch một cách hiệu quả.

Ống sinh hàn là dụng cụ quan trọng dùng để làm lạnh và ngưng hơi, bao gồm hai loại chính: ống sinh hàn thẳng (hay còn gọi là ống sinh hàn Libic) và ống sinh hàn thu phần ngưng.

+ Ống sinh hàn ngược: Ống sinh hàn có phần ngưng quay trở lại bình đang đun nóng.

Pipette là dụng cụ thiết yếu trong phòng thí nghiệm, được sử dụng để lấy một thể tích dung dịch xác định từ 1-100ml Thông thường, pipette có cấu tạo là ống thủy tinh với đường kính nhỏ khoảng 1mm và có bầu ở giữa, cùng với các vạch dấu để chỉ mức chất lỏng cần lấy.

• Kính hiển vi: là dụng cụ dùng để quan sát tế bào vi sinh vật, ký sinh trùng phải tế bào động vật phải thực vật.

(Chú thích: Ảnh được chụp tại phòng thí nghiệm)

Hệ thống cơ học của kính hiển vi bao gồm các thành phần quan trọng như chân kính, thân kính, trụ đỡ và xoay thị kính Ngoài ra, còn có ổ gắn và xong vật kính, thanh trượt di chuyển, ốc di chuyển thanh trượt, kẹp giữ tiêu bản, cùng với ốc điều chỉnh sơ cấp và thứ cấp.

+ Hệ thống quang học: Thị kính, vật kính, tụ quang kính, màn chắn sang, nguồn chiếu sáng.

Các bước thực hiện

THÍ NGHIỆM 1: Quan sát ảnh ảo (chữ b) dưới kính hiển vi.

Chuẩn bị: Kính hiển vi, lam kính, bút long dầu, khăn.

Bước 1: Rửa lam kính bằng nước và lau sạch để lam kính không bị dính bụi. Bước 2: Ghi lên lam kính chữ b với kích thước phù hợp.

Bước 3: Chỉnh vật kính 4x về trục kính.

Đặt lam kính lên mâm kính và gắn ốc xe đẩy điều chỉnh để chữ b nằm chính xác trên trục kính, đảm bảo có đủ ánh sáng để quan sát rõ ràng.

Bước 5: Khi nhìn vào thị kính thì ta thu được ảnh ảo ngược của chữ b đó chính là chữ q.

(Chú thích: Chữ "b" nhưng khi soi trên kính hiển vi thu được ảnh ảo chữ

THÍ NGHIỆM 3: Quan sát tế bào lá cây dưới kinh hiển vi.

Chuẩn bị: Kính hiển vi, lam kính, lamen, ống nhỏ giọt, nước, khăn, lá cây bất kì.

Bước 1: Rửa lam kính và lamen bằng nước và lau sạch để lam kính không bị dính bụi.

Bước 2: Làm mỏng lá cây để quan sát được rõ hơn.

Bước 3: Nhỏ vài giọt nước bằng ống nhỏ giọt lên giữa lam kính và đặt tiêu bản lên.

Bước 4: Đặt lamen lên tiêu bản để làm phẳng mặt nước trên lam kính giúp quan sát dễ dàng hơn.

Bước 5: Chỉnh vật kính 4x hoặc 10x về trục kính.

Để quan sát mẫu tế bào lá cây, bạn cần đặt lam kính vào mâm kính và cố định bằng ốc xe đẩy điều chỉnh, đảm bảo mẫu nằm đúng trục và có đủ ánh sáng Khi nhìn qua thị kính, bạn sẽ thấy hình ảnh phóng đại của tế bào lá cây.

(Chú thích: Các tế bào trên lá cây)

Kết quả và biện luận

- Thí nghiệm 1: Quan sát ảnh ảo (chữ b) dưới kính hiển vi.

 Kết quả: thu được ảnh ảo ngược chiều với vật, từ chữ “b” nhìn qua thị kính ta thấy được ảnh ảo chữ “q”.

(Chú thích: Chữ "b" nhưng khi soi trên kính hiển vi thu được ảnh ảo chữ "q")

 Biện luận: ảnh được quan sát ở thị kính chỉ được lật đúng chiều nhờ hệ thấu kính (hoặc lăng kính) trung gian đóng vai trò hệ lật ảnh.

- Thí nghiệm 2: Quan sát tế bào lá cây dưới kinh hiển vi.

 Kết quả: thu được ảnh tế bào lá cây.

(Chú thích: Các tế bào trên lá cây)

 Biện luận: tế bào lá cây hình tròn, bên trong có các lỗ khí.

Trả lời câu hỏi

1 Phân loại dụng cụ thuỷ tinh sử dụng trong phòng thí nghiệm theo công dụng?

- Những dụng cụ chung (phải có trong phòng thí nghiệm không thì không thể tiến hành thí nghiệm):

 Ống nghiệm thuỷ tinh: dùng để đựng hoá chất, cân đo hoá chất (đối với loại ống nghiệm có chia vạch).

 Phễu lọc thuỷ tinh: dùng để rót các chất lỏng vào bình có miệng nhỏ, hẹp.

 Phễu chiết thuỷ tinh: dùng để tách riêng những chất lỏng không hoà tan với nhau.

Becher là một loại cốc thuỷ tinh hình trụ, với thành mỏng và có vạch chia thể tích, giúp người sử dụng dễ dàng đo lường và đong đếm lượng hoá chất mà không cần độ chính xác quá cao.

 Erlen (bình nón, bình tam giác): dùng để chứa các dung dịch hoá chất, cho phép chứa mẫu chuẩn độ hoá học.

Bình cầu đáy bằng là dụng cụ thiết yếu trong các thí nghiệm phân tích, thường được sử dụng để chứa mẫu chất và thực hiện các phản ứng hóa học, bao gồm cả quá trình chưng cất hóa chất.

 Chậu kết tinh: dùng để kết tinh lại các chât hoặc dùng để bay hơi dung dịch.

 Ống sinh hàn: là dụng cụ làm ngưng hơi.

+ Ống sinh hàn thẳng: ống sinh hàn để thu phần ngưng.

+ Ống sinh hàn ngược: ống sinh hàn cho bình ngưng trở lại bình đang đun nóng.

- Những dụng cụ riêng, bao gồm:

 Bình cầu đáy tròn: được sử dụng chứa mẫu chất và dùng để thực hiện các phản ứng hoá học chưng cất hoá chất.

Bình Kjedahl là một dụng cụ có hình dạng quả lê với cổ dài, thường có dung tích từ 300-800 ml Chúng được làm từ thủy tinh chịu nhiệt và được sử dụng để xác định hàm lượng nito theo phương pháp Kjedahl.

 Bình chưng cất: dùng để chưng cất chất lỏng.

Bình hút ẩm là thiết bị thiết yếu giúp làm khô và bảo quản các chất bằng cách hút ẩm từ không khí Có hai loại bình hút ẩm phổ biến: bình hút ẩm thông thường và bình hút ẩm chân không.

- Dụng cụ dùng để do lường:

Ống đong là dụng cụ được sử dụng để đo thể tích dung dịch trong một lượng cần thiết mà không yêu cầu độ chính xác tuyệt đối Tuy nhiên, không nên sử dụng ống đong để chia nhỏ lượng dung dịch quá ít.

 Pipette (ống hút dùng cho chất lỏng): dùng để lấy một thể tích dung dịch xác định Có nhiều loại ống hút thông dụng là:

+ Pipet bầu (volumetric pipet) lấy một thể tích nhất định thường chỉ có một vạch mức khắc phía trên bầu của pipet.

+ Pipet thẳng: lấy một thể tích chất lỏng nhưng độ chính xác không bằng pipet bầu.

+ Micropipet: lấy thể tích rất nhỏ chất lỏng có thể tích 1, 2, 3, và 5ml Micropipet có vạch chia 0.01ml, nên có thể đọc với độ chính xác 0,002-0,005ml.

Burette (Ống chuẩn độ) là thiết bị được gắn trên giá, dùng để chuẩn độ và đo thể tích một cách chính xác Cấu tạo của burette bao gồm một khóa điều chỉnh lượng chất lỏng chảy ra, trên ống có phân độ để dễ dàng theo dõi Hiện nay, có nhiều loại burette khác nhau phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau.

Burette thể tích là một ống thủy tinh được thiết kế với đầu nhỏ hơn và có khóa, giúp kiểm soát chính xác lượng chất lỏng Trên bề mặt của burette, các vạch chia được khắc dọc theo toàn bộ chiều dài, cho phép đo lường với độ chính xác lên đến 0,02 ml, với mỗi vạch cách nhau 0,1 ml.

+ Burette trọng lượng: dùng để chuẩn độ những dung dịch cần độ chính xác cao.

+ Burette piston: rất thuận tiện cho quá trình tự động hoá quá trình chuẩn độ.

+ Microburette: loại burette này chia độ theo 0,01ml và cho phép đọc độ chính xác đến 0,005ml.

 Bình định mức: dùng để pha loãng một dung dịch bất kỳ đến một thể tích xác định, hoặc để hoà tan một chất nào đó.

2 Nêu công dụng của becher, erlen, bình cầu, pipette?

Becher là loại cốc thuỷ tinh hình trụ với thành mỏng, được thiết kế có vạch chia thể tích Sản phẩm này giúp người dùng cân đo và đông đếm lượng hoá chất một cách dễ dàng mà không cần độ chính xác quá cao.

 Erlen (bình nón, bình tam giác): dùng để chứa các dung dịch hoá chất, cho phép chứa mẫu chuẩn độ hoá học.

Bình cầu đáy bằng (tròn) là dụng cụ thiết yếu trong các thí nghiệm phân tích, được sử dụng để chứa mẫu chất và thực hiện các phản ứng hóa học cũng như quá trình chưng cất hóa chất.

 Pipette (ống hút dùng cho chất lỏng): dùng để lấy một thể tích dung dịch xác định Có nhiều loại ống hút thông dụng là:

+ Pipet bầu (volumetric pipet) lấy một thể tích nhất định thường chỉ có một vạch mức khắc phía trên bầu của pipet.

+ Pipet thẳng: lấy một thể tích chất lỏng nhưng độ chính xác không bằng pipet bầu.

+ Micropipet: lấy thể tích rất nhỏ chất lỏng có thể tích 1, 2, 3, và 5ml Micropipet có vạch chia 0.01ml, nên có thể đọc với độ chính xác 0,002-0,005ml.

3 Nêu một vài công dụng và đặc tính kĩ thuật của các thiết bị thường dùng trong phòng thí nghiệm sinh học?

Kính hiển vi là dụng cụ thiết yếu trong nghiên cứu tại phòng thí nghiệm, cho phép phóng đại vật thể lên đến 100 lần, giúp quan sát những đối tượng siêu nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy.

+ Vật kính màu đỏ (4x): độ phóng đại vật 40 lần.

+ Vật kính màu vàng (10x): độ phóng đại vật 100 lần.

+ Vật kính màu xanh lá (20x): độ phóng đại vật 200 lần.

+ Vật kính màu xanh dương (40x): độ phóng đại vật 400 lần.

Cốc hình trụ với thành mỏng và vạch chia thể tích giúp người dùng dễ dàng cân đo và đông đếm lượng hóa chất mà không cần độ chính xác quá cao.

Cốc đựng có dung tích tối đa 250ml, được chia thành các vạch 50, 100, 150, 200 và 250ml, giúp người dùng ước lượng lượng hoá chất cần sử dụng Tuy nhiên, các vạch chia này không đảm bảo độ chính xác cao.

 Công dụng: dùng để lấy một lượng hoá chất xác định với độ chính xác cao.

 Đặc tính kĩ thuật : có thể lấy dung tích từ 1-1000ml.

QUAN SÁT HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC CỦA TẾ BÀO THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT VÀ VI SINH VẬT

Dụng cụ hoá chất

- Kim mũi giác, lưỡi lam

- Tăm xỉa răng, giấy thấm

III Các bước thực hiện

Thí nghiệm 1: Quan sát tế bào thực vật

Bước 1: Lấy nội tế bào biểu bì hành (làm tiêu bản), sau đó đặt lên lam kính.

Bước 2: Nhỏ 1 giọt lugol lên trên lam kính.

Bước 3: Để lamen lên lam kính, để lamen tiếp xúc với phẩm nhuộm lugol một góc

Bước 4: Quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi với vật kính lần lượt là 10x,40x.

(Tế bào dưới vật kính 10x) (Tế bào dưới vật kính 40x)

Thí nghiệm 2: Quan sát tế bào niêm mạc

Bước 1: Lấy tăm để lấy một lượng niêm mạc ở má (làm tiêu bản).

Bước 2: Lấy lam kính nhỏ 1 giọt lugol lên lam kính.

Bước 3: Dùng tăm vừa lấy niêm mạc dằm nhẹ đầu tằm vào lam kính hiển vi.

Bước 4: Lấy lamen để lên lam kính, để lamen tiếp xúc với phẩm nhuộm lugol một góc 45 0

Bước 5: Quan sát tế bào dưới kính hiển vi.

Thí nghiệm 3: Quan sát tiêu bản nấm men

Để chuẩn bị, bước đầu tiên là rửa lam kính và lamen bằng nước sạch để loại bỏ bụi bẩn Tiếp theo, cho nấm men vào cốc thủy tinh và hòa với nước để tạo thành dịch.

Bước 3: Nhỏ vài giọt glugol vào cốc thủy tinh để nhuộm màu tế bào nấm men

Bước 4: Dùng ống hút chuyển dung dịch chứa nấm men lên tấm phiến kính

Bước 5: Đặt nghiên lamen và từ từ lên tiêu bản để làm phẳng mặt nước trên lam kính giúp quan sát dễ dàng hơn.

Bước 6: Chỉnh vật kính 10x về trục kính.

Đặt lam kính lên mâm kính và gắn ốc xe đẩy điều chỉnh để đảm bảo tiêu bản nằm đúng trục kính, đồng thời cung cấp đủ ánh sáng để quan sát rõ ràng.

Bước 8: Khi nhìn vào thị kính thì ta thấy được hình phóng đại của tế bào nấm men.

IV Kết quả và biện luận.

- Thí nghiệm 1: Quan sát tế bào hành tím dưới kính hiển vi.

 Kết quả: Thu được tế bào hành tím màu tím nhạt xếp sát nhau.

Các tế bào hành tím có hình dạng đa giác khác nhau, với hạt ở giữa là nhân của tế bào Đặc biệt, nhân của các tế bào hành tím không nằm ở giữa mà thường lệch về các cạnh.

- Thí nghiệm 2: Quan sát tế bào niêm mạc dưới kính hiển vi.

 Kết quả: Thu được những tế bào niêm mạc hình tròn hoặc đa giác màu vàng nhạt.

 Biện luận: Nhân tế bào nằm màu vàng đậm nằm trong tế bào, tế bào chất có màu vàn phân phối đều trong tế bào.

- Thí nghiệm 3: Quan sát tế bào nấm men dưới kinh hiển vi.

 Kết quả: Thu được các tế bào nấm men có kích thước khác nhau.

 Biện luận: Các tế bào đứng riêng lẻ hay kết dính tạo khuẩn ty giả, trạng thái nảy chồi.

1 So sánh cấu tạo của tế bào thực vật và tế bào động vật.

 Đều là tế bào nhân thực

 Tế bào đều được cấu tạo bởi 3 thành phần cơ bản là: Màng sinh chất, tế bào chất à nhân.

 Gồm một số bào quan giống nhau như ti thể, lưới nội chất, bộ máy gongi, nhân, riboxom.

Tế bào động vật Tế bào thực vật

Tế bào động vật có thể có một hoặc nhiều lớp vỏ bọc bên ngoài và các bộ phận khác nhau như môi trường, vòng xoay hoặc chân để di chuyển Trong khi đó, tế bào thực vật có một vỏ bọc bên ngoài là tế bào và bao gồm các bộ phận khác nhau như lá, cây và quả.

Tế bào động vật thường có kích thước lớn hơn tế bào thực vật, trong khi đó, tế bào thực vật thường có kích thước nhỏ hơn so với tế bào động vật.

Có khả năng di chuyển và tự sinh sản.

Không thể di chuyển và phải phụ thuộc vào tế bào động vật hoặc các yếu tố có ở trong môi trường để sinh sản.

Bao gồm ba bộ phận cơ bản là: vòng xoay, môi trường và các chân di chuyển.

Bao gồm ba bộ phận cơ bản là: lá, cây và quả

Không chứa lục lạp Có chứa lục lạp.

Không có thành tế bào xenlulozo bao quanh màng sinh chất Có thành tế bào xenlulôzơ bao quanh màng sinh chất.

Có chất dự trữ là glicogen và mỡ Có chất dự trữ là tinh bột và dầu.

Có trung tử Thường thì không có trung tử.

Khi ở trong môi trường nhược trương thì thể tích của tế bào động vật sẽ tăng, tế bào này có thể bị vỡ ra.

Khi ở trong môi trường nhược trương thì thể tích của tế bào thực vật tăng nhưng tế bào này sẽ không bị vỡ ra

Không bào ở động vật nhỏ hơn so với thực vật hoặc thậm chí là tế bào động vật không có không bào

Không bào ở thực vật lớn hơn so với động vật.

2 Vẽ hình cấu tạo của tế bào thực vật và tế bào động vật.

- Tế bào vi sinh vật:

CÁC MÀNG SINH HỌC CỦA TẾ BÀO VÀ SỰ TRAO ĐỔI NƯỚC GIỮA CÁC TẾ BÀO THỰC VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG NGOÀI

Mục đích

- Ôn tập, sơ lược lại kiến thức lý thuyết về các màng sinh học và các môi trường xác định nồng độ trao đổi nước của tế bào.

- Thực hành tìm sự hiện diện của các màng sinh học.

- Nhận biết và hiểu được sự trao đổi nước giữa tế bào và môi trường ngoài

Dụng cụ - hóa chất – nguyên liệu

III Các bước thực hiện:

THÍ NGHIỆM 1: Quan sát biểu bì vảy hành chứng minh màng tế bào.

- Chuẩn bị: Kính hiển vi, lam kính, lamen, ống nhỏ giọt, khăn giấy, vảy hành tím, KNO3 1M, nước, tăm, dao lam.

Bước 1: Dùng dao lam tách mỏng những lớp mỏng biểu bì màu tím của vảy hành. Bước 2: Ngâm lớp biểu bì hành vô dung dịch KNO3 1M trong 1 giờ.

Sau 1 giờ, lấy tiêu bản biểu bì hành ra và đặt lên lam kính đã được rửa sạch và lau khô Tiếp theo, đặt lamen lên tiêu bản trên lam kính, chú ý hạn chế các hạt bóng khí để dễ quan sát.

Bước 5: Vặn ốc chỉnh bệ kính xuống, để lam kính có đặt tiêu bản và lamen lên bệ kính.

Bước 6: Chỉnh vật kính 4x hoặc 10x về trục kính.

Đặt lam kính vào mâm kính và điều chỉnh ốc xe đẩy để đảm bảo tiêu bản nằm chính xác trên trục kính, đồng thời cung cấp đủ ánh sáng để quan sát rõ ràng.

Bước 8: Khi nhìn vào thị kính thì ta thấy được hình phóng đại của tế bào biểu bì hành.

(Hình ảnh chụp tế bào biểu bì vảy hành khi ngâm trong KNO3 1M)

Bước 9: Làm lại các bước từ 1 đến 8 nhưng với nước cất bình thường và quan sát so sánh hiện tượng.

(Hình ảnh chụp tế bào biểu bì hành khi ngâm trong nước cất bình thường)

THÍ NGHIỆM 2: Đo lực hút của một mô tế bào (bằng phương pháp cân)

- Chuẩn bị: khoai tây, ống nhỏ giọt, dung dịch đường, dao, cân, ống nghiệm.

Để thực hiện thí nghiệm, bước đầu tiên là điều chế dung dịch saccharose 1M với nồng độ 324g/lít Từ dung dịch này, tiến hành pha chế các dung dịch có nồng độ phân tử khác nhau từ 0M đến 1M, sau đó cho vào 11 ống nghiệm đã được đánh số.

Bước 2: Cắt khoai tây thanh 11 miếng có kích thước bằng nhau.

Bước 3: Cân từng thanh rồi ghi trọng lượng theo thứ tự và cho vào 11 ống nghiệm đã chuẩn bị

Bước 4: Sau khi ngâm 60 phút, dùng kẹp gấp thanh mô ra, lau sơ qua nước dính mặt ngoài, rồi cân lại và ghi trọng lượng lần lượt của 11 thanh.

Bước 5: Quan sát và so sánh sự thay đổi trước và sau khi ngâm của 11 thanh khoai tây.

( Chú thích: biểu đồ sai biệt trọng lượng thay đổi theo nồng độ dung dịch )

IV Kết quả và biện luận.

- Thí nghiệm 1: Chứng minh màng tế bào.

 Kết quả: Thu được tế bào biểu bì hành xếp sát nhau.

(Hình ảnh chụp tế bào biểu bì vảy hành khi ngâm trong KNO3 1M)

Trong mỗi tế bào vảy biểu bì hành, có một đường viền gợn sóng tách biệt với vách tế bào Tế bào chất dạng hạt tạo thành một dãy liên tục, có thể dày hoặc mỏng.

- Thí nghiệm 2: Chứng minh màng không bào.

 Kết quả: Các tế bào biểu bì đều không có phân bào.

(Hình ảnh chụp tế bào biểu bì hành khi ngâm trong nước cất bình thường)

 Biện luận: Nhân tế bào nằm màu vàng đậm nằm trong tế bào, tế bào chất có màu vàn phân phối đều trong tế bào.

- Thí nghiệm 3: Đo lực hút của một mô tế bào.

 Kết quả: Có sự thay đổi khối lượng trước và sau khi ngâm dung dịch.

(Biểu đồ sai biệt trọng lượng thay đổi theo nồng độ dung dịch)

 Nồng độ dung dịch từ 0,1-0,3 diễn ra quá trình nhược trương do nước đi vào khoai tây làm cho khối lượng khoai tây tăng lên.

 Nồng độ dung dịch trong khoảng từ 0,3-0,4 diễn ra quá trình đẳng trương do nước không đi vào khoai tây và khoai tây vẫn giữ nguyên khối lượng.

 Nồng độ dung dịch từ 0,4-1 diễn ra quá trình ưu trương do nước thoát ra khỏi khoai tây làm cho khối lượng giảm đi.

Câu hỏi

1 So sánh tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực?

+ Đều là tế bào trong cơ thể

+ Đều có 3 thành phần cơ bản: màng sinh chất, tế bào chất, vùng nhân hoặc nhân

Tế bào nhân sơ Tế bào nhân thực

- NST là 1 phân tử ADN dạng vòng trần

- Chưa có nhân điển hình chỉ có vùng tế bào chất chưa ADN

- Tế bào chất không có hệ thống nội màng, không có các bào quan có màng bao bọc

- Chỉ có một bào quan là riboxom

- Phân bào bằng cách phân đôi

- Không diễn ra quá trình nguyên phân, giảm phân

- Thành tế bào là peptidoglican

- Có lông, roi, vỏ nhầy

- Có ở nấm, thực vật, động vật

- ADN liên kết với protein tạo nên NST trong nhân

- Có nhân hoàn chỉnh: có màng nhân, trong nhân có chất nhiễm sắc và hạch nhân

- Tế bào chất có các hệ thống phân chia tế bào thành các xoang riêng biệt, có nhiều bào quan có màng bao bọc

- Có nhiều loại bào quan: ti thể, lục lạp…

- Phương thức phân bào phức tạp

- Có diễn ra quá trình nguyên phân, giảm phân

- Thành tế bào là Xenlulozo, kitin và peptidoglican

2 Sự vận chuyển vật chất qua màng tế bào xảy ra như thế nào?

- Các chất có phân tử nhỏ hoà tan trong nước, trong lớp lipit kép qua màngđi qua màng.

 Chất vận chuyển không bị biến đổi hoá học

 Chất vận chuyển không kết hợp với một chất khác

 Phụ vào gradient nồng độ: từ cao sang thấp

 Vận chuyển 2 chiều, cân bằng giữa trong ngoài tế bào.

 Độ lớn của chất vận chuyển

Vận chuyển thụ động, mặc dù vẫn được gọi như vậy, nhưng thực tế có sự hỗ trợ của một loại protein xuyên màng, cho phép các chất đi qua một cách hiệu quả Điều này cho thấy rằng phương pháp này mang tính chất chủ động một phần, tạo ra một hình thức vận chuyển chuyển tiếp giữa vận chuyển chủ động và thụ động.

 Phải có một pr màng tiếp nhận và làm vận tải viên

 Không cần năng lượng tế bào

- Loại vận chuyển này thực hiện hoàn toàn theo yêu cầu của tế bào.

 Nhất thiết thiết phải có trung gian pr vận tải hoặc cái bơm của tế bào.

 Cần tiêu tốn năng lượng

 Có thể đi ngược chiểu gradient nồng độ

 Vận chuyển chỉ theo một chiều

3 Sự khuếch tán, sự thẩm thấu là gì?

Khuếch tán là quá trình mà các phân tử di chuyển từ khu vực có nồng độ cao sang khu vực có nồng độ thấp hơn mà không cần tiêu tốn năng lượng Hiện tượng này diễn ra tự nhiên và đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh học và hóa học.

Thẩm thấu là quá trình di chuyển của nước qua màng sinh chất, diễn ra từ khu vực có nồng độ chất tan thấp đến khu vực có nồng độ chất tan cao Nước đi qua màng sinh chất thông qua các kênh protein aquaporin.

4 Ý nghĩa của màng sinh học?

Vì có thành phần cấu tạo chủ yếu bao gồm phôtpholipit và prôtêin nên màng sinh chất sẽ có các chức năng chính dưới đây :

Chức năng trao đổi chất với môi trường ngoài một cách có chọn lọc:

Màng sinh chất được cấu thành từ lớp photpholipit, cho phép chỉ những phân tử nhỏ không phân cực, có khả năng tan trong dầu mỡ, đi qua trực tiếp Các chất phân cực và tích điện cần phải sử dụng các kênh protein phù hợp để ra vào tế bào Do đó, màng sinh chất nổi bật với tính chất bán thấm, chỉ cho phép một số chất nhất định đi qua.

Vận chuyển các chất qua màng sinh chất nhờ các prôtêin

- Màng sinh chất còn có chứa các prôtêin thụ thể giúp thu nhận thông tin cho tế bào

Tế bào hoạt động như một hệ thống mở, liên tục thu nhận thông tin lý hóa từ môi trường và phản ứng thích hợp với sự thay đổi của điều kiện bên ngoài Chẳng hạn, màng sinh chất của tế bào thần kinh người chứa các thụ thể nhận tín hiệu từ các chất dẫn truyền xung thần kinh do tế bào trước đó giải phóng, cho phép xung thần kinh được truyền từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác.

Protêin có vai trò là thụ thể trên màng sinh chất

Màng sinh chất chứa các glicôprôtêin đặc trưng, gọi là "dấu chuẩn", giúp các tế bào trong cùng một cơ thể nhận biết lẫn nhau và phân biệt với các tế bào "lạ" từ cơ thể khác.

CHIA NGUYÊN NHIỄM (MITOSE)

Thực hành

Để chuẩn bị tiêu bản, trồng hành cho đến khi rễ dài từ 0,5cm đến 1cm, sau đó cắt chóp rễ khoảng 2mm và cố định mẫu trong dung dịch Carnoy Tiến hành rửa mẫu với cồn 90 độ hai lần, mỗi lần kéo dài 10 phút, rồi giữ mẫu trong cồn 70 độ trước khi bắt đầu thí nghiệm.

Bước 1: Rửa lam kính và lamen bằng nước và lau sạch để lam kính không bị dính bụi.

Bước 2: Rửa nước mẫu vật và ngâm trong dung dịch HCl 1N khoảng 10 phút để làm mềm rễ.

Bước 3: Rửa sạch mẫu với nước rồi nhuộm màu tiêu bản trong Hematoxyline khoảng 10 phút.

Bước 4: Cho tiêu bản lên lam kính và nhỏ vài giọt Kali 10%.

Bước 5: Đặt nghiên lamen và từ từ lên tiêu bản để làm phẳng mặt nước trên lam kinh, đè bẹp mẫu vật giúp quan sát dễ dàng hơn.

Bước 6: Chỉnh lần lượt vật kính 10x và 40x về trục kính.

Đặt lam kính lên mâm kính và điều chỉnh ốc xe đẩy để đảm bảo tiêu bản nằm đúng trục kính, đồng thời cung cấp ánh sáng phù hợp để quan sát.

Bước 8: Khi nhìn vào thị kính thì ta thấy được hình phóng đại của tiêu bản.

- Hình ảnh tế bào rễ hành phân chia nguyên nhiễm.

IV Kết quả và biện luận.

- Thí nghiệm 1: Quan sát quá trình nguyên phân của tế bào rễ hành.

 Kết quả: Quan sát được cái kì nguyên phân trong mỗi tế bào rễ hành.

(kì đầu, kì giữa, kì sau của quá trình nguyên phân)

 Biện luận: Quan sát được kì đầu, kì giữa, kì sau.

- Kì đầu: Xuất hiện thoi phân bào, màng nhân dần tiêu biến, nhiễm sắc thể bắt đầu đóng xoắn.

- Kì giữa: Các nhiễm sắc thể kép xoắn cực đại và xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo và dính với thoi phân bào ở 2 phía của tâm động.

- Kì sau: Mỗi nhiễm sắc thể kép tách nhau ra ở tâm động thành 2 nhiễm sắc thể đơn Các nhiễm sắc thể phân li về hai cực của tế bào.

- Kì cuối: Màng nhân, nhân con xuất hiện, NST dãn xoắn.

1 Nhiễm sắc thể là gì?

Nhiễm sắc thể là cấu trúc di truyền trong nhân tế bào, được nhuộm bằng chất kiềm tính và có hình dạng, kích thước đặc trưng cho từng loài Chúng có khả năng tự nhân đôi, phân li và tổ hợp ổn định qua các thế hệ Ngoài ra, nhiễm sắc thể còn có thể bị đột biến cấu trúc, dẫn đến sự xuất hiện các đặc trưng di truyền mới.

Nhiễm sắc thể thường là loại nhiễm sắc thể không liên quan đến giới tính, và trong tế bào lưỡng bội, các nhiễm sắc thể của một cặp thường có cấu trúc đồng dạng Điều này khác với các cặp nhiễm sắc thể giới tính, nơi có thể xuất hiện cấu trúc khác nhau DNA trong nhiễm sắc thể thường được gọi là atDNA hoặc auDNA (DNA tự động).

Nhiễm sắc thể giới tính là loại nhiễm sắc thể đặc biệt, khác biệt với nhiễm sắc thể thường về hình dạng, kích thước và chức năng Trong con người và động vật có vú, cặp nhiễm sắc thể giới tính quyết định giới tính của cá nhân trong quá trình sinh sản hữu tính Khác với nhiễm sắc thể bình thường xuất hiện theo cặp đồng dạng, các thành tố của cặp nhiễm sắc thể giới tính có thể khác nhau, từ đó xác định giới tính của cá thể.

2 Ý nghĩa các quá trình phân bào?

Nguyên phân là cơ chế sinh sản chính của các sinh vật nhân thực đơn bào, trong đó một tế bào mẹ phân chia thành hai tế bào con giống hệt nhau.

- Đối với các sinh vật nhân thực đơn bào, nguyên phân là cơ chế sinh sản.

- Đối với các cơ thể sinh vật nhân thực đa bào, nguyên phân làm tăng số lượng tế bào giúp cơ thể sinh trưởng và phát triển.

- Ngoài ra, nguyên phân cũng đóng vai trò quan trọng giúp cơ thể tái sinh những mô hoặc các cơ quan bị tổn thương

Ở các sinh vật sinh sản sinh dưỡng, nguyên phân là phương thức sinh sản tạo ra những cá thể con có kiểu gen tương đồng với cá thể mẹ.

3 Các quá trình phân bào diễn ra như thế nào?

- Nguyên phân là hình thức phân chia tế bào phổ biến ở các sinh vật nhân thực

Quá trình này bao gồm 2 giai đoạn: phân chia nhân và phân chia tế bào chất.

Phân chia nhân, hay còn gọi là phân chia vật chất di truyền, là một quá trình liên tục có thể được chia thành bốn giai đoạn chính: kì đầu, kì giữa, kì sau và kì cuối.

Trong kì đầu của quá trình phân bào, các NST kép sau khi nhân đôi bắt đầu co xoắn lại Màng nhân dần tiêu biến và thoi phân bào bắt đầu xuất hiện, đánh dấu giai đoạn “bao gói” vật liệu di truyền và chuẩn bị cho việc vận chuyển chúng.

Trong kỳ giữa của quá trình phân bào, các nhiễm sắc thể kép co xoắn cực đại và sắp xếp thành một hàng dọc theo mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào Thoi phân bào được gắn vào hai phía của nhiễm sắc thể tại tâm động, đảm bảo sự phân chia chính xác của di truyền vật chất.

- - Kì sau: Các nhiễm sắc tử tách nhau ra gại tâm động và di chuyển trên thoi phân bào về 2 cực của tế bào.

- - Kì cuối: NST dãn xoắn dần và màng nhân xuất hiện.

Phân chia tế bào chất

Sau khi quá trình phân chia vật chất di truyền hoàn tất, tế bào chất bắt đầu thắt màng tế bào tại mặt phẳng xích đạo, trong khi đó, tế bào thực vật hình thành tế bào mới tại cùng vị trí này.

4.Vẽ hình và chú thích các giai đoạn của mitose rễ hành tiều đỏ:

PHÂN CHIA GIẢM NHIỄM (MEIOSE)

Các bước thực hành

Chuẩn bị: Bông hoa hẹ chưa nở hết, dung dịch canoy, cồn 90, cồn 70, dung dịch HCl

1N, dung dịch Hematoxyline, dung dịch Kali 10%, nước cất, lamen, lam kính, kính hiển vi, ống nhỏ giọt.

 B1: Tách bao phấn ra khỏi bông hẹ sau đó ngâm trong dung dịch canoy từ 24 tiếng.

 B2: Lấy những hạt phấn đã ngâm trong dung dịch canoy rửa bằng cồn 90 và giữ hạt phấn trong cồn 70.

 B3: Thuỷ giải bằng HCl 1N trong tầm khoảng từ 10-15 phút.

 B3: Rửa lại hạt phấn bằng nước cất

 B4: Nhuộm màu bao phấn bằng Hematoxyline trong 20 phút.

 B5: Gắp bao phấn đặt lên trên lam kính ( đã rửa sạch) rồi lấy dung dịch Kali 10% bằng ống nhỏ giọt nhỏ một giọt vào hạt phấn.

 B6: Đặt lamen (đã rửa sạch) lên hạt phấn rồi lấy nhíp gõ nhẹ.

 B7: Đặt tiêu bản lên kính hiển vi rồi nhìn 10x, 40x.

IV Kết quả và biện luận

Thí nghiệm: Quan sát tế bào bao phấn phân chia giảm nhiễm.

Kết quả của quá trình giảm phân là sự hình thành các tế bào con màu tím từ một tế bào mẹ có 2n NST, qua hai lần phân bào liên tiếp, tạo ra 4 tế bào con với bộ NST n Số lượng NST trong các tế bào con giảm đi một nửa so với tế bào mẹ, và các tế bào này chính là cơ sở cho việc hình thành giao tử.

 Kì đầu I: NST kép bắt đầu co xoắn Các cặp NST có thể xảy ra tiếp hợp và trao đổi chéo.

 Kì giữa I: NST co xoắn cực đại và xếp thành 2 hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào.

 Kì sau I: Các NST kép trong cặp tương đồng phân li độc lập với nhau về hai cực của tế bào.

 Kì cuối I: Các NST kép nằm gọn trong 2 nhân mới được tạo thành.

 Kì đầu II: NST co xoắn.

 Kì giữa II: NST co xoắn cực đại và xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo.

 Kì sau II: 2 cromatit tách nhau ở tâm động thành 2 NST đơn và phân li về 2 cực của tế bào.

 Kì cuối II: Các NST nằm gọn trong hai nhân mới được tạo thành.

KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG ENZYME

Biện luận, Kết quả

Thí nghiệm 1: Chứng minh hoạt tính enzyme protease

Tổng thời gian thực hiện thí nghiệm 2 18 phút

(Kết quả thu được ở thí nghiệm 1)

 Sau khi lấy được dung dịch thơm (enzyme protease), ta đem để ống nghiệm ở hai môi trường khác nhau (ống 1: nhiệt độ phòng, ống 2: đun cách thuỷ).

 Vai trò của enzyem protease là phân giải protein (lòng trắng trứng) thành các acid amin (thuỷ phân hoàn toàn), chuỗi polipeptit (thuỷ phân không hoàn toàn).

 Vai trò của toluen: giúp môi trường đó không bị ảnh hưởng bởi các vi sinh vật, vi khuẩn,

 Từ đó ta có thể quan sát được thí nghiệm 1 như sau: Ống nghiệm Biện luận

1  Hiện tượng: lòng trắng trứng (protein) trong ống nghiệm đã nhỏ hơn rất nhiều so với ban đầu.

 Giải thích: enzyme protease đã phân giải lòng trắng trứng (protein).

2  Hiện tượng: lòng trắng trứng (protein) gần như không thay đổi hình dạng kích thước so với ban đầu.

Ống nghiệm này đã được đun cách thủy ở nhiệt độ quá cao, dẫn đến enzyme protease bị biến tính và mất chức năng, từ đó không thể phân giải lòng trắng trứng (protein).

Thí nghiệm 2: Chứng minh hoạt tính enzyme amylase

(Kết quả không thấy được hoạt tính của enzyme)

(Kết quả hoạt tính của enzyme amylase)

 Lấy enzyme amylase là dung dịch đậu xanh được giã trước đó.

Đầu tiên, cho tinh bột vào bốn ống nghiệm tương ứng với các môi trường khác nhau: ống nghiệm 1 chứa nước đá ở 5°C, ống nghiệm 2 ở nhiệt độ phòng, ống nghiệm 3 ở nhiệt độ 50°C và ống nghiệm 4 được đun cách thủy.

 Vai trò enzyme amylase là phân giải tinh bột thành đường glucose.

 Tinh bột + Lugol (KI3) sẽ ra màu xanh tím do trong lugol có iot.

 Từ đó ta có thể quan sát thí nghiệm 2 như sau: Ống nghiệm Biện luận

1  Hiện tượng: Có màu sắc là nâu, màu nhạt hơn so với ống nghiệm 4 và đậm hơn so với ống nghiệm 2,3

Khi nhiệt độ quá lạnh, enzyme amylase bị ức chế, khiến quá trình phân giải tinh bột trong ống nghiệm diễn ra chậm Do đó, lượng tinh bột trong ống nghiệm vẫn còn nhiều, dẫn đến khi thêm lugol, ống nghiệm sẽ chuyển sang màu nâu.

2  Hiện tượng: Có màu xanh lá cây đậm, màu nhạt hơn so với ống nghiệm 1,4 và đậm hơn so với ống nghiệm 3.

Khi để enzyme ở nhiệt độ phòng, điều này tạo điều kiện lý tưởng cho hoạt động của enzyme, dẫn đến lượng tinh bột trong ống nghiệm giảm đáng kể Do đó, khi thêm dung dịch Lugol vào, ống nghiệm sẽ chuyển sang màu xanh đậm.

3  Hiện tượng: Có màu xanh lá cây nhạt và là màu nhạt nhất trong 4 ống nghiệm trên.

 Giải thích: Khi bỏ vào trong môi trường 50 O C là môi trường cực kì thích hợp để enzyme hoạt động, bởi cứ tăng

Ở nhiệt độ 10 độ C, enzyme amylase hoạt động gấp đôi so với nhiệt độ dưới 70 độ C Trong môi trường này, enzyme đã phân giải hầu hết lượng tinh bột, dẫn đến lượng tinh bột còn lại trong ống nghiệm rất ít Khi thêm lugol vào ống nghiệm, màu sắc sẽ chuyển sang xanh nhạt, đây là màu nhạt nhất trong các ống nghiệm.

4  Hiện tượng: có màu xanh đen, là màu đậm nhất trong 4 ống nghiệm trên.

Khi ống nghiệm được đặt trong nhiệt độ gần 100°C, enzyme amylase sẽ bị biến tính và mất khả năng phân huỷ tinh bột Kết quả là ống nghiệm này sẽ chứa lượng tinh bột nhiều nhất trong số bốn ống nghiệm Khi thêm lugol vào, tinh bột trong ống nghiệm sẽ phản ứng với iot, tạo ra màu xanh đen đặc trưng.

Thí nghiệm 3: Chứng minh hoạt tính catalase

Ngày đăng: 13/04/2025, 10:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w