1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác Động của Đa dạng hóa danh mục cho vay, Đa dạng hóa thu nhập và mức Độ tập trung thị trường Đến tính Ổn Định ngân hàng thương mại Ở việt nam

86 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay, đa dạng hóa thu nhập và mức độ tập trung thị trường đến tính ổn định ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tác giả Trần Thanh Nhàn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Trường học Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THANH NHÀNTÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC CHO VAY, ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ MỨC Độ TẬP TRƯNG THỊ TRƯỜNG ĐẾN TÍNH ÔN ĐỊNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính -

Trang 1

TRẦN THANH NHÀN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC CHO VAY,

ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ MÚC Độ TẬP TRUNG THỊ TRƯỜNG ĐÉN TÍNH ÓN ĐỊNH NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VẢN THẠC sĩ KINH TẾ

Thành Phố Hồ Chí Minh - Năm 2024

Trang 2

TRẦN THANH NHÀN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC CHO VAY,

ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP VÀ MỨC Độ TẬP TRƯNG THỊ TRƯỜNG ĐẾN TÍNH ÔN ĐỊNH NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng (Tài chính)

Hướng đào tạo: Nghiên cún

Mã số: 8340201

LUẬN VÀN THẠC sĩ KINH TÉ

Thành Phố Hồ Chí Minh - Năm 2024

Trang 3

thương mại ở Việt Nam ” là công trình nghiên của riêng Tôi, do chính bàn thân tôi thực hiện dưới sự hướng dần của TS Nguyễn Thị Uyên Uyên. Cơ sở lý thuyết được tham khảo từ các tài liệu thu thập từ sách, báo, các bài nghiên cửu được đăng tải trên những tập chí quốc tế và được nêu ra trong phần tài liệu tham khảo Đồng thời, kết quà nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này hoàn toàn là trang thực.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của toàn bộ Luận văn này

TP.HCM, ngày 11 tháng 01 năm 2024

Tác giá

Trang 4

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BÁNG 3

TÓM TẤT - ABSTRACT 4

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đồ tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đổi tượng và phạm vi nghiên cửu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Kêt câu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẢNG CHỨNG THỤC NGHIỆM 5

2.1 Cơ sớ lý thuyết nền táng 5

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về mối liên kết giừa đa dạng hóa và tính ôn định ngân hàng 5 2.1.2 Cơ sớ lý thuyết về mối liên kết giừa sự tập trung thị trường và tính ốn định ngân hàng 7

2.2 Các bằng chứng thực nghiệm 11

2.2.1 Bằng chứng về mối liên kết giữa đa dạng hóa và tính ôn định ngân hàng 11 2.2.2 Băng chứng vê môi liên kêt giữa sự tập trung thị trường và tính ôn định ngân hàng 14

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ 17

3.1 Dừ liệu nghiên cứu 17 3.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 17

3.2.1 Đa dạng hóa danh mục cho vay 17

3.2.2 Đa dạng hóa thu nhập 18

Trang 5

3.2.6 Tăng trướng kinh tế 24

3.3 Mô hình nghiên cứu 24

3.3.1 Phương trình hồi quy 24

3.3.2 Cách xây dựng các biến nghiên cứu 26

3.4 Quy trình nghiên cứu 35

CHƯƠNG 4: KÉT QUÃ NGHIÊN cứu 37

4.1 Phân tích thống kê mô tá dừ liệu 37

4.2 Phân tích tương quan 41

4.3 Phân tích hôi quy 41

4.4 Phân tích tính vừng 48

CHƯƠNG 5: KÉT LUẬN 53

5.1 Ket luận và hàm ý chính sách 53

5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu mớ rộng của đề tài 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 10

A Thổng kê mô tả 10

B Ma trận tương quan và hệ sổ VIF 11

c Kêt quả hỏi quy Mô hình 1 13

D Kêt quả hôi quy Mô hình 2 16

E Kết quả hồi quy Mô hình 3 19

F Danh sách các ngân hàng được sứ dụng: 21

Trang 6

Bảng 4.1 Thông kê mô tả dừ liệu nghiên cứu

Bảng 4.2 Ma trận tương quan giừa các biến nghiên cứu

Bảng 4.3 Kôt quả hôi quy GMM hệ thông cho mô hình cơ sờ

Bảng 4.4 Ket quá hồi quy GMM hệ thống chơ phân tích tính vững

Bảng 4.5 Ket quà hồi quy FGLS cho phân tích tính vững

Trang 7

mại ở Việt Nam, trong giai đoạn 2012-2022 Sứ dụng phương pháp mô-men tông quát hóa (GMM) hệ thống, nghiên cứu cung cấp bàng chứng cho thấy đa dạng hóa danh mục cho vay và thu nhập nâng cao tính ôn định của ngân hàng Tác giả cũng chỉ

ra rang sự lập trung thị trường có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro mất khá năng thanh toán của ngân hàng, phù hợp với quan diêm “tập trung-ôn định” Ket quà sừ dụng hệ sổ lương tác giừa các chiến lược đa dạng hóa và sự tập trung thị trường chi

ra rằng các ngân hàng đa dạng hóa hoạt động ờ các thị trường tập trung cao không ôn định tài chính hơn so với các ngân hàng ớ các thị trường ít tập trung Nghiên cửu của tác giả có ỷ nghĩa đối với các nhà giám sát ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách

và các nhà quán lý ngân hàng

Từ khóa: Đa dạng hóa; tính ổn định; sự tập trung; ngân hàng.

Trang 8

Vietnam between 2012 and 2022 Employing the system generalized method of moments (GMM), the study provides evidence showing that loan-portfolio and income diversification enhance the stability of banks We also show that market concentration is negatively associated with bank insolvency risk, consistent with the

“concentration-stability” view The results using interaction terms between diversification strategies and market concentration indicate that diversifying banks operating in highly concentrated markets are more financially unstable compared to those in less concentrated markets Our research has implications for bank supervisors, policy-makers, and bank managers

Keywords: Diversification; stability; concentration; bank.

Trang 9

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn câu năm 2008/2009 ghi nhận hàng loạt các cuộc đố vờ và thất bại của các ngân hàng lớn trên khắp thế giới, và dần đến nhừng cài cách trong các quy định ngân hàng Giới quan sát nhấn mạnh việc chấp nhận rủi

ro quá mức của các ngân hàng là một trong các nguyên nhân gây ra khung hoàng tài chính (Beck & cộng sự 2006; Acharya & Naqvi, 2012) Nhừng hậu quả đê lại từ cuộc khùng hoàng tài chính để lại bài học cho mồi quốc gia trong việc duy trì tính ổn định của hệ thống ngân hàng Ngoài ra, cuộc khủng hoàng tài chính cũng thay đôi và nâng cao nhận thức của các nhà quản lý ngân hàng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng tài sán nhằm giảm thiêu rủi ro tông thê (Meutia & Chalid, 2021) Một trong những cách mà các ngân hàng có thê thực hiện là tham gia vào các hoạt động đa dạng hóa, chăng hạn đa dạng hóa thu nhập (đa dạng hóa chức năng) và đa dạng hóa danh mục cho vay (đa dạng khoán vay theo ngành) (Shim, 2019; Adem, 2022) Thực tể,

sự tập trung vào các khoán cho vay bất động sản thương mại là một trong các yếu tố góp phần dần đến tình trạng đóng cửa ngân hàng gần đây ờ lất cá các bang tại Mỹ

(Cole & White, 2012) Ngoài ra, dưới áp lực tồn lại trong thời kỳ cạnh tranh khốc liệt, các ngân hàng mở rộng nguôn thu nhập từ các hoạt động cho vay truyên thông sang một loạt các dịch vụ tài chính như môi giới, báo lãnh và các loại hình hoạt động khác tạo ra thu nhập ngoài lài Động cơ đa dạng hóa các hoạt động lạo thu nhập và vai trò đối với hiệu quá hoạt động của ngân hàng nhận được sự quan tâm rộng rãi trong các tài liệu (DeYoung & Roland, 2001; Adzobu & cộng sự, 2017; Chandramohan & cộng sự, 2022; Lopez-Penabad & cộng sự, 2021; Adem, 2022) Quan diem Iruyền thống trong lĩnh vực ngân hàng ung hộ đa dạng hóa có ihe cải thiện hiệu quá hoạt động và tính ôn định của ngân hàng (Hunjra & cộng sự, 2020) Một sô nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa có thế giúp các ngân hàng đạt được một số lợi ích

từ tính kinh tế theo quy mô, cái thiện phân bỏ nguồn lực, giảm thiếu rủi ro và cái thiện khá năng cạnh tranh (Wang & Lin, 2021; Alouane & cộng sự, 2021) Mặt khác, các nghiên cửu khác cho thấy những phát hiện ngược lại, trong đỏ, đa dạng hóa không phái lúc nào cũng có lương quan cùng chiều đến hiộu quá hoạt động của ngân hàng; theo đó, đa dạng hóa có thể làm tăng chi phí liềm ân liên quan đen tính phi kinh tế theo quy mô và làm trâm trọng thêm các vân đê đại diện (Berger & cộng sự, 2010; DeYoung & Roland, 2001) Do đỏ, việc trá lời cho câu hỏi liệu đa dạng hóa có mang

lại lợi ích cho các ngân hàng hay không vần còn bỏ ngõ

Các tài liệu cho thấy bân chất của cấu trúc thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với các điều kiện tài chính cùa ngân hàng Neu cẩu trúc thị trường ngân hàng là yếu

tố quan trọng ánh hường đến tính ỏn định của từng ngân hàng, việc không kiêm soát

Trang 10

được biên sô này có thê gây ra các vân đê bỏ sót biên và đưa ra các suy luận sai lệch

vê mối quan hệ giừa đa dạng hóa và tính ôn định ngân hàng Tác giá mở rộng và bỏ sung cho các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam, bằng cách khám phá thêm vai trò của các đặc diêm của hệ thổng ngân hàng trong việc hình thành mối quan

hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và thu nhập với tính ôn định ngân hàng Trong nghiên cứu này, đặc diêm tiềm năng của hệ thống ngân hàng là mức độ tập trung thị

trường Các mô hình lý thuyết đưa ra các dự đoán trái ngược nhau về mối quan hệ giừa mức độ tập trung thị trường và tính ôn định ngân hàng Quan diêm đâu tiên cho rằng hệ thống ngân hàng tập trung cao sẽ ôn định hơn so với hệ thống ngân hàng tập trung thấp Các ngân hàng trong môi trường ít cạnh tranh hơn có cơ hội kiếm lợi nhuận tốt hơn và giá trị điều lệ (charter value) tăng do lợi nhuận cao làm giám động

cơ châp nhận rủi ro quá mức của các ngân hàng Quan diêm đỏi lập dự đoán môi quan

hệ cùng chiều (ngược chiều) giừa tập trung thị trường và tính bất ôn (tính ôn định) ngân hàng Các ngân hàng lớn hơn trong thị trường tập trung cao có khả năng nhận được trợ cấp nhiều hơn, thông qua mạng lưới an loàn của chính phú khi gặp khỏ khăn tài chính Chính sách bảo vệ này có thê tạo ra các vấn đề rủi ro đạo đức và thúc đây

động cơ chấp nhận rủi ro cúa ngân hàng, dần đến tính bất ốn của hệ thống ngân hàng

Mặc dù vậy, các bằng chứng thực nghiệm về các chi số tập trung thị trường và tính

ôn định tài chính là rất hạn chê, không có sự đồng thuận rõ ràng (Beck & cộng sự, 2006; Uhde & Heimeshoff, 2009) Do đó, nghiên cứu này cố gắng cung cấp thêm bằng chứng về việc liệu sự tập trung thị trường có liên quan đến tính ổn định tài chính của ngân hàng hay không

Xem xét hộ thống tài chính ớ Viột Nam, vốn phụ thuộc rất nhiều vào hộ thống ngân hàng, lác già được thúc đây đê kiêm tra tác động của các chiên lược đa dạng hóa (danh mục cho vay và thu nhập), mức độ tập trung thị trường và sự tương tác giừa 2 biến đối với tính ôn định của ngân hàng Vi lý do đỏ, tác giá lựa chọn đề tài “Tác

động cua đa dạng hóa danh mục cho vay, đa dạng hóa thu nhập và mức độ tập trung thị trường đên tính ôn định ngân hàng thương mại ờ Việt Nam” làm Luận vãn thạc sì với mong muốn tìm hiôu xem liệu sự đa dạng hóa ở các thị trường tập trung và ít tập trung hơn cỏ the có những tác động khác nhau đến tính ốn định ngân hàng hay không Thực tê, các nghiên cửu xem xét ành hường của sự tương tác giừa 2 biẻn đôi với hiệu quà hoạt động của ngân hàng còn rất hạn chế Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chì tập trung vào tác động riêng lé cùa các chiến lược đa dạng hóa hoặc mức độ tập trung thị trưÒTìg đối với hiệu quá hoạt động cua ngân hàng

1.2 Mục tiêu nghiên cún

- Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của các chiến lược đa dạng hóa và cấu

trúc thị trường đến tính ôn định của các ngân hàng thương mại lại Việt Nam

Trang 11

Thứ năm: Đánh giá hiệu ứng tương tác cua đa dạng hóa thu nhập và mức độ tập trung thị trường đốn tính ốn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

1.3 Câu hói nghiên cứu

Nghiên cứu trá lời các câu hỏi sau:

Thứ nhất: Đa dạng hóa danh mục cho vay ánh hưởng thể nào đến tính ốn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam?

Thứ hai: Đa dạng hóa thu nhập ảnh hướng thế nào đến tính ổn định của các ngân hàng thương mại lại Việt Nam?

Thứ ba: Sự tập trung thị trường ảnh hưởng thế nào đen tính ổn định cúa các ngân hàng thương mại tại Việt Nam?

Thứ tư: Tác động cùa đa dạng hóa danh mục cho vay đen lính ôn định cúa các ngân hàng thương mại tại Việt Nam sè thay đôi thê nào khi mức độ tập trung thị trường khác nhau?

Thứ năm: Tác động cua đa dạng hóa thu nhập đến tính ôn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam sè thay đôi thế nào khi mức độ lập trung thị trường khác nhau?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cửu

- Đổi tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung làm rõ tác động của các chiến lược

đa dạng hóa danh mục cho vay và thu nhập, sự tập trung thị trường (cấu trúc thị trường), và mối tương tác giừa các chiến lược đa dạng hóa với mức độ tập trung thị

trường đến tính ôn định ngân hàng

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sư dụng dữ liệu hàng năm của 27 ngân hàng thương mại tại Việt Nam, trong giai đoạn 2012-2022, tương ứng 297 quan sát ngân hàng-năm

Trang 12

1.5 Phuong pháp nghiên cún

Trong nghiên cứu này, tác giã sử dụng phương pháp hồi quy GMM hệ thống, theo đề xuất của Arellano & Bover (1995) và Blundell & Bond (1998), nhằm ước lượng các phương trình hồi quy Phương pháp GMM hệ thong giúp giâi quyết các vấn đè tự lương quan, phương sai thay đôi và nội sinh hiên diộn trong mô hình Các nghiên cứu trước đây về hiệu ứng đa dạng hóa trong ngành ngân hàng nhan mạnh vào mối quan hệ 2 chiều giừa các chiến lược đa dạng hóa và các yếu tổ đặc thù ngân hàng,

ke cá tính ổn định hay sự lành mạnh tài chính (Shim, 2019; Williams, 2016) Mối

quan hệ nhân quá 2 chiều như vậy sẽ dần đen sự suy giám tính hiệu quá của mô hình kinh tế lượng, do sự sai lệch nội sinh (endogeneity bias) (Sanya & Wolfe, 2011; Kohler, 2014) Ngoài ra, trong phân tích tính vững, tác giả sử dụng thêm phương pháp

FGLS, hồi quy cho các mô hình nghiên cứu với các biến độc lập trề 1 năm nhằm hạn chê tôi đa các sai lệch nội sinh

1.6 Ket cấu nghiên cứu

Nghiên cứu được kết cấu như sau:

Chương 1: Giói thiệu

Trong chương này, tác giả luận rõ mục tiêu lựa chọn đề tài, đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của bài nghiên cứu và bố cục bài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm

Trong chương này, tác giả luận rõ cơ sớ lý thuyết phục vụ cho bài nghiên cửu

và các kết quả kế thừa được nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phuong pháp nghiên cún

Trong chương này, tác giả luận rõ phương pháp áp dụng cho công trình nghiên cứu và cơ sở kế thừa từ các kết quả nghiên cứu trước Từ đó, Tác giá đưa ra kết quà

dự kiến cua bài nghiên cứu

Chương 4: Ket quả nghiên cứu

Trong chương này, tác giá luận rõ kêt quả sau khi áp dụng mô hình GMM cho

dừ liệu nghiên cứu

Chương 5: Kết luận

Trong chương này, tác giả luận rõ hàm ý từ kểt quà nghiên cứu ờ Chương 4, từ

đó đề xuất các giài pháp áp dụng trong thực tiền Ngoài ra, tác giá cũng nêu các hạn chế và hướng nghiên cứu mờ rộng của đề tài

Trang 13

CHƯƠNG 2: co SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẢNG CHÚNG THỤC

NGHIỆM

2.1 Co sỏ' lý thuyết nền tảng

2.1.1 Co' sỏ' lý thuyết về mối liên kết giữa đa dạng hóa và tính ổn định ngân hàng

Sự lành mạnh tài chính cùa các ngân hàng vẫn là vấn đề gây tranh cài, là nỗi trăn trớ cùa các cơ quan quán lý và giám sát Rùi ro mất kha năng thanh toán là một trong các loại rủi ro mà ngân hàng phai đổi mặt Đa dạng hóa là giai pháp đầu liên

mà các ngân hàng có thê su dụng đê giám thiêu rủi ro, bên cạnh nhiêu phương pháp khác Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất trong các nghiên cứu về việc liệu đa dạng hóa của ngân hàng có mang lại lợi ích hay không Theo sự hiểu biết thông thường, đa dạng hóa ngân hàng có thê làm giảm đáng kê rủi ro Đâu tiên là lý thuyêt quàn lý

danh mục đầu tư (portfolio management theory), còn được gọi là lý thuyết phân bô

danh mục đầu tư trung bình (average portfolio allocation theory), đề xuất rằng đa dạng hóa đầu tư tối ưu có thê giám thiêu rúi ro đặc thù (rủi ro phi hệ thống) và góp phân mang lại thu nhập dự kiên cao hơn (Wang & Lin, 2021) Lý thuyêt chỉ ra răng các dòng thu nhập tập trung ảnh hường bâl lợi đến sự biến động doanh thu của ngân hàng, và chiến lược đa dạng hóa cho vay có the tạo ra hiộu ứng đồng báo hicm (co­insurance effect) (Lewellen, 1971; Tong, 2012) Theo đề xuất của Mooney & Shim (2015), hiệu ứng đồng bảo hiêm sè làm giảm sự biến động của dòng tiên trong tương

lai cùa ngân hàng đa dạng hóa, và khiến các ngân hàng đa dạng hóa ít nhạy cảm với rủi ro hơn Bất cứ khi nào tài sản hoặc nghiộp vụ hoạt động của các tố chức được đa dạng, rủi ro mà tô chức gặp phái sẽ giám đi Do đó, các ngân hàng nên cái thiện tính

ôn định và phân tán rùi ro đặc thù thông qua các chiến lược đa dạng hóa

Cách giải thích thứ hai là tính kinh tê theo phạm vi (economies of scope) và quy

mô (economies of scale), mang lại tính hiệu quả theo quy mô (scale efficiency) Lý thuyết tính kinh te theo quy mô được phát triôn bởi Panzar & Wiliig (1977) Lý thuyết này cho rằng chi phí sản xuất trung bình sè giâm khi doanh nghiệp mờ rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung câp Khi doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa sàn phâm và dịch vụ, nhất là đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ

có liên quan, doanh nghiệp sè có cơ hội chuyển đôi nguồn lực và chia sé nguồn lực dùng chung (Markides & Williamson, 1994) Nêu 2 hay nhiêu lình vực kinh doanh cùng chia sẻ một sổ nguồn lực dùng chung, tông chi phí sản xuất sẽ giảm xuống và

từ đó làm cho hiệu quâ tăng lên (Panzar & Willig, 1977) Vận dụng lý thuyết này trong trường hợp các ngân hàng thực hiện đa dạng hóa, ngân hàng sè có thê sử dụng chung các nguồn lực như công nghệ, nhân lực, cơ sớ vật chất, thông tin, V.V., nhờ đó tiết giám được chi phí; kết quá là hiệu quã hoạt động cùa ngân hàng có thê tăng lên

Trang 14

Ngoài ra, theo lập luận của Drucker & Puri (2008), việc mờ rộng hoạt động kinh doanh sang các lình vực kinh tế mới phần lớn dựa trên cơ sở hạ tầng của ngân hàng; chiến lược đa dạng hóa lình vực kinh tế có thể giúp các ngân hàng phân bổ chi phí cổ định và chi phí quán lý trên hồn hợp lình vực mờ rộng Khi đa dạng hóa trong lĩnh vực cỏ liên quan, ngân hàng cũng tận dụng được kỳ năng quán lý, kiêm soát được rủi

ro nên rui ro có thê giảm xuống, từ đó tính ôn định ngân hàng được cải thiện (Adem, 2022) Đồng quan diêm với các lập luận trên, nhiều nghiên cứu cũng xác nhận lợi ích của đa dạng hóa ngân hàng, và lập luận răng ngân hàng đa dạng hóa tôt có thê đạt được một số lợi ích từ tính kinh tế theo quy mô, cải thiện phân bô nguồn lực, giảm thiểu rủi ro và cái thiện khả năng cạnh tranh của các tố chửc tài chính (Hunjra & cộng

sự, 2020; Wang & Lin, 2021; Alouane & cộng sự, 2021)

Trái ngược với các quan điểm về “lợi thế đa dạng hóa", một số quan điểm đổi lập, chăng hạn như giả thuyết tập trung, khẳng định tính bất lợi cúa đa dạng hóa ngân hàng đên sức khóe tài chính Chăng hạn, doanh thu ngoài lãi có thê làm tăng khả năng không thê đoán trước của thu nhập hoạt động của ngân hàng (Wu & cộng sự, 2020) Ngoài ra, những người ùng hộ giả thuyết trọng tâm chiến lược cho rang các ngân hàng có thê cái thiện hiệu quà hoạt động của mình băng cách tập trung vào các hoạt động chính hoặc có kinh nghiệm và ưu thế sằn có; và đa dạng hóa các hoạt động ngân hàng ngoài cot lõi và địa lý khác nhau gây ra tình trạng trợ cấp chéo (Meyer & cộng

sự, 1992), đầu tư quá mức (Jensen, 1986; Stulz, 1990); chi phi đại diện cao và bất cân xứng thông tin (DeYoung & Roland, 2001); vân đê biên động doanh thu-lợi nhuận

và hạn chế lợi thế cạnh tranh của ban lành đạo ngân hàng khi điều hành vượt quá khả năng chuyên môn (Amihud & Lev, 1981; Berger & cộng sự, 2010; DeYoung &

Roland, 2001; Winton, 1999) Liên quan vấn đề bất cân xứng thông tin, Krishnaswami & Subramaniam (1999) cho rằng quá trình đa dạng hóa làm tăng đáng

kể tính bất cân xứng thông tin Ngoài ra, Liu & Qi (2003) cho rằng các doanh nghiệp

đa dạng hóa có thể truyền tải thông tin không đầy đủ và thiểu chính xác đến các nhà quản lý, do đó, làm giảm chất lượng các quyết định đầu tư cua ngân hàng và gây ra

sự kém hiộu quà và thất thoát giá trị Theo lập luận cùa Jensen (1986) và Vogt (1994),

so với các tố chức kinh doanh đơn 1c, hoạt động trái dài khắp các lĩnh vực kinh doanh phức tạp khiên các tô chức lài chính có thê đâu tư quá mức vào các dự án có giá trị hiện lại ròng âm, đặc biệt trong trường hợp các nhà quản lý có quá nhiều quyền lực quản lý và dòng tiền tự do lớn Nghĩa là, các nhà quán lý có xu hướng đầu tư dòng tiền dư thừa đê tăng thu nhập, thay vì trá cố tức cho các cổ đông, và hành vi này có

xu hướng làm giâm hiệu quá hoạt động của ngân hàng và hủy hoại giá trị cua các cổ đỏng Những lập luận này dường như khăng định các ngân hàng, trong nồ lực duy trì tính ốn định và sự lành mạnh tài chính, nên chuyên môn hóa thay vì thực hiộn các chiến lược đa dạng hóa Trong các lài liệu, nhiều nghiên cứu cũng úng hộ giá thuyết

Trang 15

tập trung và trọng tâm chiên lược khi cho răng đa dạng hóa làm tăng rủi ro thị trường

và hệ thống, do rủi ro mất khá năng thanh toán tăng lên, chăng hạn Stiroh (2004); DeYoung & Roland (2001); Stiroh & Rumble (2006); Adesina (2021)

2.1.2 Co ’ sò ’ lý thuyết về mối liên kết giữa sự tập trung thị trường và tính ổn định

Khi đề cập đến mối quan hệ giừa mức độ tập trung thị trường và tính ốn định ngân hàng, nhiều lý thuyết khác nhau đưa ra các dự đoán khác nhau Theo OECD (2002), lý thuyết sức mạnh thị trường (market power theory) đề cập đến một doanh nghiệp (hoặc một nhóm các doanh nghiệp) không phải chịu áp lực cạnh tranh, và do

đó có thổ duy trì giá cã trên mức cạnh tranh, hoặc giâm chất lượng hoặc sân lượng xuống dưới mức cạnh tranh nhưng vần có thê tạo ra lợi nhuận Hiện nay, có 2 cách tiếp cận trái ngược nhau khi đề cập đến lý thuyết sức mạnh thị trường: lý thuyết cấu trúc-hành vi—hiệu quả (SCP) và lý thuyết sức mạnh thị trường tương đổi (RMP) (Chortareas & cộng sự, 2011) Lý thuyết SCP, do Chamberlin khới xướng (1933) và sau đó được phát triên bời Bain (1951), xác định môi tương quan giừa câu trúc ngành

và hiệu quá hoạt động của doanh nghiộp Doanh nghiệp cố gắng tạo sự khác biệt so với đối thủ, nhưng cuối cùng cấu trúc ngành quyết định khá năng sinh lời của doanh nghiệp Lý thuyết SCP ngụ ý rang sự tập trung quá mức của các doanh nghiệp sẽ làm giảm sự cạnh tranh vì các doanh nghiệp có động cơ đê hợp tác và thông đông với nhau nhằm thao túng thị trường (Chortareas & cộng sự, 2011) Mishkin (1999) cho rằng các ngân hàng trong thị trường lập trung cao độ thường có được niềm tin của công chúng, dần đen các vấn đê rủi ro đạo đức, và các ngân hàng có xu hướng châp nhận rủi ro cao hơn Carnal & Matutes (2002) cho rằng các ngân hàng có xu hướng nới lỏng điều kiện tín dụng và mờ rộng cho vay ờ các thị trường ít cạnh tranh hơn (lập Irung cao), dần đến lỳ lệ đố vờ ngân hàng tăng Ngoài ra, lý Ihuyết “quá lớn đê sụp đô” cho rằng các tập đoàn lớn, đặc biệt là các tô chức tài chính, liên kết với nhau,

do đó, sự thất bại của các lập đoàn này sẽ là thám họa đối với hệ thống kinh tể; do đó, chính phủ các quốc gia sẽ hồ trợ khi các tập đoàn lớn gặp phái tôn thất nghiêm trọng (Ioannou & cộng sự, 2019) Do tàm quan trọng mang tính hệ thống, bất kỳ nguy cơ phá sản ngân hàng nào cũng buộc Chính phủ phải ngăn chặn bất chấp chi phí cùa nền kinh tế Điều này dẫn đến lo ngại rằng tính tập trung thị trường quá mức SC dần đến các tập đoàn tài chính (kể cá ngân hàng) quá lớn và CÓ ánh hưởng vô cùng sâu rộng đến nền kinh tế; sự sụp đố cùa các ngân hàng lớn sè có tác động lan tỏa đến toàn bộ

nền kinh tế Mặt khác, lý thuyết RMP ngụ ý rằng ngân hàng càng lớn càng trở nên độc quyền và càng có nhiều lợi nhuận trên thị trường Thị phần lớn và dồng thu nhập

đa dạng mang lại lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng (Berger, 1995) cùng lập luận răng tính tập trung thị trường không phải là một sự kiện ngâu nhiên mà là một quá

Trang 16

trình Già thuyêt RMP giâ định răng tính hiệu quá của các doanh nghiệp tăng theo quy mô và thị phần, khà năng tạo ra lợi nhuận cao hơn dần đến mức độ tập trung thị

trường cao hơn Các ngân hàng mạnh hơn sẽ cái thiện khá năng thu thập thông tin, sàng lọc và giám sát khách hàng vay, lừ đó giám nợ xấu Ngoài ra, các ngân hàng lớn

có thê cung câp nhiêu loại dịch vụ giúp xây dựng mỏi quan hệ dài hạn giừa khách hàng đi vay và ngân hàng, do đó, làm giảm các vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đửc

(2) Quy định và giấm sát: Barth và cộng sự (2013) lập luận rằng sự bất ôn ngân hàng có thế là do quy định không đầy đủ (khung pháp lý lỏng léo) hoặc giám sát thiếu chặt chè (sử dụng các công cụ giám sát yếu kém) Delis và Staikouras (2011) và Bhattacharya và cộng sự (2002) chỉ ra rằng giám sát chặt chè có thê hạn chế rủi ro của các ngân hàng và cải thiện thời gian can thiệp giám sát trong thời kỳ bất ổn Mặt khấc, Barth và cộng sự (2008) chi ra rằng giám sát ngân hàng chặt chõ không liên quan đến việc cái thiện sự ổn định ngân hàng Cihàk và Tieman (2007) cho ràng nhừng kết quả hồn hợp này bắt nguồn từ việc tốn tại sự khác biệt trong quy định và

sự giám sát lần nhau giữa các quốc gia; mặt khác, quy định và giám sát có thể không

có tác dụng đến tính ổn định của hệ thống ngân hàng

(3) Các yếu tổ thể chế: Một số nghiên cửu cho thấy chất lượng thố che có the ành hường đến tính ôn định của hệ thống ngân hàng (Demirguc-Kunt và Detragiache, 1997); và sự ôn định trong việc quàn lý quốc gia có thẻ tác động lên quy định và giám sát ngân hàng, do đó tác động đến hành vi của ngân hàng (Beltratti và Stulz, 2012) Klomp và de Haan (2014) nhận thấy quy định và giám sát chặt chẽ làm giám rủi ro

Trang 17

ngân hàng, và độ lớn cua tác động phụ thuộc vào chât lượng thê chẻ cua quôc gia Fratzscher và cộng sự (2016) lo ngại về việc thắt chặt quy định ảnh hường như thê nào đến tăng trường tín dụng và sự ôn định ngân hàng Dựa trên giá định rằng quy định nghiêm ngặt có the khiến các ngân hàng thu hẹp danh mục cho vay, các tác giá điêu tra các nên kinh tê tiên tiên và mới nôi đỗ phân tích mức độ anh hường cúa quy định và giám sát nghiêm ngặt sau khủng hoảng đến tăng trường tín dụng và sự ôn định ngân hàng Các tác già thấy rằng phần đệm vốn cao hơn giúp cải thiện tính ổn định tông thê của ngân hàng sau cuộc khủng hoáng tài chính, trong khi việc tăng cường tính độc lập trong giám sát giúp giảm thiêu tình trạng thu hẹp tín dụng trong nước và cái thiện tính ôn định cùa các ngân hàng Fratzscher và cộng sự (2016) cũng quan sát thấy rằng cá 2 tác động đều mạnh hơn đối với các quốc gia có chất lượng thể chế thấp.

(4) Cấu trúc thị trường tài chính: Một số nghiên cửu cho rằng tính tập trung ngân hàng cùng cỏ thê ảnh hường đên tính ôn định của hệ thông ngân hàng, và có 2 quan điỗm trải ngược nhau về mối liên hệ tính tập trung—tính ôn định Lập luận đầu tiên là các ngân hàng ớ các thị trường tập trung hơn sẽ thu hẹp các hoạt động cho vay rủi ro do tính cạnh tranh trên thị trường thâp hơn, nghĩa là các ngân hàng ít có đôi thủ cạnh tranh hơn (Allen và Gale, 2004) Một lập luận khác là khi sự đô vờ cùa ngân hàng đe dọa tính ồn định của hệ thống, các ngân hàng ở các thị trường tập trung hơn

có thế dề dàng đạt được thỏa thuận giái cửu ngân hàng gặp khó khăn đê ngăn chặn đà

đô vờ trên diện rộng; do đó, sự lây lan ít có khá năng xảy ra ờ các thị trường tập trung hơn (Sáez và Shi, 2004) Cũng có ý kiến cho rằng việc giám sát hệ thống chỉ có một vài ngân hàng lớn sc dỗ dàng hơn so với hộ thống có nhiều ngân hàng nhỏ Ngược lại, một sổ học giã lập luận rằng các ngân hàng ờ các thị trường tập trung hơn có thẻ

áp mức lãi suất cho vay cao hơn, điều này có thô khuếch đại vấn đề rủi ro đạo đức đổi với người đi vay, khiển họ đầu tư vào các dự án rủi ro hơn, có thế đe dọa tính ôn định của hệ thống ngân hàng khi tổn thất xáy ra (Boyd và De Nicoló, 2005) Ngoài

ra, các ngân hàng ờ các thị trường tập trung có thê trờ nên quá lớn đê sụp đô, điêu này dẫn đến vấn đề rủi ro đạo đức đối với các nhà quản lý ngân hàng (Mishkin, 1999) Hơn nữa, viộc giám sát các thị trường ngân hàng tập trung có the khó khăn nếu các ngân hàng ờ các thị trường này có xu hướng lớn hơn và phức tạp hơn so với các ngân hàng hoạt động ở các thị trường ít tập trung hơn (Beck và cộng sự, 2006) Uhde và Heimeshoff (2009) quan sát thấy rằng tính tập trung ngân hàng cỏ tác động ngược chiều đến sự ôn định ngân hàng ớ Liên minh châu Âu (EU) Các tác giá chỉ ra rằng các thị trường ngân hàng có tính cạnh tranh thâp, ít cơ hội đa dạng hóa và tỷ lệ sở hữu của chính phú cao hơn sẽ dễ xảy ra bất ôn hơn Cũng quan sát các quốc gia châu Âu, Ijtsma và cộng sự (2017) lại không tìm thấy bất kỳ ảnh hường đáng ke nào cùa tính tập trung ngân hàng đổi với sự ôn định ngân hàng cả ờ cấp độ ngân hàng và cấp độ

Trang 18

quôc gia Ngoài ra, Schaeck và Cihák (2014) phát hiện tính cạnh tranh có tác động cùng chiều lên tính ôn định của các ngân hàng châu Âu, và tác động cùng chiều là mạnh hơn đổi với các ngân hàng khóe mạnh so với các ngân hàng yếu kém.

(5) Các yếu tổ dặc diêm ngân hàng: Các tài liệu cũng xác định các yếu tổ khác

có thể ảnh hưởng đến sự ôn định ngân hàng như phong cách quán lý, thanh khoán, hiệu quà ngân hàng, rùi ro ngân hàng, quy mô tài sán, đa dạng hóa, hiệu quà sứ dụng chi phí v.v Hiệu quả ngân hàng (bank efficiency) là yếu tố then chốt ảnh hường đến hiộu quã hoạt động (bank performance) và tính ổn định của ngân hàng Berger và DeYoung (1997) cho rằng các ngân hàng hoạt động hiệu quá sẽ quán lý rúi ro tín dụng tôt hơn, có thê cải thiện tính ôn định băng cách giâm thiêu các khoản nợ xâu

cao Caretla và cộng sự (2015) điều tra phong cách quán lý và giám sát của các nhà quán lý ngân hàng châu Âu và tác động đối với sự ôn định ngân hàng Các tác giả kiêm tra các ngân hàng từ 15 quốc gia châu Ầu và phát hiện văn hóa giám sát ánh hường đáng kê đên tính ôn định của các ngân hàng Thanh khoán cũng cỏ thê ảnh hường đến tính ôn định của ngân hàng Wagner (2007) chì ra thanh khoản cao hơn khiến cho sự bất ôn của ngân hàng tăng lên và các yếu tổ ngoại biên khác liên quan đên sự that bại của ngân hàng Tuy mức thanh khoản cao hơn sẽ đóng góp tác động trực tiếp cho tính ôn định của ngân hàng thông qua việc giảm thiêu các rủi ro trên báng cân đối kế toán và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh lý tài sản trong cuộc khủng hoảng; tuy nhiên, thanh khoán cao cũng làm cho các cuộc khủng hoảng ít tốn kém hơn đôi với các ngân hàng, vì các ngân hàng có động cơ châp nhận nhiêu rủi ro hơn, do tác động bất lợi lên sự ôn định ngân hàng từ rủi ro tăng cao hay khủng hoảng xãy ra có thô được bù đắp bằng tác động thuận lợi của thanh khoản Ngoài ra, quy mô tài sàn cũng là yêu tô không thê bỏ qua khi phân tích sự ôn định ngân hàng Hệ thông các ngân hàng có quy mô lớn thường ghi nhận sự bất ôn do các vấn đê về rủi ro đạo đức (Uhde và Heimeshoff, 2009), nguyên nhân khà năng có thế đầu tư vào các hoạt động rủi ro, giam tính tuân thu kỷ luật thị trường dẫn đến sự cạnh tranh không bành mạnh, vì tin chăc bản thân mình sè được giải cứu khi đô vờ hoặc khủng hoảng xảy

ra Trái ngược lại, tồn tại ý kiến cho rằng nhờ vào năng lực quản lý và hiệu quà hoạt động cao hơn, các ngân hàng lớn SC có cơ sờ đế đạt được mức độ ổn định tốt hơn (Salas và Saurina, 2002) Ngoài ra, Foos và cộng sự (2010) chỉ ra rằng một trong số các đại diện tiêu biêu hàng đâu cho nguôn gốc rủi ro ngân hàng là tăng trường tín dung Theo đó, yếu tổ này trong quá khứ đà cho nguyên nhân dần đến rủi ro ảnh hướng đến tín dụng trong tương lai, bên cạnh đó sự lăng trường cao trong tín dụng làm giám tý lộ vôn và từ đó, khiên cho khả năng thanh toán của ngân hàng giám Do

đó, tăng trướng tín dụng nhanh chóng có thê khiến cho chất lượng tín dụng giám, từ

đó khá năng thanh toán cùa ngân hàng cũng giám đồng thời Tín dụng tăng trường

Trang 19

nhanh chóng có thê làm suy giảm chât lượng tín dụng, tăng rủi ro hệ thông và ảnh hường tiêu cực đến sửc khóe của ngân hàng (Igan và Pinheiro, 2011).

Theo đó, trong bài nghiên cứu này tác giã sử dụng các biên tác động đên sự ôn định cua ngân hàng như sau: (1) Quy mô ngân hàng, (2) Tính không hiệu qua chi phí,

và (5) Tăng trường kinh tế

2.2 Các bằng chứng thực nghiệm

2.2.1 Bằng chứng về mối liên kết giữa đa dạng hóa và tính ổn định ngân hàng

2.2 LI Tấc động cứa đa dạng hóa danh mục cho vay

Các nghiên cửu phân tích mức độ đa dạng hóa danh mục cho vay (tập trung cho vay theo ngành) còn hạn chế và ít về số lượng Acharya & cộng sự (2006) kiêm tra tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến khả năng sinh lời và rủi ro của 105 ngân hàng Ý, trong giai đoạn 1993-1999 Các tác giá xác nhận đa dạng hóa không đảm bảo mang lại hiệu quá hoạt động vượt trội và sự an toàn hơn cho các ngân hàng Nghĩa là, việc đa dạng hóa ở các ngân hàng kém ôn định làm giảm khà năng sinh lời, trong khi đa dạng hóa ờ các ngân hàng ôn định dần đến sự cài thiện nhó hoặc sự đánh đôi giữa lợi nhuận và rùi ro không hiệu quả Tương tự, Adzobu & cộng sự (2017) khám phá đa dạng hóa danh mục cho vay ảnh hường như thế nào đến khả năng sinh

lời và rủi ro tín dụng của các ngân hàng Ghana, trong giai đoạn 2007-2014 Sử dụng phương pháp hồi quy Prais-Winsten, hiệu ứng cố định và ngẫu nhiên, các tác giá nhận thấy đa dạng hóa danh mục cho vay không cải thiện khả năng sinh lời, cũng như không làm giảm rủi ro tín dụng của các ngân hàng Ghana Ngoài ra, Tabak & cộng

sự (2011) điều tra mức độ tập trung danh mục cho vay đến khá năng sinh lời và rủi

ro ngân hàng, sừ dụng dữ lieu hàng tháng của các ngân hàng Brazil trong giai đoạn tháng 01/2003-tháng 02/2009 Các tác giá báo cáo rằng tập trung danh mục cho vay thúc đây khả năng sinh lời cứa ngân hàng tùy thuộc vào quy mô của các ngân hàng Hayden & cộng sự (2007) sử dụng dừ liệu cua 983 ngân hàng Đức, trong giai đoạn 1996-2002, đê điêu tra mối liên hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và hiệu quả hoạt động cùa ngân hàng Phát hiện tiết lộ rất ít bằng chửng cho thấy lợi ích đa dạng hóa mang lại, ngụ ý rằng việc tập trung danh mục cho vay se cải thiên hiộu quâ hoạt động của ngân hàng và tạo ra sự ôn định Chandramohan & cộng sự (2022) nghiên cửu tác động cùa đa dạng hóa danh mục cho vay đến tính ôn định cùa các ngân hàng thương mại ở Ấn Độ Mầu dừ liệu bao gồm 48 ngân hàng (gồm cả ngân hàng khu vực công, ngân hàng khu vực tư nhân và ngân hàng nước ngoài) hoạt động tại Ân Độ

từ thời điểm năm 2007 Kết quà từ hồi quy GMM khẳng định đa dạng hóa danh mục cho vay cái thiộn tính ổn định ngân hàng

Trang 20

Khi sử dụng dừ liệu hàng quý của các ngân hàng thương mại Mỹ trong giai đoạn quý I/2002-quý IỈI/2013, Shim (2019) xem xét liệu sự lựa chọn đa dạng hóa danh mục cho vay có ánh hường đen tính ôn định tài chính cùa cấc ngân hàng hay không

Kết quả thực nghiệm từ hồi quy GMM tiết lộ đa dạng hóa danh mục cho vay có tương quan cùng chiêu đên tính ôn định ngân hàng Ngoài ra, nghiên cửu cũng chỉ ra các ngân hàng đa dạng hóa hoạt động ờ các thị trường tập trung cao ôn định hơn vê mặt tài chính so với các ngân hàng ờ các thị trường ít tập trung hơn Ket quá này trái ngược với Meutia & Chalid (2021); cụ thế, khi sừ dụng mầu quan sát bao gồm 62 ngân hàng thương mại Indonesia trong giai đoạn 2010-2017, các tác giá phát hiện đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm tính ôn định ngân hàng, và các ngân hàng đa dạng hóa ờ các thị trường ít tập trung hơn có khá năng ôn định tài chính hơn so với các ngân hàng ờ các thị trường tập trung cao hơn Chen & cộng sự (2013) cũng kiêm tra tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến khả năng sinh lời và rủi ro của

16 ngân hàng Trung Quốc, trong giai đoạn 2007-2011 Các tác giả phát hiện đa dạng hóa khoán vay theo ngành làm giảm khả năng sinh lời và rủi ro, và do đó mâu thuần với các phát hiện trước đó ở các nên kinh tế đang phát triên và mới nôi Tương tự, khi quan sát khu vực ngân hàng của 6 quốc gia Hồi giáo, trong giai đoạn 2000-2015, Seho & cộng sự (2021) phát hiện đa dạng hóa danh mục cho vay làm giâm khá năng sinh lời, trong khi làm tăng rủi ro cùa các ngân hàng (kê cả ngân hàng Hôi giáo và thông thường) Mặt khác, Kusi & cộng sự (2020) khám phá tác động phi tuyển của

sự tập trung danh mục cho vay đến tính ôn định của các ngân hàng Ghana, trong giai đoạn 2007-2014 Kết quả từ hồi quy GMM xác nhận sự tập trung danh mục cho vay tương quan ngược chiều đến tính ôn định tài chính của các ngân hàng trong ngăn hạn Tuy nhiên, sự tập trung danh mục cho vay lại có thế tăng cường tính ồn định ngân hàng trong dài hạn, thông qua kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và sự hiếu biết lâu dài về các lình vực

2.2.1.2 Tấc dộng của đa dạng hóa thu nhập

Trong các nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu cung cấp bằng chứng

về việc đa dạng hóa thu nhập có thế làm giám rùi ro của ngân hàng Ớ các nền kinh

tế phát triên, Boyd & Graham (1988) thấy rằng việc sáp nhập doanh nghiệp nắm giừ ngân hàng1 với các công ty báo hiôm có lien quan đen nguy cơ đố vờ ngân hàng thấp hơn Gallo & cộng sự (1996) gợi ý rang các hoạt động quỳ tương hồ cùa ngân hàng thương mại Mỳ làm giam đáng kể mức độ rủi ro của các ngân hàng Rogers & Sinkey (1999) nhận thấy rằng các hoạt động phi truyền thống cùa các ngân hàng thương mại

1 Doanh nghiệp năm giữ ngân hàng (bank holding company) là doanh nghiệp năm kiêm soát 1 hoặc nhiêu ngân hàng nhưng bàn thân không cung câp dịch vụ ngân hàng và không điêu hành hoạt động hàng ngày cua các ngân hàng thuộc quyên sơ hừu.

Trang 21

Mỹ dần đến rủi ro thấp hơn Hamdi & cộng sự (2017) điều tra mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và mức độ chấp nhận rủi ro Đê đạt được mục tiêu này, các tác giả sử dụng dừ liệu hàng năm của 20 ngân hàng Tunisia, trong giai đoạn 2005-2012 Kei quá thực nghiệm xác nhận thu nhập ngoài lãi lương quan ngược chiều và đáng kê đến mức độ rủi ro ngân hàng Hunjra & cộng sự (2020) sử dụng dừ liệu gôm 116 ngân hàng ở 10 quốc gia châu Á mới nôi, trong giai đoạn 2010-2018 Phát hiện cho thấy chiến lược đa dạng hóa thu nhập làm giám rủi ro cua ngân hàng Sứ dụng thông tin ngành ngân hàng từ các quốc gia Nam Á, Nguyen & cộng sự (2012) chi ra các ngân hàng trờ nên ôn định hơn nếu đa dạng hóa các nguồn tạo thu nhập ngoài lãi Trong bổi cánh tương ựr, Alouane & cộng sự (2022) chỉ ra rang các dòng thu nhập ngoài lãi

hồ trợ ngân hàng Tunisia trong việc tăng cường tính ổn định, bằng cách giám thiểu các khoản nợ xâu Thực hiện với mâu dừ liệu gôm 117 ngân hàng tại 16 quôc gia châu Ầu, trong giai đoạn 2011-2018, Lopez-Penabad & cộng sự (2021) chứng minh rằng các ngân hàng có nguồn thu nhập đa dạng có xu hướng ôn định hơn về mặt tài chính Wang & Lin (2021) nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại ở 14 nền kinh tế châu Á Thái Binh Dương, trong giai đoạn 2011-2016 Sử dụng hồi quy GMM, các tác giá khám phá các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa thu nhập cao hơn nhìn chung sẽ ít rủi ro hơn Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét thêm cá các nôn kinh tẻ phát triên và mới nôi theo phân loại của Quỳ Tiền tệ Quốc tể (IMF) Cụ thê, đổi với các nền kinh tế mới nôi, kết quả chì ra rằng các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa thu nhập cao hơn sẽ gặp ít rủi ro hơn Tuy nhiên, việc đa dạng hóa thu nhập không có tác động đáng kê đến rủi ro ngân hàng ờ các nền kinh tế phát triên Munoz-Mendoza & cộng sự (2020) phân tích tác động cúa tập trung thị trường và đa dạng hóa thu nhập đến tính ôn định tài chính cùa hệ thống ngân hàng thế giới Sừ dụng ước tính GMM cho mầu dữ liệu gồm 206 quốc gia, trong giai đoạn 1994—2015, kêt quà cho thây đa dạng hóa thu nhập có tương quan cùng chiều đến tính ôn định tài chính, và tương quan ngược chiêu đen rủi ro ngân hàng Adcm (2022) xem xót tác động cùa đa dạng hóa thu nhập đến tính ôn định cua ngân hàng, bàng cách sử dụng dữ liệu cúa 45 quốc gia châu Phi, trong giai đoạn 2000­

2020 Dựa vào phương pháp GMM, kết quả ủng hộ lý thuyết danh mục đầu tư; cụ thê, đa dạng hóa làm giâm rủi ro và cai thiện tính ôn định của ngân hàng ờ các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển trong thời kỳ khủng hoảng và binh thường

Mặt khác, nhiều nghiên cứu phát hiện ra ràng thu nhập ngoài lài có được từ việc

đa dạng hóa thư nhập cùa ngân hàng làm tăng rủi ro ngân hàng Ví dụ, Delpachitra

và Lester (2013) sử dụng mâu dừ liệu từ các ngân hàng Uc, trong giai đoạn 2000­

2009, đê nghiên cứu tác động cùa đa dạng hóa thu nhập Kêt quả thực nghiệm cho thấy đa dạng hóa thu nhập làm giám khá năng sinh lời và không cải thiện rúi ro tông thế cua các ngân hàng Các tác già kết luận các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi sè

Trang 22

không mang lại lợi ích cho các ngân hàng Trong một nghiên cứu khác, Williams & Prather (2010) tập trung vào tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro-lợi nhuận của ngân hàng Đê đạt được mục tiêu nghiên cứu, các tác giá sử dụng dừ liệu từ 49 ngân hàng Úc, chiếm hon 65% lài sán hệ thống ngân hàng Các phát hiện chính cho thấy thu nhập ngoài lãi dường như rủi ro hơn thu nhập lãi, nhưng mang lại lợi ích đa dạng hóa cho các cô đỏng ngân hàng Bối cảnh châu Âu cũng được khám phá bởi Chiorazzo

& cộng sự (2008) Dựa vào dừ liệu hàng năm cua các ngân hàng Ý, trong giai đoạn 1993-2003, các tác giả phân tích môi liên hệ giừa thu nhập ngoài lãi và khâ năng sinh

lời Các phát hiện chi ra rằng đa dạng hóa thu nhập làm tăng lợi nhuận được điêu chinh rủi ro Mndeme (2015) điều tra tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quà hoạt động của các ngân hàng Tanzania Nghiên cứu sứ dụng mẫu dữ liệu gồm 25 ngân hàng, trong giai đoạn 2002-2012 Ket quá thực nghiệm cho thây thu nhập lãi có tương quan cùng chiều đến hiệu quà hoạt động Tuy nhiên, các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi có thế ánh hướng bất lợi đến hiệu quà hoạt động của ngân hàng Stiroh (2004) nhận thấy rằng thu nhập ngoài lãi khiến lợi nhuận không ồn định hơn và lợi nhuận được điêu chình rủi ro thâp hơn Trong một nghiên cứu khác, Stiroh (2006) điều tra các yểu tố quyết định rủi ro ngân hàng, sử dụng mầu các ngân hàng Mỳ, trong giai đoạn 1997-2004 Ket quả chỉ ra rằng các thành phần cùa thu nhập ngoài lãi làm gia tăng sự biẻn động lợi nhuận DeYoung & Roland (2001) chỉ ra răng các hoạt động tạo thu nhập từ phí có liên quan đến sự gia tăng biến động thu nhập và đòn bây tài chính cao hơn Sử dụng mẫu các ngân hàng thương mại ờ 42 quốc gia, trong giai đoạn 1995-2002, Gorener & Choi (2013) phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả-rủi ro Các tác giá phát hiện thu nhập ngoài lài có liên quan đến sự gia tăng biến động lợi nhuận cổ phiếu cùa các ngân hàng thương mại

2.2.2 Bằng chúng về mối liên kết giữa sự tập trung thị trường và tính ổn định

Bằng chứng thực nghiệm liên quan mối quan hệ giừa sự tập trung thị trường và tính ôn định ngân hàng vần còn chưa thong nhất và thiếu thuyết phục (Bikker & Haaf, 2002; Beck & cộng sự, 2005, 2006; Danisman & Demirel, 2019; Davis & cộng sự, 2020; Fu & cộng sự, 2014; Goetz, 2018; Saif-Alyousfi & cộng sự, 2020; Schaeck & Cihák, 2014; Turk-Ariss, 2010) Thêm nừa, các nghiên cửu cho từng quốc gia cũng như xuyên quốc gia được thực hiện rộng rãi trong bối cánh các nền kinh tế phát triển, trong khi hầu như không nhiều nghiên cứu được triển khai trong bổi cảnh các nền kinh tế đang phát triên Beck & cộng sự (2006) sử dụng dừ liệu từ 69 quốc gia, trong giai đoạn 1980-1997, đế thiết lập tác động của sự tập trung và cạnh tranh thị trường đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng Các phát hiện cho thấy các cuộc khủng hoàng

hệ thông ngân hàng ít xảy ra hơn ở các quôc gia có hệ thông ngân hàng tập trung hơn,

Trang 23

sau khi kiểm soát các yếu tố kinh tế vĩ mô, thể chế và quy định Ngược lại, Uhde & Heimeshoff (2009) nhận thấy rằng sự tập trung thị trường ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều đáng kế đến sự lành mạnh tài chính cúa các ngân hàng ờ châu Àu Ngoài

ra, Schaeck & cộng sự (2009) xác định liệu các ngân hàng cạnh tranh cao có ổn định hơn các ngân hàng kém cạnh tranh ờ 45 quôc gia hay không Sử dụng 27.585 quan sát trong giai đoạn 1980-2005, nghiên cửu phát hiện sự cạnh tranh và tập trung thị trường làm giám khá năng xày ra khủng hoáng và kéo dài thời gian giừa các cuộc khung hoảng Ngược lại, Liu & cộng sự (2013) quan sát môi quan hệ phi tuyên giừa cạnh tranh ngân hàng và tính ổn định ở các quốc gia châu Âu Kết quả cho thấy cạnh tranh quá nhiều hoặc quá ít đều dần đến sự bất ôn, nhưng cạnh tranh vừa phái sẽ dần đến tính ôn định cao hơn Ngoài ra, Fu & cộng sự (2014) khám phá tác động cúa sự tập trung ngân hàng đên tính ôn định tài chính ờ các quôc gia châu Á Thái Bình Dương, và phát hiện sự tập trung thị trường dần đen tình trạng mong manh tài chính (được đo lường bằng xác suất phá sàn và Z-score) Sử dụng mẫu quan sát 4.069 ngân hàng tại 14 nền kinh tế châu Ả Thái Bình Dương trong giai đoạn 2003-2010, nghiên cứu cũng phát hiện sức mạnh thị trường thấp (sự cạnh tranh cao) cũng dẫn đến rúi ro ngân hàng Các phát hiện này ngụ ý rằng quan điểm “tập trung-ổn định" và “tập trung-mong manh" có thể ấp dụng đồng thời trong các nền kinh tế Schaeck & Cihák (2014) phân tích môi quan hệ giừa cạnh tranh, tính hiệu quả và tính ôn định; và nghiên cứu cho thấy cạnh tranh gia tăng dẫn đến tính ôn định ngân hàng lớn hơn Nghiên cứu quan sát thấy tính hiệu quả hoạt động là kênh đế sự cạnh tranh ánh hường đến tính ổn định (được đo lường bằng Z-score) Sử dụng 17.965 quan sát tại 3.325 ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 1995-2005, nghiên cứu cũng xác định các ngân hàng lành mạnh được hường lợi nhiều hơn từ hiệu ứng “cạnh tranh-ổn định” so với các ngân hàng yếu kém Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của Danisman & Demirel (2019) đôi chiêu các phát hiện cua Schaeck & Cihák (2014), băng cách xác định răng môi trường ngân hàng cạnh tranh dần đến nhiều rủi ro ngân hàng hơn, khi thực hiện nghiên cứu ờ 25 nền kinh tế phát triển Gần đây, khi quan sát cho 133 thị trường đang phát triển và mới nôi trong giai đoạn 2022-2020, Tran & cộng sự (2022) phát hiện các ngân hàng hoạt động trong thị trường tập trung ôn định hơn so với các ngân hàng hoạt động trong thị trường kem tập trung, ủng hộ quan điôm “tập trung-ốn định”

Liên quan các nghiên cứu cho từng quôc gia ờ các nền kinh tế phát triên, Boyd

& cộng sự (2006) sừ dụng mầu dừ liệu gồm 2.500 ngân hàng Mỳ trong năm 2003 và

dữ liệu của 2.600 ngân hàng trong giai đoạn 1993-2004 từ 134 quốc gia phi công nghiệp hóa đê thiêt lập tác động của sự tập trung thị trường đên việc châp nhận rủi ro của ngân hàng Nghiên cứu tìm thấy mối quan hộ cùng chiều và có ỷ nghĩa giừa sự tập trung và xác suất đố vỡ của ngân hàng, do đó ủng hộ quan điểm “tập trung-mong manh” Các phát hiện này phù họp với Goetz (2018), tác giá thực hiện nghiên cứu về

Trang 24

tác động của sự cạnh tranh đên tính ôn định của ngân hàng Mỹ, băng cách sử dụng mầu gôm 102.819 quan sát ngân hàng trong giai đoạn 1976-2006 Nghiên cửu xem xét cụ thể việc bãi bó quy định ngân hàng giừa các tiếu bang ánh hường như thể nào đến sự gia nhập của các ngân hàng khác trong khu vực và tác động đến tính ôn định của ngân hàng Kêt quá cho thây răng việc loại bỏ các rào cán gia nhập (tăng khả năng cạnh tranh) làm tăng đáng kê mức độ ôn định của ngân hàng Các nghiên cửu khác như Turk-Ariss (2010) và Ali & cộng sự (2018) khám phá mổi quan hệ giữa tập trung thị trường và tính ôn định tài chính ờ cả các quôc gia phát triên và đang phát triên Turk—Ariss (2010) sử dụng mầu gồm 4.670 quan sát của 821 ngân hàng ờ các

nền kinh tế đang phát triển, trong giai đoạn 1999-2005, để thiết lập tác động của sức mạnh thị trường đến tính hiệu quà và ôn định tài chính của ngân hàng Nghiên cửu cho thây các ngân hàng tập trung thê hiện tính hiệu quá lợi nhuận cao hon mặc dù phái đối mặt với tính không hiệu quả chi phí, xuất phát từ vấn đề “quá lớn đô sụp đô" Liên quan đến tính ổn định tài chính, các ngân hàng tập trung tó ra ổn định hơn, do

đỏ ủng hộ quan diêm “tập trung-ổn dinh” Ngoài ra, Ali & cộng sự (2018) sử dụng mẫu gồm 156 quốc gia ờ cà nên kinh tế phát triên và đang phát triên, trong giai đoạn 1981-2011, đê thiết lập tác động trực tiếp và gián tiếp của sự tập trung thị trường đen tính ốn định lài chính Các phát hiện cho thấy không có tác động trực tiếp của sự tập trung thị trường den tính ôn định tài chính, nhưng lưu ý răng tập trung ngân hàng có

tương quan cùng chiều gián liếp đến tính ốn định tài chính thông qua kênh sinh lợi,

và tương quan ngược chiều gián tiếp thông qua kênh lài suất Tuy nhiên, các phát hiện này trái ngược với Saha & Dutta (2020), các tác già nhận thấy rằng cạnh tranh giúp tăng cường tính ôn định khi xem xét 92 quốc gia phát triên và đang phát triỗn

Trang 25

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúư

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bảng dừ liệu không cân bằng (unbalanced panel data) từ 27

ngân hàng thương mại tại Việt Nam, trong giai đoạn 2012—2022, tương ứng 297 quan sát ngân hàng-năm Toàn bộ dữ liệu tài chính được thu thập từ báo cáo tài chính sau kiêm toán và báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại, tài về từ nguồn

FiinPro Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng nguôn dữ liệu của Ngân hàng Thê giới (World Bank) đê thu thập dừ liệu tăng trường kinh tế Việt Nam hàng năm Tuy nhiên, tính đen thời điếm 31/03/2023, Ngân hàng Thế giới chỉ công bổ tổc độ lăng trướng kinh

tế Việt Nam đến năm 2021; do đó, tác giá sử dụng nguồn Tổng cục Thống kê (GSO)

đê lăp đây dừ liệu tăng trường kinh tê Việt Nam năm 2022 Tác giá xây dựng thước

đo lính ôn định ngân hàng (chí sổ Z-score) dựa vào trung binh trượt (moving average) của tý số ROA và độ lệch chuẩn cúa tý sổ ROA trong 3 năm; do đó, tác già bắt đầu mẫu nghiên cứu từ năm 2012 nhằm hạn chể tối đa sự thiết hụt quan sát (của tính ồn định ngân hàng) trong các năm 2010 và 2011 Ngoài ra, nhăm đám báo tính chính xác cùa thước đo tính tập trung thị trường ngân hàng, tác giá loại bỏ các ngân hàng không cung cấp đủ dừ liệu tống dư nợ cho vay2 Trong qua quá trình thu thập dừ liệu

từ các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên, nhiêu ngân hàng thương mại tại Việt Nam không công bố đầy đủ các thông tin thuyết minh báo cáo, chăng hạn Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (mã SSB), Ngân hàng TMCP Hàng hái Việt Nam (mã MSB), Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã OCB) trong giai đoạn 2012-2015, V.V.; đó là

lý do tác giá sử dụng dừ liệu không cân bang Theo Shim (2019), việc sừ dụng bảng

dừ liệu không cần bằng giúp tránh sự thiên lệch kẻ sổng sót (survivor bias) và nhằm tổi đa hóa sổ lượng quan sát Sau khi thống kê, trong số 27 ngân hàng được chọn, có

18 ngân hàng được niêm yỗt trên các sàn HOSE và HNX (chiêm 66,67% mâu quan sát); cụ thê, có 2 ngân hàng niêm yết trôn sàn HNX (chiếm 7,41% mầu quan sát) và

16 ngân hàng niêm yết trên sàn HOSE (chiếm 59,26% mẫu quan sát)

2 Tính tập trung thị trường được đo lường bâng chi sô Herfindahl Hirschman (chì sô HHI), dựa vào tỷ trọng đóng góp dư nợ cho vay trong tông dư nợ cho vay của khu vực ngân hàng.

3.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

3.2.1 Đa dạng hóa danh mục cho vay

Vê mặt lý thuyêt, lý thuyêt danh mục đâu tư dự đoán sự kêt hợp dòng tiên từ các nguồn tạo thu nhập có tương quan âm hoặc thấp sẽ ít biến động hơn so với khi tách rời riêng lẻ Trong mồ hình giám sát úy quyền (delegated monitoring model), Diamond (1984) cho thấy đa dạng hóa giúp giám chi phí ủy quyền của trung gian tài chính; và các trung gian tài chính (chăng hạn như ngân hàng) có thê giảm thiêu xác

Trang 26

suất vờ nợ bằng cách kết hợp nhiều rủi ro độc lập hơn Ngoài ra, Berger & cộng sự (2010) cho rằng các ngân hàng, với tư cách là người giám sát được ủy quyền, nên đa dạng hóa danh mục cho vay giũa các lình vực kinh tế khác nhau, vì điều này làm giảm khá năng phá sàn hoặc xác suất vờ nợ Bằng cách đa dạng hóa các lình vực kinh

tế khác nhau, các ngân hàng có thể loại bò hiệu ứng cùa các cú sổc đặc thù (idiosyncratic shock) đến danh mục cho vay, vì các khách hàng đi vay vê cơ bản dàn trải trên các lình vực kinh te khác nhau Các ngân hàng không đa dạng hóa tốt sè dề chịu ảnh hương bới các biên động kinh tẻ từ các lĩnh vực mà mình tập trung hoạt động hơn so với các ngân hàng đa dạng hóa tốt (Tabak & cộng sự, 2011; Winton, 1999) Shim (2019) lập luận các ngân hàng có thế đạt được tính hiệu quá kinh tế theo phạm vi bằng cách chia sẻ các đầu vào như lao động, công nghệ và thông tin cho nhiêu loại khoản vay ờ các ngành kinh tê khác nhau Bên cạnh đó, các ngân hàng có thê khai thác và nắm giũ’ thông tin cụ thê của khách hàng từ các mối quan hệ tín dụng

và sứ dụng dịch vụ trong quá khứ, điều này cho phép các ngân hàng đánh giá tổt hơn rủi ro tín dụng của khách hàng đi vay tiềm năng và cài thiện chất lượng của các khoán vay (Baele & cộng sự, 2007) về mặt thực nghiệm, Rossi & cộng sự (2009) cho thấy việc đa dạng hóa danh mục cho vay làm giám rủi ro (đại diện bởi lượng dự phòng các khoán nợ xấu) của các ngân hàng thương mại lớn tại Áo Shim (2019) nhận thấy đa dạng hóa danh mục cho vay có tương quan cùng chiều đên tính ôn định tài chính của các ngân hàng Mỳ Gần đây, Chandramohan & cộng sự (2022) xác nhận tính ôn định ngân hàng sẽ giảm một khi các ngân hàng Ắn Độ theo đuối chiến lược chuyên môn hỏa lình vực cho vay Ece và Cadirci (2022) cho thấy đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro phá sản trong hệ thống ngân hàng truyền thông trong dài hạn Do đỏ, tác giả kỳ vọng đa dạng hóa danh mục cho vay có ảnh hưởng cùng chiều đến tính ôn định ngân hàng, vì việc đa dạng hóa giúp các ngân hàng giám thiếu rủi ro và đạt được tính hiệu quả kinh tể theo phạm vi

H1: Đa dạng hóa danh mục cho vay lương quan cùng chiều đến lính ổn định ngân hàng Hàm ý rằng: Ngân hàng có chiến lược đa dạng hóa danh mục cho vay càng cao (thấp) SC có tính ôn định của ngân hàng cao (thấp) hơn

3.2.2 Đa dạng hóa thu nhập

Các tô chức tài chính trong những năm gân đây ngày càng tạo ra thu nhập từ hoạt động kinh doanh "ngoại bang'* và thu nhập từ phí Albertazzi & Gambacorta (2006) lưu ý Sự sụt giàm tỷ suất lợi nhuận đà buộc các ngân hàng phái tìm kiếm các nguồn thu thay thế, dẫn đến sự đa dạng hóa các hoạt động thương mại, các dịch vụ khác và các hoạt động tài chính phi truyền thống Hoạt động đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng chù yếu tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại và các hoạt động tạo phí và hoa hồng Với việc đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng không còn tập

Trang 27

trung vào mãng kinh doanh truyền thống (hoạt động tín dụng) mà dần chuyển dịch sang kinh doanh phi truyền thông (hoạt động dịch vụ, hoa hồng, kinh doanh khác) tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng Giống như chiến lược đa dạng hóa danh mục cho vay, vai trò cúa đa dạng hóa thu nhập (đa dạng hóa chức năng) đến hiệu quá hoạt động (tính ôn định) của ngân hàng vân còn gây nhiêu tranh cãi (Adem, 2022) Thông thường, đa dạng hóa thu nhập có thê làm giảm đáng kê rủi ro của ngân hàng (Wang

& Lin, 2021; Alouane & cộng sự, 2021) Cách giài thích đầu tiên dựa vào lý thuyết danh mục đâu tư của Markowitz (1952), răng đa dạng hóa đâu tư tôi ưu có thẻ giâm thiêu rủi ro phi hệ thông và góp phân mang lại thu nhập dự kiên cao hơn (Wang & Lin, 2021) Bất cứ khi nào đầu tư hoặc hoạt động vận hành của ngân hàng được đa dạng, mức độ đa dạng hóa thu nhập sè lãng lên và rủi ro mà ngân hàng gặp phải giảm

đi (Adem, 2022) Cách giải thích thử hai là hiệu ứng sức mạnh tông hợp (synergy effect) (tính kinh tế theo phạm vi và quy mô) dần đển tính hiệu quả theo quy mô (scale efficiency) Do kiến thức được cải thiện tù' các hoạt động truyền thống, các ngân hàng có thể tạo ra thu nhập ít rủi ro khi thực hiện các hoạt động kinh doanh mới (Sissy & cộng sự, 2017; Wang & Lin, 2021) Với khả năng quản lỷ và đôi mới kỳ thuật, các ngân hàng có thế xem xét mở rộng các giài pháp tiềm năng tạo doanh thu

để cuối cùng nâng cao tính ốn định; đồng thời có tlìỗ cái thiện thu nhập và giám chi phí hoạt động ngoài lãi (Paltrinieri & cộng sự, 2021) Diamond (1984) và Ramakrishnan và Thakor (1984) cho rằng đa dạng hóa giúp ngân hàng khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin, bằng cách sàng lọc các khách hàng đi vay và giám sát các khoản vay được cấp về mặt thực nghiệm, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh lợi ích

của việc đa dạng hóa thu nhập cùa các ngân hàng, và lập luận rằng ngân hàng đa dạng hóa tổt có thể thu được một sổ lợi ích từ tính kinh tế theo quy mô và phạm vi, cải thiện phân bố nguồn lực, giảm thiếu rủi ro ngân hàng và nâng cao khà năng cạnh tranh của các tô chức tài chính (Hunjra & cộng sự, 2020; Wang & Lin, 2021; Alouane

& cộng sự, 2021; Lopez-Penabad & cộng sự, 2021; Adem, 2022) Sinkey & Nash (1993) nhận thấy các ngân hàng thương mại chuyên cho vay bang the tín dựng có xác suất vờ nợ cao hơn so với các ngân hàng thương mại khai thác hồn hợp các sán phẩm

và dịch vụ Sanya & Wolfe (2011) nhận thấy việc đa dạng hóa các hoạt động tạo thu nhập lài và ngoài lài làm tăng lợi nhuận được điều chinh theo rủi ro và giám thiêu rủi

ro mất khá năng thanh toán cúa các ngân hàng ờ các nền kinh tế mới nôi Meslier & cộng sự (2014) chí ra đa dạng hóa thu nhập giúp tăng khá năng sinh lời được điều chinh theo rủi ro của các ngân hàng ở các nền kinh tể mới nỏi Wang & Lin (2021) nhận thấy các ngân hàng thuộc khu vực châu Ả Thái Bình Dương đối mặt rủi ro thấp hơn nếu được đa dạng hóa thu nhập tốt Gần đây, Adem (2022) đề xuất chiến lược đa dạng hóa thu nhập có thể cải thiện tính ồn định tài chính của hệ thống ngân hàng ờ

45 quốc gia trên thế giới, trong suốt các giai đoạn bình thường và khúng hoàng, xác

Trang 28

nhận lý thuyêt danh mục đâu tư Tóm lại, tấc giả kỳ vọng đa dạng hóa thu nhập sè lương quan cùng chiều đến tính ôn định cùa các ngân hàng.

H2: Đa dạng hóa thu nhập tương quan cùng chiêu đên tính ôn định ngân hàng Hàm ý rằng: Ngân hàng có chiến lược đa dạng hóa thu nhập càng cao (thấp) sè có tính ôn định của ngân hàng cao (thấp) hơn

3.2.3 Tính tập trung thị trường

Ọuan diêm “tập trung-ôn định*' dự đoán hô thống ngân hàng tập trung (được đặc trưng bởi một vài ngân hàng lớn chiếm lĩnh thị trường) sẽ ốn định hơn, vỉ các ngân hàng ờ các thị trường tập trung cao có thê sinh lợi nhiều hơn, đa dạng hóa tổt hơn (Diamond, 1984) và dề giám sát hơn (Allen & Gale, 2000), và do đó, có thẻ chịu đựng các cú sốc mà không bị sụp đô Lợi nhuận cao là điều kiện thuận lợi đê các ngân hàng xây dựng nguồn von đệm (capital buffer) nhằm bảo vệ và chổng lại các cú sốc tài chính bât lợi và tăng giá trị điêu lộ3 (charter value) của ngân hàng Giá trị điêu lệ cao làm giám hành vi chấp nhận rủi ro quá mức, làm giảm các vấn đề rủi ro đạo đức (Keeley, 1990; Hellmann & cộng sự, 2000)4 Ngân hàng có giá trị điều lệ cao có thế duy trì các giá trị này bằng cách hạn chế mức độ rủi ro (Shim, 2019) Mặt khác, các

lập luận lý thuyêt chí ra rằng trong các hệ thông ngân hàng ít tập trung hơn và cạnh tranh hơn, áp lực về lợi nhuận khiến các nhà quản lý ngân hàng nới lỏng việc sàng

lọc khách hàng đi vay, làm tăng nguy cơ đô vờ cùa ngân hàng (Allen & Gale, 2000

và 2004) Boyd & cộng sự (2004) nhận thây khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng ngân hàng trong thị trường độc quyền thấp hơn so với trong thị trường cạnh tranh Beck & cộng sự (2006) sử dụng dừ liệu từ 69 quốc gia và tìm thấy các cuộc khủng hoàng hệ thống ngân hàng ít có khá năng xáy ra hơn trong các hệ thống ngân hàng tập trung, phù hợp với quan diêm “tập trung-ôn định'’ Shim (2019) cũng thừa nhận tính tập trung ngân hàng tương quan ngược chiều đến rủi ro mất khá năng thanh toán của các ngân hàng Mỳ Gần đây, Tran & cộng sự (2022) khi quan sát 133 quốc gia phát tricn

và đang phát triên, cũng ùng hộ quan diêm “tập trung-ôn định”, theo đó, các ngân hàng hoạt động trong thị trường tập trung có xu hướng ôn định hơn so với trong thị trường ít tập trung hơn Từ các phát hiện trên, tác giả kỳ vọng sẽ quan sát thấy mối

’ Trong môi trường cạnh tranh hoàn hào lựi nhuận của các ngân hàng đêu bị cạnh tranh làm xói mòn, và vì vậy, cô đông cua ngân hàng chi có thê kiêm được mức lợi suâl băng với mức lợi suât cạnh tranh của đông vỏn

mà họ rót vào ngân hàng Trong trường hợp này, thị trường vốn định giá mồi đồng vốn chủ sờ hừu đúng bằng với giá trị sổ sách cùa nó Khi mỏi trường kinh doanh thay đôi, tính cạnh tranh suy giàm, các ngân hàng có thể kiêm được mức lợi nhuận bât thường từ vôn cua họ Hiện giá cua các đông lợi nhuận bât thường trong tương lai sè được tích lũy cho cò đông hiện hừu của ngân hàng và được biêu thị thông qua chênh lệch giừa giá trị thị trường và giá sô sách cua vôn chu sơ hừu Phân chênh lệch này chính là giá trị điêu lệ đà được nhiêu học gia nghiên cứu (Arping, 2019; Keeley, 1990; Niu 2012).

4 Theo quan điêm truyên thòng, giá trị điêu lệ và châp nhận rủi ro có môi quan hệ ngược chiêu (Keeley, 1990;

Marcus, 1984) Nguyên nhân là một khi ngân hàng bị phá san, ngân hàng SC mât toàn bộ giá trị đicu lệ, vì vậy

mà ngân hàng có giá trị điêu lẹ cao SC châp nhận rui ro thâp hơn đe tránh nguy cơ phá sán.

Trang 29

quan hệ cùng chiêu giừa mức độ tập trung thị trường và tính ôn định ngân hàng; hệ thong ngân hàng tập trung hơn sẽ nâng cao sức mạnh tài chính của ngân hàng.

H3: Tính lập trung thị trường tương quan cùng chiêu đên lính ôn định ngân hàng Hàm ý rằng: thị trường có tính tập trung càng cao (thấp) sẽ có lính ôn định của ngân hàng cao (thấp) hơn

Neu thị trường cho vay ngân hàng trớ nên ít tập trung hơn (cạnh tranh hơn), lợi

nhuận có thê bị giảm do các ngân hàng lính lãi suấl cho vay và phí dịch vụ thấp hơn

và dành nhiều nguồn lực hơn cho việc giám sát và điều phổi các hoạt động tạo lãi và ngoài lãi Hughes & Mester (1998) gợi ý các ngân hàng lớn hơn và đa dạng hỏa hơn

có thê tận dụng lợi ích cùa việc giám chi phí biên của quàn lý rủi ro (do quy mô lớn

và đa dạng hóa mang lại) và chấp nhận rúi ro quá mức Demsetz & Strahan (1997) khăng định các ngân hàng lớn sứ dụng lợi thô đa dạng hóa đô hoạt động với đòn bây lớn hơn và tăng rủi ro cho vay Các ngân hàng lớn đa dạng hóa có khá năng nhận được khoán trợ cấp ròng lớn hơn từ chính phu, vì các nhà quán lý chính sách lo ngại

về hậu quà kinh tế vì mô tiềm tàng nếu các ngân hàng lớn đổ võ' (O'Hara & Shaw, 1990) Điêu này có thê tạo ra động cơ khuyên khích các nhà quán lý ngân hàng tham gia vào các ngành kinh tế và các hoạt động phi truyền thống rui ro cao, và cuối cùng

làm tăng tính mong manh lài chính của hệ thống ngân hàng Hàm ý ràng các ngân hàng càng đa dạng hóa trong thị trường tập trung sẽ càng giảm tính ôn định

Hơn nữa, hệ thống ngân hàng tập trung giúp tăng cường sức mạnh thị trường, cho phép các ngân hàng quy mô lớn và đa dạng hóa tôt thiêt lập lãi suât cho vay cao hơn; điều này khiến khách hàng đi vay tham gia vào các hoạt động rủi ro hơn, đến lượt, các khoán nợ xấu có thể tăng lên, dần đen xác suất vờ nợ cao hơn (Boyd & De

Nicoló, 2005) Carnal & Matutes (2002) lưu ý rằng cạnh tranh ít hơn (mức độ tập trung cao hơn) có thể dần đến các ngân hàng giảm xếp hạng tín dụng và cung cấp các khoân vay lớn hơn, làm tăng xác suất ngân hàng gặp thất bại Từ đỏ càng củng cố cho giả thuyết, các ngân hàng đa dạng hóa trong thị trường tập trung hơn có thể có tính

ôn định tài chính thâp hơn so với các ngân hàng đa dạng hóa trong thị trường ít tập trung hơn Từ đây, tác giá đề xuất giá thuyết nghiên cứu sau đây:

H4a: Tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đên tính ôn định ngân hàng

có quan hộ ngược chiều với mức độ tập trung thị trường Hàm ý rằng: trong thị trường tập trung cao, việc đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ làm giám tính ổn định ngân hàng

H4b: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đen lính ôn định ngân hàng có quan

hệ ngược chiêu với mức độ tập trung thị trường Hàm ý răng: trong thị trường tập trung cao, việc đa dạng hóa thu nhập sỗ làm giám tính ôn định ngân hàng

Trang 30

3.2.4 Quy mô ngân hàng

Mối quan hệ giừa quy mô tài sàn và tính ôn định ngân hàng có thê được giâi thích thông qua nhiều lý thuyết khác nhau, chăng hạn lý thuyết đại diện Jensen và Meckling (1976) lập luận rằng các nhà quản lý và chủ sờ hữu của tô chức theo đuôi các mục tiêu không giống nhau trong quá trinh điều hành tô chức Nói cách khác, lý

thuyết đại diện cho rằng các hành động và quyết định cúa nhà quản lý có thê lệch khôi quỳ đạo và hướng đôn mục đích tư lợi cá nhân Theo đó, quy mô tô chức tăng lên xuất phát từ viộc xây dựng đế chế quán lý, do đỏ, các tố chức quy mô lớn thường

đi kèm với năng lực quan trị yếu kém Gabaix & Landier (2008) báo cáo các nhà quan

lý trong các lổ chức lớn thường có ý định hường các lợi ích cá nhân hoặc các khoản thù lao quá mức Dựa trên các thảo luận trên, lác giả có thể kỳ vọng mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô tài sán và tính ốn định ngân hàng; vấn đề đại diện có thê phát sinh ờ các ngân hàng lớn, có thế dần đến tính phi kinh tế theo quy mô (diseconomies of scale) Trái ngược với lý thuyêt đại diện, lý thuyêt quán lý (stewardship theory) dự đoán mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và tính ôn định ngân hàng (Ali & Puah, 2018) Donaldson & Davis (1991) và Davis & cộng sự (1997) gợi ý răng các nhà quán lý là đáng tin cậy và sứ dụng hợp lý các nguôn lực của tô chức Lý thuyết quản lý lập luận các nhà quản lý theo đuôi và hoàn thành nhiệm vụ được giao phó mà không quan tâm các phần thướng cá nhân bô sung (Etzioni, 1975) Ngoài ra, khi các nhà quản lý dự kiến các lợi ích cá nhân và tương lai của mình (việc làm, thăng chức, lương hưu, v.v.) thuận lợi, khi đó, các nhà quản lý và cô đỏng cùng chung mục tiêu là tối đa hỏa hiộu quá hoạt động của lố chức Do đó, khác với lý

thuyết đại diện, diêm mấu chốt của lý thuyết quân lý là các nhà quán lý ít quan tâm nhất đến lợi ích cá nhân và tập trung nhiều hơn vào hiệu quà hoạt động tỏ chức (Ali

& Puah, 2018) Ngoài ra, tính kinh tể theo quy mô (economies of scale) có thẻ được các ngân hàng lớn khai thác, điều này làm tăng khả năng sinh lời cua ngân hàng (Adusei, 2015), giúp các ngân hàng tạo được nguồn vốn đệm và gia tăng tính ổn định tài chính của hệ thông ngân hàng, giúp chông chọi truớc các cú sôc bât lợi từ môi trường kinh doanh Ngoài ra, các bằng chứng thực nghiệm hầu như nghiêng về hướng tương quan cùng chiều của quy mô đen tính ôn định tài chính của các ngân hàng Chăng hạn, Shim (2019) xác nhận quy mô tài sán tương quan cùng chiều đến chỉ số Z-score của các ngân hàng Mỳ; Ali & Puah (2018) nhận định các ngân hàng Pakistan lớn hơn có tính ôn định tài chỉnh cao hơn; Adem (2022) khi quan sát cho các thị trường ngân hàng châu Phi cùng thừa nhận úng hộ lý thuyết quân lý, rằng quy mô tài sản tương quan cùng chiều đen sự lành mạnh hệ thống tài chính

Trang 31

Theo đó, tác giâ sử dụng các lý thuyêt ủng hộ môi quan hệ cùng chiêu giừa quy

mô tài sán và mức độ ôn định của ngân hàng Từ đó, tác giá đặt ra giả thuyết nghiên cứu sau:

H5: Quy mô tài sán tương quan cùng chiều đến tính ôn định ngân hàng Hàm ý rằng: Ngân hàng có quy mô tài sán càng lớn (nhỏ) sẽ có tính ôn định của ngân hàng càng cao (thấp)

3.2.5 Tính không hiệu quả chi phí

Tính không hiệu quá chi phí (cost inefficiency) có thế được sử dụng làm biến kiêm soát đê phân tích ành hường của tính hiệu quá hoạt động (operational efficiency) đến sự ôn định tài chính cúa các ngân hàng Ngoài ra, tính không hiệu quá chi phí đo lường mức độ hiệu quả và hiệu suất của ngân hàng trong việc quàn lý các nguôn lực cúa mình (Kusi & cộng sự, 2020) Nhiều nghiên cứu ủng hộ tính không hiệu quá chi phí tương quan ngược chiêu đôn tính ôn định ngân hàng, cũng như cùng chiêu đen rủi ro ngân hàng (Berger & Deyoung, 1997; Boukhatem & Djelassi, 2020; Amran & Ahmad, 2022) Theo giá thuyết “quản lý kém", do năng lực quán lý yếu kém, các ngân hàng kém hiệu quá có thê không ngăn cán được sự phát sinh quá mức của chi phí hoạt động, xuất phát từ việc sàng lọc, đánh giá cũng như giám sát khách hàng đi vay thiếu chặt chẽ; điều này dần đến rủi ro ngân hàng tăng cao (Berger & Deyoung, 1997) Ngoài ra, giá thuyết “kém may mắn" lập luận rằng các nhà quán lý phái nồ lực gâp nhiêu lân đe vực dậy ngân hàng thoát ra khói các sự kiện không thê dự đoán (chăng hạn khủng hoàng kinh tế), vôn làm suy kiệt tính ôn định cũng như chất lượng tài sán của các ngân hàng, dần đen chi phí hoạt động tăng thêm Thêm nừa, theo giả thuyết “chi phí tiết kiệm" (skimping costs hypothesis), các ngân hàng giám chi phí hoạt động băng cách giảm tái các hoạt động giám sát đê thu hút hiệu quá hoạt động ngắn hạn, dần đen chất lượng tín dụng xấu đi và rùi ro gia tăng (Adem, 2022) Theo Boukhatem & Djelassi (2020), các ngân hàng không đạt được tính hiệu quá chi phí ờ

A rập Saudi có nhiêu nguy cơ phải đôi mặt với tình trạng đô vờ tài chính bât kê ngân hàng Hồi giáo hay truyền thống Điều này là do các ngân hàng quản lý tốt nguồn lực của minh, đồng thời duy trì thu nhập cao mặc cho phải gánh chịu chi phí quàn lý cao

Do đỏ, tính không hiệu quá chi phí càng cao (hiệu quà sử dụng chi phí càng thấp) sẽ dần đến tính ôn định ngân hàng càng thấp Tương tự, Adem (2022) khi quan sát cho

45 quốc gia châu Phi cũng thừa nhận việc đạt được mửc độ hiệu quả chi phí cao giúp nâng cao đáng kế tính ồn định ngân hàng Lưu ý rằng, tính hiộu quá chi phí thấp đi đôi với tính không hiệu qua chi phí (cost inefficiency) cao (Berger & Deyoung, 1997);

do đó, tác giả kỳ vọng tính không hiệu quả chi phí tương quan ngược chiều đến tính

ôn định ngân hàng Từ các lập luận kể trên, tác giá xây dựng gia thuyết nghiên cứu sau:

Trang 32

H6: Tính không hiệu quả chi phí tương quan ngược chiêu đẻn tính ôn định ngân hàng Hàm ý rằng: Ngân hàng có mức độ không hiệu quả chi phí càng thấp (cao) hiệu quá sẽ có lính ổn định cúa ngân hàng càng cao (thấp).

3.2.6 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế (tăng trường GDP) là yếu tố quan trọng ảnh hường đên tính

ồn định của hệ thống ngân hàng Nhìn chung, tăng trường GDP, thế hiện sự cải thiện

về điều kiện kinh tế và mức sống của người dân, sè có tương quan cùng chiều với lính ôn định ngân hàng (Adem, 2022) Suy giảm tốc độ tăng trường GDP sè góp phần gây ra hiệu ứng suy thoái đến các khoán cho vay và tiền gừi ngân hàng, điêu này thực

sự SC có tương quan ngược chiều đến tính ôn định ngân hàng Nghiên cứu được thực hiện bời Kaminsky & Reinhart (1999) khăng định các cú sôc suy giám sãn lượng ảnh hường bất lợi đến toàn bộ nền kinh tế sẽ làm tăng nợ xấu của các ngân hàng và gây

ra khủng hoảng ngân hàng Gorton (1988) nhận thấy các cú sốc bất lợi tác động toàn

bộ nền kinh tế đến lượt ảnh hướng đen khá năng thanh toán cùa các khách hàng đi vay; trong tình huông các ngân hàng đang đôi mặt với nhiêu khó khăn, hoạt động tín dụng trờ nên kém hiệu quá, và chất lượng danh mục đầu tư trở nên xấu đi, làm tăng rui ro cùa ngân hàng Thêm nừa, Fofack (2005); Jimenez & cộng sự (2009); Rajan & Dhal (2003); Kusi & cộng sự (2020); Adem (2022) lập luận rằng sự cái thiện trong điều kiện kinh tế sè tăng cường khả năng trả nợ cúa khách hàng đi vay, dẫn đến rủi

ro tín dụng thấp hơn; điều này dẫn đến sự ốn định của các ngân hàng trên thị trường tín dụng Do đó, tác giá kỳ vọng tính ốn định của các ngân hàng sẽ được cãi thiện trong điều kiện nền kinh tể tăng trương Từ đây, tác gia đề xuất già thuyết nghiên cứu sau đây:

H7: Tăng trưởng kinh tế tương quan cùng chiều đến tính ôn định ngân hàng

3.3 Mô hình nghiên cứu

3.3.1 Phương trình hồi quy

Nghiên cứu hiện tại nham mục đích đánh giá tác động cửa các chiến lược đa dạng hóa danh mục cho vay và thu nhập cùng tính tập trung thị trường đến tính ồn định của hệ thống ngân hàng thương mại Đồng thời, tác giả cũng đề cập vai trò của tính tập trung thị trường trong việc định hình mối liên kết đa dạng hóa-tính ôn định ngân hàng Tác gia dựa vào nghiên cứu gần đây của Shim (2019) và Adem (2022) nhăm xây dựng mô hình nghiên cứu Với các mục tiêu đan xen nhau và nhăm tăng tính vững của các phát hiện, tác già xây dựng 3 mô hình hồi quy khác nhau, có dạng tổng quát như sau:

• Mô hình 1: Phân tích tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay và tính tập trung thị trường đến tính ôn định ngân hàng:

Trang 33

zit = a + piPortDIVit 4- p2MCt

+ p3(PortDIVit X MCt) 4- ^ pkcontrolit + £it (3.1)

• Mô hình 2: Phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập và tính tập trung thị

trường đến tính ôn định ngân hàng:

zit = a 4- PJncomeDIVit 4- p2MCt

4- p3(IncomeDIVit X MC ) + ^ pkcontrolit + £it (3.2)

• Mô hình 3: Phân tích tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay và thu nhập cùng tính tập trung thị trường đến tính ôn định ngân hàng:

4 = ữ + piPortDIVjt 4- P2IncomeDIVit 4- p3MCt

4- p4(PortDIVịt X MCt) 4- p5(IncomeDIVit X MCt) 4- ^ pkcontrolit 4- £ịt (3.3)

trong đó, z là tính ôn định ngân hàng; PortDIV là đa dạng hóa danh mục cho vay; IncomeDIV là đa dạng hóa thu nhập; MC là tính tập trung thị trường; PortDIV X MC

là biến tương tác giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và tính tập trung thị trường (đại diện cấu trúc thị trường); IncomeDIV X MC là biến tương tác giữa đa dạng hóa thu

nhập và tính tập trung thị trường; control là vectơ các biến kiểm soát; a là hằng số;

p là hệ số hôi quy; và £ là số hạng sai sổ Như đà lập luận trước đó, các chiên lược đa dạng hóa giúp ngân hàng giám thiểu rủi ro phi hệ thong và đạt được tính kinh tế theo phạm vi (economies of scope) và quy mô (economies of scale) (Berger & cộng sự, 2010; Chandramohan & cộng sự, 2022; Wang & Lin, 2021); do đó, các hệ số của biến PortDIV và IncomeDlV đều được kỳ vọng là dương Ngoài ra, hệ sổ của biến

MC được dự đoán sẽ dương, ùng hộ quan diêm “tập trung-ôn định”; các ngân hàng ờ các thị trường tập trung cao có thê sinh lợi nhiều hơn, thuận lợi cho việc xây dựng nguồn vốn đệm nham bào vộ và chống lại các cú sốc tài chính bất lợi và lăng giá trị điều lệ, và làm giám hành vi chấp nhận rủi ro quá mức (Keeley, 1990; Shim, 2019) Bên cạnh đó, các ngân hàng đa dạng hóa ờ các thị trường ít tập trung (cạnh tranh cao)

có khả năng ôn định hơn về mặt lài chính so với các ngân hàng ở các thị trường tập trung cao (ít cạnh tranh) (Meulia & Chalid, 2021); do đó, hệ sổ của biến tương lác PortDIV X MC và IncomeDIV X MC được kỳ vọng mang dấu âm Dựa theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Ali & Puah, 2018; Shim, 2019; Liang & cộng sự, 2020; Adem, 2022), các biển kiêm soát bao gồm quy mô tài sán (SIZE), tính không hiệu quả chi phí (INEF) và tăng trưởng kinh tế (GDP) Mặc dù có nhiều yếu tố khác

có thể ánh hường đến tính ốn định và rúi ro ngân hàng, nhưng đặc thù mẫu dừ liệu tương đôi nho (27 đơn vị ngân hàng trong giai đoạn 11 năm); điêu đỏ buộc lòng tác giả đề cập vai trò kiếm soát của 3 yểu tố, trong đó có 2 yếu tổ đặc thù ngân hàng (quy

Trang 34

mô tài sán và tính không hiệu quà chi phí) và 1 yêu tô kinh tê vĩ mô (tăng trường kinh tế) Mô hình 3 chứa đến 5 biến độc lập (3 biến hồi quy đơn và 2 biến tương tác) Như vậy, tác giá trình bày lại các mô hình nghiên cứu ờ dạng đay đu như sau:

• Mỗ hình 1:

zit = a 4- piPortDIVit 4- p2MCt 4- p3(PortDIVit X MCt)

+ p4SIZEit 4- p5lNEFit 4- p6GDPt 4- £it (3.4)

• Mô hình 2:

zit = a 4- PJncomeDlVit 4- p2MCt 4- p3(IncomeDIVit X MCt)

4- P4SIZEit 4- p5INEFit 4- P6GDPt 4- £it (3.5)

• Mô hình 3:

zit = a 4- PiPortDIVjt 4- p2IncomeDIVit + PsMCt 4- P4(PortDIVit X MCt)

4- p5(IncomeDIVit X MCt) 4- p6SIZEit 4- P7INEFit 4- p8GDPt 4- £it (3.6) trong đó, SIZE là quy mô tài sàn ngân hàng; INEF là lính không hiệu quà chi phí; GDP

là tăng trương kinh tế; và các biến còn lại được xác định như trên

3.3.2 Cách xây dụng các biến nghiên cứu

3.3.2.1 Tính ôn định ngân hàng

Trong các nghiên cứu thực nghiệm của Laeven & Levine (2007); Lepetit & cộng

sự (2008); Fu & cộng sự (2014), chỉ số Z-score, đơ lường khoảng cách đến vờ nợ (distance to default), được sừ dụng chù yếu đe ước lính gần đúng mức độ ôn định của ngân hàng Sau nghiên cửu nôi bật cúa Stiroh (2004), chí sổ Z-score được sử dụng rộng rài trong tài liệu thực nghiệm vê ngân hàng đê ước tính tính ôn định hay sự lành mạnh tài chính (Chiorazzo & cộng sự, 2008; Hsieh & cộng sự, 2013) Sự phô biến cùa thước đo này bắt nguồn từ tính vững và dề sừ dụng; tuy nhiên, một điểm yểu của thước đo này là việc mất các quan sát ban đầu do áp dụng phương pháp mô-men Irượt (Lepetit & Strobel, 2014) Thước đo Z-score được xây dựng dựa trên nghiên cứu đầu tiên của Roy (1952), đánh giá khoáng cách đến nguy cơ ngân hàng mất khá năng thanh toán, xáy ra khi thua lồ vượt quá (lớn hơn) nguồn vốn Chi sổ Z-score ước lính xác suât nghịch đảo của vờ nợ (inverse probability of default) của các ngân hàng ở cấp độ riêng lẻ; do đó, chi số Z-score tăng là dấu hiệu cho thấy tỷ lệ vờ nợ thấp, và các ngân hàng ôn định hơn về mặt tài chính (Schaeck & Cihak, 2010) về mặt tính toán, chi số Z-score được đo lường bằng ty sổ lợi nhuận ròng trên tài sán (ROA) cộng với tỷ sô vôn chủ sờ hữu trên tài sàn chia cho độ lệch chuân của tỳ sô ROA; cụ thê,

z — score = (ROA 4- E/A)/ơ(R0A); trong đó, ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sán của ngân hàng, đại diện khả năng sinh lời, E/A là tý sổ vốn chu sờ hừu trên lông lài sản, đại diện cho số nhân von (capital multiplier) hoặc đòn bây tài chính, và

Trang 35

ơ(ROA) là độ lệch chuẩn của tỳ số ROA, đại diện cho sự biến động cùa lợi nhuận

Với cách xác định trên, chỉ sổ Z-score so sánh nguồn vốn đệm và lợi nhuận cua ngân

hàng với sự biên động của lợi nhuận (Boyd & cộng sự, 1993; Boyd & Runkle, 1993) Thời gian qua, nhiều nghiên cứu sử dụng thước đo Z-score thay đôi theo thời gian (Sissy & cộng sự, 2016; Shim, 2019; Chandramohan & cộng sự, 2022) Lý do là hồ

sơ rủi ro cua ngân hàng có thế thay đôi theo thời gian do các thay đổi trong cấu trúc vốn và hành vi cho vay (Lepetit & Strobel, 2013) Bên cạnh đó, Schaeck & Cihak (2010) cho rằng các biến động về mức vốn và khá năng sinh lời có thể dần đến các biến động theo thời gian cùa chi sổ Z-score Thực tế, có nhiều quan điếm khác nhau

vê việc xây dựng thước đo Z-score thay đôi theo thời gian; tuy nhiên, hiện vân chưa

có sự đồng thuận nào vê cách xây dựng tối ưu trong các tài liệu thực nghiệm Dựatheo nghiên cứu cúa Chandramohan & cộng sự (2022); Ragnhildstveit & Silver (2019), tác giả xây dựng chi sổ Z-score thay đồi theo thời gian bằng cách sau: sử dụng các giá trị kỳ hiện tại của tỷ số vốn chủ sờ hừu trên tài sản cộng với trung bình động (moving average) cùa tỷ số ROA trong 3 năm chia cho độ lệch chuân của tý số ROA trong 3 năm Ngoài ra, nham giám thiêu ánh hường từ độ lệch (skewness) cao của thước đo, tác giá sử dụng giá trị logarite của chi sô Z-score (tham khảo Shim 2019; Chandramohan & cộng sự, 2022) Như vậy, công thức xác định tính ôn địnhngân hàng như sau:

Zit = log v 1 u M ' Tông tài sảnit

ơ(R0Ajt, ROAự-p ROAj t_2)

3.3.2.2 Đa (lạng hóa danh mục cho vay

Đa dạng hóa danh mục cho vay đề cập đến sự phân tán dư nợ cho vay của ngân hàng giừa các ngành kinh tế khác nhau (Seho & cộng sự, 2021) Việc mờ rộng các khoán vay và lài trợ cho bất kỳ ngành kinh le nào là sự lựa chọn của lừng ngân hàng

Đê đo lường sự đa dạng hóa danh mục cho vay, tác giả dựa theo các nghiên cứu cùa Acharya & cộng sự (2006); Tabak & cộng sự (2011), bằng cách sử dụng chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) và Shannon Entropy (SE) Trước khi trình bày cách tỉnh toán các thước đo đa dạng hóa, tác già biêu thị tỳ trọng đóng góp của ngành kinh

tế s trong danh mục cho vay của ngân hàng i tại thời diêm như sau:

Dư nợ cho vay của ngànhsitsit Tổng dư nợ cho vayit

khi đỏ, chí sổ Herfindahl-Hirschman (HH1) được xác định là tông bỉnh phương cúa các các tỷ trọng đóng góp dư nợ cho vay của ngành kinh tế, và được công thức hóa

như sau:

Trang 36

HHlit = y rtit

S=1

chỉ sổ HHI có thẻ nhận giá trị tối đa là 1 nếu tất cả các khoản vay được câp cho I

ngành kinh tế duy nhất; điều này có nghĩa là sự tập trung danh mục cho vay hoàn toàn Ngược lại, chi so HH1 càng thấp chứng tỏ ngân hàng càng đa dạng hóa Neu ngân hàng có tý trọng tài trợ cho từng ngành kinh tế như nhau, chỉ sổ HHI bàng 1/n,

và điều này có nghía là danh mục cho vay được đa dạng hóa hoàn toàn Tuy nhiên,

sư dụng thước đo HHI vào phân tích thực nghiệm SC gây trờ ngại cho viộc phân tích,

do đó, tác giá xây dựng thước đo đa dạng hóa danh mục cho vay sau điều chỉnh, bang cách lấy 1 trừ cho chỉ số HHI (Shim, 2019; Seho & cộng sự, 2021):

là danh mục cho vay được đa dạng hóa hoàn toàn Tóm lại, các thước đo PortDIVl

và PortDIV2 càng cao hàm ý danh mục cho vay càng đa dạng hóa (Scho & cộng sự, 2021) Đe xây dựng được các thước đo PortDlVl và PortDIV2 cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vân đê cân quan tâm là việc phân loại ngành kinh tê Dựa

vào đề xuất cùa Huỳnh Japan (2019), tác già tập trung vào thuyết minh báo cáo tài chính và đồng thời sắp xếp lại hệ thống ngành gồm có: (1) Thương mại; (2) Nông, lâm nghiệp; (3) Sán xuất và gia công chế biến; (4) Xây dựng; (5) Dịch vụ cá nhân và cộng đồng; (6) Kho bãi, giao thông vận tái và thông tin liên lạc; (7) Giáo dục và đào tạo; (8) Tư vấn và kinh doanh bất động sản; (9) Nhà hàng và khách sạn; (10) Dịch vụ

Trang 37

tài chính; và (11) Các ngành nghê khác Lý do chọn 10 ngành và 1 nhóm các ngành khác vừa nêu làm cơ sờ phân ngành xuất phát từ: (1) Thứ nhất, các ngân hàng Việt Nam có cách phân loại không thống nhất, có ngân hàng phân theo bộ tiêu chuẩn ngành cúa Chính phủ ban hành (quyết định sổ 27/2018/QĐ-TTg của Thú tướng Chính phu) nhưng cũng có nhưng ngân hàng chi phân theo nhừng ngành chính Tuy nhiên có 10 ngành là nhừng ngành chiêm tỷ trọng lớn nhât ờ các ngân hàng Ngành thứ 11 là “các ngành khác" với 2 già định theo Achayra & cộng sự (2006): (i) Được xem như một ngành độc lập, riêng biệt; (ii) Các phụ ngành, phân ngành con trong đó được phân chia đều Giả định này không ảnh hường nhiều đến kêt quả nghiên cứu khi các ngành chính chiếm đại đa số dư nợ cho vay (2) Thử hai, có nhiều ngân hàng lựa chọn phân chia theo 11 cơ sớ ngành chủ đạo này (3) Thứ ba, việc phân chia lại các ngành cho phù hợp với thực tê tại các quôc gia đà được các tác giá khác áp dụng trên thế giới, có thê kê ra như Achayra & cộng sự (2006) chì chọn 6 ngành trong khi hệ thống phân ngành cùa Italia gồm có 23 ngành, hay Chen & cộng sự (2014) chì chọn

9 ngành trong khi tại Trung Quốc có tiêu chuẩn 13 ngành áp dụng rộng rãi Trong bổi cảnh danh mục được phân chia có số lượng ngành được lựa chọn có nhiều hơn sè dần đến việc tính toán chỉ số đa dạng hóa có hiệu quá hơn và phản ánh tính chất đa dạng hoấ tốt hơn Khi việc phân sổ lượng ngành ít, dề dẫn đen việc các ngành không được phân loại đại diện dề bị tương quan với nhau đần đen kêt quả của thước đo đa dạng hóa thiếu tin cậy hơn

3.3.2.3 Đa dạng hóa thu nhập

Trong nghiên cửu này, hoạt động đa dạng hoá thu nhập được xem xét dựa trên cấu trúc thu nhập ngân hàng, bao gồm thu nhập lãi và ngoài lài Neu nguồn thu cùa ngân hàng cỏ được duy nhất từ lăi (hoặc ngoài lãi) được gọi là tập trung, nhưng nếu nguồn thu có được từ hồn họp thu nhập lãi và ngoài lãi được gọi là đa dạng hoá thu nhập (Rose & Hudgins, 2008) Theo Wu & cộng sự (2020), đa dạng hóa thu nhập được đại diện bới tỷ sổ thu nhập ngoài lãi trên tông thu nhập hoạt động thuần (tức là thu nhập lãi cộng với thu nhập ngoài lãi), điều này cho thấy mức độ các ngân hàng

mờ rộng thu nhập cua mình sang hoa hồng, phí dịch vụ, thu nhập uy thác, thu nhập giao dịch và các khoản phí khác Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chi trích cách đo lường

đa dạng hóa thu nhập này, vì nếu tý sổ này càng tăng và đạt giá trị lớn nhất là 1, ngân hàng hoàn toàn chi kiếm được thu nhập ngoài lài, và điều này cho thấy ngân hàng tập trung hóa hoàn toàn nguồn tạo thu nhập (Shahriar & cộng sự, 2023) Do đó, dựa theo các nghiên cửu trước đây (Abuzayed & cộng sự, 2018; Liang & cộng sự, 2020; Shahriar & cộng sự, 2023), mức độ đa dạng hóa thu nhập cúa ngân hàng được đại diện bời chỉ sô Herfindahl-Hirschman sau điêu chỉnh Công thức xác định như sau:

Trang 38

đa dạng hóa là tối thiêu và tông thu nhập được tạo ra hoàn toàn thông qua 1 nguồn duy nhât, giá trị HHI sè băng 0 Sự đa dạng hóa hoàn toàn (HHI = 6/7) xây ra khi các nguồn tạo thu nhập đỏng góp bằng nhau vào tông thu nhập Nhìn chung, giá trị HHI càng cao (càng gần bằng 6/7), mức độ tạo ra hồn họp thu nhập càng đa dạng Bên cạnh đó, nhằm kiêm tra tính vừng, tác giả cũng sử dụng thước đo đa dạng hóa thu nhập khác, là chỉ so Shannon Entropy (SE) Cách tính của thước đo này như sau:

n

IncomeDIV2it = — ^Xjit * ln(xjjt)

nếu chỉ sổ IncomeĐIV2 bằng 0, điều đó có nghía là ngân hàng tập trung hóa thu nhập hoàn toàn; trong khi chỉ sổ IncomcDIV2 bằng ln(7) có nghĩa là nguồn tạo thu nhập được đa dạng hóa hoàn loàn Tóm lại, các thước đo IncomeDIVl và lncomeDIV2 càng cao hàm ý ngân hàng càng đa dạng hóa thu nhập

3.3.2.4 Tính tập trung thị trường

Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa đạt được sự đồng thuận về thước đo đo lường tính cạnh tranh của thị trường Mức độ cạnh tranh của tô chức kinh doanh không thế quan sát trực tiếp được, do một sổ yếu tổ vô hình như phán ứng của tố chức trước các hoạt động của đổi thủ cạnh tranh và chi phí cụ thê cua sản phẩm mà lố chức cung cấp (Tabak & cộng sự, 2012) Mức độ cạnh tranh được đo lường thông qua nhiêu phương pháp khác nhau, và chú yếu được phân loại thành 2 nhóm, là câu trúc

và phi cấu trúc Dựa theo các nghiên cứu gần đây (Shim, 2019; Arif & Awwaliyah, 2019; Grubisic & cộng sự, 2022), tác giá sứ dụng thước đo cấu trúc (structure measure), là chi sô Herfindahl-Hirschman thị trường, đe do lường tính tập trung thị

trường (hay tính cạnh tranh thị trường) Chỉ số HHI được tính toán bằng tông bình

Trang 39

phương thị phân của các ngân hàng riêng lẻ trong thị trường tài chính Cách tiêp cận này xuất phát từ lập luận sự cạnh tranh bắt nguồn từ cấu trúc thị trường (Bikker & Haaf, 2002; Khan & cộng sự, 2017) Giá trị chí sổ HHI thấp hơn cho thấy thị trường

ít tập trung hay sức mạnh thị trường thấp, và chơ thấy sự cạnh tranh cao (Ijtsma & cộng sự, 2017) Trong nghiên cửu này, chi sô HHI thị trường (ký hiệu MC) được xác định dựa vào tỷ trọng đóng góp dư nợ cho vay trong tông dư nợ cho vay của các ngân hàng (Arif & Awwaliyah, 2019; Grubisic & cộng sự, 2022) Công thức xác định như sau:

1 \Tổng dư nợ cho vay của các ngân hàngt/

i=ibien MC cao cho thấy thị trường lập trung hơn, trong khi MC thấp cho thấy thị trường kém tập trung hơn Ngoài ra, phạm vi giá trị của chi sô HHI thị trường (biên MC)

nằm trong khoảng từ 1/27 đến 1, mô tả sự cạnh tranh hoàn toàn đến sự độc quyền (tập trung hoàn loàn) Như vậy, các biến tương tác giừa đa dạng hóa danh mục cho vay

và tính tập trung thị trường (PortDIV X MC) và giữa đa dạng hóa thu nhập và tính tập trung thị trường (IncomeDIV X MC) được xác định đơn giàn là phép nhân giữa các biến số

3.3.2.5 Cấc yếu tố kiểm soát

Trong nghiên cứu này, tác giá sử dụng 3 yếu tố kiêm soát tính ôn định ngân hàng, gồm 2 yếu tố đặc thù ngân hàng là quy mô tài sán và tính không hiệu quá chi phí, và 1 yếu tổ kinh tế vì mô là tăng trường kinh tể Tông hợp từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đỏ, quy mỏ tài sán được đo lường bởi logarite giá trị tông tài sán của ngân hàng (Ali & Puah, 2018; Shim, 2019); trong khi tính không hiệu quá chi phí được xác định bời tỷ sổ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động (Adem, 2022; Boukhatem & Djelassi, 2020) Cuôi cùng, tỏc độ tăng trường GDP thực của Việt Nam hàng năm được sử dụng đẻ đạị diện tăng trường kinh tế (Kusi & cộng sự, 2020; Adem, 2022) Công thức xác định chi tiổt như sau:

(I) Qu y mô ngăn hàng: được đo lường bới logarite tông tài sàn, công thức như sau:

SIZE = Log(Tổng tài sản)

(2) Tính không hiệu quả chi phí: được đo lường bời tỷ số giừa chi phí hoạt động và thu nhập hoạt động, công thức như sau:

Chi phí hoạt động1NEF = ’ —-

* Thu nhập hoạt động

Trang 40

(3) Tăng trưởng GDP thực (%/nănt): Tốc độ tăng trường GDP thực của Việt Nam hàng năm được sừ dụng đê đại diện tăng trường kinh tế (Kusi & cộng sự,

2020; Adem, 2022)

Ngày đăng: 13/04/2025, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu - Tác Động của Đa dạng hóa danh mục cho vay, Đa dạng hóa thu nhập và mức Độ tập trung thị trường Đến tính Ổn Định ngân hàng thương mại Ở việt nam
Bảng 4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 4.4. Kết quả hồi quy GMM hệ thống cho phần tích tính vững - Tác Động của Đa dạng hóa danh mục cho vay, Đa dạng hóa thu nhập và mức Độ tập trung thị trường Đến tính Ổn Định ngân hàng thương mại Ở việt nam
Bảng 4.4. Kết quả hồi quy GMM hệ thống cho phần tích tính vững (Trang 57)
Bảng 4.5. Kết quả hồi quy FGLS cho phân tích tính vũng - Tác Động của Đa dạng hóa danh mục cho vay, Đa dạng hóa thu nhập và mức Độ tập trung thị trường Đến tính Ổn Định ngân hàng thương mại Ở việt nam
Bảng 4.5. Kết quả hồi quy FGLS cho phân tích tính vũng (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w