học tập và nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật về tài nguyên và môi trường, tác giả đã biên soạn tập bài giảng “ Luật và chính sách môi trường”, với nội dung liên quan đến những
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TS Lê Hồng Thía ThS Nguyễn Thị Hàng
BÀI GIẢNG
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
Trình độ: Đại học Ngành: Quản lý Tài nguyên và môi trường, Công nghệ Môi trường,
Quản lý đất đai Môn: Luật và chính sách môi trường Thời lượng giảng dạy: 30 tiết
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây hiện tượng vi pha ̣m pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ môi trường vẫn diễn ra phổ biến vớ i tính chất và mức đô ̣ khác nhau; môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp đến mức báo động, thực tra ̣ng ô nhiễm và suy thoái môi trường ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ môi trường là mô ̣t công cu ̣
hữu hiê ̣u để quản lý và bảo vê ̣ môi trường Trong thời gian qua, pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ môi trường ở nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiê ̣n góp phần quan tro ̣ng vào việc điều chỉnh các quan hê ̣ xã hô ̣i liên quan trực tiếp tới lĩnh vực môi trường Thực tiễn đã cho thấy vi ̣ trí, vai trò của pháp luâ ̣t đối với sự nghiê ̣p bảo vệ môi trường
là công cu ̣ đảm bảo thực hiê ̣n cho các biê ̣n pháp bảo vê ̣ môi trường khác Chính vì tầm quan trọng đó nên môn học Luật và chính sách Môi trường đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường đại học của các nước và Việt Nam
Để phục vụ cho công tác giảng dạy học tập và nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật về tài nguyên và môi trường, tác giả đã biên soạn tập bài giảng “ Luật và chính sách môi trường”, với nội dung liên quan đến những vấn đề pháp lý về môi trường quốc tế và Việt Nam liên quan đến khái niệm, sự phát triển của pháp luật môi trường, hệ thống cơ quan quản lý về môi trường, cũng như các quy định về bảo về môi trường đất, nước, không khí, khoáng sản, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học Bên cạnh đó, bài giảng còn giới thiệu về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại và tố cáo
về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, một số chính sách môi trường ở Việt Nam, chiến lược, kế hoạch bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Tập bài giảng này không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Tác giả mong nhận được sự góp ý của những người nghiên cứu, giảng dạy, các sinh viên
để tác giả tiếp tục chỉnh lý làm cho bài giang được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
Nội dung cần nắm vững trong chương 1
1 Trình bày được hệ thống văn bản QPPL và các cơ quan có thẩm quyền ban hành từng loại văn bản QPPL;
2 Trình bày được hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường;
3 Trình bày được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường bằng pháp luật;
4 Trình bày được lịch sự phát triển luật pháp về BVMT trong nước và quốc tế
5 Trình bày được các khai niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường theo luật BVMT;
6 Trình bày được khái niệm về luật môi trường, chính sách môi trường, công ước quốc tế;
7 Phân biệt được luật, chính sách và công ước quốc tế về môi trường;
8 Nắm vững các nguyên tắc BVMT;
9 Phân biệt được những hoạt động môi trường được khuyến khích và các hoạt động môi trường bị nghiêm cấm;
10 Trình bày được các chính sách của nhà nước về BVMT
1.1 Cơ sở hình thành và phát triển của luật môi trường
1.1.1 Hệ thống văn bản QPPL Việt Nam
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng khách quan của xã hội có giai cấp, chúng có quan hệ một thiết với nhau và không thể tác rời nhau Nhà nước là chủ thể quy nhất có quyền ban hành pháp luật, đồng thời pháp luật chỉ tồn tại và phát triển gắn liện với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước Do đó, muốn nghiên cứu về pháp luật đối với bất cứ quốc gia nào hay lĩnh vực nào đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ hệ thống văn bản pháp luật của mỗi quốc gia đó
Việt Nam- hình thức pháp luật được sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) Hệ thống văn bản QPPL là văn bản do nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật ban
hành VB quy phạm pháp luật Văn bản QPPL có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt
buột chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng nhất định
Hệ thống văn bản QPPL Việt Nam gồm hai nhóm (xem bảng 1.1)
- Văn bản luật: Là những văn bản do Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất gồm có 3 loại văn bản (hiến pháp, các bộ luật- luật, nghị quyết của quốc hội)
+ Hiến pháp: Là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong
hệ thống pháp luật Việt Nam Mọi văn bản pháp luật khác đều được xây dựng, ban hành trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp
Trang 4+ Luật- bộ luật: Luật là văn bản để cụ thể hóa những quy định của hiến pháp Luật là loại văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao chỉ sau Hiến pháp Là văn bản điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, quy định các vấn đề cơ bản về
KT, VH, GD, MT, y tế, khoa học,…
Ví dụ: các luật liên quan đến Môi trường: Luật BVMT 2014, Luật Khoáng sản sửa đổi số 2005, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Đất đai số 2013, Luật tài nguyên nước 2012, Luật đa dạng sinh học 2008, Luật thuế BVMT 2011, Luật tài nguyên 2009, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015
+ Nghị quyết của Quốc hội: là văn bản ban hành quyết định nhiệm vụ phát triển KTXH, dự toán ngân sách trung ương, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc
- Văn bản dưới luật: Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ngoại trừ QH) ban hành theo thủ tục luật định, Văn bản dưới luật có giá trị thấp hơn văn bản luật Nội dung của chúng chủ yếu là tiết hóa, hướng dẫn thi hành văn bản luật
+ Nghị định là văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của chính phủ quy định chi tiết việc thi hành luật Nghị định của chính phủ còn có chức năng quy định những vấn
đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hay pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội
+ Thông tư là văn bản dùng để hướng dẫn thực hiện những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên về quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách Quy định nêu trong thông tư nhằm cụ thể hóa những điểm cần hướng dẫn tùy theo chức năng của bộ Thông tư có thể do nhiều Bộ ngành có liên quan cùng ban hành (thông tư liên tịch)
+ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà nước
+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó
+ Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó
Trang 5+ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Bảng 1.1 Các loại văn bản QPPL ở Việt Nam
Giữa Quốc hội/ Chính phủ với cơ quan
TU Giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Pháp lệnh, nghị quyết Lệnh, Quyết định Nghị quyết, nghị định, QĐ Thông tư
Nghị quyết, thông tư
Nghị quyết liên tịch
Thông tư liên tịch
Nghị quyết Quyết định, chỉ thị
Nguồn: Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1.1.2 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường nói chung được thiết lập từ trung ương đến địa phương gồm nhiều cơ quan khác nhau và phân theo 4 cấp quản lý chung (trung ương, tỉnh, huyện, xã), các cơ quan này đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức theo hai nhóm:
+ Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về môi trường: Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp hợp thành hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
Trang 6- Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
- Phối hợp hoạt động với các cơ quan trung ương để thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
- Tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
+ Nhóm cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Bộ Tài nguyên môi trường, Sở TN&MT, Phòng TN&MT, phòng địa chính cấp xã, Phòng quản lý MT BQL Khu công nghiệp, tổ Môi trường tại các CSSX Nhóm cơ quan này sẽ làm các công tác chuyên môn và có nhiệm vụ tham mưu về mặt chuyên môn cho nhóm các cơ quan quản lý hành chính
- Tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường
- Đánh giá hiện trạng môi trường trên phạm vi cả nước, định kỳ báo cáo Chính phủ
và Quốc hội
- Thẩm định báo cáo ĐTM của dự án đầu tư trong nước, các cơ sở sản xuất trong nước theo sự phân cấp, các dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Trang 7- Chỉ đạo việc tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ KH-KT, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Trình Chính phủ việc tham gia các tiêu chuẩn quốc tế, ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường
* Sở tài nguyên và môi trường:
- Xây dựng và trình UBND tỉnh các văn bản về bảo vệ môi trường tại địa phương
- Thẩm định báo cáo ĐTM theo thẩm quyền
- Thanh tra môi trường theo thẩm quyền
- Tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo…
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường được hình thành theo phân cấp và hệ thống quản lý chung của nước CNXHCN Việt Nam (xem hình 1.1, 1.2, 1.3,1.4, 1.5 )
Hình 1.1Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về Môi trường Việt Nam
Trang 8Hình 1.2 Cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
Hình 1.3 Cơ cấu tổ chức của Tổng Cục Môi trường
Trang 9Hình 1.4 Cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường
Hình 1.5 Bộ phận quản lý môi trường tại các Khu công nghiệp, khu chế xuất, cơ
sở sản xuất
1.1.3 Thực trạng môi trường hiện nay
Theo nghĩa rộng nhất thì “Môi trường” là tập hợp tết cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng đến một vật thể hay một sự kiện Bất cứ một vật thể hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường Khái niệm chung như vậy về môi trường được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và từng mục đích nghiên cứu
Thực chất, khí quyển, thuỷ quyển và thạch quyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta Nhưng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện trong mối
Trang 10tương tác với các nhân tố đó thì chúng mới trở thành môi trường Có nghĩa là chỉ có các cơ thể sống mới có môi trường Môi trường không chỉ gồm các điều kiện vật lý
mà còn bao gồm cả các sinh vật cùng sống Trong đó đối với các cơ thể sống thì “môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến đời sống và
sự phát triển của cơ thể
Đối với con người thì “môi trường sống của con người” là tổng hợp những điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển của từng cá nhân và của từng cộng đồng con người
Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó Hệ mặt trời và Trái đất là những bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất Theo quan điểm về môi trường hiện đại thì Trái đất có thể xem như một con tàu vũ trụ lớn mà loài người là những hành khách Về mặt vật lý, Trái đất gồm có thạch quyển-chỉ phần rắn của Trái đất từ bề mặt đất đến độ sâu khoảng 60km; thuỷ quyển được tạo nên bởi các đại dương, biển, ao, hồ, băng tuyết và các vùng nước khác; khí quyển với không khí và các loại khí khác bao quanh mặt đất Về mặt sinh học, trên Trái đất có sinh quyển bao gồm các cơ thể sống và những bộ phận của thạch quyển, thuỷ quyển và khí quyển tạo thành môi trường sống của các cơ thể sống
Khác với các “quyển” vật chất vô sinh, trong sinh quyển, ngoài vật chất, năng lượng còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc, cơ chế tồn tại và phát triển của các vật sống Dạng thông tin ở mức độ phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ của con người, có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của Trái đất
Từ nhận thức đó đã hình thành khái niệm về “trí quyển” bao gồm những bộ phận trên Trái đất, tại đó có những tác động trí tuệ của con người Những thành tựu mới nhất
về khoa học và kỹ thuật cho thấy rằng, trí quyển đang thay đổi một cách nhanh chóng
và sâu sắc và phạm vi tác động ngày càng mở rộng, kể cả ngoài phạm vi Trái đất Về mặt xã hội, các cá thể con người họp lại thành gia đình, cộng đồng, bộ tộc, quốc gia,
xã hội, theo những loại hình, phương thức và thể chế khác nhau Từ đó tạo nên các mối quan hệ, các hình thái tổ chức kinh tế-xã hội có tác động mạnh mẽ tới môi trường vật lý và môi trường sinh học
"Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật." (Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2014 của Việt Nam) Tuỳ theo mục đích và nội dung nghiên cứu, khái niệm chung về “Môi trường sống của con người” còn được phân thành “Môi trường thiên nhiên”; “Môi trường xã hội” và “Môi trường nhân tạo”
* Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp
để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Trang 11* Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
* Môi trường nhân tạo, bao gồm tết cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường sống của con người có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Môi trường theo nghĩa rộng là tết cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Tóm lại, môi trường là tết cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển Thành phần môi trường Là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác
Các tác động của con người đến môi trường
• Mối quan hệ giữa dân số và môi trường: Hiện tại, nhân loại đang phải đối mặt với bốn vấn đề lớn : bảo vệ hoà bình; bùng nổ dân số; ô nhiễm môi trường và sự nghèo đói Trong đó vấn đề bùng nổ dân số được coi
là nguyên nhân chung của ba hiểm hoạ trên
• Dân số và đất đai:
• Dân số và nhu cầu về nước
• Dân số và tài nguyên rừng
• Dân số và chất lượng không khí
• Dân số và vấn đề xã hội
Các chức năng của môi trường
Đối với con người, môi trường hiểu theo nghĩa rộng có các chức năng sau :
• M ôi trường có chức năng vật mang
• Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
• Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
• Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
Trang 12• Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
• Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi và gây ra ô nhiễm môi trường
Các vấn đề môi trường toàn cầu
• Sự vận động tầm xa của các chất gây ô nhiễm
• Sự vận chuyển của các chất thải xuyên biên giới
• Sự thay đổi khí hậu và biến đổi khí hậu
• Sự suy giảm tầng ozon
• Sự suy giảm đa dạng sinh học
• Suy giảm tài nguyên
• Đô thị hóa, chênh lệnh đô thị và nông thôn
• Môi trường và phát triển cùng với nhu cầu và mâu thuẩn nảy sinh
1.1.4 Bảo vệ môi trường và vai trò của pháp luật
Hệ thống pháp luật đã bảo vệ môi trường bằng việc thể chế hóa các chính sách,
kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch
đó Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường đã trở thành một công cụ hữu hiệu
để quản lý và bảo vệ môi trường Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điểu chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực môi trường
Ý nghiã của pháp luật trong BVMT
• Quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử
dụng các yếu tố của MT
• Quy định các chế tài về hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu của PL trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của MT
• Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức BVMT: ban hành văn bản QPPL, giải quyết tranh chấp liên quan đến BVMT
Có nhiều biện pháp để Bảo vệ môi trường như: Pháp lý, chính trị, Khoa học công nghệ, kinh tế, giáo dục, tuyên truyền Nhưng trong đó pháp lý có vai trò quan trọng và quyết định trong công tác quản lý vì các biện pháp khác là đối tượng được quy định trong các văn bản và thể hiện qua công cụ pháp luật
Trang 13Một tổ chức hay các cơ sở sản xuất kinh doanh khi thực hiện và áp dụng hết các thủ tục hanh chính trong quản lý nhà nước về môi trường họ sẽ có nhiều lợi ích
• Giảm chi phí đầu tư, tiết kiệm năng lượng
• Phòng ngừa sự cố môi trường
Bên cạnh đó còn thể hiện lợi ích từ xã hội
• Thể hiện quyền con người và sinh vật được sống trong môi trường trong lành
• Tăng nghĩa vụ giám sát của cộng đồng (khiếu nại, tố cáo)
• Tăng cường nghiên cứu và trao đổi (kiến thức, công nghệ)
1.2 Lịch sử phát triển luật môi trường
1.2.1 Lịch sử phát triển luật pháp quốc tế về bảo vệ môi trường
Sự thừa nhận của Quốc tế về đặc thù của vấn đề môi trường là không có tính chất biên giới Quốc gia và tuân thủ theo hệ thống hở, đã dẫn đến việc phát triển công pháp Quốc tế - Luật Quốc tế về môi trường Việc ô nhiễm môi trường biển, môi trường nước trên đất liền, ô nhiễm không khí, mưa axít, suy thoái tầng ôzôn, sa mạc hoá, biến đổi khí hậu toàn cầu, việc thải các chất thải độc hại hay mua bán những hoá chất độc hại nguy hiểm cho môi trường là những hiện tượng có tính toàn cầu, không một quốc gia nào hay khu vực nào có đủ tiềm lực để giải quyết vấn đề mà là những vấn đề của toàn thế giới
1.2.1.1 Lịch sử hình thành
Vào những năm cuối thế kỷ 19 đã xuất hiện một số điều ước song phương và
đa phương về một số vấn đề môi trường mà chủ yếu nhằm vào việc giải quyết các vấn đề về nguồn nước ở sông, hồ biên giới, giao thông thuỷ và các quyền đánh cá ở các sông hồ quốc tế như sông Ranh và các sông quốc tế khác ở Châu Âu Các điều khoản về môi trường trong các điều ước Quốc tế này thường đơn giản Ví dụ, điều 4 của hiệp ước về vùng nước biên giới giữa Anh và Mỹ năm 1909 chỉ quy định “Nước
sẽ không bị gây ô nhiễm ở bờ của phía bên kia và không gây hại sức khoẻ của con người và tài sản của phía bên kia”
Đầu thế kỷ 20, có một số điều ước về bảo vệ một số loài động vật có giá trị thương mại như công ước năm 1902 về bảo vệ các loài chim hữu ích cho nông nghiệp
và Hiệp ước 1911 về giũ gìn và bảo vệ loài Hải cẩu có lông đã được ký kết Công ước Luân Đôn 1933 về việc bảo tồn và giữ gìn hệ động và thực vật Công ước Washington 1940 về bảo vệ tự nhiên và giữ gìn đời sống hoang dã ở Tây Bán cầu
Trang 14Vào những năm 50 và 60, trước nguy cơ về hạt nhân và ô nhiễm dầu đã xuất hiện các điều ước trách nhiệm Quốc gia đối với thiệt hại do tai nạn hạt nhân gây ra và Công ước quốc tế 1954 về ngăn chặn ô nhiễm biển do dầu
Cuối những năm 60, một loạt điều ước quốc tế về môi trường liên quan đến trách nhiệm dân sự đối với ô nhiễm dầu và kiểm soát ô nhiễm dầu ở biển Bắc đã được
ký kết Công ước Châu Phi 1968 về bảo tồn thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng được ký kết trong thời gian này
Từ năm 1970, đặc biệt là sau Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường con người được tổ chức tại Stockholm năm 1972, hàng trăm điều ước Quốc tế về môi trường hay liên quan đến môi trường đã được ký kết Thời kỳ này cũng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của Luật Quốc tế về môi trường Nhiều công ước quốc tế quan trọng đã được ký kết như công ước về di sản tự nhiên thế giới, công ước quốc tế về mua bán các lòai đang bị đe dọa, công ước Luân Đôn về việc thải chất thải ra biển
Từ những năm 70, những công ước về môi trường đã được mở rộng rất nhiều Từ chỗ chỉ xử lý các vấn đề ô nhiễm qua biên giới đến chỗ xử lý ô nhiễm trên phạm vi toàn cầu, từ chỗ chỉ bảo tồn các loài động thực vật cụ thể nào đó đền chỗ bảo tồn các hệ sinh thái, từ chỗ chỉ qui định về kiểm soát việc đưa trực tiếp chất thải vào các sông hồ Quốc tế đến việc xây dựng các quy chế quản lý toàn diện cả hệ thống hoặc lưu vực sông Quốc tế Chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1992 đã xuất hiện một số lượng đáng kể những điều ước về môi trường quan trọng được áp dụng trên phạm vi toàn cầu như công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, Nghị định thư về bảo vệ môi trường bổ sung cho Hiệp ước Nam Cực, Công ước Basel về việc vận chuyển qua biên giới các chât thải độc hại, Công ước về việc thông báo sớm tai nạn hạt nhân và Công ước về việc viện trợ trong trường hợp tai nạn hạt nhân hoặc tình trạng phóng xạ khẩn cấp Chỉ tính đến cuối năm 1992, đã có 840 văn bản pháp lý Quốc tế về môi trường hoặc liên quan đến môi trường
1.2.1.2 Những sự kiện quan trọng trong quá trình hình thành Luật QT về MT ( 1) Hội nghị Stockholm về môi trường con người năm 1972
Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con người họp tại Stockholm từ ngày 5 đến 16/6/1972 đã thông qua Tuyên bố Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con người trong phiên toàn thể lần thứ 21 ngày 16/6/1972 Tuyên bố nêu lên 7 tuyên bố và
26 nguyên tắc chung nhằm hướng mọi quốc gia trên thế giới góp phần giữ gìn và làm tốt đẹp hơn môi trường của con người Dưới đây là vài nội dung cơ bản của tuyên bố này:
Tuyên bố chung:Con người vừa là sinh vật, vừa là người nhào nặn môi trường
của mình Môi trường tạo cho con người phương tiện sinh nhai về mặt thể chất và ban cho con người cơ hội phát triển trí tuệ, đạo đức, xã hội và tinh thần Trong suốt quá trình tiến hóa quanh co và lâu dài của nhân loại trên hành tinh, con người với sự gia tăng nhanh dân số tự nhiên và phát triển khoa học công nghệ, đã làm biến đổi môi
Trang 15trường của mình bằng nhiều cách và với quy mô ngày càng lớn xung quanh chúng ta, ngày càng có nhiều bằng chứng về những thiệt hại do con người gây ra ở nhiều khu vực của trái đấy, chẳng hạn như: các mức độ ô nhiễm nguy hiểm trong nước, không khí, đất và sinh vật sống, những xáo trộn lớn và không mong muốn đối với cân bằng sinh thái, sinh quyển; phá hủy và cạn kiệt các nguồn tài nguyên không thể thay thế
Do đó, bảo vệ và cải thiện môi trường con người (còn gọi là môi trường sống của con người) là một vấn đề lớn ảnh hưởng đến phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới: đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên khắp thế giới và là nhiệm vụ của mọi Chính phủ
Những nguyên tắc:
• Tài nguyên thiên nhiên của trái đất (không khí, nước, thực vật, động vật và các
hệ sinh thái thiên nhiên) phải được bảo vệ an toàn vì quyền lợi của thế hệ hôm nay và tương lai, thông qua công tác quy hoạch và quản lý hợp lý
• Những nguồn tài nguyên không tái tạo của trái đất phải được sử dụng làm sao
để có thể bảo vệ chống bị đe dọa cạn kiệt trong tương lai và phải đảm bảo tết cả các lợi ích trong sử dụng sẽ được chia cho tết cả mọi người
• Phải bắt dừng ngay việc thải các chất độc hay các chất khác và phát tán nhiệt với số lượng và nồng độ vượt quá năng lực của môi trường tự lọc các chất này
vô hại, nhằm ngăn chặn sự hủy hoại môi trường sinh thái
• Chú trọng hơn nữa công tác giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn; các phương tiện thông tin đại chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần tránh suy thoái môi trường
• Cần phải thúc đẩy công tác nghiên cứu và triển khai khoa học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở tết cả các nước, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước phát triển, cần phải ủng hộ và giúp đỡ các nước đang phát triển trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bằng việc cung cấp các dòng thông tin khoa học mới nhất và chuyển giao kinh nghiệm không mất tiền
• Các nước sẽ cùng hợp tác để phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế về bảo vệ môi trường Những vấn đề quá trình liên quan tới bảo vệ môi trường cần được giải quyết trên tinh thần hợp tác giữa tết cả các nước, dù lớn hay nhỏ, trên cơ sở quan hệ bình đẳng
• Không được gây thiệt hại cho những tiêu chuẩn về môi trường đã được cộng đồng quốc tế thỏa thuận, hoặc tiêu chuẩn đã được qui định ở quy mô quốc gia
• Phải tránh cho con người và môi trường bị ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân và tết cả phương tiện hủy hoại hàng loạt
Chỉ từ sau hội nghị Stockholm về môi trường con người năm 1972 thì vấn đề môi trường mới được cộng đồng Quốc tế nhận thức đúng mức và Luật quốc tế về bảo
Trang 16vệ môi trường mới thực sự được quan tâm thúc đẩy phát triển mạnh và có thể coi như
là một ngành luật độc lập của Cộng pháp quốc tế
Hội nghị Stockholm phản ánh sự thức tỉnh của nhân loại về vấn đề môi trường toàn cầu Hội nghị đã ghi nhận sự hình thành của một số nguyên tắc pháp lý quan trọng và dẫn đến việc thành lập chương trình môi trường của LHQ-một cơ quan quốc
tế có thể đương đầu với các thách thức về môi trường trên phạm vi toàn cầu
Tuyên bố Stockholm được thông qua tại hội nghị với sự tham gia của 113 Quốc gia, cùng với tuyên bố này là một kế hoạch hành động bao gồm 119 khuyến nghị về hành động cần được tiến hành nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường con người Bản tuyên bố này thực chất đã tạo ra một cơ sở quan trọng của Luật quốc tế về môi trường hiện đại Điền cần nhấn mạnh là tuyên bố Stockholm là kết quả của sự thoả hiệp giữa các nước phát triển và đang phát triển Tuyên bồ nhấn mạnh.:
- Sự suy giảm về môi trường do các điều kiện kém phát triển gây ra chỉ có thể khắc phục bằng phát triển và sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật (nguyên tắc 9)
- Các chính sách MT của các Quốc gia nên tăng cường tiềm năng phát triển trong thời gian hiện tại và tương lai của các nước đang phát triển (nguyên tắc 12)
(2) Hội nghị Liện Hiệp Quốc về môi trường và phát triển năm 1992
Sau hội nghị Stockholm tình hình mội trường vẫn xấu đi và nguy cơ về môi trường vẫn ngày càng nghiêm trọng Do đó, hội nghị LHQ về môi trường và phát triển đã được tổ chức tại Brazil từ ngày 2 đến 14/06/1992 Hội nghị Liên Hợp Quốc
về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janeiro (Brasil) từ tháng 3 đến 24/6/1992
đã thông qua Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển ngày 14/6/1992 Đây là hội nghị toàn cầu lớn nhất được tổ chức từ trước tới nay với
sự tham gia của 178 Quốc gia, 118 nguyên thủ Quốc gia, khoảng 10.000 nhà môi trường học trên thế giới và 8.000 nhà báo.Tuyên bố gồm có lời nói đầu nêu lên mục đích của tuyên bố và 27 nguyên tắc Dưới đây là vài nội dung cơ bản của tuyên bố này:
• Công nhận bản chất toàn bộ và phụ thuộc lẫn nhau của trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta
Trang 17Nội dung chính của Tuyên bố:
• Tuyên bố khẳng định con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hạnh phúc
và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên Các quốc gia khi khai thác tài nguyên của mình phải tuân theo những chính sách về môi trường và phát triển, phải đảm bảo rằng những hoạt động này không gây tác hại đến môi trường của các quốc gia khác
• Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần chung lưng đấu cật toàn cầu để giữ gìn, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của trái đất Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, những tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản lý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển lâu bền ở tết cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những vấn đề thoái hóa môi trường
• Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự đặt lại và chuyển giao cho các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây sự thoái hóa môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khỏe con người
• Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tùy theo khả năng từng quốc gia Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào
có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của các nước đó Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia tai họa này
• Chiến tranh phá hoại sự phát triển lâu bền Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột vũ trang
và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa Hòa bình, phát triển và sự bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được
• Các quốc gia cần giải quyết mọi bất hòa về môi trường một cách hòa bình và bằng những biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên Hợp Quốc
Tại hội nghị này, do xung đột về lợi ích giữa các nước đang phát triển và phát triển, nhiều đề mục trong chương trình nghị sự đã bị thay đổi Một dự thảo công ước
về rừng được thay bằng một tuyên bố về các nguyên tắc về rừng một dự thảo hiến chương về Trái đất được thay thế bằng tuyên bố Rio với 27 nguyên tắc lớn và chương trình nghị sự 21 gồm hơn 800 trang tại hội nghị này đã chỉ rõ vấn đề môi trường không thể tách rời các vấn đề chính trị, xã hội và kinh tế Chính từ đó dẫn đến việc công nhận rộng rãi khái niệm phát triển bền vững, và đây là thành công lớn nhất của Hội nghị
Trang 18Hội nghị cũng đã thông qua được 5 văn kiện quan trọng, trong đó có 2 Công ước Quốc tế là Công ước Khung về khí hậu biến đổi và Công ước về Đa dạng sinh học cùng 3 văn kiện không có tính ràng buộc về mặt pháp lý Sau đây là một số nội dung chính của các văn kiện không có tính ràng buộc:
- Tuyên bố Rio : Tuyên bố nhấn mạnh mối quan hệ chặc chẽ giữa môi trường
và phát triển, sự cần thiết phải dành ưu tiên cho các vấn đề kinh tế và môi trường cho các nước đang phát triển Hội nghị nhất trí thông qua một số nguyên tắc quan trọng như :
• Khẳng định quyền phát triển của các quốc gia , theo đó yêu cầu việc thực hiện quyền này phải đáp ứng cả nhu cầu phát triển của cả thế hệ hôm nay và ngày mai (nguyên tắc 3)
• Xác định trách nhiệm của các quốc gia đối với các hoạt động dẫn đến suy giảm môi trường toàn cầu (nguyên tắc 7)
• Quy định nghĩa vụ của các quốc gia phải hợp tác để ngăn chặn việc đưa các hoạt động hoặc các chất có hại cho sức khoẻ con người sang các quốc gia khác (nguyên tắc 8)
• Khẳng định chiến tranh là sự huỷ diệt sự phát triển bền vững và các quốc gia phải tôn trọng các quy định của Luật quốc tế trong thời kỳ xung đột vũ trang
- Tuyên bố các nguyên tắc về rừng : Tuyên bố kêu gọi phải quản lý rừng bền vững trên cơ sở công nhận vai trò của rừng trong việc bảo vệ khí hậu và đa dạng sinh học của Trái đất
- Chương trình nghị sự 21 : Chương trình này gồm bốn phần chính là Bảo tồn
và quản lý các nguồn tài nguyên cho phát triển; bảo vệ khí quyển; qủan lý tốt tài nguyên đất và các hệ sinh thái;bảo tồn sự đa dạng sinh học; quản lý tốt các chất thải
và hoá chất độc hại, chất phóng xạ; các vấn đề pháp lý và cơ chế pháp lý
(3) Hội nghị Liện Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Bali
Thương thảo hiệp ước mới thay Nghị định thư Kyoto
Hội nghị về biến đổi khí hậu do Liên Hiệp Quốc (LHQ) tổ chức đã khai mạc hôm 3-12 ở Bali (Indonesia) với sự tham dự của khoảng 10.000 đại biểu và nhà hoạt động đến từ 190 nước
Mục tiêu trước mắt của hội nghị kéo dài 11 ngày nói trên là tiến hành thương thảo về một hiệp ước mới thay thế Nghị định thư Kyoto sẽ hết hạn vào năm 2012, đồng thời
ấn định chương trình nghị sự và hạn chót cho tiến trình này LHQ cho rằng quá trình thương thảo nên kết thúc vào năm 2009 Những vấn đề gây tranh cãi nhất tại hội nghị lần này là có nên bắt buộc việc cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính hay không, các nền kinh tế đang nổi - như Ấn Độ và Trung Quốc- sẽ cắt giảm khí thải đến đâu và làm sao giúp các nước nghèo nhất thích nghi với khí hậu ngày càng tồi tệ hơn
Trang 19Một trong những thách thức lớn tại hội nghị lần này là làm sao lôi kéo được
Mỹ, nước thải nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính nhất thế giới, tham gia tiến trình nói trên Washington không đồng ý phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vì lo ngại kinh tế bị tổn thấy và hoài nghi những cảnh báo của giới khoa học về tình trạng toàn cầu ấm dần lên Ngay đúng vào ngày hội nghị khai mạc, Mỹ bị đẩy vào thế cô lập sau khi tân Thủ tướng Úc Kevin Rudd ký các văn bản cần thiết để dẫn đến việc phê chuẩn Nghị định thư Kyoto Trong nỗ lực xoa dịu những chỉ trích rằng Mỹ không đủ nỗ lực, Tổng thống George W Bush vào tuần rồi dẫn một báo cáo của Bộ Năng lượng cho biết lượng khí thải của Mỹ đã giảm 1,5% vào năm ngoái
Hội nghị trên diễn ra không lâu sau khi một báo cáo của các nhà khoa học của Nhóm liên chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ (IPCC) kết luận rằng mức độ khí thải gây hiệu ứng nhà kính phải được ổn định và giảm bớt kể từ năm 2015 để có thể ngăn chặn những tác động xấu nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu IPCC cảnh báo rằng nếu không có hành động nhanh chóng, nhiệt độ trái đất sẽ gia tăng, dẫn đến hạn hán, thời tiết khắc nghiệt và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác Theo IPCC, những giải pháp cho mối đe dọa này là nằm trong tầm tay của các nước, từ việc tìm ra những nguồn năng lượng có thể tái sinh được cho đến cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng
1.2.1.3 Nền tảng của Luật quốc tế về môi trường hiện đại
Khái niệm về tính tổng thể của môi trường
Do được xây dựng trên khái niệm này mà Luật Quốc tế về môi trường hiện đại
đã phát triển và có tầm vóc như ngày nay
Theo khái niệm này, môi trường của cả hành tinh , trong đó có môi trường biển, môi trường nước trên đất liền, môi trường không khí được xem là một thể thống nhất về tự nhiên, địa lý và vật chất Điều đó có nghĩa là tết cả các phần của môi trường đều có quan hệ mật thiết với nhau và bất kỳ sự thay đổi ở một phần nào của môi trường trên hành tinh cũng có thể dẫn đến sự thay đổi ở những phần khác của môi trường Việc công nhận khái niệm này có nghĩa là :
- Bảo vệ môi trường toàn cầu là vì lợi ích chung của tết cả các Quốc gia trên thế giới
- Những vấn đề môi trường toàn cầu chỉ có thể được giải quyết một cách có hiệu quả với sự hợp tác và tham gia của tết cả các Quốc gia
- Để có thể hợp tác hiệu quả, cần thiết phải tạo ra một khung pháp lý Quốc tế
về môi trường
Hệ quả pháp lý của việc công nhận môi trừơng là một tổng thể
Công nhận môi trường là một thể thống nhất sẽ dẫn đến một hệ quả pháp lý quan trọng là việc qui định một giới hạn nhất định đối với chủ quyền của các Quốc gia trong lĩnh vực môi trường Nó bao hàm cả quyền lợi và nghĩa vụ nhất định của
Trang 20các quốc gia trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Ví dụ, đã hình thành chủ quyền lãnh thổ hạn chế đối với các nguồn nước Quốc tế Một quốc gia có thể sử dụng nước chảy qua lãnh thổ nước mình sao cho không ảnh hưởng đến việc sử dụng hợp lý nguồn nước Quốc tế của các nước ven sông khác
Ngày nay học thuyết này đã được áp dụng đối với mọi lĩnh vực môi trường khác nhau như môi trường biển, môi trường nước trên đất liền và môi trường không khí
Chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực môi trường
Tôn trọng chủ quyền quốc gia là nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế Theo nguyên tắc này, các quốc gia có thể tiến hành mọi hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của mình phù hợp với Luật quốc tế, có thể tiến hành mọi hoạt động bảo tồn, thăm
dò, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể tiến hành mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo vệ môi trường của mình Đặc biệt trong Công ước khung về khí hậu biến đổi, vấn đề chủ quyền quốc gia còn được đề cao hơn nữa : Lời nói đầu của công ước nêu rõ, việc xem xét về môi trường không thể là cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước đang phát triển
Như vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được đề cập cụ thể trong hầu hết các điều ước quốc tế và các văn bản pháp lý Quốc tế do các tổ chức Quốc tế
và Hội nghị Quốc tế về môi trường thông qua Tuy nhiên, chủ quyền của mỗi quốc gia trong lĩnh vực môi trường cũng có giới hạn nhất định, đó là:
- Các Quốc gia có nghĩa vụ khi tiến hành hoặc cho phép tiến hành các hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào, bất cứ ở đâu, kể cả trên lãnh thổ của mình, phải tính đến những tác động của các hoạt động đó đối với môi trường của các quốc gia khác
và đối với môi trường ở các vùng nằm ngoài quyền tài phán của Quốc gia Đây là một nghĩa vụ pháp lý Quốc tế mà các Quốc gia phải tuân theo dù muốn hay không
- Các cam kết của các Quốc gia trong điều ước Quốc tế, các văn kiện pháp lý của các tổ chức Quốc tế và Hội nghị quốc tế về môi trường, theo một nghĩa nào đó chính là sự tự giới hạn hành động của các quốc gia
1.2.1.4 Khái niệm luật quốc tế về môi trường
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm Luật quốc tế về môi trường Có một số luật gia dùng thuật ngữ Luật quốc tế về bảo vệ môi trường để chỉ một ngành luật của công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực môi trường
Theo khái niệm này, bảo vệ môi trường có thể được xác định là việc bảo vệ môi trường không khí, nước, biển và đất không bị ô nhiễm Nó cũng bao gồm cả việc bảo vệ tự nhiên khỏi bị sử dụng có tính chất huỷ diệt , bảo vệ các công trình văn hoá khỏi bị phá hoại, bảo vệ các loài động thực vật khỏi bị tuyệt chủng Tuy nhiên khái niệm này chỉ chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh bảo vệ, bảo tồn môi trường hiện có
Trang 21mà chưa chú ý đúng mức đến khía cạnh hợp tác và phát triển để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế Do đó, chỉ đặt vấn đề xây dựng khung pháp lý quốc tế để bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên sẽ có thể làm chậm thậm chí triệt tiêu phát triển Vì vậy, khung pháp lý quốc tế về môi trường không chỉ nhằm bảo vệ môi trường và bảo tồn tự nhiên mà còn phải là cơ sở pháp lý cho các quốc gia hợp tác nhằm bảo đảm sự hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển
Luật quốc tế về bảo vệ môi trường là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm cơ bản và đặc thù của luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong phòng ngừa, giảm bớt và xoá bỏ, khắc phục những thiệt hại các loại, do các nguồn gây ra đối với môi trường tự nhiên của các nước và môi trường ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia Khái niệm "môi trường" bao gồm những yếu tố gắn với điều kiện tồn tại của con người trong đó có những yếu tố vật chất của thiên nhiên (những khách thể
tự nhiên) và những yếu tố do con người tạo ra trong quá trình tác động qua lại với thiên nhiên Ở cấp độ pháp luật quốc tế, các yếu tố của môi trường (vd bầu khí quyển, môi trường biển, nguồn nước ngọt ) lần đầu tiên được nêu ra trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về các vấn đề môi trường 1972 Sự bảo vệ môi trường bằng luật quốc tế được tiến hành ở cấp toàn cầu, khu vực và hợp tác hai bên Năm 1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết "Về trách nhiệm lịch sử của các quốc gia về bảo vệ thiên nhiên Trái Đất cho các thế hệ hiện nay và mai sau" Năm
1982, Khoá họp 37 - Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông báo qua "Chiến lược toàn cầu về bảo vệ thiên nhiên"
Đối tượng điều chỉnh và chủ thể của Luật quốc tế về môi trường
Là một ngành luật độc lập của công pháp quốc tế, luật quốc tế về môi trường
có đối tượng điều chỉnh là các mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các chủ thể khác về MT
Chủ thể của Luật quốc tế về MT gồm các quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các tổ chức quốc tế liên chính phủ, trong đó quốc gia là chủ thể chủ yếu
Nguồn của Luật Quốc tế về môi trường
Nguồn của Luật quốc tế về MT bao gồm :
Các điều ước quốc tế : nguồn quan trọng nhất của Luật quốc tế về môi trường trước hết là các điều ước quôc tế về mt hoặc liên quan đến mt quốc tế
Tập quán quốc tế : được hình thành trên cơ sở thực tiễn liên tục nhất quán của các quốc gia và được quốc gia công nhận , chấp nhận ràng buộc họ về mặt pháp lý
Ngoài ra, các phán quyết của Toà án quốc tế, các trọng tài quốc tế, các văn bản pháp lý quốc tế như các nghị quyết, các quyết định của các tổ chức và hội nghị quốc
tế cũng được coi là nguồn phụ trợ của Luật quốc tế về môi trường
Trang 22Một số Luật Quốc tế về môi trường
• Luật QT về BV bầu khí quyển
✔ Luật QT kiểm soát về ONKK xuyên biên giới
✔ Luật QT về BV tầng Ozon
✔ Luật QT về chống lại xu hướng biến đổi khí hậu
• Luật QT về Bảo vệ MT biển
✔ Luật QT về chóng ô nhiễm biển
✔ Luật QT về tài nguyên biển: sinh vật, phi sinh vật
• Luật QT về ĐDSH (CU washington về đdsh, Ramsar, CITES)
• Luật QT về di sản thế giới
1.2.1.5 Thực trạng của luật quốc tế về môi trường
(1) Công ước quốc tế
Là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên Nhưng cũng có tác động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước
(2) Các điều ước quốc tế
Các điều ước quốc tế chủ yếu qui định về các khiá cạnh đặc biệt nào đó về bảo
vệ môi trường như bảo vệ môi trường biển, bảo vệ một số loài động vật, thực vật, bảo
vệ môi trường không khí như : Công ước về ô nhiễm không khí xuyên Quốc gia có tác hại lâu dài 1979; Công ước về bảo vệ các loài động thực vật hoang dã đang bị đe doạ; Công ước khung về khí hậu thay đổi và Công ước về đa dạng sinh học
Các điều ước quốc tế khu vực và song phương: Đa số các điều ước về bảo vệ môi trường là điều ước khu vực và song phương
(3) Các qui định pháp lý về môi trường ở Châu Phi
Một trong các điều ước về môi trường của Châu Phi là Công ước 1968 về bảo tồn tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đây là một công ước có những qui định về môi trường tương đối toàn diện và cụ thể Đặc biệt, các qui định pháp lý về bảo vệ môi trường ngày càng được gắn chặc hơn vào quá trình phát triển kinh tế Ví dụ, Hiệp ước 1991 của tổ chức thống nhất Châu Phi về thành lập cộng đồng kinh tế Châu Phi
đã yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm một môi trường lành mạnh và thông qua các chính sách Quốc gia và khu vực, lập các cơ chế thích hợp để bảo vệ và cải thiện môi trường Hiệp ước cũng có các qui định liên quan đến việc nhập khẩu và
Trang 23thải các chất thải độc hại cũng như việc hợp tác trong việc vận chuyển qua biên giới, quản lý và chế biến các chất thải
(4) Các qui định khu vực về môi trường ở Châu Á
Châu Á là một châu lục hầu như không có các điều ước Quốc tế có phạm vi toàn khu vực về bảo vệ môi trường (trừ Hiệp ước Asean-1985 về bảo tồn tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á)
Cơ sở cho việc hợp tác trong lĩnh vực môi trường của Châu lục này chủ yếu dựa trên các văn bản có tính chất khuyến nghị như tuyên bố 1990 của cuộc họp cấp
Bộ trưởng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương về phát triển bền vững Tuyên bố đã khuyến nghị một số điểm như sau:
- Các chính sách của các quốc gia trong khu vực phải dựa trên nguyên tắc đề phòng
- Các cá nhân và tổ chức phi chính phủ có quyền tiếp xúc ở mức độ cần thiết các thông tin và tham gia vào các quá trình hình thành và thực hiện các quyết định có thể tác động đến môi trường sống của họ
(5) Các quy định về môi trường ở khu vực Mỹ La Tinh và bắc Mỹ
Văn kiện pháp lý đầu tiên được khu vực này thông qua là Công ước 1940 về bảo vệ tự nhiên và giữ gìn đời sống hoang dã ở Tây BÁn Cầu Thực tế, các khu vực này không có một điều ước Quốc tế song phương hoặc ba bên Ví dụ, Hiệp định 1983
về hợp tác môi trường và cải thiện môi trường ở khu vực biên giới giữa Mehicô và Mỹ; Hiệp định 1978 giữa Mỹ và Canada về chất lượng nước hồ lớn; Hiệp định Mỹ-canada về chất lượng không khí 1991; Hiệp định canada-Mỹ-Mehicô về tự do thương mại là một biểu hiện rõ rệt của việc gắn chặt môi trường và phát triển
(6) Các qui định pháp lý về môi trường ở khu vực Châu Âu
Châu Âu và các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) có một hệ thống khá toàn diện các qui định khu vực về môi trường và một hệ thống các
cơ chế Quốc tế rất phát triển Chính Uỷ ban kinh tế Châu Âu (ECE); cộng đồng Châu Âu; Hội nghị an ninh và hợp tác ở Châu Âu(CSCE); Ngân hàng về tái thiết và phát triển Châu Âu có những đóng góp rất quan trọng cho việc phát triển các qui định nói trên Ví dụ:
* Hội đồng Châu Âu đã soạn thảo và thông qua :
- Hiệp định về hạn chế sử dụng một số chất giặt tẩy và các sản phẩm làm sạch
- Công ước năm 1979 về bảo tồn đời sống hoang dã ở Châu Âu và các khu vực
tự nhiên
* Uỷ ban kinh tế Châu Âu (ECE) đã góp phần soạn thảo và thông qua :
Trang 24- Qui tắc xử lý đối với ô nhiễm do tai nạn đối với các vùng nước Quốc tế trên đất liền 1989
- Công ước Espo về đánh giá tác động môi trường trên phạm vi quốc tế 1991
- Công ước 1989 về trách nhiệm dân sự về những thiệt hại gây ra bởi việc vận chuyển các hàng hoá nguy hiểmbằng đường bộ, đường sắt và tàu thuyền trên đất liền
- Công ước 1992 về bảo vệ và sử dụng các nguồn nước Quốc tế và hồ Quốc tế
* Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC)
Tổ chức này có một số lượng lớn các qui định về môi trường Quốc tế ràng buộc các thành viên của mình Các qui định này có hiệu lực ở toà án trong nước của các quốc gia đó Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu Âu cũng đã áp dụng các tiêu chuẩn vể môi trường của cộng đồng kinh tế Châu Âu và sau đó có khả năng các tiêu chuẩn này sẽ là cơ sở cho việc phát triển các tiêu chuẩn về môi trường của một số khu vực khác và có thể trở thành tiêu chuẩn toàn cầu
Những qui định về môi trường của cộng đồng kinh tế Châu Âu có thể được chia làm 3 loại: Các văn bản về việc xoá bỏ các trở ngải đối với thương mại và điều chỉnh các vấn đề môi trường cụ thể; Các văn bản đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể về môi trường, các kế hoạch thực hiện và các hệ thống kiểm soát môi trường; Các văn bản xây dựng các nguyên tắc bảo vệ môi trường hoặc phối hợp các chính sách của QUốc gia thành viên
Cộng đồng kinh tế Châu Âu đã có những qui định pháp lý trong nhiều lĩnh vực môi trường như : Bảo vệ chất lượng nước; bảo vệ chất lượng không khí; kiểm soát các hoá chất; kiểm soát và quản lý chất thải; bảo vệ các hệ động thực vật; hạn chế mức độ tiếng ồn
* Các qui định pháp lý về môi trường ở khu vực Nam Cực
Có thể nói, Nam Cực là khu vực có những qui định Quốc tế về môi trường tương đối chặt chẽ Trong đó có :
- Hiệp ước Nam Cực 1957
- Các biện pháp được thoả thuận về bảo tồn các hệ động thực vật Nam Cực
1972
- Công ước về bảo tồn sinh vật biển sống ở Nam Cực 1980
- Công ước về các qui định đối với các hoạt động khia thác mỏ ở Nam Cực
1988
- Nghị định thư 1991 về bảo vệ môi trường bổ sung cho Hiệp ước Nam Cực, trong đó yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ toàn diện môi trường và hệ sinh thái Nam Cực, coi Nam Cực như là một khu vực tự nhiên được bảo vệ Nghị
Trang 25định này cấm bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc khai thác khoáng sản, chỉ trừ khai thác nhằm mục đích nghiên cứu
* Các qui định về môi trường của khu vực Bắc Cực
Ngược với Nam Cực, Bắc Cực là khu vực hầu như không có các qui định pháp
lý ràng buộc Tuyên bố liên chính phủ đầu tiên về bảo vệ môi trường Bắc Cực năm
1986 trong đó có kèm theo một chiến lược bảo vệ môi trường Bắc Cực và một kế hoạch hành động kêu gọi các quốc gia :
- Đánh giá các tác động môi trường có thể nảy sinh trong quá trình hoạt động phát triển
- Thực hiện và xem xét đầy đủ các biện pháp kiểm soát các chất gây ô nhiễm
và làm giảm tác động có hại cho môi trường Bắc Cực
- Bảo vệ môi trường ở Bắc Cực
- Bảo tồn động vật và thực vật ở Bắc Cực
(7) Một số chính sách môi trương trên thế giới
* Cơ chế tài chính cho phát triển bền vững
Các công cụ tài chính thường khác biệt với các công cụ ngân sách do bởi chúng thường nằm ngoài ngân sách và được cung cấp từ các khoảng tài trợ nước ngoài, tiền vay nước ngoài, hóan đổi nợ dành cho bảo vệ môi sinh và một số khoản khác tương tự có liên quan
Phát triển bền vững là một công cuộc cần đến năng lực tài trợ, trong đó nó đòi hỏi những khoản đầu tư cho hiện tại vì những lợi ích lớn lao gấp nhiều lần trong tương lai Trong các tình huống như thế người ta thường vay những khoảng vay dài hạn với giá trị gia tăng để phục vụ cho các lợi ích trên toàn cầu được tài trợ từ nguồn tài chính bên ngoài
Những giải đáp, đối với thứ tự tầm quan trọng của tổng số nguồn tài trợ trên khắp thế giới đòi hỏi phải thoã mãn mục tiêu của phát triển bền vững , thường đa dạng tuỳ theo các nguồn tài trợ khác nhau
Ban thư ký của tổ chức UNCED dự kiến rằng khi thực hiện tết cả các hoạt động về môi trường theo chương trình nghị sự 21 từ năm 1993-2000 đòi hỏi cần đến một nguồn lực tài trợ bổ sung là 125 tỷ đô la trong một năm, hoặc 1% số GNP của các nước phương Bắc Hơn nữa cách Chính phủ và các thành viên kinh tế tư nhân ở phương Nam cũng cần chi tiêu 500 tỷ đô la nữa cho việc định hướng nền kinh tế của
họ tiếp bước theo phát triển bền vững
Viện Tầm nhìn thế giới (World Watch) đã dự kiến các nhu cầu chuyển nhượng tài chính của sự nghiệp phát triển bền vững ở mức 145 tỷ đô la hàng năm (dự kiến năm 1998)
Trang 26Chương trình WIDER của Viện ĐH Liên Hiệp Quốc đã xác định con số này là
60 tỷ đô la trong năm 1993 và sẽ tăng lên đến 140 tỷ đô la vào khoảng năm 2000
Viện Tài nguyên thế giới cũng dự kiến nhu cầu nguồn tài chính bổ sung ở mức khiêm tốn hơn nhiều vào khoảng 20-50 tỷ đô la hàng năm
Hầu hết trong các trường hợp quá độ chuyển sang phát triển bền vững đều được thể hiện rõ trong các thời đoạn cho vay thông thường Nó bao hàm việc loại bỏ các khoản trợ cấp không rõ ràng, việc xây dựng một hệ thống quá cảnh chung hay một cơ sở hạ tầng xử lý chất thải được tài trợ từ chi phí của người sử dụng hoặc được trợ cấp chéo từ các hoạt động gây ảnh hưởng xấu đến môi trường
Theo những ví dụ khác là công việc tái trồng rừng liên quan đến hệ thống các đường phân nước, bảo dưỡng đất màu, quyền sở hữu đất đai, cải tại các ngư trường
đã xuống cấp hay các đồng lúa khô cằn hay ngập úng, kết hợp với phương pháp giáo dục và đào tạo
Trong quá trình thực hiện dài hạn, các dự án này sẽ tiêu tốn nhiều tiền của , vì vậy nên rót vốn là vấn đề mà chúng ta phải đương đầu Để giải quyết được vấn đề này, chúng ta phải có một khoản tiền vay, một cơ chế truy thu (ví dụ như các khoản thuế , các chi phí…)cùng với kế hoạch hoàn trả ưu đãi
Tuy nhiên cũng có nhiều thay đổi cần đến để định hướng nền kinh tế đi theo con đường phát triển bền vững, không nhất thiết bao hàm đến bất kỳ một khoản đầu
tư nào , nhưng phải bao gồm một thay đổi đơn thùân trong cơ cầu khích lệ nhằm tạo nên một hoạt động ít lãng phí và phù hợp hơn với môi trường
Cơ chế Panayotou tạo ra sự khác biệt giữa thuyên giảm các nhu cầu tài trợ (bao gồm việc loại bỏ các hàng rào ngăn cản và các yếu tố lệch lạc, cùng với việc tích cực không ngừng tận dụng các nguồn tài chính hiện có ), nguồn tài chính bổ sung từ các
cơ chế tài trợ hiện hành chẳng hạn như cải cách hệ thống thuế khoá, thuân tóm nguồn truy thu tiền thuế gia tăng và tư hữu hoá các xí nghiệp của Nhà nước
* Khả năng tài trợ các giải pháp môi trường độc lập cho
Cơ chế Panayotou (1994) phân định một số cơ chế tài chính trong nước như sau : tài trợ độc lập cho hạ tầng cơ sở môi trường, tài trợ độc lập bảo vệ môi trường
và các chi phí cải thiện
- Tài trợ độc lập cho hạ tầng cơ sở môi trường
Ví dụ, trong những năm 1980, đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở công cộng tại Thái Lan tăng vào khoảng 3%, trong khi đó đầu tư trong khu vực tư nhận tăng hơn 30% Kết quả này dẫn đến sự ùn tắc giao thông và tình trạng chất lượng nước xuống cấp rõ rệt…SỰ thiếu cân bằng tương tự giữa đầu tư trong khu vực tư nhân và đầu tư trong hạ tầng cơ sở công cộng có thể nói là một trong những nguyên nhân gây ra
Trang 27những vấn đề về ô nhiễm môi trường chẳng hạn như : ùn tắc giao thông, ô nhiễm nước, khan hiếm nước diễn ra triền miên chủ yếu ở các thành phố lớn
Vấn đề ở đây là thấy bại trong việc truy thu doanh thu thuế thỏa đáng hay trong việc xét duyệt và hoàn tết các dự án cơ sở hạ tầng đúng hạn Do đánh giá thấp các dịch vụ công cộng và việc tách biệt giữa cung và cầu, giữa những người thu lợi
và những người chịu phí tổn.Dựa trên mặt lý thuyết mà nói thí đầu tư vào khu vực tư nhân và phát triển kinh tế sẽ mở rộng mặt bằng truy thu thuế, qua đó tạo ra nhiều nguồn tài chính hơn nữa cho hạ tầng cơ sở công cộng Nhưng trong thực tiễn, các nhà đầu tư vào khu vực tư nhân lại có thể điều hành dẽ dàng thông qua các loại hình miễn thuế và thậm chí kể cả trốn thuế, trong trường hợp không trốn tránh thuế, trong khi cơ
sở hạ tầng hiện có là phi giá trị hoặc giá trị thấpthì họ phản ứng chịu sử dụng qua 1tải vào việc bảo dưỡng nghèo nàn
Chỉ duy nhất bằng cách liên kết trực tiếp lượng cung về cơ sở hạ tầng công cộng với lượng cầu phát sinh từ những hạng mục đầu tư mới trong khu vực tư nhân, chúng ta mới có khả năng đảm bảo chắc chắn sự cung cấp kịp thời và thoả đáng cũng như sử dụng hiệu quả hơn nữa khi đó thì cầu sẽ thấp hơn và cung sẽ cao hơn và chất lượng môi trường sẽ được cải thiện hơn những gì mà chúng ta chứng kiến được từ hiện trạng môi trường của ngày hôm nay
Sự liên kết dự phòng hạ tầng cơ sở mới sinh (hay hạ tầng cơ sở công cộng khác) và sự tăng trưởng dần trong lĩnh vực tư nhân có hiệu lưc hoạt động dựa trên yêu cầu đòi hỏi của các nhà đầu tư trong khu vực và tư nhân (và các chương trình dự
án công cộng) phải đệ trình một bản ước tính đi kèm với đơn xin cấp giấy phép hoạt động (hoặc đơn xin xét duyệt) về nhu cầu hạ tầng cơ sởcông cộng và các nguồn tài trợ môi trường phát sinh từ hạng mục đầu tư (hoặc dự án) của các nhà đầu tư này
Sau khi chuẩn y và xét duyệt, cần tiến hành thanh toán theo một ngân quỹ đặc biệt cho các hạng mục đầu tư môi trường ở mức đủ thoả đáng để bảo trì mức độ hiện hành
- Tài trợ độc lập bảo vệ môi trường
Các Chính phủ thông thường phải đối mặt với những chi phí giải quyết vấn đề tràn dầu và đất đai bị ô nhiễm; chi phí cho việc thu và xử lý các chất thải độc hại và chi phí tái trồng rừng sau khi đốn gỗ Phần lớn các nhu cầu tài trợ cho Chương trình nghị sự 21 là dành cho công việc khôi phục môi trường bị suy thoái, những nhu cầu tài trợ này đều được bảo trợ hoặc được đài thọ bởi những tổ chức gây ô nhiễm hay những người hưởng phúc lợi từ các hoạt động chức năng Chính phủ có thể giảm bớt chi phí tài trợ của mình dựa trên chi phí khôi phục và thu dọn môi trường thông qua việc gây dựng những hệ thống tái hoàn trả, các trái phiếu đầu tư môi sinh, bảo chứng ngân hàng để thoả mãn các yêu cầu của các qui định va luật lệ về môi trường…
Trang 28Các trái phiếu đầu tư môi sinh , chẳng hạn, bảo đảm rằng (i) các công ty khai thác các nguồn tài nguyên và những người có thể gây ô nhiễm môi trường thực hiện các giải pháp thoả đáng nhằm tối thiểu những hiểm hoạ về môi trường do các hoạt động của họ gây ra; (ii) những người có khả năng gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng cần thực hiện công việc giải quyết những huỷ hoại môi trườngcòn sót lại bằng những biện pháp mang lại hiệu quả kinh tế nhất và (iii) các nguồn ngân quỹ tài trợ thoả đáng luôn luônsẵn có để đáp ứng cho việc thu dọn chất thải và khôi phục môi trường bị huỷ hoại do sự bất tuân thủ của một ai đó Các trái phiếu đầu tư môi sinh không nhất thiết phải bó hẹp trong phạm vi các hoạt động kinh tế môi trường mà ta có thể đầu tư chúng vào các tài khoản mang lại lãi suất hoặc thay thế bắng các bảo chứng ngân hàng
Những hệ thống tái hoàn trả tương tự có khả năng chuyển trách nhiệm kiểm soát sự xuống cấp về môi sinh cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng những sản phẩm ô nhiễm Do vậy họ được khuyến khích tái sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm phụ nhằm tái chế hoặc xử lý và sử dụng an toàn , hay tài trợ việc thu hồi và quay trở lại của họ bằng những công cụ khác Những hệ thống ngân quỹ tài trợ có thể đem áp dụng trên phạm vi rộng khắp đối với các sản phẩm chính cũng như sản phẩm phụ, từ các vỏ họp đồ uống và bao bì cho đến ăcqyu ô tô hỏng và các nguyên liệu độc hại
Có nhiều cách khác nhau để qua đó Chính phủ có thể khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân đảm đương trách nhiệm giảm bớt chất thải xuống tối thiểu Chẳng hạn như, những hiệp hội công nghiệp dành cho các loại công nghiệp cụ thể (chẳng hạn công nghiệp hóa chất nông nghiệp, các nhà sản xuất đường và các nhà máy sản xuất dầu cọ) hoặc dành cho các địa hình cụ thể (ví dụ như quanh hồ, trên bờ sông, trên một đoạn bờ biển) đều có thể lựa chọn để đạt được riêng một cấp độ nướcsử dụng nào đó bao quanh khu vực địa hình cụ thể hoặc hcất lượng không khí, hay được một cơ quan qui định của Chính phủ trực tiếp quản lý hay tác động
Chế độ tự quản khuyến khích hữu hiệu và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với chế độ quản lú trực tiếp của Chính phủ do các nền công nghiệp này biết rõ phải kiểm soát các nguồn chất thải của họ như thế nào, do chế độ tự tuân thủ được khuyến khích xuất phát từ mong muốn thu hút được sự hưởng ứng của các thành viên khác trong hiệp hội công nghiệp và cộng đồng công nghiệp và do nguồn lực trực tiếp chịu trách nhiệm
Một giải pháp là việc lập các ngân quỹ môi trường công nghiệp dựa trên cơ sở các chi phí công nghiệp hợp lý, căn cứ vào sự phát sinh chất thải dự kiến và sự sử dụng các ngân quỹ này dành cho các công việc thu dọn môi trường được tiến hành bởi các thành phần kinh tế tư nhân trên cơ sở cạnh tranh Kết hợp với các hoạt động kiểm toán môi trường do những người kiểm toán chính thức và các chi phí chiết khấu (hay các chi phí thông thường) dành cho việc thực thi trung bình tốt hơn (hay xấu
Trang 29hơn), các ngân quỹ này có thể đáp ứng với tư cách là những công cụ tài chính cho phát triển bền vững
Ví dụ, trên thực tế Viện nghiên cứu Triển khai Thái Lan đã kiến nghị lên chính phủ củ họ một kế hoạch phát tiển và được Chính phủ áp dụng kế hoạch này; mặc dầu
cơ c6áu khuyến khích phát triển sau đó làm giảm bớt cơ cấu đóng góp chủ yếu của chính phủ vào hệ thống ngân quỹ không có dự phòng dành cho việc trợ giúp ngân quỹ thông qua nền công nghiệp và cuối cùng là khogn sử dụng đến ngân quỹ của Chính phủ
- Chi phí cải thiện
Nhiều chi phí cải thiện môi trường tạo ra các giá trị độc lập dưới hình thức những khoản tiền lãi trên hay nâng cấp giá trị tài sản Chẳng hạn, công việc thu dọn môi trường của các vùng phụ cận , cải tạo các khu nhà xuống cấp ở đô thị, xây dựng công viên cây xanh, các cơ sở hạ tầng đường sá mới, và tái định hình nền công nghiệp làm gia tăng giá trị tài sản tong khu vực và trong các vùng phụ cận có liên quan
Nâng cấp giá trị tài sản có thể tóm tắt qua một loạt các cơ chế chi phí chẳng hạn như chi phí cải thiện, các chi phí tác động, các khoản thuế đánh vào tài sản sở hữu và các kế hoạch tái mở rộng đất đai Các khoản tiền lãi thu được từ các kế hoạch này được dùng để tài trợ cho các hạn mục đầu tư thiết yếu Tuy nhiên tại nhiều nước phát triển và đang phát triển, các hạng mục đầu tư về môi trường lại được tài trợ thông qua các khoản thuế thông thường trong khi các tổ chức nhận tài trợ lại mong đợi các khoản tiền may mắn hay những khoảng tiền lãi trên vốn phát sinh từ hạng mục đầu tư công cộng Điều này quả thực vừa không mang lại hiệu quả lại vừa không thoả đáng, đồng thời dẫn đến kết quả là thực hiện rất ít các hạng mục đầu tư về môi trường
1.2.1.6 Một số nhận xét về thực trạng của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường
Qua thực trạng của Luật quốc tế về môi trường, có thể rút ra một số nhận xét sau :
- Luật quốc tế về môi trường là một lĩnh vực tương đối mới Trong vài thập kỷ qua, nhiều điều ước quốc tế đã được ký kết, nhiều tuyên bố, nghị quyết của các tổ chức liên Chính phủ được thông qua có phạm vi áp dụng trên toàn cầu, khu vực và tiểu khu vực
- Luật quốc tế về môi trường hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới cùng tham gia xây dựng Điều này góp phần đẩy mạnh sự phát triển của Luật quốc tế về môi trường
- Thực tế cho thấy, các qui định pháp lý quốc tế về một lĩnh vực môi trường nào đó thường được hình thành sau khi có những vấn đề cấp bách nổi lên Điều này cũng thể hiện tính chất đối phó của Luật quốc tế về môi trường hiện nay
Trang 30- Các qui định của Luật quốc tế về môi trường có xu hướng đi vào các vấn đề
cụ thể như suy giảm tầng ôzôn, chuyển các chất thải qua biên giới, khí hậu biến đổi, giữ gìn sự đa dạng sinh học và ô nhiễm biển
- Việc tăng số lượng các văn kiện của Luật quốc tế về môi trường có xu hướng
đi cùng với các qui định và các tiêu chuẩn ngày càng cụ thể hơn và chặt chẽ hơn
- Các tiêu chuẩn được thông qua trên phạm vi toàn cầu nhìn chung không cụ thể và chặc chẽ như các tiêu chuẩn khu vực
- Các văn kiện pháp lý quốc tế về môi trường ở mỗi khu vực rất khác nhau về phạm vi, nội dung và hiệu lực pháp lý Châu Âu là khu vực phát triển mạnh nhất về các qui định pháp lý về môi trường Trong khi đó, Châu Á và Châu Mỹ có rất ít các qui định khu vực Cho đến nay, vẫn chưa có văn kiện pháp lý quốc tế nào bao gồm các qui phạm và nguyên tắc ràng buộc về việc bảo vệ mọi lĩnh vực môi trường trên phạm vi toàn cầu mà mới chỉ có một số tuyên bố liên chính phủ đưa ra các nguyên tắc chung mang tính chất khuyến nghị như : Tuyên bố Stockholm 1972 về môi trường và con người; Hiến chương thế giới về tự nhiên 1982; Tuyên bố Rio 1992 và Chương trình nghị sự 21…
- Khía cạnh bảo vệ môi trường Quốc tế ngày càng hoà nhập vào Luật quốc tế
về kinh tế và thương mại Xu hướng này thực ra đã xuất hiện từ lâu Nhiều điều ước quốc tế đa phương về hợp tác quốc tế kinh tế và thương mại đã bao gồm các điều khoản về môi trường Tóm lại, mặc dù có một vóc dáng đồ sộ, bao gồm một số lượng lớn các điều ước quốc tế, các tuyên bố, nghị quyết của các tổ chức Quốc tế liên Chính phủ và Hội nghị Quốc tế thì Luật quốc tế về môi trường vẫn đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện
1.2.2 Lịch sử phát triển luật pháp Việt Nam về bảo vệ môi trường
Ở Việt Nam, Pháp luật về bảo vệ môi trường là một lĩnh vực mới, Chính phủ đã
có những cố gắng nhất định cho việc soạn thảo và ban hành, nhưng thực tế các văn bản chưa nhiều và còn tản mạn, chính vì vậy quá trình phát triển của chúng không chứa đựng những phân kỳ phức tạp
Gồm hai giai đoạn
1.2.2.1 Giai đoạn trước 1986
- Sắc lệnh 142/SL ngày 21/12/1949 quy định về kiểm soát lập biên bản các hành
vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Đây là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề môi trường
- Sau ngày giải phóng miền Bắc 1954:
• Nghị quyết 36/CP ngày 11/3/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất
• Chỉ thị số 127/CP ngày 24/5/1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra
cơ bản tài nguyên thiên nhiên
Trang 31• Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng
• Nghị quyết số 183/CP ngày 25/9/1966 về công tác trồng cây gây rừng
• Pháp lệnh về bảo vệ rừng ban hành ngày 11/9/1972
- Năm 1980, hiến pháp 1980 Quốc hội khóa VI thông qua ngày 18/2/1980
Trong văn bản này có Điều 36 đã quy định “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ và cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ cải tạo môi trường sống”
Tóm lại trong giai đoạn này, Các quy định của pháp luật chưa nhằm trực tiếp vào việc bảo vệ các yếu tố môi trường, các quy định về môi trường rải rác trong các văn bản pháp luật được ban hành và xem yếu tố môi trường là yếu tố phát sinh
và ban hành chủ yếu bằng hình thức văn bản dưới luật Nguyên nhân do Do hoàn cảnh lịch sử … tập trung phát triển kinh tế, thoát khỏi khủng hoảng sau chiến tranh Trước 1986, các biến động lớn của thiên nhiên do hủy hoại môi trường chưa ở mức cao Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa hoàn thiện Nội dung các quy định của pháp luật MT ở giai đoạn này chưa phản ánh và đáp ứng được đòi hỏi khách quan của hợp tác quốc tế về MT
1.2.2.2 Giai đoạn sau 1986 đến nay
- Cuối những năm 70 đầu những năm 80: nhà nước từ bỏ cơ chế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, bắt đầu có sự tác động lớn đến các thành phần môi trường Đến đầu những năm 90 bảo vệ môi trường trở thành chiến lược phát triển bền vững của VN
- Từ sau năm 1980, Chính phủ đã có những cố gắng nhất định, từ đó hàng loạt văn bản pháp luật được soạn thảo, ban hành và có hiệu lực thi hành đã có tác động trực tiếp hoặc có từng phần liên quan đến BVMT, cụ thể như Luật đầu tư nước ngoài: văn bản đầu tiên đề cập đến môi trường, kế đến là Luật đất đai 1987, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, Pháp lệnh thuế Tài nguyên 1990, Bộ luật hang hải 1990, Luật đất đai sửa đổi 1993, Luật dầu khí 1993 Trong các văn bản này, vấn đề BVMT được đề cập là nghĩa vụ của các tổ chứa, cá nhân trong việc khái thác các yếu tố MT
- Năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản VN lần VII xác định BVMT là bộ phận trong chiến lược phát triển KTXH đến năm 2000
- Năm 1992, Hiến pháp năm 1992 đã đưa việc BVMT thành nghĩa cụ của Hiến
pháp tại điều 17 “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” và điều 29 “Cơ quan
Trang 32Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường ”
- Năm 1993, Luật Môi trường đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 gồm 7 chương và 56 điều
- Năm 2005, Quốc hội khóa XI thông qua luật sửa đổi luật MT 1993 thành luật BVMT 2005 gồm 15 chương và 136 điều
- Năm 2013, Hiến pháp 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 và thay thế cho Hiến pháp 1992 Trong Hiến pháp 2013, có 3 điều
quy định về lĩnh vực BVMT đó là Điều 43 “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT”; Điều 50 “Nước CHXHCN Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác QT, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, BVMT, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Điều 63 “ (1) Nhà nước có chính sách BVMT; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn TNTN; BTTN, ĐDSH; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu (2) Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động BVMT, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo (3) 3
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm MT, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm ĐDSH phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”
- Năm 2014, Luật BVMT 2014 được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 23/06/2014 và có số hiệu ngày 1/1/2015, luật này bao gồm 20 chương và 170 điều Tăng thêm 5 chương và 34 điều so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và có
sự thay đổi thứ tự theo tính ưu tiên và bổ sung các chương mới
- Năm 2020, Luật BVMT 2020 số 72/2020/QH14 được Quốc hô ̣i Khoá XIV, kỳ
họp thức 10 thông qua ngày 17/11/2020, có hiê ̣u lực thi thành từ ngày 01/01/2022 nhằ m hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vê ̣ môi trường phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vê ̣ môi trường đáp ứng yêu cầu đặt ra của giai đoạn phát triển mới, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững
Tóm lại, hệ thống văn bản pháp luật về lĩnh vực môi trường đến nay đã có nội dung cụ thể và trực tiếp hơn về vấn đề BVMT: Xác định cụ thể và chi tiết quyền,
Trang 33nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc BVMT, các chính sách phát triển KTXH đã gắn liền với BVMT, pháp luật về BVMT mang tính toàn diện và hệ thống hơn, các quy định pháp luật về môi trường đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu, hiệu lực của các quy định pháp luật MT được nâng cao do việc nhà nước sử dụng nhiều văn bản pháp luật
1.3 Nguyên tắc BVMT
Gồm 8 nguyên tắc được quy định tại Điều 4- Luật BVMT 2014
(1) Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
(2) Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành (3) Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải
(4) Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia (5) Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch
sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
(6) Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường
(7) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi
từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường
(8) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
1.4 Những hoạt động BVMT được khuyến khích và nghiêm cấm
1.4.1 Những hoạt động BVMT được khuyến khích
Gồm 12 hoạt động BVMT được khuyến khích được quy định tại Điều 6- Luật BVMT 2014
(1) Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
(2) Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
(3) Giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải
Trang 34(4) Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô-dôn
(5) Đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường
(6) Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường
(7) Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; thực hiện kiểm toán môi trường; tín dụng xanh; đầu tư xanh
(8) Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường
(9) Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư thân thiện với môi trường
(10) Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư
(11) Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường
(12) Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện hợp tác công tư về bảo vệ môi trường
1.4.2 Những hoạt động BVMT bị nghiêm cấm
Gồm 16 hoạt động BVMT bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 7- Luật BVMT
2014
(1) Phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên
(2) Khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật
(3) Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
(4) Vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường
Trang 35(5) Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí
(6) Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật
(7) Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
(8) Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
(9) Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức
(10) Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép
(11) Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
(12) Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên (13) Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường
(14) Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với con người
(15) Che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường
(16) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường
(2) Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường
Trang 36(3) Bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
(4) Ưu tiên xử lý vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường
(5) Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường
(6) Ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho hoạt động bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường
(7) Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường
(8) Phát triển khoa học, công nghệ môi trường; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao
và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường;
áp dụng tiêu chuẩn môi trường đáp ứng yêu cầu tốt hơn về bảo vệ môi trường
(9) Gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên với ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường
(10) Nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường
(11) Mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường
HẾT CHƯƠNG I
Trang 37CHƯƠNG 2 VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Nội dung cần nắm vững trong chương 2
1 Vận dụng được các điều khoản trong luật BVMT 2005 vào công tác quản lý tài nguyên và môi trường;
2 Cập nhật được các văn bản dưới luật thực thi đúng thời gian hiệu lực;
3 Hiểu và vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý tài nguyên nước;
4 Vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý tài nguyên đất;
5 Vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý môi trường không khí;
6 Vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý tài nguyên khoáng sản;
7 Vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý tài nguyên rừng và đa dạng sinh học;
8 Vận dung các văn bản luật và dưới luật trong quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại
9 Thực hiện được các thủ tục pháp lý trong quản lý môi trường đối với từng dự
- Luật BVMT tập trung giải quyết các vấn đề sau:
✔ Điều chỉnh hành vi xã hội nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm MT, suy thoái đa dạng sinh học, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên;
✔ Quan hệ phát triển kinh tế với BVMT;
✔ Mâu thuẩn giữa nhu cầu cấp bách về sx và đời sống trước mắt và lợi ích lâu dài
về MT trong sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước;
✔ Mâu thuẩn giữa lợi ích cá nhân, cục bộ với lợi ích toàn xã hội;
✔ Mối quan hệ quốc tế và khu vực: việc BVMT của Quốc gia không thể tách rời khu vực và toàn câu, các điều khoản quy định trong luật phải tính đến khía cạnh của pháp lý và thực tiễn của quốc gia
- Nguyên tắc của Luật BVMT:
Trang 38✔ Đảm bảo quyền con người được sống trong MT trong lành
✔ BVMT là sự nghiệp của toàn dân
✔ Đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý và BVMT
✔ Trách nhiệm vật chất của tổ chức, cá nhân khi sử dụng các thành phần môi trường (người gây ô/n phải trả)
✔ Coi trọng tính phòng ngừa
✔ Tăng cường kiểm soát ô nhiễm
✔ Đảm bảo sự phát triển bền vững
2.1.1 Luật BVMT 2014
- Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại phiên họp ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Kỳ họp thứ 7, gồm có 20 chương, 170 điều (tăng 05 Chương và 34 điều so với Luật bảo vệ môi trường năm 2005) Luật bảo vệ môi trường
là công cụ pháp lý quan trọng nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo quy định trong Hiến pháp năm 2013
- Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi) được xây dựng bảo đảm quan điểm, mục đích sau:
✔ Thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;
✔ Khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật bảo vệ môi trường năm 2005; bổ sung một số nội dung mới như tăng trưởng xanh, biến đổi khí hậu, an ninh môi trường…; hài hòa các quy định của Luật và các cam kết quốc tế về môi trường thể hiện tại các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;
✔ Phù hợp với các đặc điểm của khoa học môi trường như coi phòng ngừa là chính, các yếu tố môi trường có mối liên kết hữu cơ với nhau, không chia cắt theo địa giới hành chính
- Gồm 20 chương và 170 điều: (Xem nội dung Luật BVMT 2014 phần phụ lục) C1 Những quy định chung- 7 điều
Trang 39C2 Quy hoạch BVMT, ĐMC, ĐTM, KHBVMT- 4M, 27 điều
C3 BVMT trong khai thác, sử dụng TNTN- 4 điều
C4 Ứng phó với biến đổi khí hậu- 10 điều
C5 BVMT Biển và hải đảo- 3 điều
C6 BVMT nước, đất và không khí- 4 M, 13 điều
C7 BVMT trong hoạt động SX, KD, DV- 15 điều
C8 BVMT đô thị, khu dân cư- 5 điều
C9 Quản lý chất thải- 5M, 19 điều
C10 Xử lý ÔN, phục hồi và cải thiện MT- 3M, 9 điều
C11 Quy chuẩn KTMT, tiêu chuẩn MT- 8 điều
C12 Quan trắc MT- 7 điều
C13 TTMT, chỉ thị MT, Tkê MT và báo cáo MT- 3M, 11 điều
C14 Trách nhiệm của CQQLNN về BVMT- 5 điều
C15 Trách nhiệm của mật trận TQVN Tổ chức Ctrị-XH, tổ chức XH- nghề nghiệp và CĐ dân cư trong bvmt- 3 điều
C16 Nguồn lực về BVMT- 9 điều
C17 Hợp tác quốc tế về BVMT- 3 điều
C18 Thanh tra, KT, xử lý VP, giải quyết tranh chấp, KN, tố cáo MT- 4 điều C19 Bồi thường thiệt hại về MT- 5 điều
C20 Điều khoản thi hành- 3 điều
- Một số điểm mới chính trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014
✔ Quy hoạch bảo vệ môi trường: là nội dung mới được bổ sung trong Luật: quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể, dài hạn và chủ động triển khai công tác bảo vệ môi trường, thực sự gắn bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế, an sinh, xã hội, và là cơ sở để điều chỉnh hoặc xây dựng các quy hoạch phát triển khác, đảm bảo phát triển bền vững
✔ Rà soát, quy định hợp lý hơn các nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
✔ Quy định chương riêng về ứng phó với biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu và nước biển dâng là vấn đề đang thách thức, ảnh hưởng lớn đến toàn cầu trong đó
có nước ta Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu để đáp ứng các yêu cầu cấp thiết về ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay, thể chế hóa một số nghị quyết của Đảng về nội dung này
Trang 40✔ Bảo vệ môi trường biển và hải đảo: Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có một Chương quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo nhằm bảo đảm tính thống nhất và toàn diện của Luật bảo vệ môi trường Chương này chỉ quy định những nội dung cơ bản, có tính nguyên tắc, không có sự trùng lặp với những nội dung trong Luật bảo vệ tài nguyên và môi trường biển
✔ Bổ sung các quy định về: tăng trưởng xanh, cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững; bổ sung các quy định về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm; kiểm soát chất độc Dioxin có nguồn gốc diệt cỏ do Mỹ sử dụng trong chiến tranh; kiểm soát việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất nói chung và đặc biệt là thuốc bảo vệ thực vật, thú y; bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn;
✔ Bổ sung và làm rõ hơn trách nhiệm công bố thông tin về môi trường, về tình trạng môi trường, quy định rõ về hệ thống báo cáo thống nhất về công tác BVMT;
✔ Bổ sung quy định nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong một điều riêng; quy định rõ trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ khác; quy định rõ trách nhiệm đầu mối của Bộ TNMT trong việc xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
✔ Bổ sung quy định về nguồn lực đầu tư phát triển cho BVMT;
✔ Quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp
và cộng đồng dân cư: Nghĩa vụ và quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp và cộng đồng dân cư đã được quy định tại một chương riêng Đồng thời, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc bảo đảm quyền của các tổ chức xã hội, xã hội-nghề nghiệp
và cộng đồng dân cư
✔ Thời điểm khởi kiện: thời điểm tính thời hiệu khởi kiện về môi trường được tính từ thời điểm tổ chức, cá nhân phát hiện ra thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về BVMT; Bổ sung quy định cấm đối với người có thẩm quyền; Bổ